Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái huyện Hàm Thuận Nam hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khai thác hiệu quả tiềm năng phát triển du lịch sinh thái huyện Hàm Thuận Nam – tỉnh Bình Thuận theo hướng bền vững dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện tượng Nhật thực toàn phần năm 2009 là mốc thời gian quan trọng đánh dấu sự khởi đầu cho ngành du lịch tỉnh Bình Thuận, đưa Bình Thuận trở thành một điểm du lịch đầy tiềm năng trên Bản đồ du lịch Việt Nam. Qua 15 năm phát triển, đến nay du lịch Bình Thuận đã đạt được nhiều những thành quả đáng được ghi nhận, góp phần quan trọng làm thay đổi bộ mặt kinh tế- xã hội tỉnh nhà.
Cùng với sự phát triển của ngành du lịch tỉnh, du lịch Hàm Thuận Nam cũng đang chuyển mình, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của huyện, làm thay đổi rất đáng kể diện mạo KT – XH của huyện. Đặc biệt, trong đó có vai trò rất quan trọng của một loại hình du lịch mới- Du lịch sinh thái (DLST). Với lợi thế về tài nguyên du lịch phong phú gắn với môi trường sinh thái tự nhiên và nhân văn đặc thù, du lịch Hàm Thuận Nam đã trở thành một điểm đến hấp dẫn khách du lịch trong và ngoài nước, làm đa dạng thêm sản phẩm du lịch Bình Thuận. Tuy nhiên, sự phát triển du lịch gắn với khai thác tài nguyên và lợi ích kinh tế làm gia tăng các nguy cơ tổn hại đến tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái. Công tác quản lý còn hạn chế, phần lớn đội ngũ lao động chưa qua đào tạo bài bản để đáp ứng những yêu cầu mới. Nhận thức của người dân cũng như cộng đồng địa phương còn nhiều hạn chế, chưa tham gia một cách tích cực và có trách nhiệm vào các hoạt động du lịch. Ngoài ra, vấn đề đầu tư dàn trải với tốc độ quá nhanh cũng là nguyên nhân gây tác động đến môi trường.
Trước thực tế trên, nhằm khai thác một cách hợp lý các thế mạnh về tài nguyên môi trường sinh thái, hướng với mục tiêu phát triển Du lịch sinh thái bền vững, tôi chọn đề tài: “Khai thác hiệu quả tiềm năng phát triển du lịch sinh thái huyện Hàm Thuận Nam – tỉnh Bình Thuận theo hướng bền vững”.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2/ Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích
Vận dụng cơ sở lý luận và thực tiễn về khai thác tiềm năng phát triển bền vững du lịch vào việc phân tích tiềm năng và thực trạng phát triển Du lịch sinh thái của huyện Hàm Thuận Nam (đánh giá những mặt đạt được, những hạn chế cần khắc phục). Từ đó, xây dựng định hướng và giải pháp phát triển Du lịch sinh thái theo hướng bền vững.
2.2 Nhiệm vụ Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái huyện Hàm Thuận Nam.
Nghiên cứu những cơ sở lí luận và thực tiễn về Du lịch sinh thái và phát triển Du lịch sinh thái bền vững trên thế giới, ở Việt Nam và tại Bình Thuận vận dụng vào thực tế phát triển Du lịch sinh thái Hàm Thuận Nam.
Khảo sát, thu thập tư liệu, tài liệu, đánh giá tài nguyên du lịch và thực trạng phát triển Du lịch sinh thái Hàm Thuận Nam trên quan điểm phát triển bền vững.
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển Du lịch sinh thái bền vững, định hướng chiến lược phát triển KT – XH của quốc gia, của Tỉnh, đưa ra những định hướng và giải pháp phát triển Du lịch sinh thái huyện Hàm Thuận Nam theo hướng bền vững.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: tập trung nghiên cứu các nguồn tài nguyên Du lịch sinh thái (gắn liền với các HST tự nhiên và nhân văn); thực trạng khai thác tiềm năng và phát triển Du lịch sinh thái huyện Hàm Thuận Nam.
Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu về Du lịch sinh thái của huyện Hàm Thuận Nam từ năm 2018 đến năm 2024.
4. Lịch sử nghiên cứu đề tài
4.1 Trên thế giới
Sự phát triển của ngành du lịch đã mang đến những lợi ích to lớn nhưng đồng thời cũng gây ra những tiêu cực nhiều mặt, trong đó, vấn đề khai thác quá mức tài nguyên và suy thoái môi trường luôn được quan tâm hàng đầu. Quan điểm phát triển du lịch sao cho không tổn hại đến tài nguyên môi trường và không ảnh hưởng đến các nhu cầu du lịch tương lai xuất hiện.
Từ những năm 1980, khi cụm từ “phát triển bền vững” bắt đầu được đề cập đã có nhiều nhà nghiên cứu khoa học thực hiện nhằm phân tích những tác động của du lịch đến sự PTBV. Trọng tâm của các nhà nghiên cứu này nhằm giải thích cho sự cần thiết phải đảm bảo tính trọn vẹn của môi trường sinh thái trong khi tiến hành các hoạt động khai thác tài nguyên phục vụ cho phát triển du lịch tạo nền tảng cho sự PTBV. Krippendorf (1975) và Jungk (1980) là những nhà khoa học đầu tiên trên thế giới cảnh báo về những suy thoái do hoạt động du lịch gây ra và đưa ra khái niệm về loại “Du lịch rắn – hard tourism” – LHDL ồ ạt, bằng xe hơi, gây ảnh hưởng nhiều nhất đối với môi trường và “Du lịch mềm – soft tourism” – LHDL mới tôn trọng môi trường và chia sẻ lợi ích kinh tế với cộng đồng địa phương.
Năm 2006, trong Hội nghị thượng đỉnh về Trái Đất đã diễn ra Hội nghị về môi trường và phát triển của Liên hợp quốc, 182 Chính phủ đã thông qua chương trình Nghị sự 21 nhằm đảm bảo một tương lai bền vững cho nhân loại bước vào thế kỉ XXI. Chương trình Nghị sự đã nêu lên các vấn đề liên quan đến môi trường và phát triển, đề ra chiến lược hướng tới các hoạt động mang tính bền vững hơn. Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái huyện Hàm Thuận Nam.
Từ đầu những năm 2004, nhiều nhà nghiên cứu về phát triển du lịch bền vững nhằm hạn chế các tác động tiêu cực của Hoạt động du lịch, đảm bảo sự phát triển lâu dài đã được tiến hành. Một số LHDL quan tâm đến môi trường đã bắt đầu xuất hiện như : “Du lịch sinh thái”, “Du lịch khám phá”, “Du lịch gắn với thiên nhiên”, “Du lịch thay thế”, “Du lịch mạo hiểm”,… đã góp phần nâng cao hình ảnh về một LHDL có trách nhiệm, đảm bảo sự PTBV.
Năm 2010, hưởng ứng chương trình hành động của Hội nghị Earth Sumit, ngành du lịch toàn cầu đại diện bởi 3 tổ chức quốc tế gồm Hội đồng lữ hành du lịch thế giới (WTTC), Tổ chức du lịch thế giới và Hội đồng Trái Đất (Earth council), đã ứng dụng những nguyên tắc của Agenda 21 vào du lịch, phối hợp xây dựng một chương trình hành động với tên gọi “Chương trình Nghị sự 21 về du lịch hướng tới PTBV về môi trường”. Chương trình này nhấn mạnh sự cần thiết phối hợp hành động giữa các Chính phủ, tổ chức phi Chính phủ và ngành du lịch trong việc xây dựng chiến lược du lịch và nêu bật những lợi ích to lớn của việc phát triển du lịch bền vững.
4.2. Ở Việt Nam
Trước xu thế chung của thế giới về loại hình Du lịch sinh thái mang tính bền vững, trong những năm gần đây hàng loạt các cuộc hội thảo đã được tổ chức tại Việt Nam như: “Hội thảo quốc tế về phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam” do Tổng cục du lịch Việt Nam kết hợp với quỹ Hains Seidel (Cộng hoà liên bang Đức) tổ chức tại Huế (tháng 5/2011); “Hội thảo về Du lịch sinh thái với PTBV ở Việt Nam” tại Hà Nội, tháng 4/2012; “Hội thảo phát triển Du lịch sinh thái Tây Đô” tại tỉnh Hậu Giang, tháng 3/2015; “Hội thảo giới thiệu sản phẩm Du lịch sinh thái cộng đồng vùng ven biển Việt Nam”, tại Tp Nha Trang, tháng 11/2023…và các công trình nghiên cứu về Du lịch sinh thái đã ra đời như: “Du lịch sinh thái, những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam” của Phạm Trung Lương (2016); “Du lịch sinh thái” của Lê Huy Bá (2018); “Quy hoạch không gian để bảo tồn thiên nhiên ở khu Bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang, một phương pháp tiếp cận sinh thái” trong Dự án bảo tồn khu bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang của IUCN, WWF;…
4.3. Tại Bình Thuận
Với tiềm năng Du lịch sinh thái phong phú và đa dạng cũng đã và đang hoà nhập cùng với xu thế phát triển du lịch chung của cả nước và thế giới, hướng đến sự phát triển Du lịch bền vững, tăng cường đầu tư phát triển LHDL mới có khả năng góp phần quan trọng vào phát triển Du lịch bền vững, đó là Du lịch sinh thái. Song do đây là một LHDL còn mới mẻ đối với cả nước nên nhận thức về LHDL này còn nhiều hạn chế và việc khai thác LHDL này như thế nào để đạt hiệu quả còn gặp nhiều khó khăn.
Năm 2023, có chuyên đề nghiên cứu sinh của tác giả Đinh Kiệm “Định hướng và một số giải pháp phát triển Du lịch sinh thái ở Bình Thuận và vùng duyên hải cực Nam Trung Bộ đến năm 2030” và năm 2024 có “Đề án phát triển Du lịch sinh thái tỉnh Bình Thuận” do Viện chiến lược phát triển du lịch phối hợp với Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch Bình Thuận đã được thực hiện. Đây chính là những nguồn tài liệu tham khảo vô cùng quý giá làm cơ sở khoa học cho tác giả trong quá trình thực hiện đề tài luận văn của mình.
5. Hệ quan điểm và phương pháp nghiên cứu
5.1 Những quan điểm chủ yếu
- Quan điểm hệ thống tổng hợp
Nghiên cứu Du lịch sinh thái không thể tách rời khỏi hệ thống du lịch cũng như hệ thống KT- XH của địa phương và cả nước. Quan điểm hệ thống tổng hợp giúp chúng ta có cái nhìn tổng thể, khái quát của toàn bộ hệ thống du lịch trong khi vẫn bao quát được hoạt động của mỗi phân hệ trong hệ thống đó. Du lịch sinh thái Hàm Thuận Nam được nghiên cứu trong mối quan hệ với kinh tế- xã hội- môi trường của địa phương, của Bình Thuận và của cả nước.
- Quan điểm lãnh thổ
Lãnh thổ du lịch được tổ chức như là một hệ thống liên kết không gian của các đối tượng du lịch trên cơ sở các nguồn tài nguyên và dịch vụ cho du lịch. Việc nghiên cứu du lịch bền vững của huyện Hàm Thuận Nam không thể tách rời với hiện trạng và xu hướng du lịch của Bình Thuận, của Việt Nam. Quá trình phát triển Du lịch sinh thái bền vững của Hàm Thuận Nam là một phần trong quá trình phát triển Du lịch sinh thái bền vững của Bình Thuận và của cả nước.
- Quan điểm môi trường – sinh thái Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái huyện Hàm Thuận Nam.
Hơn bất kì LHDL nào, Du lịch sinh thái có mối quan hệ chặt chẽ với môi trường sinh thái. Du lịch sinh thái chỉ có thể PTBV khi không làm tổn hại đến môi trường và các HST tự nhiên, nhân văn.
- Quan điểm lịch sử – viễn cảnh
Mọi sự vật, hiện tượng đều có sự vận động và biến đổi không ngừng. Trong nghiên cứu Du lịch sinh thái cần xem xét quá khứ, đánh giá hiện trạng để có thể đưa ra những dự báo hoặc định hướng phát triển trong tương lai. Quan điểm này được tác giả quán triệt và vận dụng xuyên suốt quá trình thực hiện đề tài.
5.2 Các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập, xử lý thông tin
Thu thập những tài liệu có liên quan ở các nguồn tin cậy, chọn lọc, sắp xếp và xử lí tài liệu một cách có hệ thống, khoa học.
- Phương pháp thống kê
Với các số liệu đáng tin cậy thu thập được, tác giả tiến hành phân loại, thống kê theo trình tự thời gian để tiện cho việc so sánh, tính tốc độ tăng trưởng, lập ra các bảng biểu, phân tích phục vụ cho nội dung của đề tài.
- Phương pháp thực địa và phỏng vấn
Đây là phương pháp có tầm quan trọng đặc biệt nhằm trải nghiệm, thu thập thêm thông tin, kiểm nghiệm, so sánh ý thuyết với thực tế làm cơ sở đưa ra những kết luận chính xác hơn. Bên cạnh đó, kết hợp phỏng vấn các chuyên gia, nhà quản lý du lịch tại các điểm du lịch cụ thể. Đây là nguồn tư liệu vô cùng quý giá.
- Phương pháp bản đồ, biểu đồ
Đây là phương pháp đặc trưng và quan trọng của địa lý. Thông qua bản đồ, biểu đồ sẽ khái quát hóa, trực quan hóa các đối tượng địa lý, các số liệu cần diễn đạt.
Phương pháp bản đồ, biểu đồ trong đề tài này được tác giả dùng các phần mềm như: Excel, Mapinfo để xử lý, tạo ra
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh
Từ các tư liệu, số liệu, ý kiến chuyên gia, trải nghiệm thực tế… tác giả đã tiến hành xử lí, phân tích, tổng hợp và so sánh tiềm năng, hoạt động của du lịch Hàm Thuận Nam theo thời gian; so sánh các điểm du lịch trong địa bàng Hàm Thuận Nam, giữa du lịch Hàm Thuận Nam với các khu vực du lịch khác trong tỉnh, từ đó khái quát thành nội dung hoàn chỉnh.
- Phương pháp phân tích ma trận SWOT:
Ma trận SWOT là ma trận kết hợp giữa phân tích và dự báo bên trong với bên ngoài. Trên cơ
sở phân tích tài nguyên và hiện trạng phát triển du lịch sinh thái huyện Hàm Thuận Nam, tác giả đưa ra được những điểm mạnh, điểm yếu, đồng thời dự báo những thời cơ và thách thức đối với hoạt động Du lịch sinh thái của huyện Hàm Thuận Nam
6. Cấu trúc luận văn Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái huyện Hàm Thuận Nam.
Đề tài gồm có 3 phần: mở đầu, nội dung và kết luận Phần nội dung gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lí luận về phát triển bền vững du lịch sinh thái
- Chương 2: Tiềm năng và hiện trạng phát triển bền vững du lịch sinh thái ở huyện Hàm Thuận Nam- tỉnh Bình Thuận
- Chương 3: Những định hướng và giải pháp phát triển bền vững du lịch sinh thái huyện Hàm Thuận Nam- tỉnh Bình Thuận
Ngoài ra, đề tài còn có danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI THEO HƯỚNG BỀN VỮNG
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Du lịch
Thuật ngữ du lịch trong ngôn ngữ nhiều nước bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp với ý nghĩa là đi một vòng. Thuật ngữ này được Latinh hóa thành tornus và sau đó thành tourisme (tiếng Pháp), tourism (tiếng Anh). Theo Robert Lanquar từ tourist lần đầu tiên xuất hiện trong tiếng Anh vào khoảng năm 1800. Trong tiếng Việt, thuật ngữ tourism được dịch thông qua tiếng Hán. Du có nghĩa là đi chơi, lịch có nghĩa là từng trải. Tuy nhiên, người Trung Quốc gọi tourism là du lãm với nghĩa là đi chơi để nâng cao nhận thức.
Thuở ban đầu, du lịch chỉ được hiểu đơn thuần là các chuyến đi xa khỏi nơi cư trú để thỏa mãn nhu cầu nâng cao hiểu biết về thế giới xung quanh. Sau này, các nhà truyền giáo, các quan chức nhà nước, các nhà thể thao, những người hâm mộ… cũng có được những kết quả ấy sau các chuyến đi vì mục đích khác như tôn giáo, thể thao, công tác, buôn bán… Vì lẽ đó, khái niệm du lịch được hiểu rộng hơn.
Sau chiến tranh thế giới thứ II kinh tế thế giới phục hồi và phát triển, chất lượng cuộc sống ở nhiều nước được cải thiện, trình độ văn hóa của mọi người được nâng cao, nhu cầu du lịch ngày càng tăng. Du lịch được xem như là một cơ hội kinh doanh nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch và tiềm kiếm lợi nhuận.
Theo Ausher thì Du lịch là nghệ thuật đi chơi của các cá nhân. Quan điểm này khá đơn giản, chỉ nêu lên được hiện tượng đi du lịch với mục đích tham quan, giải trí, ngắm cảnh…
Azar người Thụy Sĩ nhận thấy Du lịch là một trong những hình thức di chuyển tạm thời từ một vùng này sang một vùng khác, từ một nước này sang một nước khác nếu không gắn với sự thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc. Quan điểm này tiến bộ hơn quan điểm của Ausher ở chỗ xác định việc đi du lịch không gắn liền với việc cư trú và làm việc kiếm thu nhập tại nước đến.
Theo các nhà kinh tế du lịch thuộc trường Đại Học Kinh tế Praha “Coi tất cả các hoạt động, tổ chức, kĩ thuật và phục vụ các cuộc hành trình và lưu trú của con người ngoài nơi cư trú với nhiều mục đích ngoài mục đích kiếm việc làm và thăm viếng người thân là Du lịch”. Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái huyện Hàm Thuận Nam.
Người Trung Quốc cho rằng du lịch bao gồm 5 yếu tố là thực, trú, hành, lạc, y. Đi du lịch là được nếm những món ăn ngon, ở trong những căn phòng tiện nghi, đi lại trên các phương tiện sang trọng, được vui chơi, giải trí vui vẻ, có điều kiện mua sắm hàng hóa, quần áo. Theo các nhà du lịch Trung Quốc thì: “Hoạt động du lịch là tổng hòa hàng loạt quan hệ và hiện tượng lấy sự tồn tại và phát triển kinh tế, xã hội nhất định làm cơ sở, lấy chủ thể du lịch, khách thể du lịch và trung gian du lịch làm điều kiện”.
Tại hội nghị Liên hiệp Quốc họp tại Roma – Italia (21/8 – 5/9/1963), các chuyên gia đưa ra định nghĩa “du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các hành trình và lưu trú”.
Theo tổ chức Du lịch thế giới “du lịch là hoạt động của con người đến và ở tại những nơi ngoài môi trường hằng ngày của họ trong một thời gian, nhất định với mục đích giải trí, công vụ hay những mục đích khác”.
Theo từ điển bách khoa toàn thư của Việt Nam:
- Nghĩa thứ nhất: du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa nghệ thuật.
- Nghĩa thứ hai: du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và du lịch tại chỗ.
Khái niệm rộng nhất và đầy đủ hơn cả, có lẽ được thể hiện trong Tuyên bố Ô-sa-ka của hội nghị Bộ trưởng Du lịch thế giới: “Du lịch là con đẻ của hòa bình, là phương tiện củng cố hòa bình, là phương tiện cân bằng cán cân thanh toán quốc tế”.
Du lịch có thể được hiểu là: Sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao tại chỗ nhận thức từ thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ cho các cơ sở chuyên nghiệp cung ứng,
Một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trinh di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời tong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh.
Việc phân định rõ ràng hai nội dung cơ bản của khái niệm có ý nghĩa góp phần thúc đẩy sự phát triển của du lịch. Cho đến nay không ít người, thậm chí ngay cả nhân viên, cán bộ đang làm việc trong nghành du lịch chỉ cho rằng du lịch là một ngành kinh tế. Do đó mục tiêu được quan tâm hàng đầu là mang lại hiệu quả kinh tế. Điều đó cũng có thể đồng nghĩa với việc tận dụng triệt để mọi nguồn tài nguyên, mọi cơ hội để kinh doanh. Trong khi đó, du lịch còn là một hiện tượng xã hội, nó góp phần nâng cao dân trí, phục hồi sức khỏe cộng đồng, giáo dục lòng yêu nước, tình đoàn kết… Chính vì vậy toàn xã hội phải có trách nhiệm đóng góp, hỗ trợ, đầu tư cho du lịch phát triển như đối với giáo dục, thể thao hoặc một lĩnh vực văn hóa khác.
1.1.2. Du lịch sinh thái Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái huyện Hàm Thuận Nam.
“Du lịch sinh thái” (Ecotourism) là một khái niệm tương đối mới và đã nhanh chóng thu hút được sự quan tâm của nhiều người thuộc các lĩnh vực khác nhau. Đây là một khái niệm rộng, được hiểu khác nhau từ các góc độ khác nhau. Đối với một số người, “DLST” đơn giản được hiểu là sự kết hợp ý nghĩa của 2 từ ghép “du lịch” và “sinh thái” vốn đã quen thuộc. Song đứng ở góc nhìn rộng hơn, tổng quát hơn thì một số người quan niệm Du lịch sinh thái là du lịch thiên nhiên, là khái niệm mà trong thực tế đã xuất hiện từ đầu những năm 1980 (Ashton, 2007). Với khái niệm này, mọi hoạt động du lịch có liên quan đến thiên nhiên như tắm biển, nghỉ núi,… đều được hiểu là Du lịch sinh thái.
Những năm cuối thế kỷ XX, với sự phát triển rầm rộ của ngành công nghiệp du lịch trên toàn thế giới đã bắt đầu thể hiện một số các mặt bất cập, đặc biệt trong vấn đề mối quan hệ giữa du lịch với môi trường thiên nhiên ngày càng suy giảm. Để hạn chế vấn đề này, những năm cuối thập kỷ 80 thế kỷ XX, đã xuất hiện một số khái niệm về du lịch kêu gọi sự quan tâm của cộng đồng du lịch khá mới mẻ như: “Du lịch dựa vào thiên nhiên”, “Du lịch thân thiện với môi trường”, “Du lịch xanh”, “Du lịch có trách nhiệm”, “Du lịch dựa vào cộng đồng”. Đỉnh cao là sự xuất hiện của khái niệm “Du lịch sinh thái” vào năm 2005. Khi đó, Du lịch sinh thái được xác định là “LHDL diễn ra trong các vùng có HST tự nhiên còn bảo tồn khá tốt nhằm mục tiêu nghiên cứu, chiêm ngưỡng, thưởng thức phong cảnh, động thực vật cũng như các giá trị văn hóa hiện hữu”.
Ở Việt Nam, khái niệm về Du lịch sinh thái cũng đươc đưa vào trong văn bản pháp luật Nhà nước. Trong Khoản 19, Điều 4, Chương I của Luật du lịch Việt Nam năm 2019 đã xác định: “DLST là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm PTBV”. Đây cũng chính là khái niệm về Du lịch sinh thái mà tác giả sử dụng trong bài nghiên cứu này.
Nhìn chung, có thể xác định nhiệm vụ phát triển Du lịch sinh thái theo các tiêu chí cơ bản sau:
- Phát triển Du lịch sinh thái thể hiện sự liên hệ khăng khít với môi trường tự nhiên và bản sắc văn hóa của bản địa.
- Phát triển Du lịch sinh thái gắn với sự tham gia hỗ trợ của cộng đồng. Góp phần PTBV tài nguyên thiên nhiên. Đáp ứng yêu cầu hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu du lịch trong tương lai.
- Phát triển Du lịch sinh thái là động lực thức đẩy sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương, dựa trên cơ sở lợi ích chung.
1.1.3. Tiềm năng phát triển du lịch
Tiềm năng phát triển du lịch bao gồm tất cả những tài nguyên tự nhiên và kinh tế – xã hội đã, đang hoặc sẽ được con người khai thác để phát triển du lịch. Có thể phân tiềm năng phát triển du lịch thành hai nhóm: nhóm tài nguyên du lịch tự nhiên và nhóm tài nguyên du lịch nhân văn. Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái huyện Hàm Thuận Nam.
Nhóm tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên đã và đang hoặc sẽ được sử dụng phục vụ mục đích phát triển du lịch.
Nhóm tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, làng nghề truyền thống, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác đã và đang hoặc sẽ được sử dụng phục vụ mục đích phát triển du lịch.
1.1.4. Tài nguyên du lịch sinh thái
Tài nguyên hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các nguồn nguyên nhiên liệu, năng lượng và thông tin có trên Trái Đất và trong không gian vũ trụ mà con người có thể sử dụng để phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình.
Tài nguyên được phân loại thành tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn, gắn liền với các nhân tố về con người và xã hội.
Tài nguyên du lịch là một dạng đặc sắc của tài nguyên nói chung. Khái niệm tài nguyên du lịch luôn gắn với khái niệm du lịch.
Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch; là các yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch (Pháp lệnh Du lịch Việt Nam, 2013).
DLST là LHDL phát triển dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, tài nguyên Du lịch sinh thái là một bộ phận quan trọng của tài nguyên du lịch bao gồm các giá trị tự nhiên thể hiện trong một HST cụ thể và các giá trị văn hoá bản địa tồn tại và phát triển không tách rời HST tự nhiên đó.
Tuy nhiên, không phải mọi giá trị tự nhiên và văn hoá bản địa đều được coi là tài nguyên Du lịch sinh thái mà chỉ có các thành phần và các thể tổng hợp tự nhiên, các giá trị văn hoá bản địa gắn với một hệ sinh thái cụ thể được khai thác, sử dụng để tạo ra các sản phẩm Du lịch sinh thái, phục vụ mục đích phát triển du lịch nói chung, Du lịch sinh thái nói riêng mới được xem là tài nguyên Du lịch sinh thái.
Tài nguyên Du lịch sinh thái rất đa dạng và phong phú. Tuy nhiên một số loại tài nguyên Du lịch sinh thái chủ yếu thường được nghiên cứu khai thác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách Du lịch sinh thái bao gồm:
- Các HST tự nhiên đặc thù, đặc biệt là các nơi có tính đa dạng sinh học cao với nhiều loài sinh vật đặc hữu, quý hiếm (các vườn quốc gia, khu Bảo tồn thiên nhiên, các sân chim,…)
- Các HST nông nghiệp (vườn cây ăn trái, trang trại, làng hoa cây cảnh,…)
- Các giá trị văn hoá bản địa hình thành và phát triển gắn liền với sự tồn tại của HST tự nhiên như các phương thức canh tác, các lễ hội, sinh hoạt truyền thống gắn với truyền thuyết… của cộng đồng.
Như vậy, có thể hiểu: Tài nguyên Du lịch sinh thái là một bộ phận quan trọng của tài nguyên du lịch bao gồm các thành phần và các thể tổng hợp tự nhiên, các giá trị văn hoá bản địa gắn với một HST cụ thể được khai thác, sử dụng để tạo ra các sản phẩm Du lịch sinh thái, phục vụ cho mục đích phát triển du lịch nói chung và Du lịch sinh thái nói riêng.
1.1.5. Phát triển bền vững Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái huyện Hàm Thuận Nam.
“PTBV là sự phát triển nhằm thoả mãn các nhu cầu hiện tại của con người nhưng không tổn hại tới sự thoả mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai” (theo Uỷ ban Môi trường và Phát triển của Liên Hợp Quốc năm 1987)
Định nghĩa PTBV của Uỷ ban Brundtland: “PTBV là khả năng tạo PTBV để đảm bảo rằng sự phát triển đó đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm hại tới cái khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”.
Theo Hội nghị thượng đỉnh về Trái Đất tổ chức ở Rio de Janeiro (Brazil) vào tháng 6/2006 thì PTBV được hiểu là “sự phát triển nhằm đáp ứng những yêu cầu của hiện tại nhưng không gây tổn hại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”. Đó là sự phát triển cả về kinh tế, xã hội, văn hoá, môi trường và tài nguyên thiên nhiên nhằm đáp ứng những nhu cầu về vật chất, tinh thần của thế hệ hiện tại mà không làm giảm chất lượng cuộc sống của các thế hệ mai sau.
Theo Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (World Commission of Environment and Development, WCED) thì “PTBV là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng của các thế hệ tương lai trong đáp ứng các nhu cầu của họ”
Theo ông Jordan Ryan – đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam thì “PTBV là một quá trình bảo đảm tăng tối đa phúc lợi của xã hội và xoá bỏ nghèo đói thông qua việc quản lí ở mức tối ưu và có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên”. Ông khẳng định PTBV nằm ở phần giao nhau của 3 vòng tròn: bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững về môi trường. Cũng theo ông, không nên coi PTBV như một phương tiện thuận lợi để gom tất cả các vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường lại với nhau mà cần có một quan điểm toàn diện để bảo đảm cho các chính sách có tác dụng hỗ trợ thay vì mâu thuẫn nhau.
Theo Bà Nguyễn Ngọc Lý (Trưởng ban PTBV – UBND thành phố Hà Nội) đồng ý cách định nghĩa về PTBV của hội nghị Rio de Jannerio cho rằng, khái niệm về PTBV cần được vận dụng linh hoạt tuỳ từng thời kì lịch sử, từng nền KT – XH khác nhau, nền văn hoá khác nhau của mỗi quốc gia.
Mặc dù còn có rất nhiều ý kiến khác nhau xung quanh khái niệm “phát triển bền vững”, song nhìn chung tại các Hội thảo quốc tế, các nhà khoa học, các chính trị gia đều thống nhất ở các nội dung sau về PTBV:
PTBV là sự phát triển hài hoà cả về 3 mặt: kinh tế – xã hội – môi trường để đáp ứng những nhu cầu về đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của thế hệ hiện tại nhưng không làm tổn hại, gây trở ngại đến khả năng cung cấp tài nguyên để phát triển KT – XH mai sau, không làm giảm chất lượng cuộc sống của các thế hệ trong tương lai.
Hình 1.1.Mô hình phát triển bền vững của Ngân hàng Thế giới – World Bank
1.1.6. Du lịch bền vững
Khái niệm về Du lịch bền vững mới xuất hiện trên cơ sở cải tiến và nâng cấp khái niệm về du lịch mềm của những năm 90 và thực sự chú ý rộng rãi trong những năm gần đây. Theo Hội đồng Du lịch và Lữ hành quốc tế (WTTC), 2010:
“Du lịch bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn đảm bảo những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch tương lai”. Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái huyện Hàm Thuận Nam.
“Du lịch bền vững đòi hỏi phải quản lí tất cả các dạng tài nguyên theo cách nào đó để chúng ta có thể đáp ứng các nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ trong khi vẫn duy trì được bản sắc văn hoá, các quá trình sinh thái cơ bản, đa dạng sinh học và các hệ đảm bảo sự sống”.(Hens L, 2012)
Mục tiêu của du lịch bền vững là:
- Phát triển, gia tăng sự đóng góp của du lịch vào kinh tế và môi trường.
- Cải thiện tính công bằng xã hội trong phát triển.
- Cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng bản địa.
- Đáp ứng cao độ nhu cầu của du khách.
- Duy trì chất lượng môi trường. (Inskeep,2005)
Theo Khoản 21, Điều 4, Chương I – Luật du lịch Việt Nam (2019): “Du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của tương lai”. Để đảm bảo cho sự phát triển Du lịch bền vững, trong Khoản 1, Điều 5, Chương I- Luật du lịch Việt Nam (2019) về nguyên tắc phát triển du lịch đã nêu: “Phát triển du lịch bền vững theo quy hoạch, kế hoạch đảm bảo hài hoà giữa KT – XH và môi trường, phát triển có trọng tâm, trọng điểm theo hướng du lịch văn hoá lịch sử, Du lịch sinh thái, bảo tồn, tôn tạo phát triển giá trị của tài nguyên”.
Như vậy, phát triển Du lịch bền vững trở thành định hướng, mục tiêu, chiến lược, nguyên tắc phát triển của du lịch Việt Nam. Phát triển Du lịch bền vững cần phải tính đến ba yếu tố:
- Mối quan hệ giữa bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường và lợi ích kinh tế.
- Quá trình phát triển trong thời gian lâu dài.
- Đáp ứng được nhu cầu hiện tại, song không làm ảnh hưởng đến nhu cầu của những thế hệ tiếp theo.
Vì vậy, trong quá trình quy hoạch các dự án phát triển du lịch Việt Nam, việc vận dụng quan điểm PTBV là cần thiết, nó giúp cho các dự án quy hoạch du lịch mang tính khả thi và có hiệu quả cao.
1.1.7. Du lịch sinh thái bền vững
“DLSTBV là việc phát triển các Hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi đó vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên và phát triển du lịch trong tương lai”. (Lê Huy Bá, 2013)
“Phát triển Du lịch sinh thái bền vững không những đóng góp tích cực cho sự PTBV mà còn làm giảm tối thiểu các tác động của khách du lịch đến văn hoá và môi trường, đảm bảo cho địa phương được hưởng nguồn lợi tài nguyên do du lịch mang lại và cần chú trọng đến những đóng góp tài chính cho việc bảo tồn thiên nhiên. Phát triển Du lịch sinh thái bền vững cần có sự cân bằng giữa các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường trong khuôn khổ các nguyên tắc và các giá trị đạo đức”. (Allen K, 2007)
1.1.8. Phân biệt sự giống và khác nhau của Du lịch sinh thái với các loại hình du lịch khác
Sự giống nhau Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái huyện Hàm Thuận Nam.
DLST cũng là một dạng của Hoạt động du lịch vì vậy nó cũng bao gồm tất cả những đặc trưng cơ bản của Hoạt động du lịch nói chung:
- Tính đa ngành: Hoạt động du lịch có mối liên hệ chặt chẽ với nhiều ngành khác nhau, kế thừa và phát huy giá trị thành quả của các ngành liên quan.
- Tính đa thành phần: Hoạt động du lịch luôn có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế thị trường mang tính xã hội hóa cao.
- Tính đa mục tiêu: Hoạt động du lịch luôn phải đảm bảo các mục tiêu như: Bảo vệ tài nguyên môi trường, phát triển kinh tế, giao lưu hợp tác, an ninh quốc phòng, giáo dục và đào tạo,…
- Tính liên vùng: Hoạt động du lịch đòi hỏi sự chia sẻ và mối liên hệ giữa các vùng miền trong các vấn đề như: chia sẻ thị phần, khai thác chia sẻ sản phẩm, xúc tiến quảng bá…
- Tính mùa vụ: Hoạt động du lịch phụ thuộc khá nhiều vào tính mùa vụ, chủ yếu do các yếu tố thời tiết, khí hậu cũng như những khoảng thời gian nhàn rỗi trong năm của khách.
- Tính chi phí: Hoạt động du lịch thể hiện hiệu quả đầu tư và những nguồn lợi đầu tư phát sinh từ kinh doanh du lịch được chia sẻ trong xã hội.
- Tính xã hội hóa: Hoạt động du lịch luôn cần sự tham gia có trách nhiệm từ nhiều phía, nhiều đối tượng. Đặc biệt trong các hoạt động đầu tư và quản lý bảo vệ tài nguyên môi trường.
Sự khác nhau
Ngoài những đặc điểm chung đã nêu ở trên, Du lịch sinh thái cũng thể hiện những đặc điểm riêng của mình cụ thể như:
- Tính giáo dục cao về môi trường: Đòi hỏi sự hiểu biết nhất định về bảo tồn và gìn giữ tài nguyên của cộng đồng, nhận thức tích cực của khách du lịch và từ phía nhà quản lý.
- Góp phần bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên và duy trì tính đa dạng sinh học: Du lịch sinh thái được phát triển dựa trên những yếu tố tích cực và quy trình phát triển của tự nhiên, qua đó giới thiệu tới khách du lịch. Du lịch sinh thái đề cao vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học và lấy đó làm tiêu chí phát triển du lịch mang tính bền vững cho tương lai.
- Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương: Du lịch sinh thái là cơ sở để thu hút và khuyến khích cộng đồng địa phương cùng tham gia vào quy trình sinh thái của từng địa bàng. Đảm bảo cùng chia sẻ lợi ích và bảo vệ tài nguyên tự nhiên.
1.2. Các chỉ tiêu đánh giá du lịch sinh thái và phát triển bền vững Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái huyện Hàm Thuận Nam.
1.2.1. Tính đa dạng sinh học
Giá trị của đa dạng sinh học trên Trái Đất đã từng được rất nhiều người nhắc đến, song để đánh giá được nó là cả một vấn đề lớn. Những phương thức tiếp cận thông thường và tìm cách đánh giá bằng ước đoán để nhận được giá trị bình quân sau đó nhân với tổng số loài hiện có nếu quả thực chúng ta biết được con số đó. Điều cần được nhấn mạnh ở đây là loài có thể có giá trị về mặt hàng hoá (giá trị sử dụng về kinh tế), thẩm mỹ và giá trị đạo đức.
Đối với loại hình Du lịch sinh thái, tính đa dạng sinh học là yếu tố có giá trị hàng đầu. Yêu cầu đầu tiên có thể tổ chức được Du lịch sinh thái là sự tồn tại của các HST tự nhiên điển hình với tính đa dạng sinh học cao.
Tính rất đa dạng sinh học: Có từ 3 – 5 giá trị về mặt sử dụng kinh tế, đạo đức và thẩm mỹ.
- Tính khá đa dạng sinh học: Có từ 2 – 3 giá trị về mặt sử dụng kinh tế, đạo đức và thẩm mỹ.
- Tính trung bình về đa dạng sinh học: Có từ 1 – 2 giá trị về mặt sử dụng kinh tế, đạo đức và thẩm mỹ.
- Tính kém về đa dạng sinh học: Giá trị về mặt sử dụng kinh tế, đạo đức, thẩm mỹ không có hiệu quả.
1.2.2. Độ hấp dẫn
Độ hấp dẫn khách du lịch là yếu tố có tính chất tổng hợp và thường được xác định bằng vẻ đẹp của phong cảnh, sự đa dạng của địa hình, sự thích hợp của khí hậu, sự đặc sắc và độc đáo của các hiện tượng tự nhiên.
- Rất hấp dẫn (chỉ mức độ rất thuận lợi): Phải có trên 5 phong cảnh đẹp, đa dạng. Có 3 hiện tượng, di tích tự nhiên đặc sắc, độc đáo, đáp ứng được trên 5 loại hình du lịch (LHDL).
- Khá hấp dẫn (chỉ mức độ khá thuận lợi): Có từ 3 – 5 phong cảnh đẹp, đa dạng. Có 3 hiện tượng, di tích tự nhiên đặc sắc, đáp ứng 3 – 5 LHDL.
- Trung bình (chỉ mức độ thuận lợi trung bình): Có 1- 2 cảnh đẹp, đáp ứng 1 -2 LHDL.
- Kém hấp dẫn (chỉ mức độ kém thuận lợi ): Phong cảnh đơn điệu, đáp ứng 1 LHDL.
1.2.3. Thời gian Hoạt động du lịch
Thời gian hoạt động du lịch (HĐDL) được xác định bởi số thời gian thích hợp nhất của các điều kiện khí hậu đối với sức khỏe của khách du lịch và số thời gian thuận lợi nhất cho việc triển khai các
HĐDL.
Thời gian Hoạt động du lịch quyết định tính chất thường xuyên hay mùa vụ của Hoạt động du lịch, từ đó liên quan trực tiếp đến việc quy hoạch phát triển du lịch.
- Rất dài (chỉ mức độ rất thuận lợi): Có trên 200 ngày trong năm triển khai tốt Hoạt động du lịch. Có trên
180 ngày có điều kiện khí hậu thích hợp cho sức khoẻ con người.
- Khá dài (chỉ mức độ khá thuận lợi): Có từ 150 – 200 ngày trong năm triển khai tốt Hoạt động du lịch. Có từ 120 – 180 ngày có điều kiện khí hậu thích hợp cho sức khoẻ con người.
- Trung bình (chỉ mức độ thuận lợi trung bình): Có từ 100 – 150 ngày trong năm triển khai tốt Hoạt động du lịch. Có từ 90 – 120 ngày có điều kiện khí hậu thích hợp cho sức khoẻ con người.
Ngắn (chỉ mức độ kém thuận lợi): Có dưới 100 ngày trong năm triển khai tốt Hoạt động du lịch. Có dưới 90 ngày có điều kiện khí hậu thích hợp cho sức khoẻ con người.
1.2.4. Sức chứa khách du lịch Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái huyện Hàm Thuận Nam.
Sức chứa khách du lịch đối với mỗi khu vực là tổng sức chứa tại mỗi điểm du lịch. Sức chứa khách du lịch phản ánh khả năng và quy mô triển khai Hoạt động du lịch tại mỗi điểm du lịch và được xác định bằng các chỉ tiêu đã được xác lập qua khảo sát thực tế.
- Rất lớn (chỉ mức độ rất thuận lợi): Có sức chứa trên 1000 người/ngày.
- Khá lớn (chỉ mức độ khá thuận lợi): Có sức chứa từ 500 đến 1000 người/ngày.
- Trung bình (chỉ mức độ thuận lợi trung bình): Có sức chứa từ 100 – 500 người/ngày.
- Nhỏ (chỉ mức độ kém thuận lợi): Có sức chứa dưới 100 người/ngày.
1.2.5. Độ bền vững của môi trường tự nhiên
Độ bền vững của môi trường tự nhiên nói lên khả năng bền vững của các thành phần và bộ phận tự nhiên trước áp lực Hoạt động du lịch của khách du lịch và các đối tượng khác hoặc thiên tai.
- Rất bền vững (chỉ mức độ rất thuận lợi): Không có thành phần và bộ phận tự nhiên nào bị phá hoại, nếu có thì ở mức độ nhẹ, có khả năng tự phục hồi, tồn tại vững chắc trên 100 năm, Hoạt động du lịch diễn ra liên tục.
- Khá bền vững (chỉ mức độ khá thuận lợi): Có 1 – 2 thành phần và bộ phận tự nhiên bị phá hoại ở mức độ nhẹ, có khả năng tự phục hồi, tồn tại vững chắc từ 50 – 100 năm, Hoạt động du lịch diễn ra thường xuyên.
- Trung bình (chỉ mức độ thuận lợi trung bình): Có 1 – 2 thành phần và bộ phận tự nhiên bị phá huỷ đáng kể, phải có sự hỗ trợ của con người mới phục hồi nhanh được, tồn tại vững chắc từ 10 – 50 năm, Hoạt động du lịch có thể bị hạn chế.
- Kém bền vững (chỉ mức độ kém thuận lợi): Có 1 – 2 thành phần và bộ phận tự nhiên bị phá huỷ nặng, phải có sự phục hồi của con người, tồn tại vững chắc dưới 10 năm, Hoạt động du lịch bị gián đoạn.
1.2.6. Vị trí của điểm du lịch
Vị trí của điểm du lịch đối với nơi cung cấp nguồn khách du lịch để tiến hành Hoạt động du lịch.
- Rất thích hợp (chỉ mức độ khá thuận lợi): Chỉ khoảng cách từ 10 – 100 km, thời gian đi đường không quá 3 giờ, có thể đến bằng 2 – 3 loại phương tiện thông dụng.
- Khá thích hợp (chỉ mức độ khá thuận lợi): Chỉ khoảng cách từ 100 – 200 km, thời gian đi đường trên 3 giờ, có thể đến bằng 2 – 3 loại phương tiện thông dụng.
- Trung bình (chỉ mức độ thuận lợi trung bình): Chỉ khoảng cách từ 200 – 500 km, thời gian đi đường trên 5 giờ, có thể đến bằng 1 – 2 loại phương tiện thông dụng.
- Kém thích hợp (chỉ mức độ kém thuận lợi): Chỉ khoảng cách trên 500 km, thời gian đi đường trên 10 giờ, có thể đến bằng 1 – 2 loại phương tiện thông dụng. Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái huyện Hàm Thuận Nam.
1.2.7. Cơ sở hạ tầng và vật chất kĩ thuật du lịch
Cơ sở hạ tầng và vật chất kĩ thuật du lịch (CSHT – Cơ sở vật chất kỹ thuật DL) tạo điều kiện biến những tiềm năng của tài nguyên trở thành hiện thực. Không có cơ sở hạ tầng nào nhất là cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch, tài nguyên vẫn nằm im dưới dạng tiềm năng. Mặc dù có thuận lợi đến mấy cũng vậy, hoặc nếu thiếu Cơ sở hạ tầng – Cơ sở vật chất kỹ thuật DL mà tiến hành Hoạt động du lịch thì không thể tiến hành thuận lợi mà còn ảnh hưởng đến môi trường. Do những hạn chế nhất định, phần này tác giả chủ yếu tập trung vào việc đánh giá hệ thống khách sạn, nhà hàng (tiêu biểu cho Cơ sở vật chất kỹ thuật) và mạng lưới giao thông vận tải, viễn thông, điện, nước (tiêu biểu cho Cơ sở hạ tầng).
- Rất tốt (chỉ mức độ rất thuận lợi): Có Cơ sở hạ tầng – Cơ sở vật chất kỹ thuật DL đồng bộ, đủ tiện nghi, đạt tiêu chuẩn quốc tế.
- Khá tốt (chỉ mức độ khá thuận lợi): Có Cơ sở hạ tầng – Cơ sở vật chất kỹ thuật DL tương đối đồng bộ, đủ tiện nghi, đạt tiêu chuẩn quốc gia.
- Trung bình (chỉ mức độ thuận lợi trung bình ): Có Cơ sở hạ tầng – Cơ sở vật chất kỹ thuật DL nhưng chưa đồng bộ, chưa đủ tiện nghi.
- Kém (chỉ mức độ kém thuận lợi): Còn thiếu nhiều Cơ sở hạ tầng – Cơ sở vật chất kỹ thuật DL, số đã có thì chất lượng thấp và có tính chất tạm thời.
1.2.8. Tính liên kết
Tính liên kết là một chỉ tiêu đánh giá tài nguyên du lịch giúp cho việc liên kết các điểm du lịch thành tuyến, cụm du lịch.
Rất tốt: Có từ 5 điểm du lịch xung quanh trở lên có thể liên kết được (tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn).
- Khá tốt: Có từ 3 – 5 điểm du lịch xung quanh có thể liên kết được (tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn).
- Trung bình: Có từ 2 – 3 điểm du lịch xung quanh có thể liên kết được (tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn).
- Kém: Chỉ có 1 điểm du lịch hoặc không có điểm tài nguyên du lịch nào xung quanh có thể liên kết được.
1.3. Các nguyên tắc Du lịch sinh thái bền vững Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái huyện Hàm Thuận Nam.
- DLST nên khởi đầu với sự giúp đỡ của những thông tin cơ bản nhưng đa dạng của cộng đồng và cộng đồng nên duy trì việc kiểm soát sự phát triển của du lịch.
- Sử dụng và bảo vệ tài nguyên một cách bền vững: bao gồm cả tài nguyên thiên nhiên, xã hội, văn hoá. Việc sử dụng bền vững tài nguyên là nền tảng cơ bản nhất của việc phát triển Du lịch sinh thái bền vững.
- Chương trình giáo dục và huấn luyện để cải thiện, quản lí di sản và các tài nguyên thiên nhiên nên được thành lập. Giảm tiêu thụ, giảm chất thải một cách triệt để nhằm nâng cao chất lượng môi trường.
- Duy trì tính đa dạng về tự nhiên, văn hoá, xã hội,… (chủng loại thực vật, động vật, bản sắc văn hoá dân tộc,…)
- Lồng ghép các chiến lược phát triển du lịch của địa phương với quốc gia.
- Phải hỗ trợ kinh tế địa phương, tránh gây thiệt hại cho các hệ sinh thái ở đây.
- Phải thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương. Điều này không chỉ đem lại lợi ích cho cộng đồng, cho môi trường sinh thái mà còn nhằm tăng cường khả năng đáp ứng các thị hiếu của du khách.
- Phải biết tư vấn các nhóm quyền lợi và công chúng. Tư vấn giữa công nghiệp du lịch và cộng đồng địa phương, các tổ chức và cơ quan nhằm đảm bảo cho sự hợp tác lâu dài cũng như giải quyết các xung đột có thể nảy sinh.
- Đào tạo các cán bộ, nhân viên phục vụ trong hoạt động kinh doanh du lịch nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch.
Nghiên cứu hỗ trợ cho du lịch. Phải cung cấp cho du khách những thông tin đầy đủ và có trách nhiệm nhằm nâng cao sự tôn trọng của du khách đến môi trường tự nhiên, xã hội và văn hoá khu du lịch, qua đó góp phần thoả mãn các nhu cầu của du khách.
1.4. Các yếu tố tác động đến quá trình phát triển các loại hình Du lịch sinh thái
1.4.1. Tác động của tài nguyên du lịch đến quá trình phát triển Du lịch sinh thái
Số lượng, chủng loại và chất lượng của tài nguyên du lịch sinh thái đóng vai trò nền tảng và là điều kiện cần thiết trong bài toán phát triển du lịch sinh thái. Bởi vì tính đặc trưng của loại hình du lịch sinh thái là việc duy trì, giữ gìn các hệ sinh thái tự nhiên và nhân văn ở mức hoang sơ, hạn chế tối đa các tác động của con người.
Tài nguyên du lịch sinh thái chính là một trong những căn cứ quan trọng để xác định các loại hình và sản phẩm đặc trưng của hoạt động du lịch sinh thái. Tài nguyên du lịch sinh thái đa dạng, phong phú sẽ thuận lợi để tổ chức các loại hình Du lịch sinh thái phong phú, đa dạng và ngược lại.
1.4.2. Tác động của hệ thống luật pháp đến quá trình phát triển Du lịch sinh thái
Một trong những yếu tố chính tác động tới quá trình phát triển của Du lịch sinh thái chính là quan điểm của nhà quản lý, thông qua hệ thống luật pháp Nhà nước. Thể hiện trên các giá trị như: Quản lý sử dụng và khai thác tài nguyên, cơ chế chính sách vận hành các hoạt động đầu tư phát triển Du lịch sinh thái; các quy định cụ thể về mối quan hệ cộng sinh giữa tài nguyên du lịch với phát triển KT – XH gắn với lợi ích Nhà nước và cộng đồng địa phương.
Quan điểm của Nhà nước, thể hiện qua hệ thống luật pháp sẽ là động lực biến ý chí thành hành động cụ thể tập hợp và huy động toàn bộ các nguồn lực trong xã hội cùng tham gia tích cực có trách nhiệm với hoạt động phát triển Du lịch sinh thái và bảo vệ môi trường tự nhiên. Thông qua các quy định pháp lý để xây dựng nguyên tắc giao tiếp chung giữa các nhóm đối tượng tham gia vào hoạt động Du lịch sinh thái như: Mối quan hệ trong công tác quản lý Nhà nước, hành vi ứng xử của nhà đầu tư vào Du lịch sinh thái và ý thức cộng đồng.
1.4.3. Nhận thức về phát triển du lịch sinh thái bền vững Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái huyện Hàm Thuận Nam.
Nhận thức về phát triển Du lịch sinh thái bền vững là một quá trình lâu dài, đòi hỏi sự hợp tác tích cực từ phía Nhà nước cũng như cộng đồng dân cư. Có thể thấy rằng, hiện nay ở nước ta đầu tư vào Du lịch sinh thái chưa đạt được hiệu quả kinh tế cao, những tác động tích cực của nó lên nhận thức của các nhà hoạch định chính sách và cộng đồng xã hội còn hạn chế, vì vậy, chưa thực sự thu hút sự quan tâm của cộng đồng xã hội.
Tuy nhiên, quá trình khai thác tài nguyên tự nhiên chưa hợp lý và những phản ứng tiêu cực ngày càng tăng từ phía môi trường tự nhiên như biến đổi khí hậu, nước biển dâng; Trái Đất nóng lên; các hiện tượng động đất, bão, lũ, lụt xảy ra thường xuyên, là những cảnh báo mạnh mẽ tới quan điểm và nhận thức của nhà quản lý. Từ đó giúp họ thay đổi nhận thức, đề ra các kế sách và chiến lược cụ thể nhằm tạo sự cân bằng hơn trong việc vừa đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế vừa đảm bảo môi trường sinh thái bền vững.
Một trong những yếu tố phát triển Du lịch sinh thái chính là việc tăng cường nhận thức cộng đồng cư dân địa phương về môi trường sống, về ý nghĩa của phát triển Du lịch sinh thái đối với phát triển KT – XH, khuyến khích cộng đồng địa phương tham gia vào việc quản lý tuyến, điểm du lịch, gắn kết các hoạt động bảo tồn phát triển Du lịch sinh thái.
Bên cạnh đó, nguồn nhân lực cho du lịch cũng vô cùng cần thiết. Để có một đội ngũ lao động du lịch có trình độ và kinh nghiệm, cần có các chương trình đào tạo, tham quan và học hỏi các mô hình phát triển Du lịch sinh thái ở các vùng miền trong nước và các quốc gia trên thế giới. Các doanh nghiệp du lịch cần phải hiểu rõ tầm quan trọng khi đầu tư và khai thác loại hình Du lịch sinh thái từ đó đưa ra định hướng phát triển và khai thác Du lịch sinh thái một cách bền vững..
1.4.4. Nhu cầu của khách du lịch sinh thái
Khách Du lịch sinh thái thường là những người trân trọng thiên nhiên và mong muốn được tìm hiểu môi trường tự nhiên cũng như môi trường văn hóa bản địa, ít đòi hỏi về mức độ tiện nghi dịch vụ và thường là những du khách để lại ít tác động tới môi trường và có cách ứng xử tốt hơn với môi trường so với khách du lịch đại chúng. Thông thường, khách Du lịch sinh thái thường là những người đã trưởng thành có thu nhập cao, có giáo dục và có sự quan tâm tới môi trường. Tuy nhiên, họ thường đòi hỏi cao hơn rất nhiều so với khách du lịch đại chúng về những trải nghiệm đa dạng sinh học và cuộc sống hoang dã.
Họ có thời gian đi du lịch dài ngày hơn và mức chi tiêu nhiều hơn so với khách du lịch ít quan tâm tới thiên nhiên.
Nhu cầu từ phía khách du lịch và những đòi hỏi của họ về một môi trường du lịch lành mạnh và tôn trọng tự nhiên cũng chính là một động lực thu hút sự quan tâm chung của toàn xã hội, đặc biệt từ phía những nhà quản lý và nhà đầu tư trong lĩnh vực Du lịch sinh thái. Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái huyện Hàm Thuận Nam.
1.4.5. Nhận thức của cộng đồng địa phương
Nhận thức của cộng đồng có ý nghĩa quan trọng, là thước đo những giá trị mà Hoạt động du lịch nói chung và Du lịch sinh thái nói riêng mang lại. Nhận thức của cộng đồng là điều kiện quan trọng góp phần khuyến khích họ tham gia tích cực vào công tác bảo vệ tài nguyên và phát triển Du lịch sinh thái một cách hiệu quả. Nhận thức của cộng đồng thể hiện mối liên hệ chặt chẽ về trách nhiệm giữa các bên tham gia trong vấn đề cùng sở hữu, khai thác và chia sẻ nguồn lợi một cách hợp lý và bền vững đối với tài nguyên môi trường.
1.5. Những tác động lên môi trường của hoạt động Du lịch sinh thái
Hoạt động của ngành kinh tế du lịch là hoạt động khai thác các tiềm năng du lịch (tiềm năng tự nhiên và tiềm năng KT – XH và nhân văn) phục vụ kinh doanh du lịch. Vì vậy, Hoạt động du lịch (khai thác, kinh doanh du lịch) có tác động đến hầu hết các dạng tài nguyên và môi trường giống như các ngành kinh tế khác. Tác động của Hoạt động du lịch đến tài nguyên và môi trường theo hai mặt:
- Mặt tác động tích cực tạo ra hiệu quả tốt đối với việc sử dụng hợp lí và phục hồi tài nguyên, đồng thời tạo cơ sở cho việc phát triển môi trường bền vững.
- Mặt tác động tiêu cực gây nên sự lãng phí, tiêu phí tài nguyên và suy thoái môi trường.
Trong hoạt động Du lịch sinh thái, đây là một LHDL rất nhạy cảm với các tác động của con người, đặc biệt là thông qua các phản ứng dây chuyền trong tự nhiên. Vì vậy, việc phát triển Du lịch sinh thái nếu không được quản lí chặt chẽ và tổ chức tốt sẽ có tác động không tốt đến môi trường xung quanh.
1.5.1. Tác động đến tài nguyên thiên nhiên
Phát triển Du lịch sinh thái và các hoạt động có liên quan đã góp phần không nhỏ làm cho tài nguyên thiên nhiên và môi trường bị xuống cấp một cách trầm trọng. Đó cũng chính là hậu quả của việc sử dụng đất đai, xây dựng các cơ sở du lịch không đúng nơi, hoặc không đảm bảo chất lượng làm ảnh hưởng đến tài nguyên nước, tài nguyên không khí, tài nguyên đất, tài nguyên sinh vật và đa dạng sinh học…
Ảnh hưởng đến tài nguyên nước: Du lịch sinh thái phát triển kéo theo sự phát triển về khách sạn, nhà cho thuê, cửa hàng ăn uống và các dịch vụ khác làm tăng lượng nước thải sinh hoạt nhưng thường không được xử lí triệt để lâu ngày thấm vào nước ngầm làm ảnh hưởng đến nguồn nước giếng ở các địa phương. Bên cạnh đó, du khách đông lại vứt rác bừa bãi, dầu mỡ do phương tiện giao thông trên nước làm ảnh hưởng đến nước sạch ở các sông, hồ.
Ảnh hưởng đến tài nguyên không khí: Do lượng du khách ngày càng đông, hoạt động giao thông phục vụ cũng tăng theo, nhưng hầu hết đều sử dụng các phương tiện cơ giới thô sơ như: thuyền, ghe máy, xe máy…, nhất là vào những ngày nghỉ, các điểm du lịch gần như quá tải. Hàm lượng bụi, khói và các chất gây ô nhiễm không khí từ các hoạt động giao thông nằm dưới mức cho phép và bị hoà loãng nhanh nhưng các khu dân cư ven đường bị ảnh hưởng hàng ngày của bụi, khói, đặc biệt là tiếng ồn quá mức cho phép. Ngoài ra, một số hoạt động của du lịch như ăn uống thường diễn ra cùng một thời điểm, dẫn đến việc gia tăng bụi khói, làm nóng dần bầu không khí. Lượng nhiễm này hiện nay chưa được nghiên cứu cụ thể nhưng đã đến mức báo động và rất khó kiểm soát. Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái huyện Hàm Thuận Nam.
Ảnh hưởng đến tài nguyên đất: Phát triển du lịch sẽ kéo theo việc xây dựng kết cấu hạ tầng như khách sạn, các công trình phục vụ du lịch khác sẽ làm cho diện tích đất bị xâm lấn, thu hẹp. Ngoài ra, quy hoạch Du lịch sinh thái không đúng nơi, xây dựng các công trình hạ tầng không đúng quy cách cũng làm cho tài nguyên đất bị phá vỡ.
Ảnh hưởng đến tài nguyên sinh vật và đa dạng sinh học: Hoạt động du lịch làm gia tăng lượng rác thải, khí thải, một khi không có hoặc thiếu những phương tiện thu gom và dụng cụ chứa và xử lí rác sẽ gây ảnh hưởng không tốt cho môi trường sống xung quanh của sinh vật.
Ở một số khu Bảo tồn thiên nhiên lượng khách du lịch hằng năm tăng cao nên cần có nhiều phương tiện, chỗ lưu trú, các dịch vụ khác để đáp ứng cho các nhu cầu của du khách cũng tăng theo, do đó thiệt hại về tài nguyên thiên nhiên càng tăng thêm. Do phá rừng xây nhà lưu trú, chặt gỗ bán ngày càng tăng… đã làm cho gỗ quý ngày càng cạn kiệt. Đây là một thiệt thòi lớn cho con người và khó có thể phục hồi lại.
1.5.2. Tác động đến tài nguyên sinh vật và môi trường ở các khu Du lịch sinh thái
Du khách tham quan trong một số khu rừng chưa được quản lí nghiêm ngặt thường đi thành từng đoàn khoảng 70 – 80 người. Họ ồn ào và xả rác trong rừng, điều này làm ảnh hưởng đến không gian và môi trường sống của một số loài động vật. Khi một loài động vật nào đó sống trong môi trường căng thẳng vì có đông du khách thì không bao lâu nó sẽ bị loại trừ ra khỏi môi trường đó. Đây là kết quả tất yếu của quá trình chọn lọc tự nhiên.
Rác thải của những du khách sau một đợt nghỉ chân trong rừng sẽ làm ô nhiễm khu vực đó vì thường rác thải của họ để lại là những túi nilon, những chiếc hộp,.. các loại rác thải này rất khó phân huỷ. Nếu chúng ta không có biện pháp quản lí, thu gom và xử lí thích hợp thì chỉ một thời gian ngắn thực vật và ngay cả các cây địa y cũng không mọc nổi vì mặt đất tràn đầy rác.
Một số hành động thái quá của du khách như chặt cây, bẻ cành, săn bắn chim thú và sự săn bắn tự do các thú rừng quí hiếm, hoang dã như: nai, gấu, heo rừng, gà lôi lam,… của người dân để phục vụ du lịch cũng là nguyên nhân làm giảm sút cả số lượng và chất lượng của sinh vật trong phạm vi khu du lịch.
Các yếu tố ô nhiễm như rác và nước thải không được xử lí đúng mức sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các hệ sinh thái dưới nước, việc tăng độ phú dưỡng ở các hồ chứa nước đã tạo điều kiện tích tụ nhiều bùn lầy, làm suy thoái chất lượng nước và ảnh hưởng đến động vật hoang dã.
- Ô nhiễm không khí do vận chuyển khách du lịch sẽ tác động đến sự tăng trưởng của nhiều loài sinh vật nhạy cảm với môi trường không khí. Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái huyện Hàm Thuận Nam.
- Việc phát triển thiếu quy hoạch các khu vực thuộc phạm vi các khu Bảo tồn thiên nhiên hoặc vùng đệm có thề phá huỷ môi trường cư trú, gây ô nhiễm và ồn ào ảnh hưởng đến các loài sinh vật.
- Ô nhiễm môi trường sống làm mất đi cảnh quan tự nhiên. Làm cho một số loài động vật và thực vật dần dần bị mất nơi cư trú.
- Các hoạt động thể thao, cắm trại của du khách cũng có một phần tác động xấu đến việc bảo tồn và phát triển các loài sinh vật quý cần sự yên tĩnh như chúng phải thay đổi tập tính trở nên sợ sệt hoặc có thể chết.
1.5.3. Tác động đến các mặt của đời sống xã hội
Tác động đến kinh tế
HĐDL có 3 tác động quan trọng đối với kinh tế:
- Tăng nguồn thu ngoại tệ mạnh, tỉ lệ thuận với sự tăng hoặc giảm lượng du khách quốc tế.
- Tạo ra nhiều việc làm để vận hành bảo dưỡng các khu du lịch như đội ngũ hướng dẫn viên du lịch, những người canh gác rừng, những người làm công tác dịch vụ phục vụ du khách…
- Phát triển khu vực thông qua việc khai thác các khu riêng biệt.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt lợi thì du lịch cũng mang lại những mặt tiêu cực cho nền kinh tế:
- Lượng ngoại tệ nhập vào không tính được cụ thể. Bởi bản thân ngành du lịch cũng cần có những khoản chi ngoại lệ.
- Sự phát triển của một số hoạt động kinh tế phụ thuộc vào ngành du lịch không ổn định.
Tác động đến văn hoá – xã hội
DLST tạo ra lượng du khách trong và ngoài nước càng đông gồm nhiều thành phần, nhiều giai cấp và thường rất khác với nếp sống, suy nghĩ của người dân địa phương. Hoạt động du lịch phát triển, người dân địa phương quan hệ nhiều với du khách lâu ngày sẽ làm thay đổi các hệ thống giá trị, tư cách, cá nhân, quan hệ gia đình, lối sống tập thể, những lễ nghi truyền thống và tổ chức của cộng đồng.
Sự phát triển Du lịch sinh thái đem lại công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân nhưng nó cũng tác động đến việc di cư một lực lượng lao động. Nhập cư lao động là một hiện tượng khá phổ biến ở các khu du lịch. Lực lượng này nếu không quản lí tốt tốt sẽ là mầm mống của tệ nạn và ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội ở địa phương.
Những việc làm trong ngành du lịch đòi hỏi lực lượng lao động đa số là phụ nữ và trẻ em (buôn bán hàng rong, làm các hình ảnh, đồ thủ công mỹ nghệ của khu du lịch cho du khách). Do đó, vai trò người phụ nữ cũng thay đổi. Họ đã đi làm thay vì ở nhà trông con như trước đây.
Kết luận : Có rất nhiều khái niệm Du lịch sinh thái được các nhà nghiên cứu đưa ra, nhưng tựu chung lại, các khái niệm về Du lịch sinh thái đều hướng đến sự PTBV bằng việc duy trì cân bằng của bốn trụ cột chính là: kinh tế, sinh thái, văn hóa và cộng đồng. Trong đó bền vững về kinh tế là mục tiêu trước mắt và lâu dài; Bền vững sinh thái phải phù hợp với việc giữ vững các quá trình sinh thái chủ yếu, đa dạng sinh học và nguồn lợi sinh học; Bền vững văn hoá nghĩa là phải tăng sự tôn trọng cách sống phù hợp với văn hoá địa phương, củng cố bản sắc văn hoá của cộng đồng; Bền vững địa phương (cộng đồng) nghĩa là phải mang lại nguồn lợi cho cộng đồng địa phương (tăng thu nhập, giải quyết công ăn, việc làm…), đồng thời tạo ra và giữ lại thu nhập cho cộng đồng.
Ở Việt Nam nói chung, tỉnh Bình Thuận cũng như huyện Hàm Thuận Nam nói riêng, Du lịch sinh thái còn khá mới mẻ nên việc thực hiện, áp dụng loại hình này vào thực tế còn rất lúng túng, thiếu đồng bộ. Nhận thức được tầm quan trọng về mặt khoa học và thực tiễn, những năm gần đây, Du lịch sinh thái đang thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu về du lịch, môi trường ở Việt Nam và tỉnh Bình Thuận. Phát triển Du lịch sinh thái bền vững là hướng chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển du lịch của Đảng và Nhà nước, là mục tiêu mà du lịch huyện Hàm Thuận Nam – tỉnh Bình Thuận cần đạt tới. Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái huyện Hàm Thuận Nam.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái huyện Hàm Thuận
