Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT ở huyện

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT ở huyện hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học phổ thông ở huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam theo Chuẩn nghề nghiệp để phát triển năng lực dạy học dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Mục tiêu phát triển GD&ĐT là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả.

Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực.

Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho HS. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học,khuyến khích học tập suốt đời.

Tuy đã có những bước phát triển mạnh về quy mô và trình độ đào tạo cơ bản nhưng đội ngũ giáo viên trung học phổ thông của huyện Lý Nhân vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới GD&ĐT. Nguyên nhân của thực trạng này là công tác quản lý, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên,… còn hạn chế. Hoạt động bồi dưỡng GVTHPT đáp ứng yêu câu đổi mới GD&ĐT cần được quan tâm nghiên cứu một cách đầy đủ, khoa học và có hệ thống.

Xuất phát từ những lí do nêu trên và thực tiễn GD&ĐT tại địa phương, tôi lựa chọn đề tài “Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học phổ thông ở huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam theo Chuẩn nghề nghiệp để phát triển năng lực dạy học” để thực hiện luận văn thạc sĩ của mình.

2. Câu hỏi nghiên cứu

Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên có vai trò như thế nào?

Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học phổ thông ở huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam hiện nay như thế nào?

Những biện pháp quản lý nào của Hiệu trưởng có thể giúp cho hoạt động bồi dưỡng giáo viên ở các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam có hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện HS?

3. Giả thuyết nghiên cứu Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT ở huyện.

Các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên của Hiệu trưởng các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Lý Nhân đã được triển khai áp dụng trong những năm gần đây, tuy nhiên chưa đồng bộ, chưa triệt để, do đó chưa mang lại kết quả như mong muốn. Nếu đề xuất và triển khai đồng bộ các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên bám sát theo Chuẩn nghề nghiệp thì các trường Trung học phổ thông của huyện Lý Nhân có thể xây dựng được đội ngũ giáo viên có đủ năng lực để đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT.

4. Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất những biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên Trung học phổ thông theo Chuẩn nghề nghiệp ở huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam để phát triển năng lực dạy học cho giáo viên.

5. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

5.1. Khách thể nghiên cứu

  • Hoạt động bồi dưỡng giáo viên Trung học phổ thông theo Chuẩn nghề nghiệp để phát triển năng lực dạy học.

5.2. Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên Trung học phổ thông theo chuẩn nghề nghiệp để phát triển năng lực dạy học của hiệu trưởng các trường trung học phổ thông của huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

6. Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung khảo sát thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp tại 4 trường Trung học phổ thông của huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam (THPT Lý Nhân, Trung học phổ thông Bắc Lý, Trung học phổ thông Nam Lý, Trung học phổ thông Nam Cao) từ năm 2013 đến năm 2016, chú trọng các tiêu chuẩn liên quan đến năng lực dạy học.

7. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Hệ thống hóa các cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên Trung học phổ thông theo Chuẩn nghề nghiệp để phát triển năng lực dạy học.
  • Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên Trung học phổ thông theo chuẩn nghề nghiệp để phát triển năng lực dạy học ở huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.
  • Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên Trung học phổ thông theo chuẩn nghề nghiệp ở huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam để phát triển năng lực dạy học.

8. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT ở huyện.

8.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến công tác quản lý hoạt đồng bồi dưỡng giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp để phát triển năng lực dạy học: các bài báo trong các tạp chí, các văn bản chỉ đạo công tác bồi dưỡng giáo viên, sách và các công trình nghiên cứu khoa học, phân tích, đánh giá tìm ra các cơ sở lí luận được nghiên cứu và những vấn đề cần giải quyết.

8.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Điều tra bằng bảng hỏi: xây dựng hệ thống câu hỏi điều tra theo những nguyên tắc và nội dung chủ định của tác giả nhằm mục đích thu thập số liệu minh chứng thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên của Hiệu trưởng trường Trung học phổ thông.

Phương pháp quan sát: quan sát cách thức quản lý của Cán bộ quản lý với các lực lượng tham gia vào hoạt động bồi dưỡng giáo viên như: giáo viên cốt cán, báo cáo viên, chuyên viên…

Phương pháp đàm thoại: trò chuyện với Cán bộ quản lý, giáo viên cốt cán, báo cáo viên, chuyên viên về các biện pháp quản lý và các hình thức tổ chức hoạt động bồi dưỡng GV của Ban giám hiệu các trường Trung học phổ thông.

8.3. Phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT ở huyện.

Sau khi thu thập các phiếu thăm dò ý kiến, dựa vào kết quả điều tra, tác giả sử dụng bảng tính Excel để xử lí số liệu, tính tỉ lệ phần trăm các nội dung trong phiếu hỏi nhằm đánh giá thực trạng và định hướng nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên ở các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Lý Nhân.

9. Ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn

Về mặt lí luận: hệ thống hóa và làm phong phú thêm lí luận về hoạt động bồi dưỡng giáo viên Trung học phổ thông trên cơ sở vận dụng đa dạng các phương pháp tiếp cận nghiên cứu, đặc biệt là tiếp cận theo Chuẩn nghề nghiệp GVTHPT và yêu cầu đối với GV trong bối cảnh đổi mới sự nghiệp GD&ĐT; phân tích làm rõ nội dung hoạt động bồi dưỡng GV Trung học phổ thông và các yếu tố tác động đến hoạt động bồi dưỡng GV Trung học phổ thông.

Về mặt thực tiễn: các biện pháp đề xuất mang tính phù hợp thực tiễn và khoa học về quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên Trung học phổ thông theo chuẩn nghề nghiệp để phát triển năng lực dạy học, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện sự nghiệp GD&ĐT không chỉ được áp dụng ở các trường Trung học phổ thông huyện Lý Nhân, mà còn có thể được áp dụng cho tất cả các trường Trung học phổ thông trong tỉnh Hà Nam và một số các tỉnh khác có điều kiện kinh tế – xã hội tương đồng với tỉnh Hà Nam.

10. Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:

  • Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ giáo viên trung học phổ thông theo Chuẩn nghề nghiệp để phát triển năng lực dạy học.
  • Chương 2. Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học phổ thông ở huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam theo Chuẩn nghề nghiệp để phát triển năng lực dạy học.
  • Chương 3. Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung học phổ thông ở huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam theo Chuẩn nghề nghiệp để phát triển năng lực dạy học.

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN Trung học phổ thông THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC DẠY HỌC

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

Yếu tố đóng vai trò then chốt, quyết định chất lượng và hiệu quả GD&ĐT chính là đội ngũ GV. Để có được đội ngũ GV đủ mạnh, đáp ứng được yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT thì vấn đề đào tạo và bồi dưỡng GV là hết sức cần thiết và quan trọng, như một trong những giải pháp để nâng cao chất lượng của giáo dục.Từ trước đến nay, vấn đề đào tạo và bồi dưỡng GV đã được nhiều tập thể và cá nhân nghiên cứu.

1.1.1. Nghiên cứu ở nước ngoài Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT ở huyện.

Ở Liên Xô cũ, có rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu về nghề dạy học, tiêu biểu là N.L Boondurep với tác phẩm “Chuẩn bị cho sinh viên làm công tác giáo dục ở trường phổ thông”. Trong tác phẩm này, vai trò của kĩ năng sư phạm đối với nghề dạy học được tác giả đặc biệt quan tâm và nhấn mạnh “những kĩ năng đó chỉ được hình thành và củng cố trong hoạt động thực tiễn của người thầy giáo”. Theo tác giả này, những yêu cầu về chuyên môn của người thầy giáo tất nhiên không chỉ có kiến thức phong phú mà còn phải có những kĩ năng cần thiết để tổ chức và thực hành công tác giáo dục, vấn đề không phải chỉ ở chỗ tiếp thu kiến thức về tâm lý học và giáo dục học mà điều cần thiết là phải biết vận dụng chúng vào thực tế. Muốn làm công tác giáo dục tốt phải có kĩ năng giáo dục và phải có cả thời gian. Như vậy, việc bồi dưỡng GV nhất thiết phải làm thường xuyên.

Ở các nước phát triển, yêu cầu về chất lượng GV cũng được đặt ra theo yêu cầu của sự phát triển GD&ĐT và nhu cầu tăng trưởng kinh tế. Công trình nghiên cứu chung của các nước thành viên OECD đã chỉ ra yêu cầu về phẩm chất đối với người GV: kiến thức phong phú về phạm vi chương trình và nội dung bộ môn mình dạy; kĩ năng sư phạm, kể cả việc có được “kho kiến thức” về phương pháp giảng dạy, về năng lực sử dụng những phương pháp đó; có tư duy phản ánh trước mỗi vấn đề, có năng lực tự phê – nét rất đặc trưng của nghề dạy học; biết cảm thông và cam kết tôn trọng phẩm giá của người khác; có năng lực quản lý, kể cả trách nhiệm quản lý trong và ngoài lớp học.

Tháng 4 năm 2000, tại Dakar –Senégal, diễn đàn giáo dục cho mọi người do UNESCO tổ chức đã coi chất lượng GV là một trong mười yếu tố cấu thành chất lượng giáo dục, tức là GV có động cơ tốt, được động viên tốt và có năng lực chuyên môn cao. Năng lực chuyên môn mà người GV cần phải có để đảm bảo chất lượng giáo dục gồm: hiểu biết sâu sắc về nội dung môn học, có tri thức sư phạm, có tri thức về sự phát triển, có sự hiểu biết về sự khác biệt, hiểu biết về động cơ, có tri thức về việc học tập, làm chủ được các chiến lược dạy học, hiểu biết về việc đánh giá HS, hiểu biết về các nguồn của chương trình và công nghệ, am hiểu và sự đánh giá cao về sự cộng tác, có khả năng phân tích và phản ánh trong thực tiễn dạy học.

1.1.2. Nghiên cứu trong nước Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT ở huyện.

Trong thư gửi hội nghị giáo dục toàn quốc (tháng 3-1955), Người viết: “Trách nhiệm nặng nề và vẻ vang của người thầy dạy học là: chăm lo dạy dỗ con em của nhân dân thành công dân tốt, người lao động tốt, người chiến sĩ tốt, người cán bộ tốt của nước nhà”. Người còn nói: “Các thầy giáo có nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang là đào tạo cán bộ cho dân tộc. Vậy giáo dục cần nhằm vào mục đích là thật thà phụng sự nhân dân. Các cháu thì học tập cần gắn liền với thực hành để mai sau thực hiện mục đích cao quý: thật thà phụng sự nhân dân”. Thực hiện tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, suốt nửa thế kỷ qua, Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng chỉ đạo, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ GV.

Tại hội thảo khoa học “Chất lượng giáo dục và vấn đề đào tạo GV” do khoa sư phạm -Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức, nhiều báo cáo tham luận của các tác giả như Trần Bá Hoành, Mai Trọng Nhuận, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Cảnh Toàn, Lê Khánh Bằng, Đặng Xuân Hải… cũng đã đề cập đến việc đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ GV trước nhiệm vụ mới của GD&ĐT.

Trong bài viết “Chất lượng giáo viên” đăng trên tạp chí giáo dục tháng 11/2001, tác giả Trần Bá Hoành đã đề xuất cách tiếp cận chất lượng GV từ các góc độ: đặc điểm lao động của người GV, sự thay đổi chức năng của người GV trước yêu cầu đổi mới giáo dục, mục tiêu sử dụng GV, chất lượng từng GV và chất lượng đội ngũ GV. Các thành tố tạo nên chất lượng GV là phẩm chất và năng lực. Theo tác giả Trần Bá Hoành, phẩm chất của GV biểu hiện ở thế giới quan, lòng yêu trẻ và yêu nghề; năng lực người GV bao gồm: năng lực chẩn đoán nhu cầu và đặc điểm đối tượng dạy học, năng lực thiết kế kế hoạch, năng lực tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học, năng lực quan sát, đánh giá kết quả các hoạt động dạy học, năng lực giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tế dạy học. Ba nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng GV là: quá trình đào tạo, sử dụng và bồi dưỡng GV; hoàn cảnh và điều kiện lao động sư phạm của GV; ý chí, thói quen và năng lực tự học của GV. Tác giả cũng đề ra ba giải pháp cho vấn đề GV: phải đổi mới công tác đào tạo, đổi mới công tác bồi dưỡng và đổi mới việc sử dụng GV.

Trong bài “Nghề và Nghiệp của người GV” đăng tải trong kỷ yếu hội thảo nâng cao chất lượng đào tạo toàn quốc lần thứ 2, tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã đề cập tính chất nghề nghiệp của người GV. Tác giả đã nhấn mạnh đến vấn đề “lý tưởng sư phạm”, cái tạo nên động cơ cho việc thực hành nghề dạy học của GV, thôi thúc người GV sáng tạo, thúc đẩy người GV không ngừng học hỏi và nâng cao trình độ. Từ đó, tác giả đề nghị cần phải xây dựng tập thể sư phạm theo mô hình “đồng thuận” mà ở đó GV trong quan hệ với nhau có sự chia sẻ “bí quyết nhà nghề”; đồng thời, những yêu cầu về năng lực chuyên môn của người GV là nền tảng của mô hình đào tạo GV thế kỷ XXI: sáng tạo và hiệu quả.

Trong bài viết “Chất lượng giáo viên và những chính sách cải thiện chất lượng giáo viên” đăng trên tạp chí phát triển giáo dục số 2 năm 2003, tác giả Nguyễn Thanh Hoàn đã trình bày khái niệm chất lượng GV bằng cách phân tích kết quả nghiên cứu về chất lượng GV của các nước thành viên OECD. Tác giả đưa ra những đặc điểm và năng lực đặc trưng của một GV qua sự phân tích năng lực cụ thể trên góc độ tiếp cận năng lực giảng dạy và giáo dục. Tác giả cũng đề cập những chính sách cải thiện và duy trì chất lượng GV ở cấp vĩ mô và vi mô; từ đó, tác giả nhấn mạnh đến ba vấn đề nguồn quyết định chất lượng GV là: bản thân người GV, nhà trường, môi trường chính sách bên ngoài. Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT ở huyện.

Trong thời kì đổi mới, vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên được Đảng và Nhà nước ta coi là một trong các giải pháp cho việc phát triển GD&ĐT; để giáo dục trở thành “quốc sách hàng đầu” trong sự nghiệp đổi mới đất nước; vừa đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp phát triển đất nước vừa nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục. Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2012 –2020 đã xác định một trong những giải pháp quan trọng để phát triển giáo dục quốc gia.

Trong chương trình đào tạo sau đại học chuyên ngành quản lý giáo dục, vấn đề đội ngũ giáo viên cũng được triển khai nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống. Nhiều luận văn tốt nghiệp đã chọn đề tài nghiên cứu là vấn đề quản lý hoạt động bồi dưỡng GV: luận văn “Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên mầm non theo Chuẩn nghề nghiệp ở huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn” của tác giả Triệu Thị Hồng Vân; luận văn “Quản lý bồi dưỡng giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp ở trường tiểu học Uy Nỗ, huyện Đông Anh – Hà Nội” của tác giả Vũ Thị Kim Oanh; luận văn “Quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp ở trường trung học cơ sở Nguyễn Huy Tưởng – Đông Anh, Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà; luận văn “Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trường trung học phổ thông Quất Lâm, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục” của tác giả Mai Văn Nghiêm; luận văn “Biện pháp quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học của giáo viên trường trung học phổ thông Hải An, thành phố Hải Phòng đáp ứng Chuẩn nghề nghiệp” của tác giả Vũ Văn Huy; luận văn “Quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học cho GV trường trung học phổ thông Tam Đảo, Vĩnh Phúc” của tác giả Phạm Kim Thành;… Các luận văn kể trên đã nghiên cứu một số khái niệm về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, bồi bưỡng, Chuẩn và Chuẩn nghề nghiệp GV… từ mầm non, tiểu học, THCS đến Trung học phổ thông; đã nghiên cứu, phân tích thực trạng công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ GV; từ đó đề xuất nhiều biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ GV phù hợp với đơn vị mình công tác.

Tiếp thu, kế thừa những thành tựu đã có, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo trường trung học phổ thông huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam theo Chuẩn nghề nghiệp để phát triển năng lực dạy học”. Đề tài này tiếp tục nghiên cứu cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng hoạt động bồi dưỡng đội ngũ GV các trường Trung học phổ thông trên địa bàn mà tác giả đang công tác, đưa ra các biện pháp thiết thực, khả thi nhằm quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngũ GV theo Chuẩn nghề nghiệp để phát triển năng lực dạy học, đáp ứng mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện của GD&ĐT tỉnh Hà Nam.

1.2. Một số khái niệm cơ bản Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT ở huyện.

1.2.1 Quản lý

1.2.1.1 Khái niệm quản lý

Theo C.Marx: “Quản lý là lao động điều khiển lao động”. C.Marx đã coi việc xuất hiện quản lý như là một kết quả tất nhiên của sự chuyển nhiều quá trình lao động cá biệt, tản mạn, độc lập với nhau thành một quá trình xã hội được phối hợp lại. C.Marx đã nhấn mạnh vai trò của quản lý: “Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng.”[9, tr326].

Theo Harold Kootz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân để đạt được những mục đích của nhóm.”[21, tr48].

Theo Harold Koontz-Cyric Odonnell-Heinz Weihrich cho rằng: “Quản lý là hoạt động đảm bảo sự nỗ lực của cá nhân để đạt được mục tiêu quan trong điều kiện chi phí thời gian, công sức, tài liệu, vật liệu, ít nhất và đạt được kết quả cao nhất.”[21, tr57].

Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì hiện nay quản lý được định nghĩa rõ hơn: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra.” [10, tr9].

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Bản chất của hoạt động quản lý gồm hai quá trình tích hợp vào nhau: Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ đưa hệ vào thế “phát triển”… Trong “quản” phải có “lý”, trong “lý” phải có “quản” để động thái của hệ ở thế cân bằng động: hệ vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong mối tương tác giữa các nhân tố bên trong (nội lực) với các nhân tố bên ngoài (ngoại lực).”[2, tr45].

Tuy có nhiều cách diễn đạt khác nhau, song các quan điểm quản lý nói trên đề cập đến bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt mục đích đề ra. Quá trình này là quá trình tác động hai chiều thể hiện mối quan hệ hữu cơ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý. Khi mục tiêu của tổ chức thay đổi sẽ tác động đến đối tượng quản lý thông qua chủ thể quản lý. Có thể nói rằng quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật. Là hoạt động khoa học, bởi lẽ các hoạt động quản lý có tổ chức, có định hướng dựa trên những quy luật,những nguyên tắc và phương pháp hoạt động cụ thể. Đồng thời, quản lý cũng là một nghệ thuật vì nó vận dụng sáng tạo trên những điều kiện cụ thể trong sự kết hợp và tác động nhiều mặt của các yếu tố khác nhau trong xã hội. Quản lý đúng sẽ giúp cho tổ chức hạn chế được các tồn tại, phát huy những mặt mạnh góp phần tạo niềm tin, sức mạnh và truyền thống của một tổ chức. Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT ở huyện.

1.2.1.2 Chức năng quản lý

Để đạt được mục tiêu đã định, quản lý phải thông qua các chức năng quản lý như sau: kế hoạch hóa; tổ chức; lãnh đạo – chỉ đạo; kiểm tra.

Chức năng kế hoạch hóa (planning): là chức năng khởi đầu, là tiền đề của mọi quá trình quản lý. Kế hoạch hóa có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó. Có ba nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hóa: xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức; xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu và quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu đó. [23].

Chức năng tổ chức (organizing): Tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Nhờ việc tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn vật lực và nhân lực. Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản lý sử dụng các nguồn lực này sao cho có hiệu quả và có kết quả. Quá trình tổ chức sẽ lôi cuốn việc hình thành, xây dựng các bộ phận, các phòng ban cùng các công việc của chúng. Và sau đó là vấn đề nhân sự, cán bộ sẽ tiếp nối ngay sau các chức năng kế hoạch hóa và tổ chức. [23].

Chức năng lãnh đạo – chỉ đạo (leading): Sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu bộ máy đã hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng thì phải có ai đó đứng ra lãnh đạo, dẫn dắt tổ chức. Một số học giả gọi đó là quá trình chỉ đạo hay tác động. Dù gọi như thế nào thì khái niệm lãnh đạo đều bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức. Hiển nhiên việc lãnh đạo không chỉ bắt đầu sau khi việc lập kế hoạch và thiết kế bộ máy đã hoàn tất, mà nó thấm vào, ảnh hưởng quyết định tới hai chức năng kia. [23].

Chức năng kiểm tra: Kiểm tra là một chức năng của quản lý, thông qua đó một cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn cần thiết. Một kết quả hoạt động phải phù  hợp với những chi phí bỏ ra, nếu không tương ứng thì phải tiến hành những hành động điều chỉnh, uốn nắn. Đó cũng là quá trình tự điều chỉnh, diễn ra có tính chu kỳ: người quản lý đặt ra những chuẩn mực thành đạt của hoạt động, sau đó đối chiếu, đo lường kết quả, sự thành đạt so với chuẩn mực đã đề ra; rồi tiến hành điều chỉnh những sai lệch. Cuối cùng hiệu chỉnh, sửa lại chuẩn mực nếu cần. [23]. Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT ở huyện.

Muốn cho hệ thống quản lý vận hành có kết quả thì quá trình quản lý là một thể thống nhất trọn vẹn. Cần lưu ý vai trò của thông tin rất quan trọng, nó được coi như “mạch máu” của hoạt động quản lý. Chính vì vậy, trong những nghiên cứu gần đây coi thông tin như một chức năng trung tâm liên quan đến các chức năng quản lý khác.Chúng ta có thể biểu diễn mối quan hệ giữa các chức năng quản lý theo sơ đồ sau:

  • Sơ đồ 1.1.Sơ đồ các chức năng quản lý

1.2.2. Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường

1.2.2.1 Quản lý giáo dục

Giáo dục là một bộ phận của xã hội, nên quản lý giáo dục là một loại hình quản lý xã hội. Dựa trên khái niệm “quản lý” các nhà nghiên cứu về giáo dục đã đưa ra nhiều định nghĩa về quản lý giáo dục.

Học giả nổi tiếng M.I Kônđacôp cho rằng: quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp tổ chức, cán bộ, kế hoạch, tài chính cung tiêu… nhằm đảm bảo vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển và mở rộng cả về mặt số lượng lẫn chất lượng.[29].

Dẫn theo P.V. Khuđôminxky thì: “QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức, có mục đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển hài hoà của họ trên cơ sở nhận thức và sử dụng các quy luật khách quan của quá trình dạy học và giáo dục, của sự phát triển thể chất và tâm lý của trẻ em.” [14, tr327].

Tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là điều hành, phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho tất cả mọi người. Cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân.” [2, tr72]. Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT ở huyện.

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì: “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý phù hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối của giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy-học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [14, tr341]

Các quan điểm về quản lý giáo dục ở trên đều thống nhất chỉ ra đặc trưng cơ bản của quản lý giáo dục là quản lý con người nên không chỉ cần tính khoa học mà còn phải có nghệ thuật. Bởi sản phẩm đầu ra của quá trình quản lý giáo dục không phải là một đồ vật mà là con người, là nhân cách của người học theo mục tiêu giáo dục. Theo tác giả: quản lý giáo dục là quá trình tác động có tổ chức và mang tính hệ thống của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động của mỗi cơ sở giáo dục,cũng như toàn bộ hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu xác định. Đó là những tác động phù hợp quy luật khách quan, hướng tới việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội. Bản chất của quản lý giáo dục là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý lên các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động giáo dục nhằm thực hiện hiệu quả mục tiêu giáo dục. Mục tiêu của quản lý giáo dục chính là trạng thái mong muốn trong tương lai đối với hệ thống giáo dục, đối với trường học, hoặc đối với những thông số chủ yếu của hệ thống giáo dục trong mỗi nhà trường. Những thông số này được xác định trên cơ sở đáp ứng những mục tiêu tổng thể của sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển kinh tế của đất nước. Mục tiêu này gồm: đảm bảo quyền HS vào các ngành học, cấp học, các lớp học đúng chỉ tiêu và tiêu chuẩn. Đảm bảo chỉ tiêu và chất lượng đạt hiệu quả đào tạo, phát triển tập thể sư phạm đồng bộ, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và đời sống vật chất. Xây dựng và hoàn thiện các tổ chức chính quyền, Đảng, đoàn thể, quần chúng để thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục và đào tạo. Đối tượng của quản lý giáo dục là hoạt động của cán bộ, giáo viên, HS và tổ chức sư phạm của nhà trường trong việc thực hiện kế hoạch và chương trình GD&ĐT nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đã quy định với chất lượng cao. Nội dung quản lý giáo dục bao gồm một số vấn đề cơ bản, đó là: xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược; quy hoạch; kế hoạch; chính sách phát triển giáo dục; ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, tiêu chuẩn cơ sở vật chất thiết bị trường học; tổ chức bộ máy quản lý giáo dục; tổ chức,chỉ đạo việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên; huy động sử dụng các nguồn lực… Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT ở huyện.

1.2.2.2 Quản lý nhà trường

Theo tác giả Trần Kiểm thì cho rằng: “Quản lý trường học có thể hiểu là một hệ thống những tác động sư phạm hợp lý và có hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, HS và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm huy động và phối hợp sức lực, trí tuệ của họ vào mọi mặt hoạt động của nhà trường hướng vào việc hoàn thành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu dự kiến”…[20, tr27].

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng và Nhà nước trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng HS”. [16, tr27].

  • Quản lý nhà trường bao gồm hai loại tác động quản lý:

Quản lý nhà trường là những tác động quản lý của cơ quan quản lý giáo dục cấp trên nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho hoạt động giảng dạy, giáo dục và học tập của nhà trường. Quản lý nhà trường cũng bao gồm những chỉ dẫn, quyết định của các thực thể bên ngoài nhà trường nhưng có liên quan trực tiếp tới nhà trường như cộng đồng được đại diện dưới hình thức Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp nhằm định hướng sự phát triển của nhà trường, hỗ trợ tạo điều kiện cho việc thực hiện phương hướng phát triển đó.

Quản lý nhà trường là những tác động do chủ thể quản lý bên trong nhà trường thực hiện, bao gồm các tác động để: quản lý giáo viên, quản lý HS, quản lý quá trình dạy học và giáo dục, quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học,quản lý tài chính trường học,quản lý lớp học như nhiệm vụ của giáo viên, quản lý quan hệ giữa nhà trường và cộng đồng.

  • Như vậy, quản lý nhà trường còn được coi là:

Tập hợp những tác động tối ưu (cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp) của chủ thể quản lý tới tập thể giáo viên, HS và cán bộ viên chức khác trong nhà trường. Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT ở huyện.

Hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà trọng tâm là hoạt động dạy học và giáo dục.

Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo để đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới.

  • Mục đích của công tác quản lý trường học:

Bảo đảm kế hoạch phát triển giáo dục: tuyển chọn HS vào lớp đầu cấp đúng theo số lượng và chất lượng của Bộ GD&ĐT quy định, duy trì số lượng HS đang học và hạn chế đến mức thấp nhất HS lưu ban, bỏ học.

Bảo đảm chất lượng và hiệu quả giảng dạy, giáo dục: tiến hành các hoạt động giáo dục theo đúng chương trình, đảm bảo yêu cầu đối với môn học và các hoạt động giáo dục.

Xây dựng đội ngũ giáo viên của trường có đủ phẩm chất, năng lực, đồng bộ về cơ cấu, có đủ loại hình để đảm bảo giảng dạy giáo dục HS đạt chất lượng cao. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ thích hợp, phục vụ tích cực cho nhiệm vụ giáo dục và đào tạo của nhà trường.

  • Từng bước hoàn thiện cơ sở vật chất, kĩ thuật phục vụ thiết thực cho giảng dạy và giáo dục.
  • Xây dựng và hoàn thiện môi trường giáo dục trong nhà trường, thống nhất giáo dục với địa phương, cộng đồng…
  • Thường xuyên cải tiến công tác quản lý, lãnh đạo trường học theo tinh thần dân chủ hoá nhà trường, tạo hoạt động đồng bộ, có trọng điểm, có hiệu quả các hoạt động dạy học và giáo dục.

1.2.3. Bồi dưỡng giáo viên

Theo quan niệm của UNESCO, bồi dưỡng với ý nghĩa nâng cao nghề nghiệp quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ cho bản thân nhằm đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp.

Theo Từ điển Tiếng Việt: “bồi dưỡng là làm cho tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất”. [30, tr216].

Theo tác giả Nguyễn Minh Đường: “Bồi dưỡng có thể coi là quá trình cập nhật kiến thức và kĩ năng còn thiếu hoặc đã lạc hậu trong một cấp học, bậc học và thường được xác nhận bằng một chứng chỉ.”[15, tr145].

Như vậy, có thể nói bồi dưỡng giáo viên là quá trình tác động của nhà quản lý giáo dục thông qua hệ thông chức năng và công cụ quản lý tới tập thể giáo viên, tạo điều kiên, cơ hội cho giáo viên tham gia vào các loại hình hoạt động dạy học -giáo dục – học tập trong và ngoài nhà trường để cập nhật bổ sung kiến thức, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ, bồi dưỡng tư tưởng tình cảm nghề nghiệp nhằm nâng cao phẩm chất và trình độ nghiệp vụ sư phạm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục và đào tạo.

1.2.4. Chuẩn

1.2.4.1 Khái niệm chuẩn

Theo định nghĩa trong từ điển Bách khoa toàn thư, chuẩn là mức độ ưu việt cần phải có để đạt được những mục đích đặc biệt; là cái để đo xem điều gì là phù hợp; là trình độ thực hiện mong muốn trên thực tế hoặc mang tính xã hội. [30]

Tác giả Nguyễn Đức Chính đưa ra khái niệm: chuẩn là mẫu lý thuyết mang tính nguyên tắc, tính công khai và tính xã hội hoá được đặt ra bằng quyền lực hành chính hoặc chuyên môn, bao gồm những yêu cầu, tiêu chí, quy định kết hợp logic với nhau, được dùng làm công cụ xác minh sản phẩm, nội dung công việc,… trong lĩnh vực nào đó và có khuynh hướng điều chỉnh nó theo nhu cầu, mục tiêu mong muốn của chủ thể quản lý.[11].

Như vậy, chuẩn không chỉ là các mốc, là căn cứ dùng để so sánh đối chiếu mà chuẩn còn là cái đích để đạt tới. Chuẩn được cụ thể hóa bằng những tiêu chí và khi đạt được những tiêu chí (đạt chuẩn) tức là đạt được mục tiêu đề ra.

1.2.4.2 Chuẩn trong giáo dục

Chuẩn trong giáo dục là các tiêu chuẩn gắn với các yếu tố cấu thành hoạt động giáo dục như chuẩn nhà trường, chuẩn giáo viên, chuẩn kiến thức, kỹ năng… Các chuẩn được biểu hiện bằng các tiêu chí và chỉ số đo. Gần đây nói nhiều đến chuẩn chất lượng trong hoạt động giáo dục, được xây dựng và được dùng làm công cụ để thực hiện quá trình quản lý giáo dục theo định hướng quản lý chất lượng.

Theo lĩnh vực quản lý, chuẩn chất lượng của một nhà trường gồm chuẩn nhân lực giáo dục (chuẩn giáo viên, chuẩn cán bộ quản lý) và chuẩn các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục (cơ sở vật chất trường học, mạng lưới thông tin giáo dục, đầu tư tài chính cho giáo dục, nội dung chương trình và sách cho giáo dục, chuẩn dùng đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục).

Theo lĩnh vực cấp bậc học, chuẩn trong giáo dục gồm: chuẩn cho giáo dục mầm non; chuẩn cho giáo dục tiểu học; chuẩn cho giáo dục phổ thông, chuẩn cho giáo dục đại học; chuẩn cho giáo dục chuyên nghiệp.

1.2.5. Năng lực Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT ở huyện.

1.2.5.1 Khái niệm năng lực

“Năng lực” theo Từ điển tiếng Việt là khả năng đủ để làm một công việc nào đó hay “Năng lực” là những điều kiện được tạo ra hoặc vốn có để thực hiện một hoạt động nào đó.[30].

1.2.5.2 Năng lực sư phạm.

Để làm tốt một nghề nghiệp nào đó, con người cần phải có năng lực. Để làm tốt nghề sư phạm, người làm nghề sư phạm phải có năng lực sư phạm. Năng lực nghề nghiệp của cá nhân là điều kiện, phương tiện để hiện thực hoá xu hướng nghề nghiệp. Năng lực sư phạm của người GV là khả năng thực hiện các hoạt động giáo dục, dạy học với chất lượng cao. Tác giả Ph.N.Gônôbôlin cho rằng một người GV cần phải có các năng lực sau: năng lực truyền đạt tài liệu học tập cho trẻ một cách dễ hiểu, năng lực hiểu HS, năng lực thu hút HS, năng lực thuyết phục mọi người, năng lực tổ chức (bao gồm các kĩ năng lãnh đạo tập thể lớp, hướng dẫn đúng đắn việc học tập…), năng lực ứng xử sư phạm, năng lực dự đoán trước các tình huống và kết quả công tác của mình, năng lực sáng tạo trong công tác, năng lực nắm vững tài liệu giảng dạy

Theo tác giả Nguyễn Đức Chính: năng lực sư phạm là tổ hợp các kiến thức, kĩ năng, thái độ và giá trị nghề nghiệp thiết yếu đảm bảo cho người giáo viên thực hiện thành công quá trình dạy học – giáo dục HS. Năng lực sư phạm bao gồm năng lực dạy học, năng lực giáo dục và năng lực phát triển nghề nghiệp.[ 12].

1.2.5.3 Năng lực dạy học.

Như trên đã phân tích, năng lực không mang tính chung chung mà khi nói đến năng lực, bao giờ người ta cũng nói đến năng lực thuộc về một hoạt động cụ thể nào đó như năng lực toán học của hoạt động học tập hay nghiên cứu toán học, năng lực hoạt động chính trị của hoạt động chính trị, năng lực dạy học của hoạt động dạy học…. Như vậy có thể định nghĩa năng lực nghề nghiệp như sau: “Năng lực nghề nghiệp là sự tương ứng giữa những thuộc tính tâm, sinh lý của con người với những yêu cầu do nghề nghiệp đặt ra. Nếu không có sự tương ứng này thì con người không thể theo đuổi nghề được” ở mỗi một nghề nghiệp khác nhau sẽ có những yêu cầu cụ thể khác nhau, nhưng tựu trung lại thì năng lực nghề nghiệp nói chung và năng lực dạy học nói riêng được cấu thành bởi hai thành tố là tri thức chuyên môn (tri thức môn học) và kỹ năng hành nghề (kỹ năng dạy học).

Vậy, năng lực dạy học là tổ hợp các phẩm chất của giáo viên bao gồm tri thức chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp của giáo viên trong quá trình dạy học.

1.3. Trường Trung học phổ thông và giáo viên trường Trung học phổ thông Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT ở huyện.

1.3.1. Trường Trung học phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân

Trong hệ thống giáo dục quốc dân, bậc học Trung học phổ thông là bậc học kết thúc của giáo dục phổ thông. Giáo dục Trung học phổ thông giúp HS củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.

Theo điều lệ Trường THCS, trường Trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học, trường Trung học phổ thông có nhiệm vụ và quyền hạn: tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác của chương trình giáo dục phổ thông; quản lý giáo viên, cán bộ, nhân viên; tham gia tuyển dụng và điều động giáo viên, cán bộ, nhân viên; tuyển sinh và tiếp nhận HS, vận động HS đến trường, quản lý HS theo quy định của Bộ GD&ĐT; thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trong phạm vi cộng đồng; huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục, phối hợp với gia đình HS, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục; quản lý, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất, thiết bị theo quy định của Nhà nước; tổ chức cho giáo viên, nhân viên, HS tham gia hoạt động xã hội; tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lượng giáo dục của cơ quan có thẩm quyền kiểm định chất lượng giáo dục; thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật. [13].

1.3.2. Giáo viên Trung học phổ thông Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT ở huyện.

  • Khái niệm giáo viên Trung học phổ thông

Theo Luật Giáo dục Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác”. Tại khoản 3, điều 70, Luật giáo dục sửa đổi năm 2009 đã nêu: “Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp trình độ sơ cấp nghề, trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp gọi là giáo viên”. Như vậy, GV là tên gọi chỉ nhà giáo thực hiện hoạt động dạy học và giáo dục tại các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề. Theo đó, GV thực hiện lao động nghề nghiệp của mình tại các trường Trung học phổ thông được gọi là GV Trung học phổ thông. [24].

Theo Điều lệ trường THCS, trường Trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học, GV Trung học phổ thông là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, gồm: Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, GV bộ môn, GV làm công tác Đoàn TNCSHCM. [13].

  • Nhiệm vụ của giáo viên Trung học phổ thông

Điều 31 của Điều lệ trường THCS, trường Trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học, quy định nhiệm vụ của giáo viên Trung học phổ thông, cụ thể:

Đối với GV bộ môn: dạy học và giáo dục theo chương trình, kế hoạch giáo dục; soạn bài, dạy thực hành thí nghiệm; kiểm tra, đánh giá theo quy định; vào sổ điểm, ghi học bạ đầy đủ; lên lớp đúng giờ; quản lý HS trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức; tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn; tham gia công tác phổ cập giáo dục ở địa phương; rèn luyện đạo đức, học tập văn hoá, bồi dưỡng chuyên môn và nghiệp vụ để nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục; thực hiện điều lệ nhà trường; thực hiện quyết định của Hiệu trưởng; chịu sự kiểm tra của Hiệu trưởng và của các cấp quản lý giáo dục; giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo; gương mẫu trước HS, thương yêu tôn trọng HS, đối xử công bằng với HS, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của HS; Đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp; phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, các giáo viên khác, gia đình HS, Đoàn TNCSHCM trong dạy học và giáo dục HS; thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.

Đối với GV chủ nhiệm, ngoài việc thực hiện các nhiệm vụ của GV còn có các nhiệm vụ: tìm hiểu và nắm vững HS trong lớp về mọi mặt để có biện pháp tổ chức giáo dục sát đối tượng, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của cả lớp; cộng tác chặt chẽ với gia đình HS; chủ động phối hợp với các GV bộ môn, Đoàn TNCSHCM, các tổ chức xã hội có liên quan trong hoạt động giảng dạy và giáo dục HS của lớp mình chủ nhiệm; nhận xét, đánh giá và xếp loại HS cuối học kỳ và cuối năm học; đề nghị khen thưởng và kỷ luật HS; đề nghị danh sách HS lên lớp thẳng, phải thi lại, phải rèn luyện thêm hạnh kiểm trong kỳ nghỉ hè, phải ở lại lớp; hoàn chỉnh việc ghi vào sổ điểm và học bạ của HS; báo cáo thường kỳ hoặc đột xuất (nếu có tình hình đặc biệt) về tình hình của lớp với Hiệu trưởng. Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT ở huyện.

Giáo viên thỉnh giảng cũng có nhiệm vụ như giáo viên bộ môn. Giáo viên làm công tác Đoàn TNCSHCM được bồi dưỡng về công tác Đoàn TNCSHCM, có nhiệm vụ tổ chức các hoạt động của Đoàn ở nhà trường và tham gia các hoạt động với địa phương.[13].

1.4. Chuẩn nghề nghiệp giáo viên Trung học phổ thông

1.4.1. Nội dung cơ bản của Chuẩn nghề nghiệp

Chuẩn nghề nghiệp GV trung học được quy định kèm theo thông tư 30/2009/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT quy định chi tiết, có hệ thống nội dung về phẩm chất, năng lực nghề nghiệp của giáo viên. Các phẩm chất, năng lực được trình bày theo cách tiếp cận năng lực hoạt động, với cấu trúc phản ánh logic các công đoạn dạy học và giáo dục. Theo đó, mỗi hoạt động ở từng công đoạn cụ thể được xác định bằng các hành động cấu thành các kĩ năng giáo dục, dạy học cụ thể. Chuẩn nghề nghiệp GV trung học gồm 6 tiêu chuẩn, 25 tiêu chí, có giá trị như một thước đo năng lực hành nghề của GV diễn ra trong bối cảnh thực tiễn giáo dục. [5].

1.4.2. Mục đích ban hành Chuẩn nghề nghiệp

Giúp GV trung học tự đánh giá phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, năng lực nghề nghiệp từ đó xây dựng kế hoạch rèn luyện phẩm chất đạo đức và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.

  • Làm cơ sở để đánh giá, xếp loại GV hằng năm phục vụ công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ GV trung học.
  • Làm cơ sở để xây dựng, phát triển chương trình đào tạo, bồi dưỡng GV trung học.
  • Làm cơ sở để nghiên cứu, đề xuất và thực hiện chế độ chính sách đối với GV trung học; cung cấp tư liệu cho các hoạt động quản lý khác. [6]

1.4.3. Các tiêu chuẩn, tiêu chí của chuẩn nghề nghiệp giáo viên Trung học phổ thông Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT ở huyện.

Tiêu chuẩn 1: Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống

  • Tiêu chí 1:Phẩm chất chính trị
  • Tiêu chí 2: Đạo đức nghề nghiệp
  • Tiêu chí 3: Ứng xử với HS
  • Tiêu chí 4: Ứng xử với đồng nghiệp
  • Tiêu chí 5: Lối sống, tác phong

Tiêu chuẩn 2: Năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục

  • Tiêu chí 6:Tìm hiểu đối tượng giáo dục
  • Tiêu chí 7:Tìm hiểu môi trường giáo dục

Tiêu chuẩn 3: Năng lực dạy học

  • Tiêu chí 8:Xây dựng kế hoạch dạy học
  • Tiêu chí 9: Đảm bảo kiến thức môn học.
  • Tiêu chí 10:Đảm bảo chương trình môn học.
  • Tiêu chí 11:Vận dụng các phương pháp dạy học.
  • Tiêu chí 12: Sử dụng các phương tiện dạy học.
  • Tiêu chí 13:Xây dựng môi trường học tập.
  • Tiêu chí 14:Quản lý hồ sơ dạy học.
  • Tiêu chí 15: Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS

Tiêu chuẩn 4: Năng lực giáo dục

  • Tiêu chí 16:Xây dựng kế hoạch các hoạt động giáo dục.
  • Tiêu chí 17:Giáo dục qua môn học.
  • Tiêu chí 18: Giáo dục qua các hoạt động giáo dục.
  • Tiêu chí 19:Giáo dục qua các hoạt động trong cộng đồng.
  • Tiêu chí 20: Vận dụng các nguyên tắc, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục.
  • Tiêu chí 21:Đánh giá kết quả rèn luyện đạo đức của HS.

Tiêu chuẩn 5: Năng lực hoạt động chính trị, xã hội

  • Tiêu chí 22: Phối hợp với gia đình HS và cộng đồng
  • Tiêu chí 23: Tham gia hoạt động chính trị, xã hội

Tiêu chuẩn 6: Năng lực phát triển nghề nghiệp.

  • Tiêu chí 24:Tự đánh giá, tự học và tự rèn luyện
  • Tiêu chí 25: Phát hiện và giải quyết vấn đề nảy sinh trong thực tiễn giáo dục.

1.4.4. Chuẩn năng lực dạy học của giáo viên Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT ở huyện.

1.4.4.1 Năng lực chuẩn bị lập kế hoạch dạy học môn học

Chuẩn hóa là một quá trình làm cho GV đáp ứng được các quy định đã ban hành. Vì vậy, chuẩn hóa về năng lực dạy học thực chất là hiện thực hóa các yêu cầu về năng lực dạy học đối với mỗi GV đang hoạt động nghề nghiệp ở nhà trường phổ thông. Trong các yêu cầu về năng lực dạy học thì yêu cầu đầu tiên là năng lực chuẩn bị lập kế hoạch dạy học môn học, cụ thể GV phải biết:

  • Sử dụng các phương pháp và kỹ thuật tìm hiểu HS để xác định được học lực, hứng thú học tập và phong cách học tập của HS;
  • Phân tích được chương trình môn học và phân phối chương trình, chuẩn kiến thức, kỹ năng môn học đối với từng lớp và toán cấp;
  • Xác định được các điều kiện cơ sở vật chất – thiết bị dạy học của trường phục vụ cho dạy học môn học;
  • Xác định được các yếu tố kinh tế – xã hội, điều kiện tự nhiên của địa phương nhằm hỗ trợ cho việc dạy học gắn với thực tiễn.

1.4.4.2 Năng lực lập kế hoạch dạy học môn học

Để chuẩn hóa năng lực dạy học, GV phải thực hiện được việc lập kế hoạch dạy học môn học đảm bảo chương trình môn học, đảm bảo kiến thức môn học, cụ thể GV phải biết:

Thiết kế được kế hoạch môn học đảm bảo mối quan hệ biện chứng giữa mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức dạy học, phương pháp, phương tiện dạy học và hình thức kiểm tra, đánh giá;

Xác định được mục tiêu dạy học của môn học, của từng chương, đảm bảo chuẩn kiến thức, kĩ năng môn học phù hợp với đối tượng HS, với điều kiện Cơ sở vật chất –TBDH của nhà trường và đặc điểm của địa phương;

Xác định thời lượng cho các chủ đề, nội dung phù hợp với logic, trong số các nội dung, với đặc điểm HS, điều kiện Cơ sở vật chất của nhà trường và đặc điểm của địa phương; Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT ở huyện.

Lựa chọn được các hình thức tổ chức dạy học, phương pháp và phương tiện phù hợp với nội dung từng chủ đề, với đặc điểm HS, điều kiện Cơ sở vật chất của nhà trường và đặc điểm của địa phương;

Xác định được nội dung, hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS phù hợp với mục tiêu, chuẩn kết quả học tập mỗi chương, mỗi phần của chương trình.

1.4.4.3 Năng lực lập kế hoạch bài học

Nghiên cứu các tài liệu có liên quan, chuẩn bị các phương tiện, đồ dùng dạy học, xác định được kiến thức đã có của HS liên quan đến bài học mới, hệ thống các bài tập, câu hỏi theo các mục đích khác nhau;

Xác định được mục tiêu bài học theo hướng hình thành năng lực, thể hiện tính tích hợp và phân hóa theo các bậc nhận thức và hình thức tư duy, phù hợp với các loại đối tượng HS trong lớp và biểu đạt mục tiêu thành các dấu hiệu có thể quan sát, đo lường được;

Xác định và lựa chọn được mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức tự học của HS ở nhà với các phương pháp phương tiện, công cụ giúp HS tự học và kiểm tra đánh giá kết quả tự học;

Thiết kế được các hoạt động học tập phù hợp với mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS và phù hợp với từng loại đối tượng HS;

  • Lựa chọn hợp lí các thiết bị dạy học và xác định được thời điểm, phương pháp sử dụng;
  • Phân phối thời gian hợp lí cho các hoạt động trên lớp;
  • Dự kiến được các tình huống có thể nảy sinh và cách xử lí.

1.4.4.4 Năng lực tổ chức dạy học trên lớp Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT ở huyện.

Để chuẩn hóa năng lực dạy học, GV còn phải hiện thực hóa được các yêu cầu về năng lực tổ chức dạy học trên lớp, cụ thể:

  • Quản lý được lớp học, lôi cuốn được toàn thể HS tham gia tích cực vào các hoạt động học tập trên lớp;
  • Sử dụng các phương pháp và phương tiện dạy học đảm bảo được các yêu cầu về kĩ thuật và nguyên tắc sư phạm;
  • Trình bày bảng hợp lí, lời nói rõ ràng, mạch lạc, thu hút sự chú ý của HS;
  • Sử dụng được các phương pháp, kĩ thuật thu thông tin phản hồi để kịp điều chỉnh hoạt động dạy học cho phù hợp; xử lí hợp lí các tình huống nảy sinh;
  • Giao tiếp đúng mực, tôn trọng, khích lệ HS, tạo được môi trường học tập tương tác thân thiện;
  • Tự đánh giá được mức độ đạt được mục tiêu bài học.

1.4.4.5 Năng lực kiểm tra, đánh giá kết quả học tập

Trong quá trình dạy học, GV thường xuyên phải tiến hành việc kiểm tra, đánh giá HS. Năng lực kiểm tra, đánh giá kết quả học tập được thể hiện như sau:

  • Xây dựng được kế hoạch kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn học cho cả năm, từng học kì và từng tuần;
  • Lựa chọn nội dung, hình thức kiểm tra, đánh giá phù hợp với mục đích của kiểm tra, đánh giá thường xuyên, đánh giá định kì, đánh giá tổng kết theo hướng xác định mức độ năng lực HS;
  • Sử dụng được các kĩ thuật để thiết kế câu hỏi và đề kiểm tra, đánh giá đảm bảo độ tin cậy, độ giá trị của đề kiểm tra;
  • Chỉ ra được những ưu điểm, sai sót của HS khi chấm bài và tổ chức trả bài để giúp HS tự điều chỉnh hoạt động học của mình;
  • Tổ chức được hoạt động tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và tự điều chỉnh hoạt động học tập của HS;
  • Sử dụng được thông tin phản hồi từ kiểm tra, đánh giá để điều chỉnh hoạt động dạy học;
  • Sử dụng được một số phần mềm thông dụng trong kiểm tra, đánh giá.

1.4.4.6 Năng lực quản lý hồ sơ dạy học

“Lập được hồ sơ dạy học với từng tệp riêng chứa đựng các thông tin hỗ trợ cho việc lập kế hoạch dạy học, theo dõi sự tiến bộ của HS, bồi dưỡng HS giỏi, phụ đạo HS kém; Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT ở huyện.

Sử dụng được công nghệ thông tin trong việc lập, bảo quản và sử dụng hồ sơ dạy học”. [9,tr3-5]

1.5. Nội dung quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên Trung học phổ thông theo Chuẩn nghề nghiệp để phát triển năng lực dạy học

1.5.1. Quản lý đánh giá đội ngũ giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp

Tổ chức đánh giá đội ngũ GV theo Chuẩn có nghĩa là xác định trạng thái hiện tại của từng GV so với trạng thái mong muốn. Cụ thể là xác định chính xác, khách quan mức độ năng lực nghề nghiệp của GV ở thời điểm đánh giá theo các tiêu chí, tiêu chuẩn trong Chuẩn nghề nghiệp. Trên cơ sở xác định mức độ năng lực nghề nghiệp GV, tiến hành xếp loại GV hàng năm, lưu hồ sơ phục vụ công tác quy hoạch; đưa ra những khuyến cáo cho GV xây dựng chương trình kế hoạch tự rèn luyện, tự bồi dưỡng; khuyến nghị các cấp quản lý giáo dục tổ chức đào tạo bồi dưỡng nâng cao năng lực cho GV; cung cấp những thông tin để làm cơ sở cho việc xây dựng và thực hiện các chính sách đối với GV. Phương pháp đánh giá đội ngũ GV theo Chuẩn nghề nghiệp theo con đường quy nạp như “sơ đồ” sau:

  • Sơ đồ 1.2. Con đường quy nạp để đánh giá GV theo Chuẩn nghề nghiệp

Như vậy, việc đầu tiên trong đánh giá GV theo Chuẩn là việc đi xác định các minh chứng để xác định mức độ đạt được của tiêu chí (quy về điểm số); sau đó cộng điểm của các tiêu chí để được tổng điểm của 25 tiêu chí; cuối cùng căn cứ vào tổng điểm của 25 tiêu chí và điểm tối thiểu ở mỗi tiêu chí để xếp loại chung (Xuất sắc, Khá, Trung bình, Kém)

Đánh giá đội ngũ GV theo Chuẩn nghề nghiệp được thực hiện mỗi năm một lần vào cuối năm học theo quy trình cụ thể sau:

GV tự đánh giá xếp loại: sau một năm học GV thực hiện nhiệm vụ của mình theo các yêu cầu của chuẩn. Đối chiếu với Chuẩn, mỗi GV tự đánh giá và ghi điểm đạt được ở từng tiêu chí vào phiếu GV tự đánh giá. Ở từng tiêu chuẩn, GV chuẩn bị các minh chứng liên quan đến các tiêu chí đã được quy định tại Chương II Chuẩn nghề nghiệp GV trung học, ghi nguồn minh chứng. Căn cứ vào tổng số điểm và điểm đạt được theo từng tiêu chí, GV tự xếp loại đạt được (theo 4 loại: loại kém, loại trung bình, loại khá, loại xuất sắc). Cuối cùng GV tự đánh giá về những điểm mạnh, điểm yếu, nêu hướng phát huy điểm mạnh và khắc phục điểm yếu. Đây là khâu quan trọng nhất trong quá trình đánh giá GV. Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT ở huyện.

Tổ trưởng chuyên môn đánh giá,xếp loại: Căn cứ vào kết quả tự đánh giá của GV và nguồn minh chứng do GV cung cấp (Phiếu GV tự đánh giá), tập thể tổ chuyên môn nơi GV công tác, dưới sự điều khiển của tổ trưởng, có sự tham gia của GV được đánh giá, tiến hành việc kiểm tra các minh chứng, xác định điểm đạt được ở từng tiêu chí của GV, ghi kết quả đánh giá và xếp loại của tổ vào phiếu đánh giá; đồng thời tổ chuyên môn phải chỉ ra được những điểm mạnh, điểm yếu của GV và góp ý, khuyến nghị GV xây dựng kế hoạch rèn luyện, tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao năng lực nghề nghiệp. Các nội dung trên được ghi vào phiếu đánh giá GV của tổ chuyên môn. Điểm của từng tiêu chí và nhận xét, đánh giá được ghi theo ý kiến đa số (không tính ý kiến của GV dược đánh giá), nếu tỉ lệ ý kiến ngang nhau thì ghi theo quyết định lựa chọn của tổ trưởng. Tổ trưởng chuyên môn tổng hợp kết quả xếp loại GV của tổ vào Phiếu tổng hợp xếp loại GV của tổ chuyên môn.

Hiệu trưởng đánh giá, xếp loại: Hiệu trưởng xem xét kết quả tự đánh giá của mỗi GV (Phiếu GV tự đánh giá) và kết quả đánh giá xếp loại của tổ chuyên môn (Phiếu đánh giá GV của tổ chuyên môn và Phiếu tổng hợp xếp loại GV của tổ chuyên môn) để đưa ra quyết định đánh giá, xếp loại về từng GV trong trường. Trong trường hợp không có sự thống nhất giữa tự đánh giá của GV với đánh giá của tổ chuyên môn, hiệu trưởng cần xem xét lại các minh chứng, trao đổi với tổ trưởng chuyên môn, các thành viên trong lãnh đạo nhà trường, hoặc các tổ chức, tập thể trong trường và GV trước khi đưa ra quyết định của mình. Đối với các trường hợp xếp loại xuất sắc hoặc loại kém, hiệu trưởng cần tham khảo ý kiến của các phó hiệu trưởng, chi bộ đảng, công đoàn, đoàn thanh niên, tổ trưởng chuyên môn trước khi đưa ra quyết định cuối cùng. Kết quả đánh giá, xếp loại GV được ghi vào Phiếu xếp loại GV của hiệu trưởng.Đánh giá đội ngũ GV theo Chuẩn nghề nghiệp không chỉ dừng lại ở việc quy ra điểm số để xếp loại GV, bởi nếu thế sẽ chỉ tác động đến một bộ phận nhỏ GV yếu kém hoặc xuất sắc mà không kích thích được sự nỗ lực phấn đấu phát triển nghề nghiệp của toàn đội ngũ GV. Do đó cần coi trọng việc đối chiếu từng tiêu chí, kiểm tra nguồn minh chứng, đánh giá đúng điểm mạnh, điểm yếu của mỗi GV, chỉ ra phương hướng phấn đấu của GV đó. Có vậy hoạt động đánh giá mới đạt được mục đích của việc quản lý chất lượng.

1.5.2. Chỉ đạo xây dựng nội dung bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT ở huyện.

1.5.2.1 Mục tiêu bồi dưỡng năng lực dạy học

Trong giáo dục, bồi dưỡng năng lực dạy học cho đội ngũ GV là hoạt động thường xuyên với mục tiêu để củng cố, mở mang và trang bị cho GV những tri thức hiểu biết chuyên môn (Kiến thức môn học, nội dung chương trình, hiểu biết về nghề dạy học…) và các kỹ năng sư phạm (cách tổ chức dạy học, cách giao tiếp ứng xử, giáo dục HS…) để thực hiện tốt nhiệm vụ giảng dạy của mình.

1.5.2.2 Quản lý thực hiện mục tiêu, xây dựng nội dung bồi dưỡng năng lực dạy học cho đội ngũ GV Trung học phổ thông

Nội dung bồi dưỡng phải mang tính phát triển, sát với nhu cầu thực tế và yêu cầu của phát triển giáo dục Trung học phổ thông hiện nay.

Quản lý trình tự bồi dưỡng năng lực dạy học trong các chuyên đề, trong từng năm, từng đối tượng, số giờ dành cho từng chuyên đề trong cả năm; quản lý chương trình bồi dưỡng cho từng đối tượng (phân phối thời gian, quy định về hình thức bồi dưỡng, kiểm tra, ôn tập, thực hành…), các quy định mục tiêu bồi dưỡng, kỹ năng, phương pháp, phương tiện giảng dạy và kiểm tra đánh giá kết quả bồi dưỡng.

Chỉ đạo việc thực hiện các qui định, yêu cầu về lập kế hoạch bài giảng. Chỉ đạo, hướng dẫn các tổ nhóm chuyên môn khi sinh hoạt chuyên môn thống nhất lập kế hoạch bài dạy về mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học.

Bồi dưỡng kiến thức về công nghệ giảng dạy; cải tiến phương pháp giảng dạy của GV trong đó tăng cường việc sử dụng hiệu quả Cơ sở vật chất, phương tiện giảng dạy, ứng dụng CNTT và truyền thông trong quá trình dạy học.

GV cần được đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ, nhận thức về mọi mặt đáp ứng yêu cầu đổi mới của sự nghiệp giáo dục; nắm vững kế hoạch, chương trình bồi dưỡng.

Nâng cao ý thức tự học, tự bồi dưỡng cho GV và xây dựng kế hoạch tự học, tự bồi dưỡng năng lực dạy học cho đội ngũ GV.

Do đó cần: Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT ở huyện.

  • Quản lý việc thực hiện đầy đủ, đúng nội dung chương trình bồi dưỡng năng lực dạy học cho GV Trung học phổ thông.
  • Quản lý việc xây dựng và phát triển chương trình bồi dưỡng năng lực dạy học cho GV Trung học phổ thông.
  • Quản lý việc kiểm tra, đánh giá thực hiện chương trình bồi dưỡng năng lực dạy học cho GV Trung học phổ thông.

1.5.3. Xây dựng đội ngũ báo cáo viên

Để triển khai hoạt động bồi dưỡng năng lực cho GV thì cần sự phối kết hợp của nhiều lực lượng tham gia. Đặc biệt khi chương trình bồi dưỡng của Sở, Bộ chỉ dừng lại ở một số ít các đợt tập huấn, bồi dưỡng thì chương trình bồi dưỡng tại trường là rất quan trọng. Do đó để triển khai tốt công tác bồi dưỡng cho GV tại trường thì trước hết phải xây dựng được đội ngũ báo cáo viên có vai trò truyền đạt, giảng dạy các nội dung của chương trình bồi dưỡng mà trường đã xây dựng tới đội ngũ GV. Đội ngũ báo cáo viên ở đây là các đồng chí tổ trưởng chuyên môn, nhóm trưởng các bộ môn hay những GV có nhiều kinh nghiệm giảng dạy– họ là những GV giỏi về nghiệp vụ, vững vàng về chuyên môn. Trên cơ sở được tiếp thu các nội dung trong các đợt tập huấn của Bộ và Sở GD&ĐT tổ chức, kết hợp với sự chỉ đạo của Ban giám hiệu nhà trường – trực tiếp là phó hiệu trưởng chuyên môn, đội ngũ báo cáo viên sẽ triển khai các nội dung của chương trình bồi dưỡng theo kế hoạch tới toàn thể GV trong trường. Để xây dựng đội ngũ báo cáo viên tham gia công tác bồi dưỡng năng lực dạy học cho GV đáp ứng yêu cầu thì Ban giám hiệu nhà trường phải có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng họ: cử họ đi học cao học, tham gia các lớp tập huấn do Bộ và Sở GD&ĐT tổ chức hoặc tổ chức các buổi hội thảo tại trường. Đồng thời có cơ chế, chính sách đãi ngộ, quan tâm động viên đối với họ.

1.5.4. Tổ chức bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên

Muốn kế hoạch đặt ra được thực thi, có hiệu quả đòi hỏi người Cán bộ quản lý phải tổ chức tốt hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học cho GV, triển khai một cách hợp lý trên cơ sở kế hoạch đặt ra, đồng thời vừa làm vừa điều chỉnh kịp thời.

Quán triệt nâng cao ý nghĩa của việc bồi dưỡng năng lực dạy học đến đội ngũ GV để họ có mục tiêu và động cơ thực hiện.

Tổ chức cho đội ngũ GV học tập nâng cao trình độ: phân công báo cáo viên thực hiện thí điểm đổi mới PPDH, PP bồi dưỡng; xác định cơ chế phối hợp giữa các tổ bộ môn, giữa các báo cáo viên, giữa Ban giám hiệu và GV.

Chỉ đạo và tạo điều kiện tối đa cho đội ngũ GV tham gia các đợt bồi dưỡng, tập huấn về chuyên môn: tạo điều kiện về thời gian, phòng học, thiết bị học tập, mời báo cáo viên theo yêu cầu; quan tâm tạo bầu không khí sôi nổi cho GV thi đua bồi dưỡng, tạo không khí đồng thuận trong tập thể, giúp GV có tinh thần bồi dưỡng tốt…

CBQL phải chọn đúng người, giao đúng việc, chọn thời gian nào, ưu tiên bồi dưỡng nội dung nào trước, nội dung nào giao cho tổ, nhóm thực hiện, mời báo cáo viên, khai thác tài liệu, ứng dụng khoa học CNTT và sử dụng các phương tiện hiện đại…

Chỉ đạo quá trình bồi dưỡng về phát triển năng lực dạy học: giúp GV hiểu, có ý thức vận dụng và nâng cao năng lực sử dụng các phương pháp giảng dạy, giúp họ lựa chọn các phương pháp phù hợp với từng nội dung, dung lượng của bài giảng, tạo điều kiện để HS tiếp thu bài hiệu quả; Giúp GV hiểu và có ý thức thực hiện đúng chương trình, giáo trình, đặc biệt là kiến thức, kỹ năng thích hợp với nội dung chương trình. Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT ở huyện.

Tổ chức bồi dưỡng và quản lý bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ GV Trung học phổ thông bằng cách tăng cường vai trò tự giác, tích cực chủ động của GV trong công tác bồi dưỡng, biến quá trình bồi dưỡng thành quá trình tự bồi dưỡng.

1.5.5. Kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên

Kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng là một trong những khâu quan trọng của quá trình bồi dưỡng, giúp định hướng cho quá trình bồi dưỡng. Để kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng năng lực dạy học cho đội ngũ GV Trung học phổ thông cần:

Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch bồi dưỡng có đảm bảo đúng tiến độ, nội dung chương trình… hay không;

Kiểm tra các khâu chuẩn bị và thực hiện của Cán bộ giáo viên và báo cáo viên: kiểm tra việc chuẩn bị bài dạy, các điều kiện tiến hành bài dạy,…;

Kiểm tra đánh giá năng lực chuyên môn và ý thức của GV qua việc chuẩn bị và tiến hành giờ giảng; bồi dưỡng năng lực sư phạm GV và ý thức trách nhiệm của GV; xây dựng nền nếp, kỷ cương trong hội đồng sư phạm.

  • Kiểm tra cần đáp ứng mục tiêu:

Đối với GV: kiểm tra đánh giá nhằm mục đích động viên, khuyến khích, tạo động lực cho GV học tập & tiến bộ không ngừng; thúc đẩy GV cố gắng khắc phục thiếu sót hoặc phát huy năng lực, sở trường của mình; kiểm tra đánh giá giúp GV tự đánh giá việc nắm kiến thức, kỹ năng. Qua đó GV thấy được sự tiến bộ hay thụt lùi của bản thân để rút kinh nghiệm, điều chỉnh quá trình học tập của mình.

Đối với báo cáo viên: theo dõi sự tiến bộ của từng học viên để có kế hoạch hỗ trợ học viên học tập trong các nội dung bồi dưỡng ở các chương trình tiếp theo và ôn lại nội dung đã học; thu thập thông tin phản hồi từ học viên để giúp họ giảng dạy tốt hơn.

Đối với nhà quản lý: đánh giá về công tác tổ chức, quản lý giáo dục; giám sát quá trình bồi dưỡng; thông tin phản hồi tới người học và tới cơ quan quản lý; rút kinh nghiệm cho hoạt động bồi dưỡng tiếp theo.

Như vậy muốn hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng năng lực dạy học cho đội ngũ GV Trung học phổ thông đạt kết quả tốt thì Ban giám hiệu nhà trường và đội ngũ báo cáo viên phải có sự quan tâm thực sự đối với kết quả bồi dưỡng. Có sự theo dõi giám sát trước, trong và sau mỗi hoạt động bồi dưỡng. Ban giám hiệu nhà trường và báo cáo viên phải nắm được quy trình và cách đánh giá, đồng thời cập nhật, trau dồi các phương pháp, tiêu chí đánh giá mới.

1.5.6. Đảm bảo Cơ sở vật chất và chế độ chính sách hỗ trợ hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT ở huyện.

Hoạt động bồi dưỡng GV đảm bảo thực hiện hiệu quả khi có sự chuẩn bị chu đáo về cơ sở vật chất, có chế độ chính sách động viên báo cáo viên và đội ngũ GV trong trường.

Về Cơ sở vật chất: chuẩn bị các phòng chức năng, máy tính, máy chiếu, mạng Internet,… giúp cho GV có thể tham gia hoạt động bồi dưỡng một cách thuận lợi, đồng thời giúp nhà quản lý tổ chức bồi dưỡng GV theo định hướng rõ ràng và nội dung cụ thể hơn. Bên cạnh đó, việc chuẩn bị tốt về Cơ sở vật chất giúp hoạt động bồi dưỡng GV được thực hiện bằng các phương pháp tích cực, tăng cường hoạt động của học viên trong quá trình bồi dưỡng, chuyển quá trình bồi dưỡng sang tự bồi dưỡng một cách chủ động.

Về chế độ chính sách: chuẩn bị nguồn lực tài chính chu đáo sẽ động viên kịp thời đến từng GV cũng như đội ngũ GV cốt cán. Khen thưởng công bằng sẽ thúc đẩy sự cố gắng của mỗi GV. Từ đó tạo nên sức mạnh thi đua của cả tập thể GV trong nhà trường.

Công tác xã hội hóa cũng có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động bồi dưỡng. Đó là sự quan tâm ủng hộ của các cấp chính quyền địa phương, của các nhà đầu tư cho giáo dục, của cha mẹ HS, …

1.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên Trung học phổ thông theo Chuẩn nghề nghiệp để phát triển năng lực dạy học

1.6.1. Những yếu tố khách quan

Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với giáo dục nói chung và sự đáp ứng nhu cầu của xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý bồi dưỡng GV. Đặc biệt là những yêu cầu đổi mới trong giáo dục đòi hòi những phẩm chất, năng lực mới ở người GV sao cho phù hợp với nhu cầu xã hội trong thời đại ngày nay.

Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với GV liên quan đến công tác bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ. Nó đòi hỏi người GV phải có phẩm chất nhà giáo mẫu mực, đồng thời phải có năng lực chuyên môn vững vàng, năng động, sáng tạo, nhanh chóng cập nhật những thay đổi mới trong giáo dục

Sự quan tâm của các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội đối với việc bồi dưỡng GV cũng là yếu tố tác động đến hiệu quả công tác bồi dưỡng bởi đây là một trong những nội dung của công tác xã hội hóa trong giáo dục. Tranh thủ được sự quan tâm, đồng thuận của các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội sẽ có kết quả mong muốn trong công tác quản lý bồi dưỡng GV.

Nhận thức xã hội của các cấp quản lý về công tác quản lý bồi dưỡng và nhận thức của từng GV về việc bồi dưỡng theo Chuẩn nghề nghiệp sẽ tạo cho công tác quản lý bổi dưỡng GV có những chỉ đạo đúng hướng.

Công tác quy hoạch bồi dưỡng theo Chuẩn nghề nghiệp cùng với những chính sách thỏa đáng đối với cán bộ, GV tham gia bồi dưỡng sẽ tạo động lực thúc đẩy quá trình bồi dưỡng và tự bồi dưỡng của đội ngũ GV.

Các yếu tố quản lý như cơ chế quản lý, phân cấp quản lý, công tác kế hoạch hóa giáo dục ảnh hưởng đến công tác bồi dưỡng GV. Quản lý bồi dưỡng GV có được tiến hành thuận lợi theo kế hoạch đã lập hay không phụ thuộc vào những yếu tố này.

1.6.2. Những yếu tố chủ quan Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT ở huyện.

Nhu cầu về bồi dưỡng: thể hiện ở số lượng GV, tri thức, kĩ năng nghiệp vụ cần được bồi dưỡng. Những yếu tố này có tác động trực tiếp đến việc lập kế hoạch, xây dựng nội dung chương trình bồi dưỡng. Người quản lý cần dựa vào nhu cầu bồi dưỡng để lựa chọn nội dung bồi dưỡng sao cho phù hợp đối tượng, đáp ứng được nhu cầu bồi dưỡng của đội ngũ GV.

Trình độ năng lực của cán bộ quản lý bồi dưỡng GV và năng lực của đội ngũ GV cốt cán tham gia công tác bồi dưỡng có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả của công tác bồi dưỡng.

Kĩ năng đa dạng hóa và lựa chọn mô hình bồi dưỡng phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của GV tham gia bồi dưỡng cũng như phù hợp với điều kiện Cơ sở vật chất của nhà trường.

Ngoài ra, hiệu quả của quản lý bồi dưỡng GV còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố khác như không gian, thời gian, … do vậy trong quá trình quản lý cần chú trọng tới các vấn đề như: định hướng nội dung bồi dưỡng; ngăn ngừa xu hướng tùy tiện, lệch lạc thông tin trong quá trình bồi dưỡng GV.

Một đội ngũ GV mạnh phải đảm bảo đủ số lượng, chuẩn về trình độ đào tạo, đặc biệt là đảm bảo đạt Chuẩn nghề nghiệp. Trong đó, mọi GV đều phải có phẩm chất đạo đức tốt, năng lực chuyên môn vững vàng, kiến thức chắc chắn, yêu nghề mến trẻ, năng động sáng tạo,… Để tạo ra sức mạnh đội ngũ, ngoài sự nỗ lực của mỗi GV, người quản lý cần phải biết khéo léo tác động để phát huy nội lực, liên kết sức mạnh mỗi GV thành sức mạnh của cả tập thể. Có thể nói chất lượng GV đạt Chuẩn nghề nghiệp là sự phản ánh trung thực hiệu quả công tác quản lý và trình độ năng lực của nhà quản lý giáo dục.

Tiểu kết chương 1 Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT ở huyện.

Chương 1 của luận văn đã khái quát các công trình nghiên cứu về hoạt động Bồi dưỡng giáo viên và quản lý hoạt động Bồi dưỡng giáo viên, nghiên cứu lí luận và hệ thống hóa các khái niệm cơ bản: quản lý và các chức năng quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường; bồi dưỡng GV, Chuẩn, Chuẩn nghề nghiệp, năng lực sư phạm, năng lực dạy học, trường Trung học phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân, GV trường Trung học phổ thông; Chuẩn nghề nghiệp GV Trung học phổ thông, Chuẩn năng lực dạy học của GV.

Trong phạm vi thực hiện đề tài của luận văn, quản lý hoạt động Bồi dưỡng giáo viên được xác định ở phạm vi quản lý cấp trường do hiệu trưởng đứng đầu, chịu trách nhiệm thực hiện. Nội dung quản lý hoạt động Bồi dưỡng giáo viên Trung học phổ thông theo Chuẩn nghề nghiệp để phát triển năng lực dạy học bao gồm: quản lý đánh giá đội ngũ GV theo Chuẩn nghề nghiệp; chỉ đạo xây dựng nội dung bồi dưỡng năng lực dạy học; xây dựng đội ngũ báo cáo viên; tổ chức bồi dưỡng năng lực dạy học cho GV; kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng năng lực dạy học cho GV; đảm bảo cơ sở vật chất và các chế độ chính sách hỗ trợ hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học cho GV. Quản lý hoạt động Bồi dưỡng giáo viên phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có cả các yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan. Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT ở huyện.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537