Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến hoạt động tài chính ở ngân hàng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tài chính của ngân hàng thương mại tại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
3.1. Thu thập dữ liệu
Thu thập dữ liệu bảng thông qua mẫu quan sát của 28 ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong 10 năm từ năm 2011 – 2021. Các số liệu này của Ngân hàng được thu thập từ các báo cáo tài chính. Không thu thập thông tin về các ngân hàng do Nhà nước sở hữu như Ngân hàng Đông Á, Ngân hàng Xây dựng, Ngân hàng Đại Dương, Ngân hàng Dầu khí toàn cầu và Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, cũng như Ngân hàng CSXH và Ngân hàng phát triển.
Số quan sát của luận văn gồm 307 quan sát do báo cáo tài chính của Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) năm 2011 không đầy đủ nên tác giả đã lược bỏ quan sát năm 2011 của ngân hàng này.
Bảng 3. 1. Danh sách các ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong phạm vi nghiên cứu của luận văn
| TT | Tên ngân hàng | MÃ |
| 1 | Ngân hàng TMCP An Bình (ABBANK) | ABB |
| 2 | Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) | ACB |
| 3 | Ngân hàng TMCP Bắc Á (Bac A Bank) | BAB |
| 4 | Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) | BID |
| 5 | Ngân hàng TMCP Bản Việt (Viet Capital Bank) | BVB |
| 6 | Ngân hàng TMCP Bảo Việt (BAOVIET Bank) | BVH |
| 7 | Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (VietinBank) | CTG |
| 8 | Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu (Eximbank) | EIB |
| 9 | Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (HDBank) | HDB |
| 10 | Ngân hàng TMCP Kiên Long (Kienlongbank) | KLB |
| 11 | Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank) | LPB |
| 12 | Ngân hàng TMCP Quân Đội (MB) | MBB |
| 13 | Ngân hàng TMCP Hàng Hải (MSB) | MSB |
| 14 | Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank) | NAB |
| 15 | Ngân hàng TMCP Quốc dân (NVB) | NVB |
| 16 | Ngân hàng TMCP Phương Đông (OCB) | OCB |
| 17 | Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex (PG Bank) | PGB |
| 18 | Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) | SCB |
| 19 | Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương (Saigonbank) | SGB |
| 20 | Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) | SHB |
| 21 | Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank) | SSB |
| 22 | Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) | STB |
| 23 | Ngân hàng TMCP Kỹ Thương (Techcombank) | TCB |
| 24 | Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) | TPB |
| 25 | Ngân hàng TMCP Việt Á (VietABank) | VAB |
| 26 | Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank) | VCB |
| 27 | Ngân hàng TMCP Quốc Tế (VIB) | VIB |
| 28 | Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) | VPB |
3.2. Mô hình nghiên cứu Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến hoạt động tài chính ở ngân hàng.
Trên cơ sở lý luận và các nghiên cứu thực nghiệm trước đó về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của các NHTM, tác giả quyết định chọn mô hình nghiên cứu của Ongore & Kusa (2013), Gul và Zaman (2011), Phan Thu Bảo (2016) làm mô hình gốc cho nghiên cứu. Đây là mô hình nghiên cứu áp dụng thành công ở Kenya, Pakistan và được thừa nhận chung, mô hình của Phan Thu Bảo (2016) nghiên cứu tại thị trường Việt Nam, khá phù hợp với nghiên cứu của luận văn. Cả ba mô hình nghiên cứu trên cũng đã phản ánh khá đầy đủ các yếu tố khi nghiên cứu về sự ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của các NHTM.
Ngoài ra, tác giả cũng tổng hợp thêm một một số biến độc lập được lấy từ các nghiên cứu khác. Cụ thể, chất lượng tài sản (FATA) được lấy từ nghiên cứu của Ashenafi Nigusse Tibebe (2020); Tỷ lệ nợ xấu (NPL) tham khảo được từ nghiên cứu của Bahtiar Usman & Henny Setyo Lestari (2019); Mulualem Getahun (2015) để hoàn thiện hơn mô hình nghiên cứu của tác giả.
Vì vậy, mô hình được xây dựng với biến phụ thuộc là FIC: hiệu quả tài chính của ngân hàng, trong đó bao gồm 3 biến là ROA, ROE, NIM. Với 9 biến độc lập gồm quy mô ngân hàng, chất lượng tài sản, dự phòng rủi ro cho vay, tỷ lệ chi phí trên thu nhập, tỷ lệ nợ khó đòi, khoản vay, thanh khoản, tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát.
Mô hình nghiên cứu được xây dựng như sau:
FICit = β1 + β2 SIZE it + β3 FATA it + β4LLRit + β5 CIRit +β6 NPL it + β7 LOAN it + β8 LIQ it +β9 GDP t +β10 CPI t + α+ it
Trong đó:
- β1: hệ số chặn. β1, …, β10: các hệ số hồi quy riêng của các biến đốc lập. i: ký hiệu cho các ngân hàng, t ký hiệu cho các năm và e đại diện cho sai số của mô hình.
Biến phụ thuộc là:
- FICit: hiệu quả tài chính của ngân hàng thứ i, năm t. FICit bao gồm 3 biến là ROA, ROE, NIM.
Biến độc lập bao gồm:
- SIZE it = Quy mô ngân hàng của ngân hàng i tại thời điểm t (được tính bằng logarit tự nhiên của tổng tài sản).
- FATA it = Chất lượng tài sản của ngân hàng i tại thời điểm t (được tính bằng tỷ lệ phần trăm).
- LLRit = Dự phòng tổn thất cho vay của ngân hàng i tại thời điểm t (được tính bằng tỷ lệ phần trăm).
- CIRit = Chất lượng quản lý của ngân hàng i tại thời điểm t (được tính bằng tỷ lệ phần trăm).
- NPLit = Tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng i tại thời điểm t (được tính bằng tỷ lệ phần trăm).
- LOANit = Tỷ lệ tổng cho vay trên tổng tài sản của ngân hàng i tại thời điểm t (được tính bằng tỷ lệ phần trăm).
- LIQit = Tính thanh khoản của ngân hàng i tại thời điểm t (được tính bằng tỷ lệ phần trăm).
- GDP t = Tăng trưởng kinh tế (GDP) tại thời điểm t (được tính bằng tỷ lệ phần trăm).
- CPI t = Tỷ lệ lạm phát tại thời điểm t (được tính bằng tỷ lệ phần trăm).
- it = phần dư Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến hoạt động tài chính ở ngân hàng.
3.3. Biến mô tả và giả thuyết nghiên cứu
3.3.1. Biến phụ thuộc
3.3.1.1. ROA (Tỷ suất sinh lời trên tài sản)
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) là tỷ số được tính bằng cách lấy lợi nhuận sau thuế chia cho tổng tài sản. Dữ liệu được lấy từ Báo cáo tài chính (BCTC) của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam .
ROA đã được sử dụng trong hầu hết các nghiên cứu để đo lường lợi nhuận của các ngân hàng. Các nghiên cứu bao gồm: San và Heng (2013), Ongore & Kusa (2013), Gul và Zaman (2011), Robin and Bloch (2018), Phan Thu Bao (2016), Nguyen Duc Cuong (2017).
ROA được đo theo công thức sau:
3.3.1.2. ROE (Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu)
ROE đo lường tỷ suất sinh lợi trên lợi ích sở hữu (vốn cổ đông) của các chủ sở hữu cổ phiếu phổ thông. Nó đo lường hiệu quả của một công ty trong việc tạo ra lợi nhuận từ mỗi đơn vị vốn chủ sở hữu của các cổ đông (còn được gọi là tài sản ròng hoặc tài sản trừ đi nợ phải trả). ROE cho thấy một công ty sử dụng quỹ đầu tư tốt như thế nào để tạo ra tăng trưởng thu nhập. Được sử dụng trong nhiều bài nghiên cứu như: San and Heng (2013), Ongore & Kusa (2013), Gul and Zaman (2011), Robin and Bloch (2018) Phan Thu Bao (2016, Nguyen Duc Cuong (2017). ROE is được đo theo công thức sau:
3.3.1.3. NIM (Tỷ lệ thu nhập lãi thuần)
Tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM) là thước đo tỷ suất sinh lợi ròng trên các tài sản sinh lời của ngân hàng, bao gồm chứng khoán đầu tư, các khoản cho vay và cho thuê. Nó là tỷ lệ giữa thu nhập lãi chia cho tổng tài sản. NIM được sử dụng trong nhiều bài nghiên cứu như: San and Heng (2013), Ongore & Kusa (2013), Gul and Zaman (2011), Robin and Bloch (2018) Phan Thu Bao (2016, Nguyen Duc Cuong (2017), Tam Thanh Nguyen Duong & Hoa Quynh Nguyen (2021).
3.3.2. Biến độc lập Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến hoạt động tài chính ở ngân hàng.
3.3.2.1. Quy mô ngân hàng (SIZE)
Quy mô ngân hàng khả biến được nhiều học giả lựa chọn để đưa vào mô hình nghiên cứu, được đo lường bằng cách lấy logarit tự nhiên của tổng tài sản. SIZE = Log(Tổng tài sản)
Quy mô của ngân hàng được biểu thị bằng tổng tài sản hiện có của ngân hàng; Tổng tài sản tăng cho thấy ngân hàng đang trong giai đoạn mở rộng. Tuy nhiên, điều này cho thấy rằng các ngân hàng đang nắm giữ nhiều tài sản rủi ro hơn, dẫn đến tỷ lệ an toàn vốn thấp hơn. Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây cũng cho thấy quy mô ngân hàng có tác động tích cực đến hiệu quả tài chính tương tự như nghiên cứu của Gul và Zaman (2011), San và Heng (2013), Tam Thanh Nguyen Duong & Hoa Quynh Nguyen (2021), Phan Thu Bao ( 2016). Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra giả thuyết sau:
H1: Quy mô ngân hàng có tác động tích cực đến hoạt động tài chính.
3.3.2.2. Chất lượng tài sản (FATA)
Chất lượng tài sản sẽ giúp ngân hàng hiểu được mức độ rủi ro mà họ sẽ phải đối mặt khi công bố cho khách hàng. Ngân hàng sẽ có thể đánh giá hoạt động của các tài sản của mình bằng cách sử dụng tham số này. Các ngân hàng cố gắng hết sức để giữ các khoản nợ xấu ở mức tối thiểu vì các khoản nợ xấu lớn có tác động tiêu cực đến khả năng sinh lời của họ. Nó cho biết ngân hàng đang nắm giữ bao nhiêu tài sản cố định so với tổng tài sản
Nghiên cứu của Ashenafi Nigusse Tibebe (2020) cho thấy lạm phát có tác động tích cực đến hoạt động tài chính. Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng giả thuyết nghiên cứu:
H2: Chất lượng tài sản có tác động tích cực đến hoạt động tài chính.
3.3.2.3. Dự phòng rủi ro cho vay (LLR)
Dự phòng rủi ro cho vay cho biết mức độ rủi ro tín dụng mà ngân hàng phải đối mặt vì chất lượng khoản vay từ trước đến nay là lĩnh vực dễ bị tổn thương đối với nhiều tổ chức tài chính và là nguyên nhân lớn nhất dẫn đến thất bại của ngân hàng.
San và Heng (2013), Phan Thu Bảo (2016) cho thấy tác động tiêu cực đến hoạt động tài chính. Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng giả thuyết sau:
H3: Dự phòng rủi ro cho vay có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động tài chính.
3.3.2.4. Tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến hoạt động tài chính ở ngân hàng.
Tỷ lệ chi phí trên thu nhập được tính bằng Chi phí hoạt động chia cho Thu nhập ròng cộng với Thu nhập ngoài lãi.
Tomuleasa và Cocris (2014), Gul và Zaman (2011) đã nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nợ xấu có tác động tiêu cực đến hoạt động tài chính. Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng giả thuyết nghiên cứu:
H4: Tỷ lệ chi phí trên thu nhập có tác động tiêu cực đến hiệu quả tài chính.
3.3.2.5. Tỷ lệ Nợ khó đòi ( NPL)
NPL thể hiện tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ.
Nghiên cứu của Bahtiar Usman & Henny Setyo Lestari (2019), Mulualem Getahun (2015) cho thấy tỷ lệ nợ xấu có tác động tiêu cực đến hiệu quả tài chính. Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng giả thuyết nghiên cứu:
H5: Tỷ lệ nợ xấu có tác động tiêu cực đến hoạt động tài chính.
3.3.2.6. Khoản vay (LOAN)
Gul và Zaman (2011), shenafi Nigusse Tibebe (2020) đã nghiên cứu cho thấy cho vay có tác động tích cực đến hoạt động tài chính. Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng giả thuyết nghiên cứu:
H6: cho vay có tác động tích cực đến hoạt động tài chính.
3.3.2.7. Thanh khoản (LIQ) Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến hoạt động tài chính ở ngân hàng.
Khả năng thanh khoản thể hiện tỷ lệ giữa tổng tiền gửi trên tổng tài sản. Tiền gửi bao gồm tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn. Tính thanh khoản là một yếu tố quyết định mức độ hoạt động của ngân hàng và nó đề cập đến khả năng của ngân hàng trong việc thực hiện các nghĩa vụ của mình chủ yếu đối với người gửi tiền.
Tuy nhiên, kết quả từ các nghiên cứu thử nghiệm này là trái ngược nhau. Ongore & Kusa (2013) , Phan Thu Bao (2016) nhận thấy rằng quản lý thanh khoản có ảnh hưởng tích cực đến ROA, ROE và NIM. Trong khi, nghiên cứu của Rasidah Mohd Said & Mohd Hanafi Tumin (2011) được thực hiện tại Trung Quốc và Malaysia cho thấy mức độ thanh khoản của các ngân hàng không có mối quan hệ nào với khả năng sinh lời. Nhận định của các học giả là khác nhau, nhưng dựa trên thực tế ở Việt Nam, thu nhập của các ngân hàng thương mại liên doanh chủ yếu từ hoạt động cho vay. Do đó, giả thuyết thứ tư được xây dựng như sau:
H7: Khả năng thanh khoản có tác động tích cực đến hoạt động tài chính.
3.3.2.8. Tăng trưởng kinh tế (GDP)
Biến tỷ lệ tăng trưởng GDP được tính bằng tỷ lệ tăng trưởng GDPG của năm quan sát.
Nghiên cứu của Ongore & Kusa (2013) cho thấy GDP có ảnh hưởng tiêu cực đến ROA và NIM và có ảnh hưởng tích cực đến ROE. Trong khi đó Robin và Bloch (2018), Phan Thu Bảo (2016) GDP có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả tài chính. Ý kiến của các học giả là khác nhau, nhưng dựa trên thực tế của Việt Nam, tác giả đưa ra giả thuyết như sau:
H8: Tăng trưởng kinh tế có tác động tích cực đến hoạt động tài chính.
3.3.2.9. Tỷ lệ lạm phát (CPI )
Lạm phát được định nghĩa là tỷ lệ mà mức giá chung của hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế tăng lên theo thời gian. Lạm phát làm giảm sức mua của người tiêu dùng vì chúng ta mua ít hàng hóa và dịch vụ hơn với mỗi đơn vị tiền tệ.
Nói chung, lạm phát được tính bằng cách tính tỷ lệ lạm phát của một chỉ số giá cả, chẳng hạn như chỉ số giá tiêu dùng (CPI).
Gul và Zaman (2011), Ongore & Kusa (2013), San và Heng (2013), Phan Thu Bảo (2016) đã nghiên cứu cho thấy lạm phát có tác động tích cực đến hoạt động tài chính. Do đó, giả thuyết thứ tư được xây dựng như sau:
H9: Lạm phát có tác động tích cực đến hoạt động tài chính
Bảng 3. 2. Tóm tắt nghiên cứu về hoạt động tài chính
| Biến | Tên biến | Phương pháp đo lường | Giả thuyết | Bằng chứng thực nghiệm trong các nghiên cứu trước đây | Dấu kỳ vọng |
| CÁC BIẾN PHỤ THUỘC Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến hoạt động tài chính ở ngân hàng. | |||||
| ROA | Tỷ suất sinh lợi của tài sản | San và Heng (2013); Ongore & Kusa (2013); Phan Thu Bảo (2016); Tam Thanh Nguyen Duong & Hoa Quynh Nguyen (2021); Gul và Zaman (2011); Robin và Bloch (2018). | |||
| ROE | Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu | San và Heng (2013); Ongore & Kusa (2013); Phan Thu Bảo (2016); Tam Thanh Nguyen Duong & Hoa Quynh Nguyen (2021); Gul và Zaman (2011); Robin và Bloch (2018); Robin, I., Salim, R., & Bloch, H. (2018). | |||
| NIM | Tỷ lệ thu nhập lãi thuần | San và Heng (2013); Ongore & Kusa (2013); Phan Thu Bảo (2016); Tam Thanh Nguyen Duong & Hoa Quynh Nguyen (2021); Gul và Zaman (2011); Robin và Bloch (2018) | |||
| BIẾN ĐỘC LẬP | |||||
| SIZE | Quy mô ngân hàng | 𝐋𝐨𝐠(𝐓ổ𝐧𝐠 𝐭à𝐢 𝐬ả𝐧) | H1: Quy mô ngân hàng có tác động tích cực đến hiệu quả tài chính. | Gul và Zaman (2011); Phan Thu Bảo (2016); San và Heng (2013); Tam Thanh Nguyen Duong & Hoa Quynh Nguyen (2021) | + |
| FATA | Chất lượng tài sản | 𝐓à𝐢 𝐬ả𝐧 𝐜ố đị𝐧𝐡 | H2: Chất lượng tài sản có tác động tích cực đến hiệu quả tài chính. | Ashenafi Nigusse Tibebe (2020) | + |
| LLR | Dự phòng rủi ro cho vay | 𝐃ự 𝐩𝐡ò𝐧𝐠 𝐫ủ𝐢 𝐫𝐨 𝐜𝐡𝐨 𝐯𝐚𝐲 𝐓ổ𝐧𝐠 𝐭à𝐢 𝐬ả𝐧 | H3: Dự phòng rủi ro cho vay có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động tài chính. | San, OT, & Heng, TB (2013 ); Phan Thu Bảo (2016) | – |
| CIR | Tỷ lệ chi phí trên thu nhập | H4: tỷ lệ chi phí trên thu nhập có tác động tiêu cực đến hiệu quả tài chính. | Tomuleasa và Cocris (2014); Gul và Zaman (2011) | – | |
| Nợ xấu | Tỷ lệ nợ xấu | H5: Tỷ lệ nợ xấu có tác động tiêu cực đến hiệu quả tài chính. | Bahtiar Usman & Henny Setyo Lestari (2019); Mulualem Getahun (2015). | – | |
| LOAN | Khoản vay | H6: cho vay có tác động tích cực đến hiệu quả tài chính. | Gul và Zaman (2011); Ashenafi Nigusse Tibebe (2020) | + | |
| LIQ | Tính thanh khoản |
|
H7:: Khả năng thanh khoản có tác động tích cực đến hiệu quả tài chính. | Ongore & Kusa (2013); Phan Thu Bảo (2016); Rasidah Mohd Said & Mohd Hanafi Tumin (2011). | + |
| GDP | Tăng trưởng kinh tế | H8: Tăng trưởng kinh tế có tác động tích cực đến hiệu quả tài chính. | San và Heng (2013); Ongore & Kusa (2013); Phan Thu Bảo (2016); Tam Thanh Nguyen Duong & Hoa Quynh Nguyen (2021); Gul và Zaman (2011); Robin và Bloch (2018). | + | |
| CPI | Tỷ lệ lạm phát | 𝐂𝐏𝐈𝐭−𝟏 | H9: Lạm phát có tác động tích cực đến hiệu quả tài chính. | San và Heng (2013); Ongore & Kusa (2013); Phan Thu Bảo (2016); Gul và Zaman (2011) | + |
3.4. Quy trình nghiên cứu Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến hoạt động tài chính ở ngân hàng.

Bước 1: Thu thập dữ liệu
Để thu thập dữ liệu cho nghiên cứu, tác giả đã sử dụng dữ liệu thứ cấp được thu thập từ trang web của các ngân hàng thương mại, chẳng hạn như báo cáo thường niên, bảng cân đối kế toán, kết quả kinh doanh cho các năm 2011 – 2021, sau đó tính toán lại các chỉ tiêu liên quan.
Bước 2: Thống kê mô tả
Tác giả sử dụng phần mềm STATA để thực hiện mô tả tóm tắt các đặc điểm của dữ liệu, chẳng hạn như trung bình, tối đa, tối thiểu và độ lệch chuẩn cho biến phụ thuộc và biến độc lập.
Bước 3: Phân tích ma trận tương quan giữa các biến
Một trong những giả định của hồi quy tuyến tính là các biến độc lập không có mối liên hệ với nhau. Do đó, ma trận tương quan phải được sử dụng để khảo sát và kiểm tra mối tương quan giữa các biến độc lập. Sau đó, luận văn sử dụng hệ số phóng đại phương sai (VIF) để tìm tương quan nhóm, đây là nguồn gốc của đa cộng tuyến.
Bước 4: Kiểm tra mô hình bằng Pooled OLS, FEM, REM và lựa chọn mô hình phù hợp.
Mô hình hồi quy sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất (Pooled OLS), mô hình hồi quy sử dụng phương pháp tác động cố định (FEM) và mô hình hồi quy sử dụng phương pháp tác động ngẫu nhiên đều do tác giả thực hiện (REM).
Sau khi ước lượng với ba cách tiếp cận, Pooled OLS, FEM và REM, tác giả chạy một loạt các bài kiểm tra, bao gồm cả bài kiểm tra F, Breusch – Pagan và Hausman, để chọn ra mô hình tốt nhất.
Bước 5: Kiểm định các khuyết tật theo mô hình đã chọn
Các bài kiểm tra khuyết tật của mô hình được sử dụng để cải thiện độ tin cậy và mức độ phù hợp của các kết quả nghiên cứu. Cụ thể, các kiểm định về 3 khuyết tật thường gặp trong nghiên cứu định lượng: Sử dụng hệ số phóng đại phương sai (VIF) để phát hiện đa cộng tuyến; Kiểm định Wald đã sửa đổi để phát hiện phương sai thay đổi và kiểm định Wooldrige để phát hiện hiện tượng tự tương quan Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến hoạt động tài chính ở ngân hàng.
Bước 6: Kiểm tra mô hình bằng FGLS xử lý vi phạm mô hình
Tác giả áp dụng phương pháp tiếp cận bình phương nhỏ nhất tổng quát hóa khả thi (FGLS) đối với dữ liệu bảng để giải quyết các vấn đề như phương sai của các lỗi biến và tự tương quan.
Bước 7. Kiểm soát nội sinh thông qua kiểm tra mô hình bằng S – GMM
Tác giả sử dụng phương pháp S-GMM để giải quyết các vấn đề nội sinh của mô hình.
Bước 8. Thảo luận về kết quả nghiên cứu
Tác giả đưa ra nhận định từ kết quả nghiên cứu
3.5. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến hoạt động tài chính ở ngân hàng.
3.5.1. Bình phương nhỏ nhất thông thường OLS (Ordinary Least Square)
Mô hình ước lượng bình phương nhỏ nhất, còn được gọi là mô hình ước lượng OLS, là mô hình được giả định về tung độ gốc và hệ số góc không thay đổi theo thời gian và theo các đơn vị (ngân hàng). Nghĩa là, các biến độc lập được coi như nhau cho nên mức tác động lên biến phụ thuộc là như nhau giữa các ngân hàng thương mại và không đổi theo thời gian. Phương pháp ước lượng cho mô hình hỗn hợp là bình phương nhỏ nhất cổ điển. Hay nói cách khác, mô hình Pool OLS giả định không tồn tại nhân tố ci (nhân tố về sự khác biệt đặc trưng giữa các đơn vị nhưng không đo lường được) trong mô hình. Chính vì thế, đây cũng được xem là hạn chế của mô hình bởi chưa thể phản ảnh đầy đủ tác động của các biến trong mô hình khi mà thực tế các ngân hàng luôn có sự khác biệt đặc trưng như văn hóa doanh nghiệp, cách thức kinh doanh, phong cách quản lý, môi trường hoạt động và hơn nữa, sự khác biệt này có thể thay đổi theo thời gian..
3.5.2. Mô hình Hiệu ứng Cố định FEM (Fixed Effect Model)
Khi các đơn vị chéo quan sát được không đồng nhất, mô hình tác động cố định (FEM) được sử dụng để phản ánh ảnh hưởng của biến giải thích lên biến phụ thuộc đồng thời tính đến các đặc điểm riêng của biến phụ thuộc. Kết quả là, FEM giả định rằng các hệ số hồi quy từng phần là như nhau trên các đơn vị chéo, nhưng các điểm chặn hồi quy khác nhau.
3.5.3. Mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên REM (Random Effect Model)
Mô hình REM xác định các hệ số chặn khác nhau cho từng đơn vị chéo, tác động chung của các biến giải thích. Các hệ số chặn của từng đơn vị chéo được phát sinh từ một hệ số chặn chung không đổi theo đối tượng và thời gian, và một biến ngẫu nhiên là một thành phần của sai số thay đổi theo đối tượng nhưng không thay đổi theo thời gian.
3.5.4. Bình phương tối thiểu tổng quát khả thi FGLS (Feasible Generalized Least Square) Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến hoạt động tài chính ở ngân hàng.
Thay vì giả định cấu trúc của phương sai thay đổi, chúng ta có thể sử dụng OLS để ước tính cấu trúc của phương sai thay đổi. Kỹ thuật này được gọi là Feasible GLS (FGLS). Đặc biệt, nếu mô hình hồi quy chứa hiện tượng phương sai thay đổi hoặc tự tương quan, hoặc nếu cả hai hiện tượng này đồng thời tồn tại, thì phương pháp bình phương nhỏ nhất tổng quát khi kiểm định (FGLS) là cách để khắc phục những hiện tượng này trong mô hình. Phương pháp FGLS sẽ sử dụng phương pháp OLS để ước lượng mô hình (ngay cả trong trường hợp tồn tại tự tương quan và phương sai thay đổi). Các lỗi mô hình sẽ được sử dụng để tính toán ma trận phương sai – hiệp phương sai của lỗi. Cuối cùng, sử dụng ma trận này để biến đổi các biến ban đầu và ước tính giá trị của các tham số được tìm thấy trong mô hình.
3.5.5. Mô hình S-GMM (System Generalized Method of Moments)
Mô hình nghiên cứu GMM được phát triển bởi Lars Peter Hansen năm 1982 từ việc tổng quát hóa phương pháp hồi quy theo moments. Sau này, các học giả đã cải tiến lên nhiều phiên bản GMM để phù hợp hơn với các nghiên cứu thực nghiệm. Tiêu biểu là DGMM (Differencing GMM) do Arellano & Bond xây dựng năm 1995 và phương pháp SGMM (System GMM) do Blundell & Bond phát triển năm 1998 bằng cách bổ sung vào một số ràng buộc dựa trên mô hình D-GMM. Antoniou và cộng sự (2006) đã chứng minh System GMM là phương pháp phù hợp để ước lượng mô hình động. Các tác giả này khuyến nghị sử dụng System GMM để loại bỏ các vấn đề nội sinh, và phương pháp này cũng cho các ước lượng vững khi có hiện tượng phương sai thay đổi hay tự tương quan bằng cách thêm vào mô hình biến độ trễ bậc 1 của biến phụ thuộc để làm biến giải thích.
Tác giả dựa vào bốn điều kiện để đảm bảo rằng các ước tính GMM của Hệ thống là phù hợp:
Kiểm định Hansen với giả thuyết H0: biến công cụ là phù hợp và không xảy ra hiện tượng nội sinh. Do đó, giá trị P của phép thử phải lớn hơn 10% để biến công cụ được thêm vào mô hình có ý nghĩa thống kê.
Kiểm định của Hansen Sargan với giả thuyết H0: biến công cụ là ngoại sinh với điều kiện giá trị P lớn hơn 10%.
Arellano – Bond test (AR (2)) giúp kiểm định tự tương quan ở mọi cấp độ, giả thuyết là Ho (không có tự tương quan) và giá trị p lớn hơn 0,1 có nghĩa là giả thuyết ban đầu không có tương quan chuỗi 2 bậc mà bị xóa.
Ngoài ra, cần đảm bảo rằng số lượng biến công cụ (the number of instruments) không được vượt quá số lượng đơn vị nghiên cứu (the number of units).
3.5.6. Kiểm tra để lựa chọn mô hình phù hợp
3.5.6.1. F-test để chọn mô hình Pool OLS hoặc FEM:
- H0: Không có sự khác biệt giữa các môn học hoặc thời điểm khác nhau.
- H1: Có sự khác biệt giữa các đối tượng hoặc các thời điểm khác nhau.
- Nếu p-value ≤ với ( = 5%) thì bác bỏ H0, mô hình FEM được chọn, ngược lại nếu p-value ≥ thì mô hình OLS được chọn.
3.5.6.2. Kiểm tra Hausman được thực hiện để lựa chọn giữa các mô hình FEM và REM:
- H 0 : Sai số ước tính không bao gồm sai lệch giữa các chủ thể.
- H 1 : Sai số của ước lượng bao gồm sai lệch giữa các đối tượng.
- Nếu p-value ≤ với ( = 5%) thì bác bỏ H 0 , mô hình FEM được chọn, ngược lại nếu p-value ≥ thì mô hình REM được chọn.
3.5.6.3. Kiểm tra Breusch & Pagan để chọn OLS và REM:
- H 0 : Sai số ước tính không bao gồm sai lệch giữa các chủ thể.
- H 1 : Sai số của ước lượng bao gồm sai lệch giữa các đối tượng.
- Nếu p-value ≤ với ( = 5%) thì bác bỏ H 0 , mô hình REM được chọn, ngược lại nếu p-value ≥ thì mô hình OLS được chọn. Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến hoạt động tài chính ở ngân hàng.
3.5.6.4. Kiểm định đa cộng tuyến
Đa cộng tuyến là hiện tượng các biến độc lập trong mô hình có tương quan tuyến tính với nhau. Nghiên cứu đã kiểm định giả thuyết rằng không có hiện tượng đa cộng tuyến bằng cách sử dụng tiêu chí VIF. Nếu VIF của các biến nhỏ hơn 10, hoặc tốt hơn là nhỏ hơn 3 thì mô hình không có hiện tượng đa cộng tuyến. Mô hình có ý nghĩa thống kê.
3.5.6.5. Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi:
Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi bằng kiểm định White đối với mô hình OLS, kiểm định Wald đối với mô hình FEM và kiểm định Breusch and Pagan Lagrangian Multiplier đối với mô hình REM với giả thuyết:
- H 0 : Không có hiện tượng phương sai thay đổi / Độ co giãn đồng nhất
- H 1 : Có hiện tượng phương sai thay đổi / Phương sai sai lệch
Nếu p-value ≤ với ( = 5%) chấp nhận H1 , bác bỏ H0 , tức là mô hình hồi quy có hiện tượng phương sai thay đổi, ngược lại nếu p-value ≥ , chấp nhận H0 thì mô hình hồi quy không có hiện tượng phương sai thay đổi.
3.5.6.6. Kiểm định tự tương quan:
Kiểm định tự tương quan bằng kiểm định Wooldridge với giả thuyết:
- H 0 : Không có tự tương quan trong mô hình
- H 1 : Có tự tương quan trong mô hình
- Nếu p-value ≤ với ( = 5%) chấp nhận H1, bác bỏ H0 , nghĩa là có hiện tượng tự tương quan trong mô hình.
3.5.6.7. Kiểm định Hansen, Sargan
Kiểm định Hansen, Sargan được sử dụng để kiểm tra việc xác định quá mức các biến công cụ (để xác định xem có mối tương quan giữa các biến công cụ và phần dư trong mô hình hay không) với giả thuyết:
- H 0 : Các biến công cụ là phù hợp (xác định quá mức thỏa đáng)
- H 1 : Các biến công cụ không phù hợp (xác định quá mức không thỏa đáng)
Nếu p-value> 10% thì chấp nhận giả thuyết H0, tức là các biến công cụ được sử dụng trong mô hình là phù hợp. Giá trị p đối lập <10% bác bỏ H 0, chấp nhận H 1 , tức là các biến công cụ không phù hợp để sử dụng trong mô hình
3.5.6.8. Phép thử tự tương quan bậc hai (AR2) để kiểm tra mối tương quan bậc hai của các phần dư trong mô hình, với giả thuyết:
- H0: Không có tương quan bậc hai của các phần dư
- H 1 : Có mối tương quan bậc hai của các phần dư
Nếu p-value> 10% chấp nhận H0: Các phần dư của mô hình không tồn tại tự tương quan bậc 2, tức là mô hình đạt yêu cầu. Giá trị p đối lập <10 bác bỏ H0: Các phần dư của mô hình có tự tương quan bậc 2, tức là mô hình không đạt yêu cầu.
Kết luận Chương 3
Trong chương 3, tác giả thảo luận về mô hình nghiên cứu, biến nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu OLS, FEM, REM, FGLS, và S-GMM, cũng như quy trình thu thập dữ liệu được sử dụng trong luận án, thu được kết quả phù hợp với mục đích và các thử nghiệm để xác định mô hình tốt nhất. Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến hoạt động tài chính ở ngân hàng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hoạt động tài chính ngân hàng

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

