Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học phổ thông ở huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam theo Chuẩn nghề nghiệp để phát triển năng lực dạy học dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Vài nét khái quát về địa bàn nghiên cứu

Huyện Lý Nhân là huyện thuần nông của tỉnh Hà Nam, phía bắc giáp huyện Duy Tiên, phía đông giáp tỉnh Hưng Yên và Thái Bình (danh giới là dòng sông Hồng), phía tây giáp huyện Bình Lục và huyện Duy Tiên,phía Nam giáp tỉnh Nam Định và huyện Bình Lục, với tổng diện tích là 167,045 km2, vốn là đất hình thành tại chỗ và do phù sa sông Hồng bồi đắp trong toạ độ 20035’ độ vĩ Bắc, 10605’ độ kinh Đông. Hai con sông dọc theo huyện là sông Hồng và sông Châu có tổng chiều dài 78km với diện tích lưu vực khoảng 1.084 ha. Lý Nhân có 22 xã và 01 thị trấn, với 195.800 nhân khẩu. Lao động của huyện chủ yếu sống bằng nghề nông kết hợp với một số ngành nghề truyền thống như: dệt, sản xuất đồ mộc, làm bánh đa nem…. Lý Nhân là vùng đất hình thành sớm, cư dân sinh sống từ thuở các thời vua Hùng mở nước, người Lý Nhân đã từng phụ thuộc Đông Đô, Hà Nội, tiếp thu những tinh hoa của nền văn minh Thăng Long. Nguồn nhân lực dồi dào, người dân Lý Nhân có sức chịu đựng gian khổ, có nghị lực phấn đấu cao, có lòng yêu nước thiết tha đồng thời lại có chí hiếu học. Sự nghiệp giáo dục ổn định, phát triển vững chắc (8 năm liền luôn dẫn đầu toàn tỉnh) là nơi cung cấp nguồn lực có trình độ cao đáp ứng yêu cầu của quá trình CNH – HĐH của đất nước, đưa nền kinh tế của Lý Nhân phát triển ngang tầm với khu vực. Trong những năm đổi mới vừa qua và hiện nay, kinh tế xã hội Lý Nhân đã có bước phát triển quan trọng, tạo nền tảng và tạo đà cho Lý Nhân phát triển trong giai đoạn tới. Các cấp chính quyền, nhân dân trong huyện đang và sẽ có những nỗ lực, quyết tâm to lớn trong việc xây dựng, phát triển quê hương Lý Nhân ngày một giàu mạnh.

Huyện Lý Nhân có 85 trường học, trong đó: 26 trường THCS, 31 trường Tiểu học, 24 trường Mầm non và 4 trường Trung học phổ thông (Lý Nhân, Nam Lý, Bắc Lý và Nam Cao).

Trường Trung học phổ thông Lý Nhân được thành lập từ năm 1961, tại thị trấn Vĩnh Trụ -huyện Lý Nhân – tỉnh Hà Nam. Trường tuyển sinh HS thuộc các xã Chính Lý, Công Lý, Đồng Lý, Nhân Khang, thị trấn Vĩnh Trụ và một số HS thuộc các xã Nguyên Lý, Đức Lý, Văn Lý, Nhân Chính, Hợp Lý và THCS Nam Cao. Trường THCS Nam Cao là cơ sở tạo nên chất lượng mũi nhọn cho trường Trung học phổ thông Lý Nhân. Trường Trung học phổ thông Lý Nhân đạt chuẩn quốc gia năm 2005.

Trường Trung học phổ thông Nam Lý được thành lập từ năm 1969, tại xã Tiến Thắng –huyện Lý Nhân – tỉnh Hà Nam. Trường tuyển sinh HS thuộc các xã Hòa Hậu, Tiến Thắng, Phú Phúc, Xuân Khê và một số HS thuộc xã Nhân Mỹ, xã An Ninh – Bình Lục. Trường THCS Nhân Hậu, thuộc xã Hòa Hậu là cơ sở tạo nên chất lượng mũi nhọn cho trường Trung học phổ thông Nam Lý. Trường Trung học phổ thông Nam Lý đạt chuẩn quốc gia năm 2009.

Trường Trung học phổ thông Bắc Lý được thành lập từ năm 1982, tại xã Bắc Lý – huyện Lý Nhân – tỉnh Hà Nam. Trường tuyển sinh HS thuộc các xã Bắc Lý, Đạo Lý, Chân Lý, Nhân Đạo, Nhân Nghĩa, Đức Lý, Nguyên Lý và Nhân Chính. Trường THCS Bắc Lý và trường THCS Chân Lý là hai cơ sở tạo nên chất lượng mũi nhọn cho trường Trung học phổ thông Bắc Lý.

Trường Trung học phổ thông Nam Cao được thành lập từ năm 2002, tại xã Nhân Mỹ –huyện Lý Nhân – tỉnh Hà Nam. Trường tuyển sinh HS thuộc các xã Nhân Bình, Nhân Thịnh, Nhân Hưng, và một số HS thuộc xã Nhân Mỹ. Trường THCS Nhân Thịnh là cơ sở tạo nên chất lượng mũi nhọn cho trường Trung học phổ thông Nam Cao.

2.2. Quy mô, chất lượng đào tạo của các trường Trung học phổ thông huyện Lý Nhân Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT.

2.2.1. Về quy mô trường lớp và điều kiện cơ sở vật chất

  • Bảng 2.1. Thống kê số lớp và số HS từ năm 2013 -2016

Bảng thống kê trên cho thấy mạng lưới trường lớp cấp Trung học phổ thông của huyện Lý Nhân có dấu hiệu suy giảm về số lớp và số lượng học sinh. Nguyên nhân là do sau khi tốt nghiệp THCS, đã có sự phân luồng giáo dục, một số em đã chuyển sang đi học nghề hoặc đi làm công nhân, một số em có điều kiện gia đình khá giả và lực học tốt chuyển lên học tại các trường Trung học phổ thông của Hà Nội hoặc tỉnh Nam Định. Đây là dấu hiệu mừng của nền giáo dục nhưng cũng là một thách thức với giáo dục Trung học phổ thông huyện Lý Nhân, nếu không nâng cao được chất lượng thì giáo dục Trung học phổ thông sẽ không thực sự hấp dẫn với một số em HS tốt nghiệp THCS.

Thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục, các trường trong huyện đã huy động các nguồn lực ngân sách và sự đóng góp của nhân dân đầu tư nâng cấp cơ sở trường lớp ngày càng khang trang, sạch đẹp, thân thiện với môi trường. Đến nay huyện đã có 2/4 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 50%. 100% các trường học trong huyện đều có đủ số phòng học cho việc học một ca, đủ các phòng chức năng, phòng học bộ môn, được trang bị vi tính, máy chiếu, kết nối Internet và các phương tiện, đồ dùng dạy học chuẩn hóa, hiện đại hóa phục vụ đổi mới công tác dạy và học, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và giảng dạy.

2.2.2. Về chất lượng đầu vào

Hàng năm, các trường Trung học phổ thông của huyện Lý Nhân thu hút được khoảng 80% số HS tốt nghiệp THCS đăng kí dự thi vào trường Trung học phổ thông. Các em dự thi các môn Toán, Ngữ Văn và Tiếng Anh. Điểm xét tuyển vào lớp 10 là tổng của môn Toán nhân đôi, môn Ngữ văn nhân đôi, môn Tiếng Anh và điểm ưu tiên, khuyến khích.

  • Bảng 2.2. Thống kê điểm thi vào lớp 10 trong 3 năm gần đây
  • Biểu đồ 2.1. Điểm thi tuyển sinh vào lớp 10

Qua bảng thống kê và biểu đồ ta thấy, điểm đầu vào của trường Trung học phổ thông Lý Nhân là cao và ổn định hơn cả, điểm đầu vào trung bình của trường khoảng 5 điểm / bài thi. Điểm đầu vào của trường Trung học phổ thông Bắc Lý và Trung học phổ thông Nam Cao là rất thấp, đặc biệt là trường Trung học phổ thông Nam Cao năm học 2013 – 2014 là 1,55 điểm / bài thi. Nguyên nhân của hiện tượng này là trường Trung học phổ thông Lý Nhân có lợi thế về vùng tuyển sinh rộng, gồm nhiều trường THCS có chất lượng tốt, trong khi đó thì trường Trung học phổ thông Nam Cao có vùng tuyển sinh hẹp, tỉ lệ tuyển sinh gần như 100%. Như vậy một số trường Trung học phổ thông của huyện Lý Nhân đã phải tuyển cả những em HS có năng lực học tập rất thấp, là một khó khăn cho công tác giáo dục và đào tạo, đảm bảo chất lượng đầu ra.

2.2.3. Về chất lượng giáo dục Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT.

2.2.3.1 Về giáo dục đạo đức

  • Bảng 2.3. Thống kê kết quả xếp loại hạnh kiểm 3 năm học

Qua kết quả thống kê và nghiên cứu thực tế tại các nhà trường cho thấy: đa số HS các trường Trung học phổ thông huyện Lý Nhân đã có ý thức tốt, chăm ngoan (hạnh kiểm tốt ngày càng tăng, hạnh kiểm yếu ngày càng giảm). Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận HS chưa có ý thức tự giác cao, do đó còn thờ ơ xem thường kỷ cương nề nếp nhà trường dẫn tới vi phạm nội quy, quy chế, còn vi phạm luật an toàn giao thông, bạo lực học đường. Các trường Trung học phổ thông của huyện Lý Nhân đã có nhận thức khá cao về vai trò và tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức cho HS, đã tổ chức các buổi hội thảo GVCN, tích cực thực hiện các biện pháp “Giáo dục kỷ luật tích cực” nhằm giáo dục HS phát triển toàn diện đáp ứng yêu cầu của xã hội. Tuy nhiên, công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho HS của nhà trường do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan còn bộc lộ nhiều hạn chế và bất cập chưa đáp ứng yêu cầu giáo dục đạo đức trong giai đoạn hiện nay.

2.2.3.2 Về trí dục

Kết quả xếp loại học lực:

  • Bảng 2.4. Thống kê kết quả xếp loại học lực trong 3 năm gần đây

Kết quả thống kê cho thấy, tỉ lệ HS giỏi của các trường Trung học phổ thông huyện Lý Nhân tăng dần, trong khi đó tỉ lệ yếu kém giảm dần, tỉ lệ HS khá tương đối ổn định. Có được kết quả này là do các trường Trung học phổ thông của huyện Lý Nhân đã có những kế hoạch và áp dụng những biện pháp tích cực cụ thể như: tổ chức duy trì tốt nền nếp dạy – học của thầy và trò, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dạy và học, chỉ đạo thầy, cô tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học trò; đổi mới cách kiểm tra, đánh giá; tạo khí thế thi đua sôi nổi trong công tác dạy học như phát động thường xuyên các phong trào thi đua, các đợt thi đua dạy tốt – học tốt, kịp thời tuyên dương, động viên thầy cô, HS có thành tích xuất sắc trong công tác dạy và học; thẳng thắn chỉ ra những nhược điểm còn tồn tại để thầy cô và HS điều chỉnh, uốn nắn; phối kết hợp chặt chẽ giữa các lực lượng giáo dục trong nhà trường với phụ huynh HS và lực lượng ngoài nhà trường trong việc tạo các điều kiện hỗ trợ công tác dạy và học…. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT.

Kết quả bồi dưỡng Học sinh giỏi:

  • Bảng 2.5. Kết quả thi Học sinh giỏi văn hóa cấp tỉnh từ 2013 – 2016
  • Bảng 2.6. Kết quả thi Học sinh giỏi thể dục thể thao từ năm 2013 – 2016
  • Bảng 2.7. Kết quả thi sáng tạo khoa học kĩ thuật; vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết vấn đề thực tiễn (giải quốc gia)

Qua bảng bảng 2.5, bảng 2.6, bảng 2.7 và nghiên cứu thực tế tại các nhà trường, chúng tôi thấy chất lượng giáo dục mũi nhọn của các trường Trung học phổ thông huyện Lý Nhân ngày càng được nâng cao. HS có ý thức cao trong học tập, kết quả học tập tốt. Tỉ lệ HS giỏi được giữ vững ở mức cao. HS giành nhiều giải cao trong các cuộc thi văn hóa, thể dục, thể thao cấp Tỉnh. Các cuộc thi mới như thi sáng tạo khoa học kĩ thuật, thi vận dụng kiến thức liên môn cũng được làm quen và bước đầu đạt được kết quả tốt. Có được kết quả này là do các trường Trung học phổ thông huyện Lý Nhân đã tích cực quan tâm đầu tư công tác bồi dưỡng Học sinh giỏi, xác định công tác Học sinh giỏi là mũi nhọn cần tập trung quan tâm để khẳng định chất lượng giảng dạy của nhà trường. Ban giám hiệu nhà trường đã tích cực quan tâm đặc biệt với công tác này như chỉ đạo việc lựa chọn và thành lập các đội tuyển từ sớm, tổ chức ôn tập liên tục, khảo sát nhiều vòng, thường xuyên động viên HS và GV trong đội tuyển các môn cả về vật chất và tinh thần. Tuy nhiên, chất lượng Học sinh giỏi lại không đồng đều giữa các trường Trung học phổ thông trong huyện, kết quả tốt thuộc về trường Trung học phổ thông Lý Nhân, còn kết quả chưa tốt thuộc về trường Trung học phổ thông Bắc Lý và Nam Cao. Nguyên nhân có thể là do trường Trung học phổ thông Lý Nhân có lợi thế về chất lượng đầu vào, tuyển được nhiều em HS thuộc trường THCS năng khướu Nam Cao, ngoài ra cũng có nhiều giáo viên sau một thời gian công tác, có năng lực tốt đã chuyển công tác về trường Trung học phổ thông Lý Nhân.

Kết quả thi tốt nghiệp, thi Trung học phổ thông quốc gia:

  • Bảng 2.8.Kết quả thi tốt nghiệp, thi Trung học phổ thông thông quốc gia từ năm 2013 – 2016
  • Biểu đồ 2.2.Tỉ lệ tốt nghiệp của các trường Trung học phổ thông huyện Lý Nhân

Qua bảng tổng hợp và biểu đồ tỉ lệ tốt nghiệp chúng ta thấy tỉ lệ đỗ tốt nghiệp của các trường Trung học phổ thông huyện Lý Nhân đều đạt mức cao, trên 93%. Năm học 2014 – 2015, tỉ lệ tốt nghiệp thấp hơn năm học trước là do mức độ đề thi, đề thi của năm học 2013 – 2014 chỉ nhằm mục tiêu xét tốt nghiệp, ở mức độ rất cơ bản, còn đề thi của năm học 2014 – 2015 nhằm hai mục đích là xét tốt nghiệp và xét đại học nên đề thi khó hơn. Đề thi của năm học 2015 – 2016 cũng nhằm mục đích như năm học 2014 – 2015, nhưng tỉ lệ tốt nghiệp đã tăng thêm gần 3%. Nguyên nhân là do các trường Trung học phổ thông trong huyện đã rút kinh nghiệm trong việc quản lý và hướng dẫn ôn tập cho HS lớp 12 như xây dựng kế hoạch sớm và có chỉ đạo sát trong việc tổ chức ôn tập, ôn thi, thi thử và tư vấn mùa thi cho HS.

2.3. Thực trạng về đội ngũ giáo viên và năng lực dạy học của giáo viên các trường Trung học phổ thông huyện Lý Nhân Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT.

2.3.1. Thực trạng về số lượng, giới tính, độ tuổi và trình độ của đội ngũ giáo viên

  • Bảng 2.9. Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý của năm học 2015 – 2016

Số lượng giáo viên đạt tỉ lệ 2,30 GV/lớp, hơi dư so với quy định tại TT 35/2006/ TTLT-BGD&ĐT-BNV, ngày 23/8/2006 là 2,25 GV/lớp, tuy nhiên vẫn còn hiện tượng thừa ở môn này, nhưng lại thiếu ở môn khác nên cũng khó khăn cho việc cân đối lao động.

Về giới tính: số lượng giáo viên giới tính nữ nhiều hơn nam, cụ thể tỉ lệ nữ là 179/251 = 71,3%.Giáo viên nữ ở các nhà trường hầu hết tuổi đời còn trẻ, mới xây dựng gia đình do đó ngoài công việc nhà trường còn phải chăm sóc con nhỏ nên thời gian dành cho hoạt động bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ còn hạn chế. Chính nguyên nhân này ảnh hưởng không nhỏ đến việc bồi dưỡng đội ngũ giáo viên của các nhà trường, đòi hỏi Cán bộ quản lý các nhà trường cần quan tâm đến các điều kiện, khả năng của giới tính để tìm ra những biện pháp quản lý, bố trí nhiệm vụ cho phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ và nâng cao trình độ chuyên môn.

Nhìn vào cơ cấu theo độ tuổi của đội ngũ giáo viên của các trường Trung học phổ thông của huyện Lý Nhân, chúng tôi có nhận xét về mặt mạnh của đội ngũ giáo viên như sau: giáo viên dưới 30 tuổi có 126 / 251 người, chiếm tỷ lệ 50,2%, đây là lực lượng giáo viên có sức khỏe tốt, được đào tạo cơ bản, có kiến thức về chuyên môn tốt, có khả năng nhận thức tiếp thu cái mới nhanh, năng nổ, nhiệt tình với công việc. Giáo viên từ 30 đến 45 tuổi có 104/251 người, chiếm tỷ lệ 41,4%. Giáo viên ở độ tuổi này có độ chính chắn nhất định về nhận thức xã hội và về nghề nghiệp, tự tin, có bản lĩnh nghề nghiệp, đã tích lũy được những vốn kiến thức và kinh nghiệm thực tế. Giáo viên trên 45 tuổi có 21/251 người, chiếm tỷ lệ 8,4%. Số giáo viên ở độ tuổi này họ được rèn luyện, phấn đấu với thời gian tương đối dài, có kinh nghiệm trong công tác, có uy tín trong đồng nghiệp, phụ huynh và HS. Về mặt hạn chế của đội ngũ giáo viên: giáo viên có tuổi đời trẻ, thâm niên giảng dạy còn mới, vốn sống thực tiễn chưa nhiều thiếu kinh nghiệm trong việc xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục HS, yếu về kỹ năng quản lý lớp học và cách ứng xử với các đồng nghiệp, phụ huynh. Còn số giáo viên có tuổi đời ngoài 45 tuổi do thâm niên công tác nên một số giáo viên hay dựa vào kinh nghiệm, thiếu sự năng động trong việc tiếp nhận, chọn lọc những tri thức mới, năng lực tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT.

Về trình độ đào tạo: 100% đạt chuẩn trong đó có 30/251 đồng chí trên chuẩn và có 8 đồng chí giáo viên đang học cao học.Những năm gần đây, đội ngũ giáo viên của các trường Trung học phổ thông trong huyện đã nhận thức rõ vai trò của giáo dục nói chung và vai trò của giáo viên nói riêng trong hoạt động dạy học, đã cố gắng tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ, thể hiện: số GV đạt trên đại học tăng dần theo từng năm, điều đó chứng tỏ rằng việc tự bồi dưỡng trình độ chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng dạy học được các đồng chí giáo viên luôn quan tâm và cố gắng, đồng thời cũng chứng tỏ rằng Cán bộ quản lý nhà trường luôn tạo điều kiện về mọi mặt để các đồng chí giáo viên có thể yên tâm theo học, đào tạo trên chuẩn.

2.3.2. Thực trạng về năng lực dạy học của đội ngũ giáo viên so với Chuẩn nghề nghiệp

Bằng phương pháp phỏng vấn, điều tra và khảo sát thực tế với các đồng chí tổ trưởng chuyên môn của các trường Trung học phổ thông của huyện Lý Nhân, chúng tôi có được những nhận định về năng lực dạy học của đội ngũ GV các trường Trung học phổ thông của huyện Lý Nhân như sau:

  • Bảng 2.10. Các mức độ của tiêu chí xây dựng kế hoạch dạy học
  • Bảng 2.11. Các mức độ của tiêu chí đảm bảo kiến thức môn học
  • Bảng 2. 12. Các mức độ của tiêu chí đảm bảo chương trình môn học
  • Bảng 2.13. Các mức độ của tiêu chí vận dụng các phương pháp dạy học
  • Bảng 2.14. Các mức độ của tiêu chí sử dụng các phương tiện dạy học
  • Bảng 2.15. Các mức độ của tiêu chí xây dựng môi trường học tập
  • Bảng 2.16. Các mức độ của tiêu chí quản lý hồ sơ dạy học
  • Bảng 2.17. Các mức độ của tiêu chí kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS
  • Bảng 2.18. Các mức độ của năng lực dạy học

Nếu đối chiếu năng lực dạy học thực tế của GV với hướng dẫn đánh giá GV theo Chuẩn nghề nghiệp thì điểm năng lực dạy học của 195GV các trường Trung học phổ thông huyện Lý Nhân đạt 16/32 điểm – xếp loại trung bình; 34GV đạt điểm từ 21 đến 25 điểm – xếp loại khá; 10GV đạt 26 điểm trở lên – loại xuất sắc. Loại khá là những đồng chí thực sự tâm huyết với nghề, có năng lực chuyên môn nghiệp vụ tốt, luôn hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao. Loại xuất sắc thường là những đồng chí tổ trưởng, nhóm trưởng chuyên môn tận tâm với công việc, có năng lực chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, đồng thời cũng phải có những hiểu biết tốt về đổi mới giáo dục, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ, đồng thời có khả năng giúp đỡ đồng nghiệp hoàn thành tốt nhiệm vụ. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT.

2.4. Thực trạng hoạt động bồi dưỡng đội ngũ giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp ở các trường Trung học phổ thông huyện Lý Nhân

Trong những năm gần đây, trước yêu cầu của đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT, hoạt động bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ giáo viên được coi như một phần tất yếu trong hoạt động giáo dục của nhà trường. Nhằm xây dựng đội ngũ theo chuẩn, nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu của công tác GD&ĐT trong giai đoạn hiện nay, nhà trường đã đặt ra nhiệm vụ mỗi cán bộ giáo viên phải có 120 tiết bồi dưỡng theo quy định của Bộ GD&ĐT. Để có thể đáp ứng nhiệm vụ chính trị của từng năm học và căn cứ vào tình hình thực tiễn, theo phương châm yếu khâu nào, bồi dưỡng khâu ấy, các trường Trung học phổ thông trong huyện Lý Nhân đã có kế hoạch chỉ đạo thực hiện có chất lượng và hiệu quả hoạt động bồi dưỡng đội ngũ. Tất cả cán bộ giáo viên của nhà trường đã thực hiện kế hoạch bồi dưỡng về những vấn đề mới trong đánh giá Chuẩn nghề nghiệp, về hướng dẫn HS nghiên cứu khoa học, về giảng dạy tích hợp tiết kiệm và sử dụng năng lượng hiệu quả, về đổi mới sinh hoạt chuyên môn, về các quan điểm của Bộ GD&ĐT, về chủ trương thay sách, về nội dung và chương trình SGK mới theo từng bộ môn, về bồi dưỡng phương pháp dạy học tích cực, sử dụng phương tiện và đồ dùng dạy học hiện đại… Hoạt động bồi dưỡng theo chuyên đề hàng năm có tác dụng tích cực, đã gắn việc bồi dưỡng kiến thức với thực hành sư phạm. Tài liệu bồi dưỡng, phương tiện, đồ dùng dạy học được chuẩn bị khá tốt. Nhờ có hoạt động bồi dưỡng mà trình độ đội ngũ giáo viên không ngừng được nâng lên góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ một cách toàn diện về nhận thức, trang bị, bổ sung các kiến thức cơ bản một cách có hệ thống. Trong các nội dung bồi dưỡng, việc bồi dưỡng đội ngũ theo Chuẩn nghề nghiệp đã được sự đồng tình ủng hộ cao của đội ngũ giáo viên trong nhà trường, là giải pháp tích cực nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ thúc đẩy và khuyến khích được đội ngũ nhà giáo phấn đấu học tập, rèn luyện, đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục. Mặc dù các trường Trung học phổ thông của huyện Lý Nhân đã thực hiện nhiệm vụ bồi dưỡng đội ngũ giáo viên theo kế hoạch và nội dung bồi dưỡng của Sở và Bộ GD&ĐT nhưng qua tham gia thực hiện hoạt động bồi dưỡng chuẩn hoá, chúng tôi nhận thấy việc bồi dưỡng vẫn còn những tồn tại như: thời gian bồi dưỡng tập trung ngắn; phụ thuộc nhiều vào việc tự bồi dưỡng của giáo viên; nội dung bồi dưỡng chưa cụ thể, thiết thực; phương pháp bồi dưỡng nặng về lý thuyết chưa chú trọng bồi dưỡng kỹ năng thực hành; một số giáo viên dạy bồi dưỡng còn hạn chế về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, thiếu kinh nghiệm thực tiễn; hoạt động bồi dưỡng giáo viên vẫn mang nhiều tính triển khai số đông; việc kiểm tra đánh giá sau bồi dưỡng chưa được quan tâm đúng mức.Vì vậy hoạt động bồi dưỡng đội ngũ của nhà trường gặp hai khó khăn sau: thứ nhất, đa số giáo viên không thấu hiếu một cách sâu sắc yêu cầu của Chuẩn, không đánh giá đúng bản thân theo Chuẩn, nên không xác định được chính xác các vấn đề cần bồi dưỡng, lúng túng trong quá trình phấn đấu để đạt Chuẩn. Thứ hai do nhận thức chưa đúng về vai trò ý nghĩa của Chuẩn trong việc nâng cao năng lực của giáo viên nên việc đào tạo bồi dưỡng đội ngũ chưa thực sự bám sát Chuẩn.

2.5. Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên các trường Trung học phổ thông huyện Lý Nhân theo Chuẩn nghề nghiệp. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT.

Để tìm hiểu thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên các trường Trung học phổ thông huyện Lý Nhân, chúng tôi tiến hành điều tra, khảo sát ở 2 nhóm khách thể sau:

  • Nhóm 1: gồm 10 Cán bộ quản lý (hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn) của 4 trường Trung học phổ thông trong huyện Lý Nhân.
  • Nhóm 2: gồm 40 giáo viên tiêu biểu của 4 trường Trung học phổ thông trong huyện Lý Nhân.

Nội dung điều tra khảo sát tập trung vào các vấn đề sau:

  • Khảo sát nhận thức vai trò quan trọng của hoạt động bồi dưỡng năng dạy học cho giáo viên đáp ứng yêu cầu Chuẩn nghề nghiệp;
  • Khảo sát thực trạng mức độ thực hiện các nội dung quản lý hoạt động bồi dưỡng nói trên.

Cho điểm các mức độ đánh giá, tính điểm trung bình và xếp thứ

  • Tính tổng điểm của mỗi mức độ đánh giá ở các phiếu (∑) Điểm trung bình () = ∑ / tổng số phiếu tham gia đánh giá
  • Dựa vào  để xếp thứ tự (đánh giá thứ bậc) và xếp loại cho các nội dung:
  • Sau đây là kết quả nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên các trường Trung học phổ thông huyện Lý Nhân

2.5.1. Thực trạng quản lý hoạt động đánh giá năng lực dạy học của đội ngũ giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT.

Hàng năm, các trường Trung học phổ thông của huyện Lý Nhân tổ chức đánh giá GV theo Chuẩn nghề nghiệp một lần vào cuối năm học. Kết quả khảo sát với 50 phiếu điều tra được thống kê trong bảng sau:

  • Bảng 2.19. Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động đánh giá GV theo Chuẩn

Qua khảo sát việc khảo sát kết quả đánh giá GV theo Chuẩn của các trường Trung học phổ thông huyện Lý Nhân năm học 2015 –2016, chúng tôi thấy thực trạng quản lý đánh giá GV như sau: Ban giám hiệu nhà trường phát cho mỗi đồng chí tổ trưởng chuyên môn một cuốn tài liệu hướng dẫn đánh giá GV theo Chuẩn, hướng dẫn sơ bộ cho các đồng chí tổ trưởng về phương pháp thực hiện đánh giá GV theo Chuẩn, đồng chí tổ trưởng chuyên môn triển khai thực hiện tại các tổ chuyên môn. Nhà trường chưa có động thái nào cho việc xây dựng hệ tham chiếu. GV dựa vào nhận thức của mỗi cá nhân để áp dụng Chuẩn theo cách hiểu của riêng mình. Và việc đánh giá GV theo Chuẩn được tiến hành như sau:

Bước 1. giáo viên tự đánh giá: nhà trường đã tiến hành cho GV tự đánh giá bản thân theo Chuẩn (thể hiện qua phiếu đánh giá của GV). Cụ thể, GV tự rà soát các tiêu chuẩn, tiêu chí xem mình đã đạt được những tiêu chí nào, ở mức độ nào, có minh chứng hay không vẫn cho điểm và xếp loại bản thân từ đó rút ra điểm mạnh, điểm yếu, hướng khắc phục và hướng phát huy. Kết quả GV tự đánh giá như sau:

  • Bảng 2.20. Kết quả xếp loại năng lực dạy học theo Chuẩn năm học 2015 –2016(GV tự đánh giá)

Bước 2. Tổ chuyên môn đánh giá: GV trình bày kết quả tự đánh giá của mình trước tổ, sau đó các thành viên trong tổ nhận xét, góp ý về kết quả mà đồng nghiệp đã tự nhận, về cơ bản các GV tán thành với kết quả tự nhận của đồng nghiệp, trừ khi có minh chứng rõ ràng thi họ mới có ý kiến phản đối. Sau đó tổ chuyên môn tổng hợp kết quả và nộp cho Ban giám hiệu.

  • Bảng 2.21. Kết quả xếp loại năng lực dạy học theo Chuẩn năm học 2015 –2016(Đánh giá của tổ chuyên môn)

Bước 3. Hiệu trưởng đánh giá: sau khi có kết quả đánh giá từ GV và tổ chuyên môn, hiệu trưởng tổ chức họp hội đồng thi đua. Thành phần của hội đồng thi đua bao gồm bí thư chi bộ, hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn, chủ tịch công đoàn, thanh tra nhân dân. Hội đồng thi đua xem xét kết quả tự đánh giá của mỗi GV (phiếu GV tự đánh giá) và kết quả đánh giá, xếp loại của tổ chuyên môn (phiếu đánh giá GV của tổ chuyên môn và phiếu tổng hợp xếp loại GV của tổ chuyên môn), thống nhất ý kiến rồi cuối cùng hiệu trưởng đưa ra quyết định đánh giá, xếp loại cho từng GV trong trường.

  • Bảng 2.22. Kết quả xếp loại năng lực dạy học theo Chuẩn năm học 2015 –2016(Đánh giá của hiệu trưởng
  • Biểu đồ 2.3.Tỉ lệ xếp loại năng lực dạy học của GV theo Chuẩn nghề nghiệp Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT.

Như vậy: không có sự thống nhất về đánh giá năng lực dạy học của GV các trường Trung học phổ thông trong huyện Lý Nhân giữa hồ sơ đánh giá GV theo Chuẩn nghề nghiệp với những thực tiễn quản lý, phỏng vấn, điều tra. Nguyên nhân là:

Về phía GV tự đánh giá: đa số GV chưa thấu hiếu một cách sâu sắc yêu cầu của Chuẩn; nhiều GV tự đánh giá chưa sát với thực tế, còn tự chấm điểm khá cao so với những gì bản thân đã đạt được, dẫn đến khó khăn cho tổ và Ban giám hiệu nếu không nhìn nhận một cách công bằng, chính xác; khó khăn lớn nhất đối với GV là việc tìm minh chứng cho các tiêu chí, tiêu chuẩn, bắt nguồn từ chỗ khi phấn đấu họ không biết phải làm gì và làm như thế nào để đáp ứng yêu cầu của Chuẩn.

Về phía đánh giá của tổ chuyên môn: khi đánh giá đồng nghiệp, do không có sự chuẩn bị các minh chứng nên GV không có cơ sở chính xác để đánh giá, cũng vì vậy nên ý kiến của họ còn mang tính chất chủ quan và thiếu tính thuyết phục, kết quả đánh giá của tổ không khác biệt là bao so với kết quả tự đánh giá của GV; tâm lý e ngại khi phải đánh giá đồng nghiệp dẫn đến việc đánh giá đồng nghiệp cao hơn so với kết quả thực tế mà đồng nghiệp đã đạt được.

Về phía đánh giá của hiệu trưởng: trên thực tế, Ban giám hiệu nhà trường chỉ mới quản lý được một số mặt hoạt động của GV, chủ yếu là qua dự giờ thăm lớp, lấy ý kiến nhận xét GV từ GV, HS thông qua phiếu thăm dò. Ban giám hiệu chưa quán xuyến được tất các hoạt động của GV theo như yêu cầu của Chuẩn. Các minh chứng tương ứng với từng yêu cầu của các tiêu chí chưa được xác định rõ ràng, chưa được công khai minh bạch. Những lý do này khiến cho việc đánh giá của Ban giám hiệu vẫn còn cảm tính, phiến diện.

Từ những điều phân tích, chúng tôi đều nhận thấy cần phải có những biện pháp thiết thực để giải quyết thực trạng trên. Có vậy mới đảm bảo việc bồi dưỡng đội ngũ GV đúng với quy trình quản lý chất lượng.

2.5.2. Thực trạng quản lý nội dung bồi dưỡng năng lực dạy học

  • Bảng 2.23. Khảo sát việc quản lý các nội dung bồi dưỡng năng lực dạy học

Nhận xét: qua bảng 2.23 chúng tôi thấy: Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT.

Về mức độ nhận thức: các nội dung số 1, 2 và 6 được cán bộ, giáo viên đánh giá là cần thiết. Các nội dung số 3, 4 và 5 được đánh giá là rất cần thiết. Qua đó cho thấy công tác nâng cao nhận thức về Bồi dưỡng năng lực dạy học trên lớp, Bồi dưỡng năng lực kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và Bồi dưỡng năng lực lập kế hoạch bài học được nhà trường thực hiện rất hiệu quả.

Về mức độ thực hiện: nội dung số 1 và 2 được cán bộ, giáo viên đánh giá mức độ thực hiện chưa tốt; nội dung số 2, 4 và 6 được đánh giá có mức độ thực hiện khá tốt; nội dung số 3 và 5 được đánh giá có mức độ thực hiện tốt.

Qua điều tra và khảo sát thực tiễn, chúng tôi thấy: các trường Trung học phổ thông huyện Lý Nhân rất chú trọng việc bồi dưỡng năng lực lập kế hoạch dạy học bài học; năng lực tổ chức dạy học trên lớp; năng lực kiểm tra, đánh giá kết quả học tập. Các đồng chí cán bộ, giáo viên đều cho rằng đây là những năng lực quan trọng nhất của hệ thống các năng lực dạy học, nó quyết định chất lượng của quá trình dạy học. Nội dung bồi dưỡng năng lực chuẩn bị lập kế hoạch và năng lực lập kế hoạch dạy học môn học chưa được chú ý bồi dưỡng, kế hoạch dạy học môn học chỉ dừng ở hồ sơ để kiểm tra chứ chưa phục vụ cho việc nâng cao chất lượng dạy học.

2.5.3. Thực trạng xây dựng đội ngũ báo cáo viên

  • Bảng 2.24. Khảo sát thực trạng xây dựng đội ngũ báo cáo viên

Nhận xét: Qua bảng 2.24 nhận thấy:

Về mức độ nhận thức: các nội dung của xây dựng đội ngũ báo cáo viên đều được cán bộ, GV nhận thức là cần thiết và rất cần thiết. Qua đó cho thấy, nhận thức của cán bộ, GV về xây dựng đội ngũ báo cáo viên được nâng cao rõ rệt. Đặc biệt nội dung Đội ngũ báo cáo viên phải có năng lực tốt đáp ứng yêu cầu lên lớp bồi dưỡng GV được nhận thức ở mức độ rất cần thiết, chứng tỏ cán bộ, GV đã nhận thực được tầm quan trọng của nội dung này đối với kết quả của quá trình bồi dưỡng năng lực dạy học.

Về mức độ thực hiện: các nội dung 2, 3, 4, và 5 trong việc xây dựng đội ngũ báo cáo viên đã thực hiện khá thành công, được đông đảo đội ngũ GV đánh giá ở mức độ khá tốt. Nổi trội là nội dung Trường cử báo cáo viên đi đào tạo, bồi dưỡng có thứ hạng về mức độ thực hiện là cao nhất. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT.

Qua khảo sát và điều tra thực tiễn, chúng tôi thấy: để triển khai hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học cho GV, từ cấp Sở GD&ĐT đến các trường đều xây dựng mạng lưới đội ngũ báo cáo viên. Với cấp Sở thì đội ngũ báo cáo viên lấy từ các trường trong tỉnh, đội ngũ này sẽ tham gia các khóa tập huấn của Bộ GD&ĐT sau đó về triển khai cho GV các trường tại các hội nghị do Sở GD&ĐT tổ chức. Tại trường hiện nay cũng đã xây dựng đội ngũ GV cốt cán, nòng cốt là các tổ trưởng hoặc nhóm trưởng các bộ môn. Đây là những GV đạt GV giỏi, có trình độ tay nghề và kinh nghiệm vững vàng hơn so với các GV khác trong các nhóm bộ môn. Họ là những người tâm huyết, nhiệt tình, tích cực với công việc khi được nhà trường phân công. Tuy nhiên, hầu hết các đồng chí báo cáo viên tại các trường Trung học phổ thông huyện Lý Nhân đều dừng ở trình độ đại học, họ phải đứng lớp gồm các đồng chí học viên có trình độ học vấn tương đương, thậm chí có cả thạc sĩ nên họ chưa thực sự tự tin, chưa thuyết phục được tất cả các GV trong nhà trường. Chính vì vậy hiệu quả của công tác bồi dưỡng năng lực cho GV cũng chưa đạt kết quả như mong muốn.

2.5.4. Thực trạng quản lý các hình thức tổ chức bồi dưỡng năng lực dạy học

Bảng 2.25. Khảo sát thực trạng quản lý các hình thức tổ chức bồi dưỡng năng lực dạy học

  • Qua bảng 2.25 chúng tôi thấy:

Về mức độ nhận thức: các nội dung số 1, 3, 4 và 5 được cán bộ, GV nhận thức là cần thiết, các nội dung số 2 và 6 được cán bộ, GV nhận thức là rất cần thiết, qua đó nhận thấy công tác nâng cao nhận thức cho GV về các hình thức bồi dưỡng năng lực dạy học được nhà trường được quan tâm và triển khai đạt hiệu quả tốt.

Về mức độ thực hiện: nội dung số 5 được cán bộ, GV đánh giá ở mức độ thực hiện không tốt, các nội dung c̣n lại ở mức độ khá tốt. Được đánh giá có mức độ thực hiện tốt nhất là Tổ chức theo chuyên đề hội thảo trong tổ chuyên môn, trong trường hoặc cụm trường. Điều đó là hợp lý bởi vì trong hình thức bồi dưỡng này, vai trò trung tâm của người được bồi dưỡng được đặt đúng vị trí, phát huy được năng lực của bản thân. Đó cũng là hình thức GV có thể tiến hành thường xuyên, chất lượng, gắn với công việc giảng dạy hàng ngày có tính cập nhật cao mà tiết kiệm hiệu quả.

Qua điều tra và khảo sát thực tiễn chúng tôi thấy: các trường Trung học phổ thông huyện Lý Nhân rất chú trọng việc tuyên truyền nâng cao nhận thức và tổ chức bồi dưỡng GV theo các chuyên đề trong tổ chuyên môn, trong trường và cụm trường; tổ chức thi GV giỏi, tham gia các cuộc thi do Bộ GD&ĐT phát động như dạy học theo chủ đề tích hợp, xây dựng bài giảng điện tử…; chú ý tạo điều kiện về thời gian, bố trí công việc cho các đồng chí GV đi học cao học. Tuy nhiên các trường vẫn còn chưa chủ động thực hiện kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên theo chu kì hàng năm của Bộ; tham gia các kì thi như dạy học theo chủ đề tích hợp, xây dựng bài giảng điện tử… chỉ chú trọng đến sản phẩm, chưa chú ý đến quá trình thực hiện; việc tham gia bồi dưỡng qua trang trường học kết nối còn mang tính hình thức, chỉ quan tâm đến số bài GV tự đăng lên trang này mà chưa kiểm soát được chất lượng của các bài đăng và tác dụng của việc đăng bài lên mạng. Hình thức GV tự bồi dưỡng chưa được sự định hướng của nhà trường và chưa có biện pháp đôn đốc, thúc đẩy hoạt động này.

2.5.5. Thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng năng lực dạy học Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT.

Bảng 2.26. Khảo sát thực trạng kiểm tra, đánh giá bồi dưỡng năng lực dạy học

  • Nhận xét: Qua bảng 2.26, ta thấy:

Về mức độ nhận thức: các nội dung số 1, 3 và 5 của kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng năng lực dạy học được cán bộ, GV nhận thức là cần thiết. Các nội dung Kiểm tra đánh giá GV qua các tiết dự giờ đột xuất, thanh tra toàn diện, thi GV giỏi các cấp cũng như việc Kiểm tra đánh giá GV qua chất lượng HS trong các đợt kiểm tra định kì, thi Học sinh giỏi được cán bộ, GV nhận thức là rất cần thiết, chứng tỏ cán bộ, GV các trường Trung học phổ thông huyện Lý Nhân nhận thức được tầm quan trọng của nội dung kiểm tra này sẽ góp phần giúp họ hoàn thiện hơn về chuyên môn nghiệp vụ.

Về mức độ thực hiện: các nội dung trong việc kiểm tra kết quả bồi dưỡng GV đã thực hiện khá thành công, được đông đảo đội ngũ cán bộ, GV đánh giá ở mức độ khá tốt. Nổi trội trong kiểm tra kết quả hoạt động bồi dưỡng GV về mức độ thực hiện là Kiểm tra, đánh giá GV qua chất lượng HS trong các đợt kiểm tra định kì, thi Học sinh giỏi… Điều này là hợp lí, bởi năng lực GV tốt cũng phải hướng tới đích cuối cùng là kết quả dạy học tốt.

Qua điều tra và khảo sát thực tế, chúng tôi thấy: các trường trung học phổ thông huyện Lý Nhân đã chú ý tuyên truyền và thực hiện kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng năng lực dạy học; các trường thực hiện việc kiểm tra, đánh giá hồ sơ, sổ sách, kế hoạch bài dạy theo quy định mà các trường tự thống nhất; tiến hành thanh tra toàn diện GV, thi GV giỏi theo kế hoạch; thống kê kết quả thi của HS để đánh giá kết quả dạy học của GV; yêu cầu GV viết bài thu hoạch sau các đợt bồi dưỡng chuyên môn. Tuy nhiên, việc đánh giá hồ sơ sổ sách còn mang tính hình thức, mới dừng ở mức độ có hay không có, chưa đánh giá được chất lượng ; việc dự giờ đột xuất rất ít được thực hiện; giờ dạy trong các đợt thi GV giỏi mang tính chất ‘‘biểu diễn’’; kiểm tra, đánh giá thông qua viết bài thu hoạch cũng rất hình thức, GV viết bài thu hoạch cho có, không bị phê bình, chưa chú trọng đến chất lượng bài viết… nhiều GV trong quá trình tự nhận xét bản thân hầu hết là định tính, chưa quy chiếu được mức độ đạt được của các tiêu chí theo định lượng cụ thể dẫn đến kết quả đánh giá xếp loại năng lực dạy học theo Chuẩn nghề nghiệp còn chưa khách quan, chưa phản ánh đúng thực trạng. Vì thế cần xây dựng hệ tham chiếu mang tính định lượng của từng tiêu chí trong tiêu chuẩn năng lực dạy học của Chuẩn nghề nghiệp giúp cho GV tự kiểm tra đánh giá bản thân, từ đó có kế hoạch tự bồi dưỡng năng lực dạy học đạt Chuẩn nghề nghiệp. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT.

2.5.6. Thực trạng quản lý Cơ sở vật chất và chế độ chính sách phục vụ bồi dưỡng năng lực dạy học

Bảng 2.27. Khảo sát thực trạng các điều kiện hỗ trợ hoạt động bồi dưỡng GV

  • Nhận xét: qua bảng 2.27 ta thấy:

Về nhận thức: các nội dung của điều kiện Cơ sở vật chất, chế độ chính sách hỗ trợ hoạt động bồi dưỡng GV được cán bộ, GV nhận thức là cần thiết và rất cần thiết. Hầu hết các cán bộ, GV của các trường Trung học phổ thông huyện Lý Nhân đều cho rằng Sự quan tâm về Cơ sở vật chất cho hoạt động bồi dưỡng của Ban giám hiệu và Thực hiện thường xuyên, kịp thời các chính sách ưu đãi, việc khen thưởng cho các lực lượng tham gia hoạt động bồi dưỡng có vai trò quan trọng thúc đẩy GV tự học, trao đổi kinh nghiệm … góp phần vào việc bồi dưỡng GV đạt hiệu quả hơn.

Về mức độ thực hiện:các nội dung số 1, 2, 3 và được cán bộ, GV đánh giá có mức độ thực hiện khá tốt, riêng nội dung số 4 Xây dựng được các chính sách riêng đối với hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học được đánh giá với mức độ thực hiện chưa tốt.

Qua khảo sát và điều tra thực tiễn, chúng tôi thấy: các trường Trung học phổ thông của huyện Lý Nhân có Cơ sở vật chất trường lớp khang trang, có phòng học bộ môn, phòng thí nghiệm, phòng ứng dụng công nghệ thông tin được trang bị tương đối đầy đủ. Hệ thống máy chiếu, máy tính, tăng âm loa đài, đồ dùng trực quan, phòng tổ chức bồi dưỡng cho GV cơ bản đảm bảo đủ số lượng phục vụ cho hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học cho GV. Tuy nhiên các thiết bị này chủ yếu từ dự án giáo dục của những năm 2005, đã quá cũ và quá lỗi thời, làm giảm hứng thú học tập của GV. Về cơ chế chính sách, mặc dù đã có phần quan tâm, động viên đối với đội ngũ cốt cán và GV tham gia hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học GV cũng như đã có dự chi phần kinh phí cho hoạt động bồi dưỡng. Tuy nhiên hiện nay các chính sách cho hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học GV còn chưa rõ ràng và chưa mang tính khích lệ động viên, chưa có quy định cụ thể về quyền lợi và nghĩa vụ đối với những GV tham gia hoạt động bồi dưỡng, chưa tạo thuận lợi về thời gian cũng như phần kinh phí hỗ trợ để lực lượng tham gia hoạt động bồi dưỡng được tập trung hơn và có sự động viên kịp thời. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT.

2.6. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học cho đội ngũ giáo viên các trường Trung học phổ thông huyện Lý Nhân

Qua nghiên cứu thực trạng các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học cho GV ở các trường Trung học phổ thông huyện Lý Nhân, có thể thấy một số ưu điểm và tồn tại sau đây:

2.6.1. Ưu điểm

Đội ngũ cán bộ quản lý và GV của các trường Trung học phổ thông huyện Lý Nhân có nhận thức tốt về tầm quan trọng và ý nghĩa của hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học, có quyết tâm thực hiện tốt hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học coi đây là nhiệm vụ tất yếu thường xuyên của các nhà trường.

GV của các trường Trung học phổ thông huyện Lý Nhân có nhu cầu bồi dưỡng, họ rất mong muốn có thêm kiến thức và kỹ năng mới để làm tốt hơn công việc dạy học, đáp ứng được yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT hiện nay.

Việc đánh giá GV theo Chuẩn nghề nghiệp được tổ chức hàng năm, bước đầu có tác dụng tạo động lực cho GV có ý thức giữ gìn phẩm chất đạo đức và phát triển năng lực nghề nghiệp. Kết quả đánh giá giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp được sử dụng vào việc bình xét thi đua cuối năm của GV, có tác dụng động viên GV có gắng hơn trong quá trình công tác

Những nội dung bồi dưỡng đã được xây dựng, đội ngũ báo cáo viên của các trường có đủ năng lực để triển khai hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học cho GV với một số hình thức bồi dưỡng truyền thống, giúp cho GV có thêm kiến thức, kĩ năng dạy học cần thiết đáp ứng được các tiêu chí của Chuẩn nghề nghiệp GV Trung học phổ thông.

Việc kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động bồi dưỡng đã được tiến hành với một số nội dung, hình thức đã phản ánh được chất lượng hoạt động bồi dưỡng giáo viên trong nhà trường.

Việc huy động các nguồn lực Cơ sở vật chất, chế độ chính sách hỗ trợ cho hoạt động bồi dưỡng giáo viên cũng được quan tâm, thực hiện, góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động bồi dưỡng GV.

2.6.2. Mặt hạn chế Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT.

Việc đánh giá GV theo Chuẩn nghề nghiệp của các trường Trung học phổ thông của huyện Lý Nhân vẫn còn mang tính hình thức, hoàn thiện hồ sơ GV, chưa sử dụng kết quả đánh giá GV vào việc bồi dưỡng GV.

Nội dung bồi dưỡng vẫn còn hạn chế, còn thiếu những nội dung cần thiết đảm bảo cho việc phát triển toàn diện năng lực dạy học của GV.

Năng lực của đội ngũ báo cáo viên chỉ đảm bảo triển khai các nội dung bồi dưỡng theo kế hoạch của sở GD&ĐT, chưa có đủ năng lực đề xuất nội dung bồi dưỡng năng lực dạy học phù hợp với nhu cầu của GV trong trường.

Hình thức tổ chức bồi dưỡng GV chưa phong phú, chủ yếu là các hình thức bồi dưỡng truyền thống, các hình thức bồi dưỡng qua mạng, tự bồi dưỡng … chưa được thể hiện rõ ràng.

Việc kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng GV vẫn còn mang tính chất thời điểm, đối phó, chưa triệt để, chưa sâu sát, chưa đánh giá chính xác kết quả sau mỗi đợt bồi dưỡng năng lực cho GV. Kết quả đánh giá chưa được sử dụng làm căn cứ để bồi dưỡng, động viên khen thưởng.

Các điều kiện về cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học cho GV đã xuống cấp, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới trong giáo dục hiện nay. Kinh phí phục vụ cho hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học cho GV đã được quan tâm xong chưa đáp ứng đủ nhu cầu bồi dưỡng hàng năm.

2.6.3. Nguyên nhân hạn chế

  • Khách quan:

Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ tác động không nhỏ đến GD&ĐT, đặt ra yêu cầu mới đối với đội ngũ GV về phẩm chất và năng lực dạy học để đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục, thực tế sự đáp ứng đó còn nhiều bất cập. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT.

Nhu cầu được bồi dưỡng, cập nhật kiến thức để nâng cao năng lực dạy học của GV và khả năng đáp ứng nhu cầu bồi dưỡng chưa cao nên hạn chế trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ.

Kinh tế – xã hội của địa phương còn gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí còn thấp, sự quan tâm của phụ huynh đến việc giáo dục chưa nhiều, điều kiện học tập của HS còn gặp nhiều khó khăn, các nguồn lực đầu tư cho giáo dục còn hạn chế.

  • Chủ quan:

Còn có một số GV năng lực chuyên môn chưa vững vàng, chưa có ý thức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, tinh thần trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao còn hạn chế. Một số GV có năng lực chuyên môn nhưng nhiều khi chưa nhiệt tình và sáng tạo trong công việc, đặc biệt với GV lớn tuổi có sức ì lớn ngại thay đổi phương pháp dạy học, mang nặng chủ nghĩa kinh nghiệm.

Kinh nghiệm của đội ngũ Cán bộ quản lý các trường Trung học phổ thông trong huyện Lý Nhân không đồng đều, một số Cán bộ quản lý còn non trẻ chưa có nhiều kinh nghiệm trong hoạt động quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học cho GV.

Sự phản hồi của GV chưa nhiều, chưa cụ thể nên khó khăn trong việc tiếp thu, xây dựng hoàn chỉnh nội dung chương trình bồi dưỡng.

Đội ngũ Cán bộ giáo viên đa số là kiêm nhiệm. Cơ chế chính sách chưa thỏa đáng, chưa có nguồn kinh phí đúng mức cho việc tổ chức các hội nghị chuyên đề; tập huấn bồi dưỡng cho GV; chưa động viên kịp thời GV tìm tòi sáng tạo trong dạy học.

Một số GV chưa có sự tìm tòi, tự học, tự nghiên cứu trong bồi dưỡng năng lực dạy học, thiếu tư liệu và tài liệu trong học tập.

Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT.

Trong nhà trường, hoạt động Bồi dưỡng giáo viên và quản lý hoạt động Bồi dưỡng giáo viên được xác định là nhiệm vụ nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ GV, đáp ứng yêu cầu phát triển năng lực nghề nghiệp của GV trước đòi hỏi của việc đổi mới GD&ĐT trong giai đoạn hiện nay. Hoạt động Bồi dưỡng giáo viên và quản lý hoạt động Bồi dưỡng giáo viên ở các trường Trung học phổ thông của huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam trong những năm qua đã đạt được những kết quả nhất định góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ GV trường Trung học phổ thông.

Việc khảo sát được tiến hành ở tất cả các trường Trung học phổ thông huyện Lý Nhân, với một số Cán bộ quản lý và GV của mỗi trường. Việc khảo sát được tiến hành bằng cách sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến kết hợp với phỏng vấn, sau đó xử lí và phân tích số liệu một cách khoa học.

Kết quả khảo sát với những số liệu và phân tích khoa học cho thấy cả những ưu điểm và những hạn chế của hoạt động Bồi dưỡng giáo viên và quản lý hoạt động Bồi dưỡng giáo viên ở các trường Trung học phổ thông. Trên cơ sở kết quả khảo sát với những ưu điểm và hạn chế, kết hợp với những lí luận của khoa học quản lý và quản lý giáo dục, những yêu cầu nhiệm vụ đặt ra cho sự nghiệp GD&ĐT đã được các cấp xác định, chúng tôi sẽ đưa ra những biện pháp quản lý hoạt động Bồi dưỡng giáo viên Trung học phổ thông ở huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam theo Chuẩn nghề nghiệp để phát triển năng lực dạy học. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537