Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: PPNC Tác động đa dạng hóa thu nhập khả năng sinh lời hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
3.1. Mô hình nghiên cứu
Để xây dựng mô hình nghiên cứu tác động của đa dạng hóa thu nhập đến khả năng sinh lời của NHTM Việt Nam, luận văn thông qua nghiên cứu của Lee và cộng sự (2014) cùng các nghiên cứu tiền nhiệm đã được lược khảo, tác giả nhận thấy các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời ngân hàng thường được xem xét cùng sự đa dạng hóa thu nhập là quy mô ngân hàng, tỷ lệ an toàn vốn, tỷ lệ cho vay khách hàng, tỷ lệ tiền gửi khách hàng, rủi ro tín dụng, tốc độ tăng trưởng kinh tế và lạm phát. Dựa trên cơ sở đó, mô hình nghiên cứu tác động của đa dạng hóa thu nhập đến khả năng sinh lời của các NHTM Việt Nam được xây dựng như sau: Yit = 0+ 1DDHit + j + , + it
(1) Trong đó:
- 0,…, j : Các tham số được ước tính
- : tác động không quan sát được
- it : Sai số
Biến phụ thuộc (Y): là khả năng sinh lời của ngân ngân hàng, thể hiện ở lợi nhuận được đo bằng tỷ suất sinh lợi tổng tài sản (ROA), tỷ suất sinh lợi vốn chủ sở hữu (ROE).
- ROA = Lợi nhuận sau thuế/Tổng tài sản Luận văn: PPNC Tác động đa dạng hóa thu nhập khả năng sinh lời.
Chỉ tiêu ROA (return on assets) phản ánh hiệu quả trong việc sử dụng tài sản. Tỷ lệ này càng cao phản ánh khả năng sinh lời của ngân hàng càng lớn. Đây không những là chỉ tiêu quan trọng và rất phổ biến để đo lường không chỉ khả năng sinh lời của NHTM nói riêng mà còn khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp nói chung. ROA là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác quản lý của ngân hàng, cho thấy khả năng trong quá trình chuyển tài sản thành thu nhập ròng (Rose và Hudgin, 2008). Nói cách khác, đây là chỉ tiêu giúp ta đánh giá một đồng tài sản của ngân hàng có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. ROA cao thường phản ánh kết quả hoạt động của ngân hàng hữu hiệu, ngân hàng có cơ cấu tài sản hợp lý, có sự điều động linh hoạt giữa các hạng mục tài sản trước những biến động của nền kinh tế. Chỉ số ROA thấp có thể là kết quả của một chính sách đầu tư hoặc cho vay không hợp lý làm thu nhập của ngân hàng suy giảm hoặc cũng có thể do chi phí hoạt động của ngân hàng đang ở mức cao.
- ROE = Lợi nhuận sau thuế/Tổng vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu ROE (return on equity) cũng là chỉ tiêu quan trọng và phổ biến để đo lường khả năng sinh lời của cả ngân hàng và doanh nghiệp. Chỉ số này nói lên rằng một đồng vốn cổ đông bỏ ra thì mang lại bao nhiêu đồng lời. Chính vì vậy đây là chỉ tiêu đo lường tỷ lệ thu nhập cho các cổ đông của ngân hàng. ROE thể hiện thu nhập mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư vào ngân hàng (tức là chấp nhận rủi ro để hy vọng có được thu nhập ở mức hợp lý). Chỉ tiêu này cũng được sử dụng khá nhiều trong phân tích khả năng sinh lời nhằm phản ánh hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu.
Khi xét thêm yếu tố rủi ro của ngân hàng thì Y là khả năng sinh lời có điều chỉnh rủi ro được đo bằng chỉ số SDROA, SDROE. Các chỉ số này càng cao tức rủi ro càng thấp và khả năng sinh càng lời cao.
- SDROAi,t=ROAi,t/
- SDROEi,t=ROEi,t/
Trong đó: N là số năm quan sát (12 năm, từ năm 2010 đến năm 2021), xt là ROA (hoặc ROE) tại năm t, μ là giá trị trung bình của ROA (hoặc ROE) trong giai đoạn quan sát. Luận văn: PPNC Tác động đa dạng hóa thu nhập khả năng sinh lời.
Biến độc lập: DDH là chỉ số đa dạng hóa thu nhập ngân hàng. Luận văn sử dụng chỉ số HHI (Herfindahl – Hirshman Index) để ước lượng mức độ đa dạng hóa thu nhập ngân hàng theo nghiên cứu của Stiroh và cộng sự (2006), Chiorazzo và cộng sự (2008).
Mức độ đa dạng hóa được tính theo công thức sau:
- DDH = 1 – HHI = 1 – (INT2 + NON2) INT: Tỷ lệ thu nhập thuần từ lãi trên tổng thu nhập hoạt động.
- NON: Tỷ lệ thu nhập thuần ngoài lãi trên tổng thu nhập hoạt động.
Công thức tính đa dạng hóa còn được viết lại là: DDH = 1 – [( )2 + ( )2]
- NET: Thu nhập lãi thuần trên báo cáo tài chính ngân hàng
- NOI: Thu nhập thuần ngoài lãi, bao gồm tổng lãi/(lỗ) thuần từ hoạt động kinh doanh dịch vụ, lãi/(lỗ) thuần từ hoạt động kinh doanh ngoại hối, lãi/(lỗ) thuần từ mua bán chứng khoán kinh doanh, lãi/(lỗ) thuần từ mua bán chứng khoán đầu tư, lãi/(lỗ) thuần từ hoạt động khác và thu nhập từ góp vốn mua cổ phần.
- NETOP: Tổng thu nhập của ngân hàng bao gồm thu nhập lãi và thu nhập ngoài lãi.
- NETOP = NET + NOI
Trường hợp thu nhập thuần ngoài lãi bị âm thì nghiên cứu đưa tỷ lệ thu nhập thuần ngoài lãi bằng 0 thể hiện thu nhập từ các hoạt động ngoài lãi không đóng góp gì vào thu nhập thuần (Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành 2015).
Biến kiểm soát (X): gồm:
Các biến thuộc đặc điểm ngân hàng:
- QM: Quy mô của ngân hàng đo bằng logarit của tổng tài sản của ngân hàng.
- VCSH: Tỷ lệ an toàn vốn đo bằng tỷ lệ vốn chủ sở hữu so với tổng tài sản.
- CV: Tỷ lệ cho vay của ngân hàng, đo bằng tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản.
- TG: Tỷ lệ tiền gửi của khách hàng, đo bằng tỷ lệ tiền gửi của khách hàng trên tổng tài sản.
- HQ: Tỷ lệ chi phí hoạt động của ngân hàng, đo bằng chi phí hoạt động trên thu nhập.
- RR: Rủi ro tín dụng của ngân hàng, đo bằng tỷ lệ dự phòng cho vay khách hàng trên tổng tài sản.
Các biến vĩ mô là: Luận văn: PPNC Tác động đa dạng hóa thu nhập khả năng sinh lời.
- GDP: Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm, được đo bằng tốc độ gia tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hàng năm.
- LP: Tỷ lệ lạm phát, đo bằng tỷ lệ đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) so với tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
Để xem xét về tác động của đa dạng hóa đến khả năng sinh lời trong bối cảnh độ mở tài chỉnh ở Việt Nam ngày càng cao thì nghiên cứu đưa thêm vào mô hình biến kiểm soát MO. Việc thêm biến độ mở tài chính là vì việc mở cửa tài chính là một phần của toàn cầu hóa kinh tế, đây vốn là xu hướng của thế giới hiện nay.
MO: Độ mở tài chính, đo bằng tỷ lệ đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) so với tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
Viết lại phương trình (1) như sau : Luận văn: PPNC Tác động đa dạng hóa thu nhập khả năng sinh lời.
Yit = 0 + 1DDHit + 2QMit + 3VCSHit + 4CVit + 5TGit + 6RRit + 7HQit + 8GDPit + 9LPit + 10MOit + , + it
Bên cạnh đó, tác giả kiểm tra thêm tác động của các cấu phần trong thu nhập ngoài lãi đến khả năng sinh lời của các NHTM Việt Nam, luận văn sử dụng tỷ lệ của thu nhập từ hoạt động dịch vụ so với tổng thu nhập ngoài lãi (biến DV), tỷ lệ thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng so với tổng thu nhập ngoài lãi (biến NH) và thu nhập từ hoạt động mua bán chứng khoán, góp vốn mua cổ phần và các hoạt động khác so với tổng thu nhập ngoài lãi (biến KH) để đo lường sự tác động.
Mô hình tác động của các cấu phần trong thu nhập ngoài lãi đến khả năng sinh lời của các NHTM Việt Nam được viết như sau:
Yit = 0 + 1DVit + 2NHit + 3KHit + 4QMit + 5VCSHit + 6CVit + 7TGit + 8RRit + 9HQit + 10GDPit + 11LPit + 12MOit + + it
Trong đó: Các biến độc lập thể hiện cấu phần trong thu nhập ngoài lãi bao gồm:
- DV: Tỷ lệ thu nhập từ hoạt động dịch vụ trên tổng thu nhập ngoai lãi.
- NH: Tỷ lệ thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng trên tổng thu nhập ngoài lãi.
- KH: Thu nhập từ hoạt động mua bán chứng khoán, góp vốn mua cổ phần và các hoạt động khác trên tổng thu nhập ngoài lãi.
Tỷ lệ an toàn vốn
Tỷ lệ an toàn vốn tính bằng tỷ trọng của vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản. Dữ liệu được lấy từ báo cáo tài chính của các NHTM. Biến này cho biết mức độ đòn bẩy tài chính của một ngân hàng. Các chỉ số vốn thể hiện sức mạnh và vị thế của ngân hàng trên thị trường tài chính, sức mạnh thể hiện ở khả năng chịu và phục hồi sau cú sốc kinh tế. Vốn chủ sở hữu hấp thụ những cú sốc lớn và bảo vệ ngân hàng khi giá trị tài sản giảm, giảm thiểu nguy cơ phá sản. Vì vậy, ngân hàng có tỷ lệ an toàn vốn cao thì rủi ro thấp hơn và khả năng sinh lời cao hơn. Ngân hàng có nhiều vốn sẽ ít cần nguồn tài trợ bên ngoài và chi phí sử dụng vốn thấp hơn khi thiếu vốn. Mặt khác khi mức vốn cao cũng khiến cho mức độ đòn bẩy và rủi ro thấp hơn. Nhiều người cho rằng lợi nhuận của cổ đông nên cao hơn khi mức độ sở hữu giảm và rủi ro tăng.
Các nghiên cứu của Maudos (2016), Brahman và cộng sự (2018) cũng cho thấy tỷ lệ an toàn vốn có tác động cùng chiều với khả năng sinh lời của các NHTM. Trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước, tác giả tiếp tục khảo sát mối liên hệ giữa hai biến số.
- Tỷ lệ cho vay khách hàng Luận văn: PPNC Tác động đa dạng hóa thu nhập khả năng sinh lời.
Tỷ lệ cho vay khách hàng cho được tính bằng tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản. Dữ liệu được lấy từ báo cáo tài chính của các NHTM. Biến này đại diện cho tác động của chiến lược cho vay đối với khả năng sinh lời và ghi nhận sự khác nhau trong danh mục tài sản của ngân hàng. Việc gia tăng danh mục thiếu tính thanh khoản có thể gia tăng sự dễ tổn thương của ngân hàng theo hoạt động của khách hàng.
Các nghiên cứu của Maudos (2016), Sanya và cộng sự (2011), Brahman và cộng sự (2018), Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2015), Võ Xuân Vinh và Trần Thị Mai Phương (2015) cũng cho thấy tỷ lệ cho vay khách hàng có tác động cùng chiều với khả năng sinh lời của các NHTM. Trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước, tác giả tiếp tục khảo sát mối liên hệ giữa hai biến số.
- Tỷ lệ tiền gửi của khách hàng
Tỷ lệ tiền gửi của khách hàng được tính bằng tỷ lệ của tiền gửi khách hàng trên tổng dư nợ cho vay. Dữ liệu được lấy từ báo cáo tài chính của các NHTM. Nguồn tiền gửi của khách hàng là nguồn tài trợ chính yếu cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng, có tính ổn định cao hơn và chi phí rẻ hơn các nguồn tài trợ khác. Vì vậy tỷ lệ này càng cao thì khả năng sinh lời ngân hàng càng cao và rủi ro càng thấp.
Các nghiên cứu của Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2015) cũng cho thấy tỷ lệ tiền gửi của khách hàng có tác động cùng chiều với khả năng sinh lời của các NHTM. Trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước, tác giả tiếp tục khảo sát mối liên hệ giữa hai biến số.
- Quy mô ngân hàng
Quy mô ngân hàng được tính bằng cách lấy logarit chuẩn tắc (normal logarit, ln) của tổng tài sản thay vì sử dụng tổng tài sản để giảm hiệu ứng của quy mô, bởi các nghiên cứu chỉ ra sự phân bổ của quy mô tài sản thường phân phối lệch. Dữ liệu được lấy từ báo cáo tài chính của các NHTM.
Ngân hàng có quy mô lớn có thể ổn định hơn vì các rủi ro riêng lẻ thường có xu hướng giảm theo quy mô. Những ngân hàng lớn có khả năng đầu tư vào công nghệ hiện đại hơn và nói chung quản trị rủi ro tốt hơn cũng như có nhiều khả năng mở rộng hoạt động kinh doanh.
Các nghiên cứu của Sanya và cộng sự (2011), Võ Xuân Vinh và Trần Thị Mai Phương (2015) cũng cho thấy quy mô ngân hàng có tác động cùng chiều với khả năng sinh lời của các NHTM. Trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước, tác giả tiếp tục khảo sát mối liên hệ giữa hai biến số. Luận văn: PPNC Tác động đa dạng hóa thu nhập khả năng sinh lời.
- Tỷ lệ chi phí hoạt động của ngân hàng
Tỷ lệ chi phí hoạt động của ngân hàng được cụ thể hóa qua tỷ lệ giữa chi phí hoạt động trên doanh thu hoạt động. Dữ liệu được lấy từ báo cáo tài chính của các NHTM.
Ngân hàng được quản lý điều hành hiệu quả thì chi phí hoạt động thấp, do đó tỷ lệ này giảm.
Các nghiên cứu của Sissy và cộng sự (2017), Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2015) cũng cho thấy tỷ lệ chi phí hoạt động của ngân hàng có tác động ngược chiều với khả năng sinh lời của các NHTM. Trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước, tác giả tiếp tục khảo sát mối liên hệ giữa hai biến số.
- Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng thể hiện qua tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng, rủi ro tín dụng càng thấp đồng nghĩa tỷ lệ dự phòng cho vay càng thấp thì khả năng sinh lời càng cao. Thông thường các khoản cho vay có vấn đề làm gia tăng rủi ro tín dụng, làm giảm lợi nhuận của ngân hàng. Các ngân hàng có tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng cao hơn có thể vì các ngân hàng này đang có chiến lược cho vay mạnh mẽ hơn. Các khoản cho vay dự kiến có rủi ro cao sẽ yêu cầu dự phòng rủi ro tín dụng cao hơn, điều này làm gia tăng chi phí và giảm thu nhập. Tuy nhiên, hiệu ứng này có thể được bù lại bởi lãi suất cho vay cao hơn vì tính phí cho người đi vay mạo hiểm. Ý nghĩa của tỷ số này là gì luôn là câu hỏi đặt ra của các nhà quản trị, bởi vì mức dự phòng rủi ro tín dụng có thể không cho thấy các khoản vay có vấn đề mà có ý nghĩa tích cực nhằm hạn chế rủi ro xảy ra (Golin và Delhaise, 2013). Một số nghiên cứu cho thấy rủi ro tín dụng tác động ngược chiều đến khả năng sinh lời như nghiên cứu của Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai (2015). Nghiên cứu của Lee và cộng sự (2014) lại cho thấy mối quan hệ tích cực giữa rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời ngân hàng. Dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm, luận văn ủng hộ quan điểm cho rằng rủi ro tín dụng cao thì ngân hàng phải trích lập dự phòng rủi ro cao hơn và sẽ làm giảm lợi nhuận của ngân hàng, vì vậy khả năng sinh lời sẽ suy giảm.
- Tăng trưởng kinh tế Luận văn: PPNC Tác động đa dạng hóa thu nhập khả năng sinh lời.
Tăng trưởng kinh tế được tính bằng tốc độ tăng hàng năm của GDP thực. Dữ liệu được lấy từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF).
Kinh tế khó khăn có thể làm giảm chất lượng của danh mục cho vay, tăng nợ xấu và ngân hàng buộc phải trích lập dự phòng, từ đó làm giảm khả năng sinh lời của ngân hàng. Ngược lại, khi nền kinh tế tăng trưởng, các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn, tăng khả năng trả nợ, giảm nợ xấu, giảm trích lập dự phòng, các ngân hàng sẽ gia tăng được khả năng sinh lời. Có thể thấy tăng trưởng kinh tế mang tác động cùng chiều lên khả năng sinh lời của các NHTM.
Các nghiên cứu của Sanya và cộng sự (2011) cũng cho thấy tăng trưởng kinh tế có tác động cùng chiều với khả năng sinh lời của các NHTM. Trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước, tác giả tiếp tục khảo sát mối liên hệ giữa hai biến số.
- Lạm phát
Lạm phát được tính bằng tỷ lệ lạm phát hàng năm dưạ vào chỉ số giá tiêu dùng (Consumer price index – CPI). Dữ liệu được lấy từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF).
Lạm phát cao cho thấy nền kinh tế bất ổn, không chỉ làm giảm giá trị của đồng tiền và tỷ suất sinh lợi thực của tài sản, làm tăng lãi suất cho vay dẫn đến người đi vay phải chịu chi phí vay cũng như áp lực tài chính gia tăng, làm giảm khả năng trả nợ. Điều này khiến cho nợ xấu gia tăng và ngân hàng phải trích lập dự phòng làm giảm khả năng sinh lời của ngân hàng.
Các nghiên cứu của Sanya và cộng sự (2011) cũng cho thấy lạm phát có tác động ngược chiều với khả năng sinh lời của các NHTM. Trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước, tác giả tiếp tục khảo sát mối liên hệ giữa hai biến số.
- Độ mở tài chính
Việc mở cửa tài chính là một phần của toàn cầu hóa kinh tế, vốn là một xu hướng trên thế giới. Chortareas, Girardone & Ventouri (2012) nghiên cứu mối quan hệ giữa độ mở tài chính và hiệu quả hoạt động ngân hàng của 27 quốc gia thành viên trong Liên minh châu Âu trong giai đoạn 2001 đến 2009 và sử dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA) để xây dựng mô hình hồi quy cắt ngang (STA cross-section regression model). Kết quả cho thấy có mối quan hệ chặt chẽ giữa độ mở tài chính và hiệu quả ngân hàng, và độ mở tài chính cao hơn sẽ mang lại nhiều lợi ích hơn cho các ngân hàng trong nước về chi phí và khả năng sinh lời tổng thể. Nhưng có những nghiên cứu cho thấy kết quả ngược lại như Agénor (2003) chỉ ra rằng độ mở tài chính trong một thời gian ngắn, sẽ mang lại sự biến động của sự dịch chuyển vốn và những cú sốc thị trường bên ngoài, điều này sẽ dẫn đến sự bất ổn của hệ thống ngân hàng trong nước. Nếu ngành ngân hàng gặp khủng hoảng và tồn tại trong một thời gian dài có thể dẫn đến suy thoái kinh tế. Luo, Tanna và De Vita (2016) nghiên cứu tác động của sự mở cửa tài chính đến hiệu quả lợi nhuận của ngân hàng bằng cách tính đến vai trò nội sinh của rủi ro ngân hàng. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu của 2.007 ngân hàng thương mại ở 140 quốc gia trong thời kỳ 1999 – 2011 và hồi quy bảng động bằng phương pháp ước lượng GMM cho kết quả là độ mở tài chính làm giảm hiệu quả lợi nhuận của ngân hàng. Trên cơ sở các nghiên cứu trước, tác giả cho rằng Việt Nam cũng đã mở cửa tài chính một thời gian và đang đem lại những tác động tích cực đối với nền kinh tế nước nhà, vì vậy tác giả ủng hộ quan điểm độ mở tài chính càng cao thì khả năng sinh lời của ngân hàng cũng như khả năng sinh lời điều chỉnh rủi ro càng cao. Luận văn: PPNC Tác động đa dạng hóa thu nhập khả năng sinh lời.
Trên đây là toàn bộ biến số gồm biến chính là đa dạng hóa thu nhập và một số biến đại diện cho các yếu tố khác được áp dụng trong mô hình của đề tài đánh giá tác động của đa dạng hóa thu nhập lên khả năng sinh lời của NHTM. Nhằm cập nhật và làm phong phú hơn chủ đề nghiên cứu, ngoài các biến được gợi ý từ những nghiên cứu liên quan trước đây, đề tài này bổ sung thêm một số biến đại diện cho các yếu tố bên trong ngân hàng và kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên đa dạng hóa thu nhập vẫn là yếu tố trọng tâm phân tích để trả lời câu hỏi nghiên cứu đặt ra, nghiên cứu sẽ tập trung đào sâu tìm hiểu đánh giá yếu tố đa dạng hóa thu nhập.
Các biến được khái quát như sau:
Bảng 3.1: Tổng hợp biến
| Tên biến | Đo lường | Dấu kỳ vọng |
| Biến phụ thuộc | ||
| Tỷ suất sinh lợi tổng tài sản (ROA) | ||
| Tỷ suất sinh lợi trên VCSH (ROE) | ||
| SDROA | ||
| SDROE | ||
| Biến độc lập | ||
| Đa dạng hóa thu | ||
| nhập (DDH) | + | |
| Tỷ lệ thu nhập từ | ||
| hoạt động dịch vụ (DV) | + | |
| Tỷ lệ thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng (NH) | Thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng. Thu nhập ngoài lãi | + |
| Tỷ lệ thu nhập từ hoạt động mua bán chứng khoán, góp vốn mua cổ phần và các hoạt động khác | , Luận văn: PPNC Tác động đa dạng hóa thu nhập khả năng sinh lời. | + |
| Biến kiểm soát | ||
| Tỷ lệ an toàn vốn (VCSH) | Vốn chủ sở hữu/Tổng tài sản | + |
| Tỷ lệ cho vay khách hàng (CV) | Dư nợ cho vay/Tổng tài sản | + |
| Tỷ lệ tiền gửi của khách hàng (TG) | Tiền gửi khách hàng/Tổng dư nợ | + |
| Quy mô (QM) | Logarit tổng tài sản | + |
| Tỷ lệ chi phí hoạt động của ngân hàng (HQ) | Chi phí hoạt động/Thu nhập | – |
| Rủi ro ngân hàng (RR) | Dự phòng cho vay khách hàng/Tổng tài sản | – |
| Các yếu tố vĩ mô Luận văn: PPNC Tác động đa dạng hóa thu nhập khả năng sinh lời. | ||
| Tăng trưởng kinh tế (GDP) | + | |
| Lạm phát (LP) | Lạm phát CPI hàng năm | – |
| Độ mở (MO) | Đầu tư trực tiếp nước ngoài/Tổng sản phẩm quốc nội (FDI/GDP) | + |
Nguồn: Tác giả tự tổng hơp
3.2. Giả thuyết nghiên cứu Luận văn: PPNC Tác động đa dạng hóa thu nhập khả năng sinh lời.
Đa dạng hóa thu nhập: Theo lý thuyết đa dạng hóa danh mục đầu tư hiện đại thì khi ngân hàng đa dạng hóa thu nhập sẽ làm tăng lợi nhuận và giảm rủi ro của ngân hàng. Các nghiên cứu của Meslier và cộng sự (2014), Lee và cộng sự (2014), Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai (2015), Lê Long Hậu, Phạm Xuân Quỳnh (2016) và của Moudud-Ul-Huq và cộng sự (2018) cho thấy đa dạng hóa thu nhập càng cao thì khả năng sinh lời của ngân hàng càng cao. Ngược lại, các nghiên cứu của DeYoung & Rice (2004), Stiroh (2004a, 2004b), Mercieca và cộng sự (2007) cho kết quả đa dạng hóa thu nhập tăng thì khả năng sinh lời lại giảm. Dựa trên cơ sở lý thuyết và một số nghiên cứu trước, tác giả ủng hộ quan điểm cho rằng đa dạng hóa thu nhập sẽ giúp ngân hàng giảm rủi ro và tăng lợi nhuận nhờ vào việc ngân hàng phân tán rủi ro và tận dụng nguồn lực sẵn có của ngân hàng để cung cấp thêm nhiều dịch vụ, tăng thêm thu nhập cho ngân hàng, điều này làm tăng khả năng sinh lời của ngân hàng. Vì vậy, luận văn đưa ra giả thuyết:
H1: Đa dạng hóa thu nhập có mối quan hệ cùng chiều đến khả năng sinh lời của ngân hàng.
Quy mô (SIZE): Những ngân hàng lớn hơn có thể ổn định hơn vì các rủi ro riêng lẻ thường có xu hướng giảm theo quy mô. Những ngân hàng lớn có khả năng đầu tư vào công nghệ hiện đại hơn và nói chung có quản trị rủi ro tốt hơn cũng như có khả năng mở rộng hoạt động kinh doanh (Meslier và cộng sự, 2014). Những ngân hàng lớn hơn cũng có thể có cơ hội đa dạng hóa tốt hơn và ít biến động thu nhập khi mở rộng vào thị trường mới (Sanya & Wolfe, 2011). Các ngân hàng lớn hơn có thể có cơ hội quản lý rủi ro và đa dạng hóa tốt hơn, mặt khác, các ngân hàng nhỏ linh hoạt hơn trong hoạt động (Sanya và Wolfe 2011; Chiorazzo và cộng sự 2008; DeYoung và Rice 2004). Như vậy, ngân hàng có quy mô lớn sẽ làm tăng khả năng sinh lời và giảm rủi ro. Kết quả này được minh chứng trong nghiên cứu của Lee và cộng sự (2014), Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai (2015). Tuy nhiên, nghiên cứu của Meslier và cộng sự (2014) cho kết quả mối quan hệ ngược chiều giữa quy mô và khả năng sinh lời ngân hàng. Biến này cũng được sử dụng trong hầu hết các nghiên cứu gần đây trong tài liệu đa dạng hóa thu nhập (Sanya và Wolfe 2011; Chiorazzo và cộng sự 2008; Stiroh 2004a, Stiroh 2004b). Dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước, tác giả ủng hộ quan điểm ngân hàng quy mô lớn có khả năng mở rộng kinh doanh tốt hơn, quản lý rủi ro tốt hơn nên sẽ tăng khả năng sinh lời và giảm rủi ro của ngân hàng. Vì vậy, luận văn đưa ra giả thuyết:
H2: Quy mô của ngân hàng mối quan hệ cùng chiều đến khả năng sinh lời của ngân hàng.
Tỷ lệ an toàn vốn (VCSH): Biến này cho biết mức độ đòn bẩy tài chính của một ngân hàng. Các chỉ số vốn thể hiện sức mạnh và vị thế của ngân hàng trên thị trường tài chính, sức mạnh thể hiện ở khả năng chịu và phục hồi sau cú sốc kinh tế. Vốn chủ sở hữu hấp thụ những cú sốc lớn và bảo vệ ngân hàng khi giá trị tài sản giảm, giảm nguy cơ phá sản. Vì vậy ngân hàng có tỷ lệ an toàn vốn cao thì rủi ro thấp hơn, khả năng sinh lời cao hơn. Ngân hàng có nhiều vốn sẽ ít cần nguồn tài trợ bên ngoài và chi phí vốn thấp hơn khi thiếu vốn. Mặt khác, khi mức vốn cao, mức độ đòn bẩy và rủi ro thấp hơn. Nhiều người cho rằng lợi nhuận của cổ đông nên cao hơn khi mức độ sở hữu giảm và rủi ro tăng. Nghiên cứu của Goddard và cộng sự (2004), Stiroh & Rumble (2006), Lê Long Hậu và Phạm Xuân Quỳnh (2017) cho thấy mối tương quan cùng chiều giữa vốn chủ sở hữu/tổng tài sản đối với khả năng sinh lời ngân hàng. Các nghiên cứu (Almumani, 2013; Anbar và Alper, 2011) không tìm thấy mối quan hệ nào cả. Biến này cũng được sử dụng trong hầu hết các nghiên cứu gần đây trong tài liệu về đa dạng hóa thu nhập (Sanya và Wolfe 2011; Chiorazzo và cộng sự 2008; Stiroh, 2004b). Trên cơ sở lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm, tác giả ủng hộ quan điểm cho rằng tỷ lệ an toàn vốn cao thì rủi ro thấp hơn và khả năng sinh lời cao hơn. Vì vậy, luận văn đưa ra giả thuyết:
H3: Tỷ lệ an toàn vốn có mối quan hệ cùng chiều với khả năng sinh lời của ngân hàng. Luận văn: PPNC Tác động đa dạng hóa thu nhập khả năng sinh lời.
Tỷ lệ cho vay của ngân hàng (CV): Biến này là đại diện cho tác động của chiến lược cho vay đối với khả năng sinh lời và ghi nhận sự khác nhau trong danh mục tài sản của ngân hàng. Việc gia tăng danh mục thiếu tính thanh khoản có thể gia tăng sự dễ tổn thương của ngân hàng theo hoạt động của khách hàng. Tuy nhiên cũng có nghiên cứu trước chỉ ra rằng thu nhập lãi ròng là nguồn doanh thu ổn định vì khách hàng ít có khả năng chuyển đổi thường xuyên các mối quan hệ cho vay (DeYoung & Roland, 2001). Vì vậy tỷ lệ cho vay trên tài sản cao sẽ tăng khả năng sinh lời của ngân hàng nhưng đồng thời cũng tăng rủi ro cho ngân hàng. Nghiên cứu của Chiorazzo và cộng sự (2008), Sanya & Wolfe (2011) cho kết quả mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản và khả năng sinh lời ngân hàng. Dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm, tác giả ủng hộ quan điểm tỷ lệ cho vay cao thì khả năng sinh lời cao nhưng vì rủi ro cũng tăng cao hơn và có thể tăng cao hơn mức tăng của lợi nhuận nên khả năng sinh lời điều chỉnh rủi ro của ngân hàng sẽ giảm. Vì vậy, luận văn đưa ra giả thuyết:
H4: Tỷ lệ cho vay khách hàng có mối quan hệ cùng chiều với khả năng sinh lời của ngân hàng.
Tỷ lệ tiền gửi của khách hàng (TG): Nguồn tiền gửi của khách hàng là nguồn tài trợ chủ yếu cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng, tính ổn định cao hơn và có chi phí rẻ hơn các nguồn tài trợ khác. Vì vậy tỷ lệ này càng cao thì khả năng sinh lời ngân hàng càng cao và rủi ro càng thấp. Kết quả nghiên cứu của Lee và cộng sự (2014) cũng cho thấy tỷ lệ tiền gửi trên tài sản có mối quan hệ cùng chiều với khả năng sinh lời của ngân hàng và có mối quan hệ ngược chiều với rủi ro. Trong khi đó, kết quả nghiên cứu của Lê Long Hậu và Phạm Xuân Quỳnh (2017) cho thấy tỷ lệ tiền gửi có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với khả năng sinh lời của ngân hàng. Dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm, tác giả ủng hộ quan điểm chi phí vốn đối với nguồn tiền gửi của khách hàng thì rẻ hơn các nguồn vốn khác, khi ngân hàng huy động vốn từ tiền gửi của khách hàng càng nhiều thì sẽ tiết kiệm chi phí trả lãi cho ngân hàng hơn, đem lại lợi nhuận cao hơn cho ngân hàng, đây cũng là nguồn vốn ổn định, ít rủi ro cho ngân hàng. Vì vậy, giả thuyết được đưa ra là:
H5: Tỷ lệ tiền gửi của khách hàng có mối quan hệ cùng chiều với khả năng sinh lợi của ngân hàng.
Tỷ lệ chi phí hoạt động của ngân hàng (HQ): Thể hiện hiệu quả quản lý hoạt động của ngân hàng, được đo bằng tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng thu nhập của ngân hàng. Ngân hàng được quản lý điều hành hiệu quả thì chi phí hoạt động thấp, do đó tỷ lệ này giảm. Nghiên cứu của Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2015), Lê Long Hậu và Phạm Xuân Quỳnh (2017) cùng đưa biến này vào mô hình và cho thấy kết quả mối quan hệ ngược chiều nghĩa là tỷ lệ chi phí hoạt động càng cao thì khả năng sinh lời càng thấp. Dựa trên cơ sở lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm, tác giả ủng hộ quan điểm khi hiệu quả quản lý điều hành hoạt động của ngân hàng càng cao thì việc quản lý rủi ro càng tốt, khả năng sinh lời càng cao. Vì vậy, giả thuyết nghiên cứu được đưa ra là: Luận văn: PPNC Tác động đa dạng hóa thu nhập khả năng sinh lời.
H6: Tỷ lệ chi phí hoạt động có mối quan hệ ngược chiều với khả năng sinh lời của ngân hàng.
Rủi ro tín dụng của ngân hàng (RR): Thể hiện qua tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng. Rủi ro tín dụng càng thấp đồng nghĩa tỷ lệ dự phòng cho vay càng thấp (LLP thấp) thì hiệu quả ngân hàng càng cao. Thông thường các khoản cho vay có vấn đề làm gia tăng rủi ro tín dụng, thường làm giảm lợi nhuận của ngân hàng. Các ngân hàng có tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng cao hơn có thể vì các ngân hàng đang có chiến lược cho vay mạnh mẽ hơn. Các khoản cho vay dự kiến có rủi ro cao sẽ yêu cầu dự phòng rủi ro tín dụng cao hơn, điều này làm gia tăng chi phí và giảm thu nhập. Tuy nhiên, hiệu ứng này có thể được bù lại bởi lãi suất cao hơn vì tính phí cho người đi vay mạo hiểm. Ý nghĩa của tỷ số này là gì và luôn là câu hỏi đặt ra của các nhà quản trị, bởi vì mức dự phòng rủi ro tín dụng có thể không cho thấy các khoản vay có vấn đề mà có ý nghĩa tích cực nhằm hạn chế rủi ro xảy ra (Golin và Delhaise, 2013). Một số nghiên cứu cho thấy rủi ro tín dụng tác động ngược chiều đến khả năng sinh lời như nghiên cứu của Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai (2015). Nghiên cứu của Lee và cộng sự (2014) lại cho thấy mối quan hệ tích cực giữa rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời ngân hàng. Dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm, tác giả ủng hộ quan điểm cho rằng rủi ro tín dụng cao thì ngân hàng phải trích lập dự phòng rủi ro cao hơn và sẽ làm giảm lợi nhuận của ngân hàng, vì vậy khả năng sinh lời giảm. Do đó, luận văn đưa ra giả thuyết là: Luận văn: PPNC Tác động đa dạng hóa thu nhập khả năng sinh lời.
H7: Rủi ro tín dụng có mối quan hệ ngược chiều với khả năng sinh lời của ngân hàng.
Tăng trưởng kinh tế (GDP): Biến số này được tính dựa trên sự thay đổi thực trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) theo năm đối với từng quốc gia. Tăng trưởng kinh tế sẽ tác động đến lợi nhuận ngân hàng, vì trong thời kỳ tăng trưởng, các ngân hàng có xu hướng giảm lãi suất kèo theo nhu cầu vay tăng cao, điều này cho phép các ngân hàng thu phí nhiều hơn từ các dịch vụ của họ. Tăng trưởng GDP tác động cùng chiều đến khả năng sinh lời ngân hàng trong một số nghiên cứu (Meslier và cộng sự (2014), Lê Long Hậu và Phạm Xuân Quỳnh (2017)). Một số nghiên cứu tìm thấy không có mối liên hệ nào giữa tăng trưởng kinh tế và hiệu quả hoạt động của ngân hàng (Sufian và Chong 2008, Anbar và Alper 2011, Poposka và Trpkoski 2013). Sanya và Wolfe (2011) tìm thấy mối tương quan ngược chiều giữa tăng trưởng kinh tế và khả năng sinh lời. Trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm, tác giả ủng hộ quan điểm cho rằng tăng trưởng kinh tế cao sẽ là điều kiện cho các ngân hàng tăng khả năng sinh lời và cũng giảm rủi ro cho ngân hàng. Vì vậy, luận văn đưa ra giả thuyết là:
H8: Tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ cùng chiều với khả năng sinh lời của ngân hàng.
Lạm phát (INF): Tỷ lệ lạm phát được tính bằng cách dựa vào tỷ lệ thay đổi CPI cho từng quốc gia của từng năm. Ferrouhi (2014) cho rằng lạm phát tác động trực tiếp và gián tiếp đến khả năng sinh lời của ngân hàng. Tác động trực tiếp thông qua việc ngân hàng phải chi trả cho nguồn đầu vào như lao động, trang thiết bị khi giá cả tăng lên. Tác động gián tiếp thông qua những thay đổi về lãi suất tỷ giá và giá trị tài sản. Biến động lạm phát tác động ngược chiều đến khả năng sinh lời trong một số nghiên cứu (Ayaydin và Karakaya 2014; Ongore và Kusa 2013; Sufian và Chong 2008). Một số nghiên cứu khác tìm thấy mối tương quan cùng chiều (của Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2015), Lê Long Hậu và Phạm Xuân Quỳnh (2016)). Nghiên cứu của Anbar và Alper (2011) không tìm thấy mối liên hệ nào giữa lạm phát và khả năng sinh lợi. Trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm, tác giả ủng hộ quan điểm cho rằng lạm phát cao sẽ cản trở hoạt động kinh doanh của ngân hàng, làm tăng rủi ro và giảm khả năng sinh lời của ngân hàng. Vì vậy, luận văn đưa ra giả thuyết:
H9: Lạm phát có mối quan hệ ngược chiều với khả năng sinh lời của ngân hàng. Luận văn: PPNC Tác động đa dạng hóa thu nhập khả năng sinh lời.
Độ mở tài chính (FO): Việc mở cửa tài chính là một phần của toàn cầu hóa kinh tế, vốn là một xu hướng trên thế giới. Trong nghiên cứu của Chu (2016) đã điều tra tác động của độ mở tài chính đối với hoạt động của các ngân hàng thương mại Trung Quốc với dữ liệu của 5 ngân hàng thương mại lớn đầu tiên của Trung Quốc đã được phân tích trong giai đoạn 1997 – 2013. Kết quả cho thấy mối quan hệ cùng chiều giữa độ mở tài chính và hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại. Chortareas, Girardone & Ventouri (2012) nghiên cứu mối quan hệ giữa độ mở tài chính và hiệu quả hoạt động ngân hàng của 27 quốc gia thành viên trong Liên minh châu Âu trong giai đoạn 2001 đến 2009 và sử dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA) để xây dựng mô hình hồi quy cắt ngang (STA cross-section regression model). Kết quả cho thấy có mối quan hệ chặt chẽ giữa độ mở tài chính và hiệu quả ngân hàng, và độ mở tài chính cao hơn sẽ mang lại nhiều lợi ích hơn cho các ngân hàng trong nước về chi phí và khả năng sinh lời tổng thể. Nhưng có những nghiên cứu cho thấy kết quả ngược lại như Agénor (2003) chỉ ra rằng độ mở tài chính, trong một thời gian ngắn, sẽ mang lại sự biến động của sự dịch chuyển vốn và những cú sốc thị trường bên ngoài, điều này sẽ dẫn đến sự bất ổn của hệ thống ngân hàng trong nước. Nếu ngành ngân hàng gặp khủng hoảng và tồn tại trong một thời gian dài, có thể dẫn đến suy thoái. Luo, Tanna và De Vita (2016) nghiên cứu tác động của sự mở cửa tài chính đến hiệu quả lợi nhuận của ngân hàng bằng cách tính đến vai trò nội sinh của rủi ro ngân hàng. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu của 2.007 ngân hàng thương mại ở 140 quốc gia trong thời kỳ 1999-2011 và hồi quy bảng động bằng phương pháp ước lượng GMM cho kết quả là độ mở tài chính làm giảm hiệu quả lợi nhuận của ngân hàng. Trên cơ sở các nghiên cứu trước, tác giả cho rằng Việt Nam cũng đã mở cửa tài chính một thời gian và đang đem lại những tác động tích cực đối với nền kinh tế nước ta, nên tác giả ủng hộ quan điểm độ mở tài chính càng cao thì khả năng sinh lời càng cao. Do đó, luận văn đưa ra giả thuyết:
H10: Độ mở tài chính có mối quan hệ cùng chiều với khả năng sinh lời của ngân hàng
3.3. Quy trình nghiên cứu Luận văn: PPNC Tác động đa dạng hóa thu nhập khả năng sinh lời.
Các bước chính của nghiên cứu được tiến hành như sau :
Bước 1 : Xác định vấn đề nghiên cứu, đó là đa dạng hóa thu nhập và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam.
Bước 2 : Tổng quan cơ sở lý thuyết, đồng thời khảo lược các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới và Việt Nam về tác động của đa dạng hóa thu nhập ngân hàng đến khả năng sinh lời ngân hàng, từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu lý thuyết.
Bước 3 : Thu thập và xử lý dữ liệu nghiên cứu. Các dữ liệu của các NHTM Việt Nam được thu thập từ báo cáo tài chính đã kiểm toán, các dữ liệu về kinh tế vĩ mô được thu thập trên trang web của Quỹ tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund – IMF) và Ngân hàng thế giới (Worldbank). Dựa trên các dữ liệu này, luận văn tính toán các số liệu cần thiết cho việc chạy mô hình nghiên cứu. Cách tính các biến được trình bày rõ ở mục 5.1.
Bước 4 : Chạy mô hình và kiểm định mô hình nghiên cứu. Nghiên cứu này thực hiện kiểm định mô hình hồi quy với ước lượng SystemGMM hai bước trên phần mềm Stata 16. Luận văn sẽ kiểm tra hệ số tương quan giữa các biến độc lập để xem có tồn tại đa cộng tuyến hay không, đồng thời khi chạy mô hình hồi quy ước lượng SGMM trên phần mềm Stata thù cũng thực hiện các kiểm định về tự tương quan bậc 2 (AR2) và kiểm định Hansen để kiểm định tính over-identifying của các biến công cụ. Khi các kiểm định này thỏa điều kiện thì biến công cụ là phù hợp, đảm bảo kết quả của mô hình nghiên cứu là phù hợp.
Bước 5 : Trình bày và thảo luận kết quả nghiên cứu. Luận văn trình bày kết quả nghiên cứu ở Việt Nam, đồng thời thảo luận và so sánh với kết quả của các nghiên cứu trước liên quan. Luận văn: PPNC Tác động đa dạng hóa thu nhập khả năng sinh lời.
Bước 6 : Kết luận và gợi ý chính sách. Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn đưa ra kết luận và các gợi ý chính sách để tăng mức độ đa dạng hóa thu nhập và khả năng sinh lời của NHTM Việt Nam.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến khả năng sinh lời ở ngân hàng

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com


[…] ===>>> Luận văn: PPNC Tác động đa dạng hóa thu nhập khả năng sinh lời […]