Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Giải pháp quản lý môi trường du lịch tại Huế hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Đề xuất giải pháp quản lý bền vững môi trường du lịch tại các bãi biển Thuận An và Lăng Cô dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
3.1. Quan điểm, định hướng phát triển du lịch gắn liền với môi trường của Thừa Thiên Huế
Miền Trung cần phát triển đô thị biển, một xu thế phát triển dựa trên lợi thế chiến lược tuyệt đối của các tỉnh duyên hải. Thời gian qua, những chính sách, cơ chế của Nhà nước dành cho miền Trung đã có, những tiềm năng, thế mạnh của khu vực này cũng đã rõ. Tuy nhiên, tính đến thời điểm này, nền kinh tế tại khu vực này vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa xứng với tiềm năng và kỳ vọng.
Muốn phát triển tốt được du lịch biển, các tỉnh miền Trung thì rất cần một giải pháp tổng thể với sự phối hợp chặt chẽ của nhiều ban ngành, các nhà quản lý và các doanh nghiệp lữ hành cùng với sự ủng hộ của người dân địa phương. Cần một chiến lược phát triển bền vững trong quá trình tìm kiếm những giải pháp thúc đẩy phát triển các loại hình du lịch biển cho các tỉnh miền Trung, điểm đầu tiên cần quan tâm thực hiện là việc đổi mới, hoàn thiện cơ chế chính sách về du lịch nói chung và du lịch biển nói riêng phù hợp tập quán, thông lệ quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp lữ hành trong và ngoài nước triển khai tổ chức loại hình du lịch biển trong khu vực, phát huy tối đa thế mạnh và tiềm năng về du lịch biển của nước ta nhằm tăng cường thu hút khách. Trong đó, khuyến khích đầu tư, tạo điều kiện hơn nữa cho các doanh nghiệp tới tìm hiểu, khảo sát và áp dụng chính sách ưu đãi như giảm tiền thuê đất, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, giảm thuế nhập khẩu trang thiết bị, ưu đãi tín dụng cho những doanh nghiệp tham gia đầu tư hạ tầng, cơ sở lưu trú và cơ sở dịch vụ để phục vụ khách du lịch biển đảo tại các điểm du lịch biển. Loại hình du lịch biển có những đặc thù nhất định mà không phải bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng có thể làm tốt. Việc đầu tư xây dựng sản phẩm có khi rất tốn kém và lại rất dễ bị bắt chước. Do đó nên đưa kinh doanh du lịch biển xếp vào loại hình kinh doanh có điều kiện và chỉ cấp phép cho những doanh nghiệp đủ điều kiện được phép tổ chức kinh doanh. Để phát triển du lịch biển, cần quan tâm công tác lập quy hoạch khoa học, chi tiết tại những địa điểm, khu vực có đủ điều kiện thích hợp cho việc tổ chức các chương trình du lịch biển. Trên cơ sở quy hoạch, nhà nước đầu tư kết cấu hạ tầng, đường sá, hệ thống cung cấp điện nước, thông tin liên lạc tới các khu vực có tiềm năng, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp và khách du lịch tiếp cận dễ dàng tới các khu vực này. Những quy hoạch chi tiết phải phối hợp chặt chẽ với các ngành khác có cùng chung nguồn tài nguyên hay nguồn lợi hoạt động trong cùng khu vực, bảo đảm quy hoạch không chồng chéo và gây cản trở nhau. Các doanh nghiệp lữ hành cần chủ động nghiên cứu, xây dựng các tour du lịch đến biển hấp dẫn để chào bán, thu hút khách du lịch ở những thị trường trọng điểm và tiềm năng; tạo các sản phẩm thích hợp từng đối tượng du khách, nhất là với khách sử dụng giấy thông hành từ các thị trường: Lào, Thái-lan, Trung Quốc, Cam-pu-chia. Việc xây dựng sản phẩm du lịch biển phải gắn với văn hóa địa phương đặc thù và các di sản nổi tiếng trong khu vực, bên cạnh đầu tư tốt cơ sở hạ tầng thích hợp cho nghỉ dưỡng như các khách sạn hiện đại, khu nghỉ dưỡng cao cấp tại các khu vực tổ chức du lịch biển. Bên cạnh đó, doanh nghiệp nên chủ động tiếp cận và thâm nhập thị trường du lịch biển thế giới, có chính sách và biện pháp tiếp thị, thu hút khách phù hợp, khẳng định vị thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế và khu vực. Các tỉnh trong khu vực miền Trung nên phối hợp xây dựng chiến lược quảng bá điểm đến chung, khuyến khích doanh nghiệp đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường, xác định thị trường mục tiêu và đối tượng khách thường đi du lịch biển để có chiến lược quảng bá, thu hút khách phù hợp. Trung tâm Xúc tiến du lịch Thừa Thiên Huế cần phối hợp Tổng cục Du lịch mở những chiến dịch xúc tiến thị trường, xây dựng và phát hành những ấn phẩm, phim quảng cáo trên các phương tiện đại chúng, trên internet, tổ chức đoàn khảo sát du lịch khu vực cho các doanh nghiệp, báo chí ở trong nước và ngoài nước. Luận văn: Giải pháp quản lý môi trường du lịch tại Huế.
Trong quyết định Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020[10] đã đề cập đến vấn đề quảng bá và xúc tiến xây dựng các điểm đến phát huy thế mạnh du lịch biển, cụ thể:
- Các tuyến du lịch nội tỉnh:Thành phố Huế – Cảnh Dương – Bạch Mã – Lăng Cô – Hải Vân; Thành phố Huế – Thuận An – Phá Tam Giang – Đầm Cầu Hai; Thành phố Huế qua cửa Tư Hiền đến Cảnh Dương – Chân Mây – Lăng Cô,…
- Các tuyến du lịch liên tỉnh; Tuyến du lịch Huế – Cảnh Dương – Bạch Mã – Lăng Cô – Hải Vân – Đà Nẵng – Hội An,…
- Tuyến du lịch biển:Tuyến du lịch biển với cảng Chân Mây là đầu mối đưa đón khách du lịch đặc biệt là khách quốc tế theo tàu biển.
Cũng theo quyết định này, hai bãi biển Lăng Cô và Thuận An có trong danh mục các dự án được ưu tiên đầu tư. Tuy nhiên, cho đến thời điểm này, du lịch biển Thừa Thiên Huế mặc dù có rất nhiều tiềm năng lợi thế nhưng nền kinh tế vẫn chậm phát triển do chưa phát huy hết tiềm năng của mình. Phần lớn các quy hoạch chưa có tính khả thi cao.
Thừa Thiên Huế thuộc là một trong những tỉnh thuộc vùng Duyên hải miền Trung, là địa bàn trọng điểm để thực hiện chiến lược kinh tế biển của nước ta. Vì vậy,cần tập trung vào 3 nhóm ngành kinh tế chính: ngư nghiệp (đánh bắt và chế biến hải sản); du lịch biển đảo (gắn với du lịch văn hoá, lịch sử) và khu kinh tế ven biển (gắn với ưu thế về cảng biển). Bên cạnh đó, Thừa Thiên Huế cần phải điều chỉnh, sửa đổi liên tục, các định hướng và dự báo vĩ mô về loại hình du lịch. Các chính sách để phát triển du lịch biển phải đúng theo quy hoạch cùng môi trường du lịch thân thiện, an toàn cho du khách. Công tác xúc tiến du lịch cần chuyên nghiệp và ổn định hơn.
Một số định hướng phát triển bền vững biển Thừa Thiên Huế:
Định hướng về sản phẩm du lịch biển Tỉnh Thừa Thiên Huế xác định phát triển đa dạng các loại hình du lịch tổng hợp khai thác tiềm năng thế mạnh về du lịch hợp lý, hiệu quả, đồng thời gắn kết với bảo vệ cảnh quan môi trường, bảo vệ hệ sinh thái… bao gồm các loại hình du lịch:
- Du lịch nghỉ dưỡng: Du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh.
- Du lịch biển: Du lịch thể thao trên biển, khảo sát sinh vật biển
- Du lịch mạo hiểm: Leo núi, tàu lượn, lặn biển
- Du lịch vui chơi, giải trí: Sân golf, các loại hình nghệ thuật truyền thống.
- Dịch vụ, hội nghị, hội thảo trong nước và quốc tế.
- Định hướng về đào tạo nhân lực du lịch
Do điều kiện khí hậu tại đây hạn chế, vì vậy tính mùa vụ du lịch tại các bãi biển của Thừa Thiên Huế rất rõ rệt. Nhân viên ở đây chỉ làm việc trong mùa cao điểm, còn mùa mưa thì được các doanh nghiệp ở đây cho nghỉ. Vì vậy, chất lượng nghiệp vụ của nhân viên không được hoàn thiện, dẫn đến chất lượng phục vụ khách không đảm bảo.
- Định hướng đầu tư phát triển du lịch biển
- Thực hiện các biện pháp khuyến khích và thu hút đầu tư.
- Đa dạng hoá các hình thức huy động và tạo vốn.
- Ưu tiên thu hút vốn nước ngoài.
- Khai thác tối đa và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư của Trung ương, nguồn vốn ODA.
- Đầu tư có trọng điểm.
- Xã hội hoá du lịch.
- Hoàn chỉnh cơ chế quản lý đầu tư.
- Xúc tiến để tạo điều kiện cho các nhà đầu tư đầu tư các dịch vụ bổ sung cho du khách là cần thiết.
Định hướng phát triển du lịch – Nghiên cứu thị trường du lịch. Luận văn: Giải pháp quản lý môi trường du lịch tại Huế.
Định hướng phát triển các cơ sở sản xuất, dịch vụ du lịch sạch, ít ảnh hưởng đến môi trường sinh thái.
- Khuyến khích xây dựng, phát triển các khu nông nghiệp trồng rau sạch, trồng hoa, vườn rừng, điểm xanh. Gắn các hoạt động sản xuất nông nghiệp với hoạt động du lịch.
- Định hướng phát triển du lịch cộng đồng tại làng chài với các điểm du lịch lân cận trên địa bàn.
- Tuyên truyền quảng bá, liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp du lịch trong và ngoài nước.
- Xây dựng hình ảnh điểm đến đến với du khách.
- Đẩy mạnh công tác xúc tiến quảng bá thông qua các kênh truyền hình và các phương tiện thông tin đại chúng.
Định hướng về tổ chức không gian du lịch biển Lập quy hoạch chi tiết các khu du lịch bao gồm các khu khách sạn nghỉ dưỡng ven biển.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
3.2. Cơ sở thực tiễn của việc xây dựng các giải pháp
3.2.1. Đối với môi trường du lịch tự nhiên:
Thừa Thiên Huế có đường bờ biển dài 127km. Hiện nay tình trạng sạt lở bờ biển và bờ sông ngày càng gia tăng, thường xuyên và phức tạp, đặc biệt tại khu vực vùng biển Thuận An – Hòa Duân và cửa Tư Hiền. Bên cạnh đó, hiện tượng dòng rút xảy ra rất phổ biến tại hầu hết các bãi biển Việt Nam và trên thế giới. Vấn đề này ảnh hưởng không nhỏ đến việc phát triển du lịch tại các bãi biển này.
Du lịch phát triển gây ôn nhiếm đến môi trường, do tính chất mùa vụ, khách đến với các bãi biển thường tập trung một vài tháng cao điểm, gây nên ô nhiễm gấp nhiều lần so với bình thường. Nước thải, rác thải không qua xử lý thải trực tiếp ra môi trường.
3.2.2. Đối với môi trường du lịch xã hội nhân văn: Luận văn: Giải pháp quản lý môi trường du lịch tại Huế.
Kết quả số liệu ở biểu đồ 2.1, ta có thể thấy số nhà hàng có các bảng niêm yết giá chỉ đạt 30%. Do giới hạn của thời gian và nguồn lực nên số mẫu điều tra về cơ sở kinh doanh nhà hàng là 40, với 20 mẫu ở mỗi bãi. Do vậy, nếu tiến hành khảo sát trên quy mô lớn, số cơ sở kinh doanh có niêm yết giá rõ ràng có thể thấp hơn 70%.Như vậy, có thể thấy du khách đối diện với những lối ứng xử thiếu văn hóa hay trở thành nạn nhân của những vụ “chặt chém” thì họ sẽ không quay trở lại lần thứ hai nữa. Bên cạnh đó, có 22,5% nhà hàng chỉ đạt một phần về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm. Vấn đề này cũng do xuất phát từ chính các cơ sở kinh doanh. Vấn đề này cũng rất lưu tâm, bởi du khách chỉ thực sự mong muốn trải nghiệm một chuyến đi thực sự an toàn và đảm bảo về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm.
Đối với du khách, ở bảng 2.2, kết quả kiểm định khẳng định việc các du khách có vi phạm các hoạt động như: tắm, hoạt động thể thao sau khi uống rượu bia, đưa xe vào bãi tắm, tổ chức nấu nướng tại khu vực không được phép. Trong đó việc du khách vi phạm tắm biển khi có uống rượu bia diễn ra phổ biến hơn cả (mức độ trung bình vi phạm hơn một lần), tiếp đến là tổ chức chế biến nấu nướng trong khu vực không được phép. Vấn đề này cũng do từ ý thức du khách, từ sự thiếu quản lý của địa phương nên các cơ sở kinh doanh tự nâng giá, khách du lịch không đồng ý với giá cả đắt đỏ, họ phải mang theo đồ ăn để chế biến.
Ở cả hai bãi biển, công tác cứu hộ cứu nạn mặc dù cũng được sự quan tâm của Ban quản lý ở đây nhưng công tác cứu hộ cũng còn sơ sài, các phao cứu hộ chỉ 1, 2 cái, áo phao cũng chỉ có 4-5 cái, nhân viên cứu hộ chỉ 1 hoặc 2 ngời không đủ đáp ứng việc cứu hộ, cứu nạn, nhất là vào thời điểm đông khách.Trang thiết bị cứu hộ, cứu nạn chỉ được bố trí 1 cách hết sức sơ sài tại các chòi canh liệu, nếu có tình huống xấu xảy ra thì đội trực cứu hộ này sẽ không đảm bảo vấn đề an toàn cho khách du lịch.
3.3. Giải pháp chính sách, chiến lược phát triển du lịch bãi biển và ưu tiên đầu tư. Luận văn: Giải pháp quản lý môi trường du lịch tại Huế.
Thừa Thiên Huế thuộc là một trong những tỉnh thuộc vùng Duyên hải miền Trung, là địa bàn trọng điểm để thực hiện chiến lược kinh tế biển của nước ta. Vì vậy,Thừa Thiên Huế cần phải điều chỉnh, sửa đổi liên tục, các định hướng và dự báo vĩ mô về loại hình du lịch.
Các chính sách để phát triển du lịch biển phải đúng theo quy hoạch cùng môi trường du lịch thân thiện, an toàn cho du khách. Công tác xúc tiến du lịch cần chuyên nghiệp và ổn định hơn. Hiện nay, tỉnh đã thành lập Trung tâm Xúc Tiến Du lịch trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thừa Thiên Huế (tiền thân là phòng Xúc tiến Du lịch). Nhưng cho đến thời điểm này, công tác xúc tiến quảng bá cho du lịch biển Thừa Thiên Huế vẫn chưa được quan tâm chú trọng đúng mức. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần có các đề xuất với tỉnh để tranh thủ nguồn vốn các nhà đầu tư, thu hút các dự án phát triển du lịch biển.
3.4. Các giải pháp Bảo vệ Môi trường Du lịch
(i) Lồng ghép Bảo vệ Môi trường du lịch vào quy hoạch phát triển du lịch các bãi biển của Thừa Thiên Huế;
Bảo vệ môi trường trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay là yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, các tổ chức, doanh nghiệp và của mọi người dân. Đây là vấn đề cần được các bộ, ngành cần quan tâm nhất là trong tình hình ngành du lịch ngày càng phát triển mạnh mẽ.Để giải quyết vấn đề ô nhiễm biển có nguồn gốc từ biển và từ đất liền, nhiều chương trình hành động nhằm khắc phục tình trạng ô nhiễm và suy thoái môi trường nghiêm trọng đã được triển khai; việc ứng phó, khắc phục sự cố môi trường, thiên tai trên biển và vùng ven biển, bảo vệ và cải thiện môi trường các khu vực trọng điểm tại các vùng biển cũng tích cực được tiến hành.
(ii) Quan trắc Môi trường Du lịch Luận văn: Giải pháp quản lý môi trường du lịch tại Huế.
Tiến hành quan trắc định kỳ và lập lại để đánh giá hiện trạng và xu thế diễn biến chất lượng môi trường biển, kịp thời cảnh báo để xử lý và có biện pháp cải thiện chất lượng môi trường. Nhiều hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường biển còn chưa được đề cập đến. Các mức độ vi phạm đã cố gắng chi tiết hoá nhưng chưa đầy đủ, mức độ xử phạt còn thấp và còn thiếu qui định về sử dụng các công cụ pháp lý – kinh tế như những biện pháp hữu hiệu để kiểm soát và ngăn ngừa ô nhiễm biển. Cho nên cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến bảo vệ môi trường biển.
(iii) Quản lý môi trường du lịch các bãi biển của Thừa Thiên Huế
Giải pháp này bao gồm các giải pháp cụ thể hơn như : quản lý chất thải ; nước sạch và vệ sinh môi trường; vệ sinh an toàn thực phẩm, giải pháp đảm bảo an toàn sinh học, xây dựng hệ thống các quy định chung về môi trường cho các bãi biển du lịch, cứu hộ cứu nạn, áp dụng nhãn xanh du lịch,…
Một trong những khó khăn lớn nhất hiện nay trong công tác thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải chính là nguồn kinh phí của địa phương dành cho hoạt động bảo vệ môi trường bị hạn chế. Sự khó khăn về mặt tài chính đã dẫn tới công tác xử lý rác thải không đảm bảo, gây tình trạng ô nhiễm rác thải trên các bãi biển. Do đó, nếu như nguồn kinh phí được giải quyết, chế độ lương thưởng của người lao động ổn định thì sự hoạt động của tổ công tác thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải ở đây sẽ hiệu quả, hoạt động thu gom sẽ diễn ra thường xuyên và liên tục. Nguồn kinh phí được khắc phục còn là điều kiện giúp đầu tư mua sắm các phương tiện thiết bị tốt hơn, bởi thực tế hiện nay cho thấy vật chất, phương tiện kỹ thuật dành cho hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải trên địa bàn còn nghèo nàn, lạc hậu. Cần tuyên truyền vận động theo phương châm “nhà nước và nhân dân cùng làm”. Đây là một giải pháp hữu ích đã có nhiều địa phương ứng dụng thành công cho nhiều mục đích khác nhau do đó giải pháp này cần phải được phát triển. Những phân tích ở phần thực trạng về nguồn tài chính cho thấy việc không có kinh phí cho hoạt động duy tu bảo dưỡng bãi rác địa phương nên phần chi cho các hoạt động xử lý, vận chuyển đến bãi rác Tỉnh chiếm một lượng lớn trong kinh phí thu được từ phí vệ sinh môi trường. Do đó, chính quyền địa phương và nhân dân hỗ trợ cùng làm trong giai đoạn đầu sẽ giúp cải thiện nguồn tài chính và ổn định thu phí vệ sinh môi trường trong các giai đoạn tiếp theo làm cho môi trường trở nên sạch đẹp hơn.
Thực trạng thiếu thiết bị chứa rác thải và việc phai mờ các khẩu hiệu ở bảng pano môi trường trên địa bàn (bãi biển) là một 1 trong nhiều lí do tạo nên ý thức xấu của 1 bộ phận người dân, cơ sở kinh doanh dịch vụ và du khách. Trang thiết bị chứa không đầy đủ trên bãi biển khiến các đối tượng không thể thực hiện đúng việc thu gom và xả thải đồng thời không thể tác động trực tiếp đến ý thức của du khách và người dân gần bãi biển Thuận An.
Du khách, người dân và các cơ sở kinh doanh sẽ tham gia thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường khi trang thiết bị chứa rác thải được bố trí hợp lý.Từ kết quả của Bảng 2.7 ở trên ta có thể thấy, có đến 43% du khách không bỏ rác vào thùng rác đúng nơi quy định. Khi được hỏi về nguyên nhân khiến du khách hành động như vậy vì họ không tìm thấy thùng rác. Vì vậy, chính quyền địa phương và Ban quản lý phải lắp đặt thêm các thùng rác và bố trí ở những vị trí thích hợp, tránh tình trạng du khách không bỏ rác vào thùng hay tự đào những hố rác trên bãi cát. Luận văn: Giải pháp quản lý môi trường du lịch tại Huế.
Chính quyền địa phương, ban quản lý bãi tắm cần đặt các biển cảnh báo nguy hiểm để du khách lưu ý, tránh trường hợp tai nạn đáng tiếc xảy ra.
Một số các giải pháp khác quản lý môi trường biển:
- Chỉ tổ chức các loại hình du lịch không gây tác động tiêu cực nguyên môi trường, không làm cạn kiệt tài nguyên môi trường, góp phần bảo vệ, tôn tạo, nâng cao chất lượng của môi trường như: nghỉ dưỡng, tắm biển, lặn biển, du lịch sinh thái, du lịch chữa bệnh, thể thao trên biển như lướt sóng, mô-tô nước.
- Không phát triển các loại hình du lịch gây mất trật tự an ninh xã hội và tệ nạn xã hội như: du lịch Casino, du lịch sex.
- Khuyến khích sử dụng các nguồn năng lượng mặt trời, sức gió, giảm thiểu năng lượng gây ô nhiễm, xây dựng hệ thống thu gom, xử lý chất thải, đảm bảo chất thải được thu gom, xử lý, tái chế đúng quy trình kỹ thuật.
Thực hiện thu thuế, phí môi trường và sử dụng các công cụ pháp lý hạn chế khai thác bừa bãi, gây hậu quả cho môi trường.
(iv) Giải pháp về sản phẩm du lịch
Du lịch nghỉ dưỡng biển và đầm phá
- Xây dựng các khu du lịch nghỉ dưỡng, giải trí tổng hợp cao cấp tại các bãi biển có nhiều lợi thế về cảnh quan và môi trường.
- Nghiên cứu hình thành các khu du lịch nghỉ dưỡng đặc trưng tại biển Lăng Cô, Thuận An,… gắn với cảnh quan đầm phá và văn hoá truyền thống của cộng đồng dân cư.
- Nghiên cứu hình thành khu du lịch tổng hợp biển đảo Hải Vân – Sơn Chà với các loại hình du lịch nghỉ dưỡng, lặn biển, giải trí, sinh thái.
Du lịch thể thao biển
- Hình thành các trung tâm thể thao du lịch biển cao cấp ; các câu lạc bộ thể thao biển và đầm phá chuyên tổ chức và cung cấp các dịch vụ thể thao như đua thuyền trên biển, trên đầm phá, lướt sóng, lặn biển, xuồng cao tốc, sân golf, các môn thể thao bãi biển.
- Tổ chức các giải thi đấu thể thao biển trong nước và quốc tế, các giải thể thao.
Du lịch văn hoá, du lịch cộng đồng Luận văn: Giải pháp quản lý môi trường du lịch tại Huế.
- Kết hợp phát triển các tour du lịch tham quan di tích lịch sử, văn hoá như chùa Thánh Duyên, Thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã, Hải Vân Quan,…
- Tiếp tục phát triển sản phẩm du lịch lễ hội: Cầu Ngư, đua ghe, kéo co,… Nâng cao tính chuyên nghiệp trong tổ chức các lễ hội mới: Lăng Cô – huyền thoại biển, Thuận An biển gọi, Làng ẩm thực, Chợ quê ngày hội,…
- Từng bước nghiên cứu, định hình và phát triển loại hình du lịch tín ngưỡng, tôn giáo, du lịch tâm linh dựa trên các giá trị về văn hoá, kiến trúc, tín ngưỡng.
Du lịch sinh thái
Hình thành các tuyến, điểm du lịch sinh thái trong vùng tại Khu bảo tồn sinh thái biển đảo Sơn Chà – Hải Vân, các điểm du lịch sinh thái rừng núi phía Tây đầm Lập An,…
Du lịch hội nghị, hội thảo (MICE)
Kết hợp việc tổ chức các hội nghị hội thảo với các tour du lịch nghỉ dưỡng, tham quan, sinh thái, mua sắm, lễ hội…tại các khu du lịch chất lượng cao trong khu vực biển và đầm phá.
Thiết lập các sản phẩm du lịch liên kết vùng trong và ngoài khu vực
- Hình thành một số tuyến du lịch chủ yếu: Hội An – Mỹ Sơn – Lăng Cô – Bạch Mã; Huế – Cảnh Dương – Cù Dù – Lăng Cô – Sơn Chà ; Thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã – suối Voi – Lăng Cô ;…
- Từng bước xây dựng và hình thành các tuyến du lịch đường thuỷ nội vùng trên đầm Cầu Hai – phá Tam Giang, đầm Lập An; nghiên cứu phát triển các tuyến du lịch tàu biển nội địa và quốc tế qua cảng Chân Mây, tuyến du lịch đường biển Lăng Cô – Sơn Chà – Đà Nẵng – Hội An.
(v) Giải pháp giáo dục và truyền thông về bảo vệ môi trường du lịch bãi biển Thừa Thiên – Huế
Qua kiểm định mức độ vi phạm của du khách, ở Bảng 2.2, có thể thấy du khách vẫn có hành động đi tắm biển, tham gia hoạt động thể thao trên vùng nước của bãi tắm khi thời tiết xấu xấu như: giông bão, gió lốc và đi tắm biển, tham gia hoạt động thể thao trên vùng nước của bãi tắm sau khi uống rượu bia. Vì vậy, đối với đối tượng du khách này, biện pháp để tuyên truyền là cần có các biển báo, áp phích cảnh báo không nên thực hiện những hành động này. Qua thực tế điều tra, số lượng du khách vi phạm đi tắm biển, tham gia hoạt động thể thao trên vùng nước của bãi tắm khi thời tiết xấu xấu chủ yếu do nguyên nhân khách quan thời tiết thay đổi bất thường. Trong trường hợp này, Ban quản lý bãi tắm, đội cứu hộ cần trang bị các loa phóng thanh để cảnh báo cho du khách. Luận văn: Giải pháp quản lý môi trường du lịch tại Huế.
Từ Bảng 2.2,nguyên nhân của việc vi phạm các tiêu chí đem xe vào bãi tắm, tổ chức nấu nướng là do du khách không tìm được bãi giữ xe, đối với việc du khách tự tổ chức nấu nướng là do giá cả ở cá nhà hàng cao. Trường hợp này, cần các giải pháp từ địa phương và Ban quản lý các bãi tắm, phải xây dựng thêm các bãi giữ xe, điều chỉnh các mức phí giữ xe cho phù hợp. Đảm bảo mức giá cả ở các nhà hàng không để tình trạng giá quá cao, ảnh hưởng đến tâm lý du khách, buộc du khách phải mang theo thức ăn để chế biến. Đồng thời, các chính quyền địa phương phải tổ chức thanh tra và có biện pháp xử lý đối với các nhà hàng vi phạm.
Kết quả ở Bảng 2.3 cho thấy các chính sách cần tập trung tăng cường tuyên truyền các hoạt động bảo vệ môi trường, đặc biệt là môi trường du lịch biển, thu hút du khách tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường cho các bãi biển và từng bước giảm thiểu các hành động gây ảnh hưởng xấu đến môi trường du lịch biển của du khách. Bên cạnh đó một số các biện pháp cần thực hiện như: nâng cao nhận thức cho cộng đồng, cần tổ chức nhiều chương trình khuyến cáo cho toàn dân nói chung và người dân nói riêng được biết rõ tác hại của nó, đồng thời đưa công tác tuyên tuyền bảo vệ môi trường vào nhà trường để giáo dục học sinh.
Theo kết quả ở Bảng 2.5, nâng cao nhận thức cho người kinh doanh về vấn đề bảo vệ môi trường nói chung và môi trường du lịch biển nói riêng là một vấn đề rất cần thiết. Cụ thể:
- Thực hiện giáo dục nâng cao nhận thức và lấy ý kiến của các thành viên tham gia hoạt động du lịch nhằm tránh giải quyết các mâu thuẫn về quyền lợi, tạo được sự ủng hộ của các bên tham gia trong việc thực hiện quy hoạch.
- Đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực cả về nghiệp vụ, ngoại ngữ và phẩm chất nghề nghiệp, đưa nội dung phát triển du lịch bền vững, du lịch sinh thái vào chương trình đào tạo, có các kế hoạch, chính sách phù hợp cho đào tạo và tuyển dụng nguồn lao động địa phương.
Qua nghiên cứu các tiêu chí Bộ tiêu chí để đánh giá các bãi tắm du lịch của Quảng Ninh, tác giả luận văn xin đề xuất Sở Văn Hóa, Thể Thao và Du lịch và Ủy Ban nhân dân Tỉnh Thừa Thiên Huế xây dựng Bộ tiêu chí để đánh giá các bãi tắm du lịch của Thừa Thiên Huế, từ đó ban hành Quy chế riêng dành cho các bãi tắm du lịch của Thừa Thiên Huế. Vì Thừa Thiên Huế có những đặc điểm tự nhiên khác với Quảng Ninh nên dựa trên Bộ tiêu chí của Quảng Ninh, tác giả sẽ bổ sung và thay đổi một số vấn đề để phù hợp với Thừa Thiên Huế.
Bộ tiêu chí đề xuất cho Thừa Thiên Huế:
- Thực trạng đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn
I.Điều kiện về cơ sở hạ tầng Luận văn: Giải pháp quản lý môi trường du lịch tại Huế.
- Hệ thống giao thông đảm bảo thuận lợi và an toàn: (i) Điểm trông giữ xe cho khách du lịch hoặc (ii) Điểm neo đậu cho phương tiện thủy chở khách du lịch.
- Hệ thống thông tin liên lạc đảm bảo yêu cầu phục vụ công tác: (i) cảnh báo, cứu hộ cứu nạn; (ii) Đối với các bãi tắm xa bờ phải có hệ thống VHF.
- Hệ thống điện đáp ứng yêu cầu; (ii) Hệ thống nước ngọt đảm bảo vệ sinh, đáp ứng nhu cầu tắm tráng và hoạt động kinh doanh; (iii) Hệ thống thu gom rác thải đảm bảo vệ sinh môi trường.
- Điều kiện về cơ sở vật chất bị kỹ thuật
1.(i)Bãi cát mịn; (ii) bề mặt được san phẳng; (iii) độ dày cát trung bình 30cm trở lên và (iv) độ thoải đảm bảo an toàn cho du khách khi tắm biển.
- (i) Có xuồng cứu sinh, đảm bảo chất lượng và đáp ứng công tác cứu hộ cứu nạn khi có sự cố xảy ra. (ii) Trên mỗi xuồng có trang bị tối thiểu (ii.a) 06 áo phao cá nhân, (ii,b) 02 phao tròn (01 phao tròn kèm dây ném chiều dài 25-30m); (iii) có bộ đồ lặn kèm theo bình dưỡng khí.
- (i) Hệ thống phao tiêu; (ii) cờ chỉ giới; (iii) biển báo hiệu vùng hành lang an toàn (nhằm tránh các khu vực có dòng dọc bờ, dòng rút, đá ngầm, các hố rãnh sâu đột ngột trên bãi tắm), màu sắc tương phản với màu nước, dễ quan sát, đảm bảo yêu cầu cảnh báo.
- Có biển hiệu bãi tắm du lịch đặt ở vị trí dễ quan sát, kích thước tối thiểu 6m2 bằng Tiếng Việt và tiếng Anh chữ rõ ràng, không tẩy xóa đảm bảo mỹ quan.
- Có (i) tối thiểu 02 bảng nội quy đặt ở vị trí dễ quan sát, kích thước tối thiểu 6m2 quy định nội quy bãi tắm bằng 3 thứ tiếng: Tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Trung Quốc, chữ rõ ràng không tẩy xóa, đảm bảo mỹ quan. (ii) Khoảng cách tối thiểu của các bảng nội quy là 200m.
- Có (i) hệ thống biển báo,(ii) biển chỉ dẫn đến các điểm dịch vụ và (iii) hệ thống giao thông nội bộ.
- Có (i) trạm quan sát cứu hộ cứu nạn, (ii) khoảng cách giữa các trạm quan sát tối đa là 300m, được xây dựng phù hợp với không gian biển và đảm bảo bao quát toàn bộ bãi tắm.
- Mỗi bãi tắm có (i) ít nhất 02 khu nhà tráng nước ngọt (nam, nữ riêng biệt), (ii) mỗi khu tối thiểu có diện tích đạt 25m2. (iii) Nhà tráng nước ngọt có mắc treo hoặc giá đựng quần áo.
- Có (i)tủ đựng đồ cho du khách và (ii) có khóa riêng cho từng ngăn tủ.
- Có hệ thống (i) loa phát thanh và (ii) tối thiểu 03 loa cầm tay chất lượng tốt. (iii) Hệ thống loa phát thanh có ghi âm cảnh báo an toàn và nội quy bãi tắm bằng 3 thứ tiếng: Tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Trung Quốc.
- Có (i) Khu vệ sinh công cộng tại bãi tắm du lịch, (ii) đảm bảo các tiêu chí tại Quyết định số 225/QĐ-TCDL ngày 08/05/2012 của Tổng cục Du lịch.
- Có (i) hệ thống thu gom, (ii) xử lý chất thải đảm bảo vệ sinh môi trường, theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về nước thải sinh hoạt QCVN14: 2008/BTNMT. (iii) Có khu vực tạm chứa rác thải trước khi phương tiện chở rác tới điểm thu gom. (iv) Thùng chứa rác trên bãi tắm phải có nắp đậy, (v) khoảng cách tối đa 50m/thùng.
- Có (i) hòm thư góp ý, đặt ở vị trí dễ quan sát, chất liệu phù hợp với khí hậu địa phương. (ii) Có số điện thoại của Ban quản lý bãi tắm và (iii) các số điện thoại đường dây nóng của ngành du lịch để tiếp nhận và xử lý kịp thời ý kiến tham gia của du khách. (iv) Các số điện thoại trên phải được công bố công khai trên bảng nội quy, bảng niêm yết giá và những nơi dễ quan sát. Luận văn: Giải pháp quản lý môi trường du lịch tại Huế.
- Đảm bảo (i) an ninh trật tự, (ii) vệ sinh môi trường, (iii) phòng cháy, chữa cháy, (iv) cứu hộ, cứu nạn, (v) phương tiện sơ cứu y tế và các phương tiện khác, tuân thủ theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo an toàn về tính mạng và tài sản của khách du lịch.
III. Thực trạng việc đáp ứng Yêu cầu đối với nhân lực làm việc tại bãi tắm
- Có đội ngũ lao động (i) làm nhiệm vụ cứu hộ cứu nạn; cứu đuối nước; (ii) bảo vệ; (iii) hướng dẫn viên; (iv) lái xuồng được đào tạo, tập huấn chuyên môn nghiệp vụ.
- Có ký kết hợp đồng lao động.
- Có (i)Trang phục và (ii) đeo phù hiệu đúng quy định của Ban quản lý bãi tắm.
- Thực trạng các cơ sở kinh doanh đáp ứng các điều kiện
Yêu cầu các cơ sở kinh doanh: (i) Sạch, (ii) đẹp, (iii) đảm bảo vệ sinh môi trường, (iv) an ninh trật tự, (v) vệ sinh an toàn thực phẩm và (vi) có bảng niêm yết giá tại các điểm dịch vụ, sản phẩm hàng hóa.
- Thực trạng quản lý hoạt động
Thời gian hoạt động tại các bãi tắm du lịch
Do Ban Quản lý Bãi tắm quy định cụ thể trong Nội quy Bãi tắm du lịch, trong khoảng thời gian: (i) Mùa hè: từ 6h00 đến 18h30; (ii) Mùa đông: từ 7h00 đến 18h00. (iii) Yêu cầu an toàn tuyệt đối và khi hoạt động phải có người trông coi, quản lý, đảm bảo cứu hộ cứu nạn, cứu đuối nước cho người tắm.
- Quy định với bãi tắm liên quan đến dòng Rip (dòng rút)
Quy định này sẽ áp dụng vào mùa hè: 6h00 đến 18h30, từ tháng 4 đến tháng 8 hằng năm.
- Có 3-5 nhân viên cứu hộ làm việc liên tục ở mỗi bãi biển trong thời gian hoạt động của bãi tắm.
- Có 2 xuồng cứu sinh ở mỗi bãi tắm đáp ứng đầy đủ các yêu cầu ở điều 2, phần II, mục A.
- Có hệ thống phao tiêu, cờ chỉ giới đáp ứng đủ các yêu cầu ở điều 3, phần II, mục A. Ngoài ra tăng cường cắm các cột mốc bằng phao để cảnh báo vùng hay xảy ra hiện tượng dòng rút
Tiểu kết chương 3 Luận văn: Giải pháp quản lý môi trường du lịch tại Huế.
Môi trường du lịch nói chung và môi trường du lịch các bãi biển Thừa Thiên Huế nói riêng đã nhận được sự quan tâm của ban, ngành và địa phương. Bên cạnh đó, vì những nguyên nhân khách quan và chủ quan mà vấn đề quản lý môi trường du lịch ở những bãi biển này chưa thực sự hiệu quả.Vì vậy, để công tác bảo vệ môi trường du lịch bãi biển ở đây được hiệu quả, cần chú trọng thực hiện một số các biện pháp như: giải pháp ưu tiên phát triển và đầu tư; các giải pháp bảo vệ môi trường du lịch bãi biển và giải pháp giáo dục, tuyên truyền cho du khách, người dân và các doanh nghiệp du lịch.
Tuy nhiên, nếu thực sự du lịch đem lại lợi ích cho môi trường tự nhiên và xã hội bền vững lâu dài thì tài nguyên không được sử dụng quá mức. Phát triển du lịch phải lồng ghép vào chiến lược phát triển của địa phương, tăng cường kiểm soát các hoạt động du lịch gây ô nhiễm môi trường, phát triển các loại hình du lịch gây tác động xấu đến môi trường.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
- Thuận An và Lăng Cô là hai bãi biển du lịch có tiềm năng phát triển của Tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Việc thực hiện công tác quản lý môi trường ở hai bãi biển này đã đạt được một số kết quả nhất định. Vấn đề quản lý và xử lý chất thải cũng được chính quyền địa phương quan tâm. Tuy nhiên, hiện trạng môi trường ở hai bãi biển du lịch này vẫn đang trong tình trạng báo động, các vấn đề tồn tại như: các nguy hiểm do dòng rút, ô nhiễm môi trường bãi biển, vấn đề cứu hộ cứu nạn, vệ sinh an toàn thực phẩm, vấn đề giá cả.
- Các nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường ở hai bãi biển du lịch này:
Qua phân tích nguyên nhân các vấn đề môi trường ở phần thực trạng, ta có thể thấy nguyên nhân đầu tiên, ảnh hưởng lớn, đó là sự quản lý vĩ mô của tỉnh và địa phương: trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ quản lý chưa được đào tạo các kiến thức cơ bản về môi trường nói chung và môi trường du lịch nói riêng; công tác tuyên truyền đến người dân, du khách chưa rộng rãi; trang thiết bị chứa rác thải và hệ thống bảng khuyến cáo bố trí chưa hợp lý và không đồng bộ nên không truyền tải được thông điệp bảo vệ môi trường vùng biển; thiếu nguồn tài chính kéo khó khăn về đầu tư trang thiết bị xử lý, cơ sở hạ tầng phục vụ xử lý rác thải. Luận văn: Giải pháp quản lý môi trường du lịch tại Huế.
Nhận thức và quản lý của các cơ sở kinh doanh dịch vụ: ý thức bảo vệ môi trường của các cơ sở kinh doanh còn hạn chế. Vấn đề thiếu ý thức này góp phần tác động xấu đến môi trường hai bãi biển du lịch này. Họ chưa nhận thức được việc cần thiết trước mắt là bảo vệ môi trường du lịch nói chung và môi trường du lịch biển nói riêng. Bên cạnh đó, các quy trình xả nước thải và thu gom rác thải của các cơ sở này chưa thực hiện đúng quy định của chính quyền địa phương.
Ý thức của người dân: Những người dân chưa ý thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường, nhất là môi trường của hai bãi biển, nơi họ đang cư trú. Điều đó cũng xuất phát từ ý nghĩ hành động nhỏ của họ sẽ không gây nguy hại gì cho môi trường.
Ý thức của du khách: Đa số du khách đến với Thuận An và Lăng cô chủ yêu là khách nội địa. Một bộ phận du khách đã hình thành được ý thức trách nhiệm khi đi du lịch. Tuy nhiên bên cạnh đó, một bộ phận không nhỏ du khách chưa hình thành ý thức trách nhiệm khi đi tham quan, nghỉ dưỡng tại các điểm đến. Mặt khác, lượng khách tập trung đông vào một thời điểm sẽ gây nên sức ép, quá tải, ảnh hưởng đến môi trường du lịch tại điểm đến.
Một số các kiến nghị
- Tỉnh Thừa Thiên Huế cần hoàn thiện và phát triển các dự án quy hoạch du lịch biển, đảm bảo mục tiêu bền vững về kinh tế, bền vững về môi trường và bền vững về xã hội.
- Tỉnh Thừa Thiên Huế cần có những chủ trương đảm bảo phát triển du lịch có kiểm soát và hạn chế:
Cần nâng cao chất lượng, đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, ưu tiên phát triển các loại hình du lịch bền vững như: nghỉ dưỡng, du lịch thể thao trên bãi biển (bóng chuyền bãi biển, đua thuyền, lướt ván, du lịch lặn biển, du lịch nghiên cứu,…)
Các cơ quan chức năng cần ban hành các văn bản pháp lý về vi phạm xử phạt hành chính trong lĩnh vực quản lý môi trường du lịch biển. Luận văn: Giải pháp quản lý môi trường du lịch tại Huế.
- Tỉnh Thừa Thiên Huế cần khuyến khích các cơ sở kinh doanh lưu trú, nhà hàng sử dụng năng lượng mặt trời, sức gió, áp dụng nhãn xanh du lịch, áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường cho các cơ sơ sở kinh doanh.
- Đề xuất Sở Văn Hóa, Thể Thao và Du lịch và Ủy Ban nhân dân Tỉnh Thừa Thiên Huế xây dựng Bộ tiêu chí để đánh giá các bãi tắm du lịch của Thừa Thiên Huế, từ đó ban hành Quy chế riêng dành cho các bãi tắm du lịch của Thừa Thiên Huế
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Bảo vệ môi trường du lịch bãi biển Thừa Thiên Huế

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

