Luận văn: Giải pháp chất lượng tour du lịch ở du khách Nhật Bản

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Giải pháp chất lượng tour du lịch ở du khách Nhật Bản hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng các tour du lịch xuất phát từ Hà Nội cho du khách Nhật Bản dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

3.1. Các giải pháp dành cho những hạn chế do khách quan

3.1.1 Nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch Việt Nam sang thị trường Nhật Bản

  • Tạo thương hiệu du lịch và dần khẳng định thương hiệu trong lòng khách Nhật.

Vấn đề quan trọng đầu tiên là hiện nay chúng ta đã xây dựng được khẩu hiệu du lịch “Vietnam – The hidden charm” (Việt Nam – Vẻ đẹp tiềm ẩn). Khẩu hiệu du lịch của một nước không nên tồn tại đến bốn năm (chẳng hạn như khẩu hiệu “Việt Nam – Điểm đến của thiên niên kỷ mới”), do không tạo nên được một sự mới mẻ và hấp dẫn. Khẩu hiệu của ngành du lịch chính là ý tưởng thâu tóm một cách chung nhất và toàn cảnh nhất về ngành du lịch mà nước nhà muốn gửi gắm tới du khách và đó chính là thương hiệu của ngành du lịch.

Sau khi đã xây dựng được khẩu hiệu, ngành du lịch cần có một chiến lược truyền thông mang mục tiêu dài hạn để truyền tải thông điệp tới thị trường nhắm tới, cụ thể ở đây là Nhật Bản. Dựa vào tâm lý người Nhật là yêu thích loại hình du lịch sinh thái, thăm các di tích lịch sử-văn hóa, ưa thích mua sắm… và xuyên suốt là sự an tâm và an toàn, ngành du lịch sẽ xây dựng một kế hoạch để nhấn mạnh vào sở thích này của khách Nhật. Dần dần, với những nỗ lực trong các hoạt động quảng bá của mình, ngành du lịch Việt Nam sẽ ghi được dấu ấn trong lòng khách Nhật, tạo cho họ nhận thấy một Việt Nam hòa bình và quyến rũ.

Tổng cục du lịch Việt Nam cần phân cấp rõ ràng giữa các cơ quan quản lý chức năng quốc gia, địa phương với các doanh nghiệp du lịch trong quá trình thực hiện hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch. Như vậy, sẽ tránh được sự chồng chéo, sự manh mún và tạo nên sức mạnh tổng hợp của toàn ngành nhằm phát huy tối đa hiệu quả của việc xúc tiến, quảng bá du lịch.

Tổng cục du lịch cần biên tập và in ấn các ấn phẩm giới thiệu cụ thể và chi tiết các thông tin về đất nước Việt Nam và các tour du lịch cụ thể phù hợp với sở thích của khách Nhật bằng tiếng Nhật. Luận văn: Giải pháp chất lượng tour du lịch ở du khách Nhật Bản.

Cần làm hiệu quả hơn nữa của văn phòng xúc tiến du lịch Việt Nam tại Nhật Bản để định hướng hoạt động và phát triển sản phẩm nhằm khai thác thị trường khách Nhật Bản cho các địa phương và doanh nghiệp trong cả nước. Nâng cao hơn vai trò của văn phòng xúc tiến trong việc thu thập, xử lý và cung cấp thông tin liên quan trong hoạt động xúc tiến du lịch cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân, khách du lịch và các nhà đầu tư du lịch về thị trường khách Nhật.

Ngành du lịch nên chỉ đạo và khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp du lịch trên cả nước trong việc tổ chức hội thảo về du lịch mang tầm cỡ quốc tế hoặc khu vực, hỗ trợ về chính sách, thủ tục để có thể mở văn phòng đại diện tại Nhật Bản nhằm quảng bá hình ảnh du lịch Việt Nam, tham gia hội chợ, tổ chức các đoàn du lịch khảo sát…

Hiện nay, Việt Nam chưa có một kênh truyền hình riêng để quảng bá du lịch Việt Nam. Thiết nghĩ, đây là một trong những cách thức để quảng bá rất hữu hiệu. Do đó, đã đến lúc Tổng cục Du lịch nên tiến hành kết hợp với đài truyền hình Việt Nam mở một kênh riêng chuyên giới thiệu về du lịch Việt Nam bằng cả tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Nhật (nếu có thể). Và kênh truyền hình này phải được phủ sóng rộng khắp không những trong phạm vi quốc gia mà còn phủ sóng các nước bạn, nhất là những nước được coi là thị trường trọng điểm trong phát triển du lịch Việt Nam.

Tổng cục Du lịch và các cơ sở chuyên trách nên tiếp tục tổ chức các đợt hội thảo, hội nghị chuyên đề về thị trường khách Nhật để tìm hướng đi và giải pháp phù hợp để khai thác thị trường này.

Tăng cường mối quan hệ với giới báo chí và truyền thông Nhật Bản, tổ chức định kỳ các đợt khảo sát thực địa với khách mời quan trọng là giới báo chí và truyền thông Nhật.

Internet là một phương tiện truyền thông phổ biến tại Nhật. Do đó, nên sử dụng phương tiện này như là một trong những công cụ tiện ích nhất cho việc quảng bá hình ảnh du lịch nước nhà tại Nhật Bản.

Ngành du lịch nên đa dạng hóa nhằm làm sinh động và hấp dẫn hơn nữa hoạt động xúc tiến du lịch. Thời gian vừa qua, chúng ta đã làm được những việc như sau: Luận văn: Giải pháp chất lượng tour du lịch ở du khách Nhật Bản.

Du khách Nhật biết đến Việt Nam qua bộ phim “Việt Nam mến yêu” được phát trên đài truyền hình NHK (Nhật Bản). Đó là một bộ phim nói về con người và danh lam thắng cảnh Việt Nam và được kết nối lại thành một câu chuyện sống động và hấp dẫn.

Bên cạnh việc tham gia các hội chợ, hội thảo, triển lãm du lịch quốc tế được tổ chức tại Nhật Bản, cần chủ động tổ chức các đợt hội thảo về thị trường khách Nhật. chẳng hạn như thời gian qua, chúng ta đã tổ chức các cuộc hội thảo và festival sau:

Năm 2001

Ngày 21/12, chi hội PATA Việt Nam tổ chức hội thảo “Tiềm năng khai thác du lịch Nhật Bản vào Việt Nam” tại thành phố Hồ Chí Minh.

Năm 2002

  • Việt Nam tham gia hội chợ du lịch WTF, lễ hội Asean tại Nhật Bản góp phần quảng bá hình ảnh du lịch Việt Nam với thế giới.
  • Ngày 28/2, hiệp hội Châu Á – Thái Bình Dương PATA và chi hội PATA Việt Nam tổ chức hội thảo “Tập trung tiếp cận các thị trường trọng điểm của du lịch Việt Nam” nhằm cung cấp những thông tin và đặc điểm thị hiếu của khách du lịch từ các thị trường trọng điểm, trong đó có Nhật Bản.
  • Festival Huế thu hút đông đảo khách du lịch Nhật Bản.
  • Hãng hàng không Việt Nam kết hợp với hãng hàng không Nhật Bản (Japan Airlines) tăng 9 chuyến bay/tuần giữa Nhật Bản và Việt Nam, kết quả là lượng khách Nhật đến Việt Nam tăng đáng kể.
  • Đầu quý II, Việt Nam mở văn phòng xúc tiến du lịch tại Nhật Bản. Việc làm này góp phần hết sức tích cực trong việc quảng bá hình ảnh du lịch Việt Nam tại thị trường Nhật Bản.

Năm 2003:

Nhân kỷ niệm 30 năm thiết lập ngoại giao Việt Nam – Nhật Bản, một loạt các hội nghị, chương trình giao lưu giữa hai đất nước được tổ chức: Luận văn: Giải pháp chất lượng tour du lịch ở du khách Nhật Bản.

  • Tối 30/10: Chương trình biểu diễn ấn tượng The Savior 3.
  • Ngày 15/11: Hội giao lưu quốc tế văn hóa truyến thống Nhật Bản – Việt Nam được tổ chức tại Trung tâm triển lãm văn hóa nghệ thuật Việt Nam, số 2 Hoa Lư, Vân Hồ, Hà Nội.
  • Trong năm này, chính phủ Việt Nam cấp 2 tỷ đồng Việt Nam cho hoạt động quảng bá của ngành du lịch Việt Nam trên đài NHK của Nhật Bản.

Năm 2004:

  • Ngày 29/3: Tổng cục Du lịch Việt Nam ký kết hiệp định hợp tác du lịch với đòan đại biểu Liên đoàn doanh nghiệp vùng Kansai (Nhật Bản), trong đó có các vấn đề hợp tác cơ bản: nâng cấp trang web du lịch Việt Nam, xây dựng 1 trang web riêng bằng tiếng Nhật, bồi dưỡng hướng dẫn viên tiếng Nhật, hỗ trợ kinh phí trong quản lý và tăng cường trao đổi thông tin.
  • Tháng 8/2004, lễ hội du lịch Quảng Nam – Nhật Bản đã được tổ chức với sự hỗ trợ của tập đoàn “For your planing” của Nhật Bản. UBND tỉnh Quảng Nam và tập đoàn này đã thỏa thuận trong 10 năm tới sẽ tổ chức lễ hội du lịch mỗi năm một lần tại Hội An và Mỹ Sơn để giới thiệu di sản văn hóa thế giới trên địa bàn tỉnh nói riêng và đất nước, con người Việt Nam nói chung du khách Nhật Bản.
  • Ngày 19/11: Lễ hội giao lưu văn hóa Việt – Nhật tại thành phố Hồ Chí Minh, bao gồm chương trình tuần văn hóa Việt – Nhật và hội thảo chuyên đề “Thị trường du lịch Nhật Bản – Cơ hội và thách thức”.

Năm 2006:

Lễ hội giao lưu văn hoá kỷ niệm 30 năm quan hệ hữu nghị Việt – Nhật (Từ ngày 17 đến 29 tháng 8)

  • Ngày 17/8: Nghệ thuật ẩm thực Nhật Bản
  • Ngày 18/8: Giao lưu văn hoá: Nhạc hip-hop
  • Ngày 19/8: Giao lưu văn hoá: Nhạc pop – rock
  • Ngày 20/8: Giao lưu văn hoá: Trò chơi phong tục cổ truyền Việt-Nhật
  • Ngày 21/8: Giao lưu văn hoá: Trà đạo
  • Ngày 22/8: Giao lưu văn hoá: Biểu diễn nghệ thuật cổ truyền của Nhật Bản: judo, karatedo và aikido.
  • Từ 23/8 đến 27/8: Hoạt động của Bộ Ngoại giao, Đại sứ quán và Hiệp hội Thông thương Việt-Nhật
  • Ngày 28/8: Phát biểu của hiệu trưởng trường Đại học Keio “Quan hệ thông thương Việt-Nhật”
  • Ngày 29/8: Phát biểu của trưởng khoa tiếng Nhật trường Quốc tế Ngoại ngữ “Vui học tiếng Nhật”

Ngoài ra, năm 2006 đánh dấu một sự kiện trọng đại của đất nước ta. Đó là việc đăng cai tổ chức hội nghị cấp cao Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) từ ngày 12 đến ngày 19/11/2006. Đây là dịp quan trọng nhằm quảng bá hình ảnh đất nước Việt Nam đến bạn bè quốc tế trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị và văn hoá, trong đó có lĩnh vực du lịch. Cụ thể là tối ngày 17/11/2006, chương trình “Di sản văn hoá Việt Nam” đã được tổ chức long trọng. Chương trình đã đem đến cho các đại biểu APEC, các doanh nhân và các vị khách mời một cái nhìn khá đầy đủ và trọn vẹn về bảy di sản thiên nhiên và văn hoá của Việt Nam vinh dự được tổ chức UNESCO công nhận.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

3.1.2. Về đầu tư phát triển du lịch Luận văn: Giải pháp chất lượng tour du lịch ở du khách Nhật Bản.

Hiện nay, cơ sở vật chất kỹ thuật chuyên ngành du lịch của Việt Nam nhìn chung chưa đáp ứng nhu cầu và đòi hỏi về số lượng cũng như chất lượng của dòng khách Nhật Bản khó tính. Đặc biệt đối với các tuyến điểm du lịch xuất phát từ Hà Nội được khách Nhật ưa thích. Xuất phát từ hạn chế này, Tổng cục Du lịch Việt Nam cần tạo ra những chuyển biến tích cực trong công tác đầu tư phát triển du lịch với những chính sách ưu đãi, hướng đầu tư vào những điểm còn hạn chế của du lịch Việt Nam và hỗ trợ các hướng phát triển ưu tiên trong việc xây dựng các khu, tuyến điểm du lịch trong việc tôn tạo cảnh quan, môi trường, các di tích lịch sử, văn hóa… vốn là những điểm đến được khách Nhật quan tâm. Tránh đầu tư một các tràn lan mà cần nghiên cứu khả thi và có quy hoạch khoa học nhằm đầu tư mang lại hiệu quả cho ngành.

Để thực hiện tốt mục tiêu trên, Tổng cục Du lịch Việt Nam cần ưu tiên cho những công việc sau:

  • Đánh giá thực trạng công tác đầu tư du lịch, đặc biệt đối với việc đầu tư phát triển các khu du lịch, đầu tư phát triển du lịch sinh thái, du lịch văn hóa vốn được khách du lịch Nhật Bản quan tâm, xúc tiến quảng bá, xây dựng cơ chế và chính sách đầu tư phù hợp.
  • Chú trọng ưu tiên xúc tiến đầu tư phát triển các khu du lịch tổng hợp có ý nghĩa quốc gia và quốc tế, các khu, điểm du lịch sinh thái và du lịch văn hóa.

Phấn đấu đạt được mục tiêu của chiến lược phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010 là hình thành và đưa vào sử dụng 16 khu du lịch chuyên đề với những quy mô và mức độ đầu tư khác nhau ở các địa bàn có tiềm năng du lịch, phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam.

Các khu du lịch chuyên đề:

  1. Khu du lịch nghỉ dưỡng núi Sapa (Lào Cai)
  2. Khu du lịch sinh thái hồ Ba Bể (Bắc Kạn)
  3. Khu du lịch văn hóa – lịch sử Cổ Loa (Hà Nội)
  4. Khu du lịch văn hóa, môi trường Hương Sơn (Hà Tây)
  5. Khu du lịch văn hóa – lịch sử – sinh thái Tam Cốc – Bích Động (Ninh Bình)
  6. Khu du lịch văn hóa – lịch sử Kim Liên – Nam Đàn (Nghệ An) Khu du lịch sinh thái hang động Phong Nha – Kẻ Bàng (Quảng Bình). Luận văn: Giải pháp chất lượng tour du lịch ở du khách Nhật Bản.
  7. Khu du lịch sử cách mạng đoạn đường mòn Hồ Chí Minh (Quảng Trị)
  8. Khu du lịch biển Thuận An (Thừa Thiên – Huế)
  9. Khu du lịch văn hóa Hội An gắn với di tích Mỹ Sơn (Quảng Nam)
  10. Khu du lịch biển Phan Thiết, Mũi Né (Bình Thuận)
  11. Khu du lịch sinh thái rừng ngập mặn, rừng sác Cần Giờ (thành phố Hồ Chí Minh)
  12. Khu du lịch biển Long Hải – Phước Hải (Bà Rịa – Vũng Tàu)
  13. Khu du lịch sinh thái miệt vườn (Tiền Giang)
  14. Khu du lịch lịch sử – sinh thái Côn Đảo (Bà Rịa – Vũng Tàu)
  15. Khu du lịch biển đảo Phú Quốc (Kiên Giang)

Hiện nay, do việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực du lịch ở nước ta chưa đạt hiệu quả nên chủ yếu vẫn phải dựa vào nguồn vốn trong nước. Do đó, không chỉ có Tổng cục Du lịch nỗ lực xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật chuyên ngành du lịch, mà các địa phương cũng cần cố gắng vận dụng nội lực, tăng đầu tư ngân sách cho ngành du lịch, kết hợp với các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư nhằm phục vụ cho phát triển du lịch. Bên cạnh đó, vui chơi giải trí là một dịch vụ đang bị bỏ ngỏ hiện nay, du lịch quốc tế nói chung và Nhật Bản nói riêng khi đến thăm đất nước Việt Nam đều không hài lòng về dịch vụ này. Do đó, cần xem xét ưu tiên các dự án đầu tư xây dựng các cơ sở vui chơi giải trí tại các trung tâm du lịch thu hút nhiều du khách nói chung và khách Nhật Bản nói riêng như Hà Nội, Hạ Long, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Lâm Đồng, Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí Minh nhằm tăng tính hấp dẫn đối với du khách và kéo dài ngày lưu trú của khách tại Việt Nam.

Tổng cục Du lịch cần chỉnh trang, nâng cấp các thành phố du lịch như Hạ Long, Huế, Nha Trang, Vũng Tàu, Đà Lạt, cũng như các điểm du lịch rất hấp dẫn đối với khách Nhật như Sapa, Hội An, Mỹ Sơn… Ngoài ra, cần phối hợp với các bộ, ngành chức năng và địa phương liên quan trong việc đầu tư, bảo vệ và tôn tạo các di tích, cảnh quan môi trường, khôi phục và phát triển các lễ hội, hoạt động văn hóa dân gian, các làng nghề thủ công vốn đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc cuốn hút khách Nhật Bản đến thăm.

Đóng góp vào phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ cho ngành du lịch, vừa qua, UBND thành phố Hà Nội vừa giao cho Sở Du lịch Hà Nội thực hiện đề án thí điểm lắp đặt trạm thông tin du lịch tự động tại Hà Nội. Theo đó, đề án được thực hiện theo hình thức xã hội hóa đầu tư với tổng số 200 kiốt du lịch được lặp đặt trên địa bàn Hà Nội trong thời gian bảy năm. Đề án được chia làm hai giai đọa. Giai đoạn 1, lắp đặt 70 kiốt để đưa vào sử dụng trước ngày 15/11/2006. Giai đoạn 2, 130 kiốt sẽ được đưa vào hoạt động sau giai đoạn thí điểm phục vụ APEC 2006. Trạm thông tin tự động là nơi tra cứu thông tin về du lịch kết hợp giữa công nghệ web và màn hình cảm ứng. Các nội dung được giới thiệu là về hệ thống dịch vụ du lịch và danh lam thắng cảnh của Hà Nội. Dự trù kinh phí để lắp đặt mỗi trạm là 10.000 đô la Mỹ. Hiện nay, ở các thành phố lớn ở nước ta, du khách nước ngoài thường rất lúng túng trong việc tìm kiếm thông tin liên quan đến du lịch. Do đó, đề án thí điểm lắp đặt trạm thông tin du lịch tự động tại Hà Nội sẽ đóng góp vai trò quan trọng trong việc xã hội hóa du lịch cũng như làm cho việc tiếp nhận thông tin của du khách quốc tế được thuận lợi.

3.1.3. Về nguồn nhân lực phục vụ dòng khách Nhật Bản Luận văn: Giải pháp chất lượng tour du lịch ở du khách Nhật Bản.

Nhân lực luôn đóng vai trò then chốt trong thành công. Do đó, cần xây dựng được đội ngũ cán bộ, nhân viên du lịch có trình độ tiếng Nhật và kỹ năng nghiệp vụ, có cơ cấu hợp lý, đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành trong tiến trình hội nhập du lịch khu vực và thế giới. Đặc biệt, trong tập quán giao tiếp của người Nhật, họ ưa thích sử dụng tiếng mẹ đẻ của mình, chứ không phải là tiếng Anh. Hơn nữa, đối với họ, ẩn sau ngôn ngữ là cả một nền văn hóa và truyền thống lâu đời, nên họ yêu cầu đối với người phục vụ (mà ở đây tập trung chủ yếu là hướng dẫn viên du lịch), không những phải giỏi tiếng Nhật mà còn phải có một kiến thức căn bản về văn hóa, truyền thống, tập quán và giao tiếp của người Nhật.

Hiện nay, tiếng Nhật được coi là một ngoại ngữ hiếm. Chính vì thế nên số hướng dẫn viên tiếng Nhật chỉ chiếm 5,3% trong số 5.000 hướng dẫn viên được cấp thẻ hướng dẫn. Đây là một khó khăn rất lớn mà toàn ngành hiện đang phải đương đầu. Sau đây là một vài giải pháp để giải quyết vấn đề này: – Tổng cục Du lịch nên tập trung rà soát toàn bộ nguồn nhân lực phục vụ cho du khách Nhật Bản, vốn là một thị trường trọng điểm đang và sẽ phát triển mạnh, nhằm xác định được nhu cầu nhân lực trước mắt và lâu dài, từ đó có chiến lược phát triển nhân lực phù hợp để phục vụ thị trường du khách khó tính này.

Cần có chính sách phù hợp và hấp dẫn nhằm thu hút các nguồn lực trong xã hội đã thông thạo tiếng Nhật, đặc biệt tập trung vào sinh viên chuyên ngành tiếng Nhật. Từ đó, đào tạo và bồi dưỡng họ bằng các khóa học về chuyên ngành du lịch để họ có những kiến thức phục vụ khách du lịch, trở thành hướng dẫn viên chuyên nghiệp vừa sử dụng thành thạo tiếng Nhật, lại vừa có kỹ năng, nghiệp vụ và kiến thức chuyên ngành du lịch. Giảng viên là những chuyên gia của Hiệp hội Du lịch Nhật Bản hoặc những người đã từng có kinh nghiệp công tác trong ngành du lịch.

Hình thành hệ thống các cơ sở đào tạo du lịch phân bố hợp lý trong phạm vi cả nước ở các cấp dạy nghề, trung cấp, cao đẳng nghề, đại học và trên đại học về du lịch. Song song với việc đào tạo nghiệp vụ là dạy tiếng Nhật và tìm hiểu về văn hóa và truyền thống của xứ sở mặt trời mọc. Chính sách này đòi hỏi thời gian lâu dài nhưng có ưu điểm là sẽ đào tạo tiếng Nhật một cách bài bản và chuyên ngành du lịch. Luận văn: Giải pháp chất lượng tour du lịch ở du khách Nhật Bản.

Nên có sự liên kết giữa các cơ sở đào tạo du lịch với các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành chuyên về mảng thị trường Nhật Bản. Các Sở du lịch phải là đầu mối để duy trì sự liên kết này. Khi đã có sự liên kết với nhau, sinh viên sẽ có điều kiện thực tập và có thể làm việc thực sự tại các doanh nghiệp này nhằm gắn lý thuyết với thực tiễn kinh doanh. Hơn nữa, việc liên kết này sẽ mang lại cho sinh viên nhiều kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn bổ ích ngay trong những năm tháng đang ngồi trên ghế nhà trường. Từ đó, sau khi sinh viên tốt nghiệp, họ có nhiều cơ hội bắt tay ngay vào làm việc mà không còn nhiều bỡ ngỡ và lạ lẫm. Thậm chí, việc liên kết giữa các doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo sẽ rất có lợi cho giáo viên trong việc giảng dạy. Với sự đồng ý của doanh nghiệp và cơ sở giáo dục, giáo viên có thể được cử đến làm việc thực sự tại doanh nghiệp trong thời gian khoảng 5-6 tháng hoặc lâu hơn. Từ đó họ có điều kiện thâm nhập thực tế nhằm rút ngắn khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn. Từ đó, bài giảng của họ sẽ lý thú và hấp dẫn sinh viên hơn.

Nếu điều kiện chưa cho phép để tạo nên mối liên kết đó, nhà trường nên khuyến khích sinh viên tự mình vận động nhằm tìm kiếm doanh nghiệp lữ hành, khách sạn chuyên kinh doanh thị trường Nhật Bản để thực tập nhằm tăng kiến thức thực tế, rèn luyện tính năng động cho bản thân.

3.2. Giải pháp đối với các hạn chế mang tính chủ quan      

Đây cũng chính là giải pháp đối với các doanh nghiệp lữ hành chuyên kinh doanh thị trường khách Nhật Bản

3.2.1. Giải pháp nâng cao chất lượng thiết kế và xây dựng chương trình du lịch của doanh nghiệp 

3.2.1.1. Nghiên cứu cầu du lịch của thị trường khách Nhật Bản 

Hầu hết các công ty lữ hành hiện nay đang bỏ ngỏ phần đầu tiên và là phần quan trọng nhất trong chiến lược kinh doanh của mỗi công ty, đó là nghiên cứu cầu du lịch của thị trường khách Nhật. Đây là một thiếu sót vì chính việc nghiên cứu nhu cầu du lịch sẽ giúp doanh nghiệp định hướng được chính sách và chiến lược kinh doanh của mình sao cho hiệu quả nhất.

Việc nghiên cứu cầu du lịch của thị trường khách Nhật Bản không phải là một việc dễ dàng, đặc biệt đối với những doanh nghiệp nhỏ. Do việc nghiên cứu này đòi hỏi nhiều thời gian, tài chính và sức lực. Đây chính là những đòi hỏi rất khó khăn của công việc này mà không phải doanh nghiệp nào cũng đủ điều kiện để tiến hành. Chính vì lẽ đó nên cần cân nhắc kỹ trước khi tiến hành nghiên cứu thị trường để không rơi vào tình trạng nghiên cứu dang dở và không sâu sắc.

Cầu du lịch là phạm trù kinh tế biểu hiện nhu cầu du lịch về hàng hóa vật chất và dịch vụ du lịch được đảm bảo bằng khối lượng tiền tệ với giá cả nhất định. Nói cách khác, cầu du lịch là nhu cầu du lịch có khả năng thanh toán của con người về dịch vụ, hàng hóa, là một phần của nhu cầu xã hội. Cầu du lịch được cấu thành bởi hai nhóm: Cầu về dịch vụ du lịch và cầu về hàng hóa vật chất. Luận văn: Giải pháp chất lượng tour du lịch ở du khách Nhật Bản.

Cầu về dịch vụ du lịch bao gồm cầu về các loại dịch vụ cơ bản, dịch vụ đặc trưng và dịch vụ bổ sung.

Cầu về dịch vụ cơ bản: Đối với khách Nhật, thông thường người ta luôn đòi hỏi được cung cấp dịch vụ cơ bản (lưu trú, ăn uống và vận chuyển) với chất lượng rất cao. Thể hiện ở việc khách Nhật thường lưu trú ở khách sạn 4 hay 5 sao; ít khi bay bằng hãng hàng không giá rẻ… Việc ăn uống trong khi đi du lịch đối với khách Nhật không chỉ đáp ứng một trong những nhu cầu tự nhiên của con người mà đó còn là cả một sự khám phá và thưởng thức nền ẩm thực của người dân bản địa.

Cầu về dịch vụ đặc trưng: Đó là cầu về dịch vụ và nhu cầu cảm thụ, thưởng thức mà vì nó con người chấp nhận chuyến đi du lịch. Các tổ chức kinh doanh du lịch cần cố gắng khai thác và sử dụng tối ưu tài nguyên du lịch nhằm đáp ứng ngày cầng cao cầu về du lịch đặc trưng của du khách Nhật Bản là (1) mong muốn hiểu biết về nền văn hóa truyền thống của dân tộc ta nên luôn đề cao hướng dẫn viên có một nền tảng kiến thức sâu rộng về văn hóa, lịch sử dân tộc; (2) mong muốn đến với thiên nhiên, hòa mình vào thiên nhiên nên đặc biệt ưa thích các tour du lịch sinh thái; (3) say mê mua sắm các mặt hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống: tơ lụa, đồ gốm, tranh thuê, mây tre đan, ngọc trai, đồ trang trí bằng gỗ, sơn mài, đồ khảm trai, đặc sản của từng vùng miền… – Cầu về dịch vụ bổ sung: Khách Nhật luôn phát sinh những đòi hỏi rất đa dạng trong chuyến đi, bao gồm các dịch vụ thông tin, liên lạc, dịch vụ làm thị thực, đặt chỗ, mua vé máy bay, đặt phòng khách sạn, nhà hàng, giặt là, dịch vụ chăm sóc sức khỏe (massage, xông hơi…), vui chơi giải trí, thể thao, sửa chữa đồ đạc, hành lý…

Cầu về hàng hóa gồm hai nhóm cơ bản sau:

Hàng lưu niệm: Khách Nhật luôn luôn có mối quan tâm lớn đến hàng lưu niệm trong mỗi chuyến đi của họ. Mặt hàng ưa thích là đồ thủ công mỹ nghệ truyền thống. Do đó, đáp ứng được cầu về hàng lưu niệm của khách Nhật sẽ đóng góp vào việc thành công của chuyến đi.

Hàng có giá trị kinh tế đối với du khách: Trong quá trình đi du lịch, khách Nhật cũng thường kết hợp mua các hàng hóa có giá trị cao, đáp ứng nhu cầu mua sắm của họ.

3.2.1.2. Chất lượng thiết kế chương trình du lịch 

Để thiết kế một chương trình du lịch phù hợp với thị trường khách Nhật, cần nắm rõ một số sở thích của khách Nhật khi đi du lịch. Chương trình du lịch có rất nhiều yếu tố tạo thành, để thiết kế được chương trình được khách Nhật ưa thích, cần nhấn mạnh vào các điểm sau: Luận văn: Giải pháp chất lượng tour du lịch ở du khách Nhật Bản.

  • Nâng cao tính thích hợp của chương trình du lịch đối với khách Nhật

Chẳng hạn đối với phụ nữ độc thân tuổi từ 28-35, họ yêu thích phong cảnh hoài cổ và lãng mạn. Do đó, phong cảnh ở Đà Lạt chắc chắn sẽ làm họ nhớ mãi. Hay du lịch mạo hiểm không phù hợp với phần lớn khách Nhật mà chỉ thích hợp với một bộ phận khách nam trẻ tuổi, do đó không nên xây dựng những tour du lịch mang tính mạo hiểm cao.

Các loại hình tham quan du lịch được khách Nhật Bản ưa thích đó là các tham quan di tích lịch sử – văn hóa; tham quan danh thắng tự nhiên; tham quan làng quê, làng nghề truyền thống; tham quan xanh, chương trình tập trung vào chủ đề văn hóa và lịch sử truyền thống của dân tộc, du lịch sinh thái và shopping (mua sắm).

  • Nâng cao tính hấp dẫn và độc đáo của chương trình du lịch

Nhìn chung, các chương trình du lịch của chúng ta hiện nay chưa mang tính độc đáo riêng của mỗi doanh nghiệp, tất cả các doanh nghiệp đều có các chương trình du lịch na ná như nhau nên không tạo được ấn tượng riêng. Việc khảo sát để ra mắt các chương trình du lịch mới lạ và phù hợp với du khách Nhật Bản hầu như chưa được tiến hành. Đó cũng là một trong những lý do làm cho tỷ lệ khách Nhật quay lại thăm Việt Nam lần thứ hai và thứ ba còn rất thấp. Vì chắc chắn du khách sẽ không được thưởng thức tour du lịch nào mới lạ ngoài tour du lịch đã được thưởng thức lần thứ nhất. Do đó, để tạo nét riêng, các doanh nghiệp nhất thiết phải tiến hành khảo sát thực trạng tài nguyên và cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch nhằm đưa ra những điểm đến mới lạ, đặc biệt phải có “điểm nhấn”, tức là với mỗi loại hình, cần xây dựng để thỏa mãn nhu cầu và mục đích của chuyến đi, gây nên sự tò mò và hứng thú cho khách. Thậm chí, có thể xây dựng nên sự mới mẻ ngay trong những tour du lịch cũ bằng cách hướng dẫn viên cần khám phá, tìm hiểu và cập nhật thêm những tin tức mới nhằm làm sinh động hơn bài giới thiệu của mình, thay đổi, hoặc đảo ngược các điểm tham quan một cách hợp lý… Sự hấp dẫn còn thể hiện ở lịch trình khoa học, không phức tạp, không gây sự khó hình dung đối với du khách khi đọc quảng cáo. Bên cạnh đó, việc xây dựng các phương án lưu trú, vận chuyển và ăn uống thích hợp cũng góp phần quan trọng trong việc tạo dựng sự thu hút của tour du lịch đối với du khách.

  • Nâng cao mức hợp lý của chương trình du lịch

Để làm được việc này, các doanh nghiệp cần có kiến thức và thông tin cơ bản về thể trạng ở từng lứa tuổi của người Nhật hiện nay. Mức độ hợp lý của chương trình du lịch thể hiện ở thời gian, tốc độ di chuyển, sự điều độ, sự cân đối, sự đảm bảo sức khỏe của du khách… Những yếu tố đó liên quan trực tiếp đến thể trạng, sức khỏe của khách. Do đó, cần nắm vững thông tin nhằm không biến chuyến đi rơi vào trạng thái hoặc vắt kiệt sức lực của khách, hoặc quá rời rạc vì có ít hoạt động.

  • Nâng cao mức độ đa dạng và phong phú của chương trình du lịch

Khách Nhật đến Việt Nam rất yêu thích tìm hiểu và khám phá văn hóa, lịch sử, phong tục tập quán lâu đời, thích mua sắm hàng hóa, thích thưởng thức các món ăn truyền thống của dân tộc, thích hòa mình vào thiên nhiên… Do vậy, các hãng lữ hành có thể làm đa dạng và phong phú chương trình du lịch bằng cách thiết kế những chương trình du lịch sinh thái, văn hóa, mua sắm… Chẳng hạn một số chương trình khách Nhật rất thích là đi bộ tìm hiểu nét đẹp truyền thống của phố cổ Hội An, kết hợp với mua sắm hàng lưu niệm dọc các con phố, thưởng thức món ăn truyền thống ở đó hay đi thăm thánh địa Mỹ Sơn… Hoặc có thể thiết kế chương trình du lịch dạy nấu ăn cho du khách là phụ nữ lứa tuổi từ 30-50 tuổi. Với chương trình du lịch này, họ vừa được học nấu những món ăn truyền thống của người Việt, lại được tận mắt chứng kiến và hòa mình vào đời sống thường nhật của người Việt khi được đưa ra chợ tự tay chọn lấy thực phẩm về chế biến tại lớp học.

3.2.2. Nâng cao chất lượng dịch vụ trong quá trình thực hiện tour du lịch Luận văn: Giải pháp chất lượng tour du lịch ở du khách Nhật Bản.

Bên cạnh việc nâng cao chất lượng thiết kế và xây dựng chương trình du lịch, các doanh nghiệp lữ hành nên có những phương pháp nhằm hoàn thiện chất lượng dịch vụ trong quá trình thực hiện tour du lịch. Sau đây là một vài khía cạnh quan trọng cần lưu ý:

  • Làm cho du khách luôn luôn thuận tiện trong việc đăng ký mua chương trình du lịch của doanh nghiệp.

Hiện nay, phương tiện thuận tiện nhất đối với du khách trong việc đăng ký mua các chương trình du lịch là mạng internet. Đặc biệt đối với một đất nước phát triển như Nhật Bản, khi mà từ trẻ em đến người già hầu như không ai còn xa lạ với mạng internet thì việc tăng cường hệ thống kinh doanh trên mạng là một phương pháp khôn ngoan và hiệu quả. Hiện nay ở Việt Nam, hầu hết các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành thị trường Nhật Bản đều có trang web của riêng mình. Tuy nhiên, việc vận dụng trang web trong việc đặt chỗ mua các chương trình du lịch còn rất hạn chế, hầu như mới chỉ có các doanh nghiệp lớn làm được điều này như Công ty Liên doanh Du lịch Apex, Exotissimo… Các công ty chưa vận dụng hết những lợi thế của trang web công ty mình, các trang web chỉ mới dừng lại ở việc cung cấp thông tin về các chương trình du lịch. Yêu cầu quan trọng khi xây dung trang web của côn gty du lịch là cung cấp thông tin đầy đủ, đưa ra nhiều phương án, nhiều chương trình để tạo điều kiện thuận lợi cho khách khi lựa chọn hình thức mua các chương trình du lịch kiểu này. Bởi vì việc đăng ký đặt chỗ sẽ là cánh cửa đầu tiên mở ra cho khách du lịch tiếp cận với doanh nghiệp.

  • Tổ chức tốt hoạt động đón tiếp khách

Đây là ấn tượng đầu tiên đối của khách đối với dịch vụ của công ty. Hướng dẫn viên thường là người đại diện cho công ty đón tiếp khách nên cần nắm rõ nghi thức chào hỏi của người Nhật: Đến trước giờ hạ cánh 30 phút; ăn mặc chỉnh tề, quần áo không xộc xệch, khi gặp khách, cần chào hỏi theo nghi thức trang trọng, gập lưng thấp và cúi đầu chào khách.

  • Thường xuyên đôn đốc, kiểm soát và theo dõi quá trình cung ứng dịch vụ cho khách du lịch.

Đối với người Nhật là du khách khó tính và cẩn thận, họ luôn đòi hỏi mọi dịch vụ thật chính xác từ những chi tiết nhỏ nhất mà dường như đôi khi chúng ta không để ý đến. Đối với họ, một chi tiết khác thường sẽ không làm họ hài lòng. Tuy nhiên, trong việc cung ứng dịch vụ, khả năng xảy ra sai sót là luôn tồn tại, do đó cần thường xuyên theo dõi bằng cách chủ doanh nghiệp đi kiểm tra đột xuất, luôn cập nhật thông tin từ những người phụ trách các mảng công việc được giao…

  • Tăng cường khả năng sửa chữa và khắc phục nếu sai sót xảy ra và khả năng xử lý tình huống bất ngờ xảy ra.

Doanh nghiệp cần luôn luôn ở trong tư thế sẵn sàng khắc phục sai sót vì khả năng đó luôn có xác suất xảy ra. Những sai sót hoặc tình huống bất ngờ có thể xảy ra như phương tiện vận chuyển hỏng hóc trên đường, hay không cung cấp đúng chủng loại như yêu cầu, phòng ở của khách tự nhiên bị hủy hay số sao khách sạn không như đã xác nhận, đồ ăn không hợp khẩu vị, khách bị dị ứng, tai nạn, ốm đau đột xuất, bão lụt, lũ quét… Để có thể khắc phục ngay sai sót và tình huống bất ngờ, doanh nghiệp phải luôn tính đến những phương án dự phòng phù hợp và thuận tiện nhất, tránh để khách hoang mang, chờ đợi gây ức chế và mệt mỏi. Và điều quan trọng không kém là doanh nghiệp cần có thái độ tích cực và chân thành khi sửa chữa sai sót và phải rút kinh nghiệm từ những sai sót đó để không vấp ngã vào lần sau. Luận văn: Giải pháp chất lượng tour du lịch ở du khách Nhật Bản.

  • Tăng cường khả năng đáp ứng nhu cầu phát sinh của khách

Nhu cầu phát sinh ở đây là dịch vụ thông tin, giặt là, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, vui chơi giải trí… Doanh nghiệp cần đưa ra những thông tin chính xác và giúp đỡ khách trong điều kiện có thể để đáp ứng nhu cầu của khách.

  • Thanh toán thuận tiện

Ngày nay, hầu hết người Nhật đều sử dụng thẻ tín dụng khi đi du lịch vì những tính năng và tác dụng rất tiện dụng của chúng. Do đó, doanh nghiệp cần chấp nhận các loại thẻ tín dụng và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho khách trong thanh toán tour.

  • Thực hiện tốt các điều khỏan được cam kết trong chương trình du lịch

Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với người Nhật. Một sai khác nhỏ đối với những gì doanh nghiệp đã cam kết thực hiện sẽ không được người Nhật chấp nhận trừ khi có lý do thực sự chính đáng. Người Nhật coi trọng và đòi hỏi phải được doanh nghiệp thực hiện những gì đã cam kết trên “giấy trắng, mực đen” và luôn giữ nguyên tắc đó. Chính vì thế, để giữ chữ tín, cách tốt nhất đối với doanh nghiệp là thực hiện đúng tất cả những gì đã được cam kết ngay từ đầu.

  • Sẵn sàng đón nhận tất cả phàn nàn và kiến nghị của khách

Sự phàn nàn và kiến nghị của khách đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng của dịch vụ công ty. Do đó, cần bày tỏ lòng biết ơn và sự kính trọng đối với khách khi họ bày tỏ sự phàn nàn và kiến nghị. Sau khi tiếp nhận, cần nhanh chóng tìm ra cách giải quyết thỏa đáng nhất.

  • Phát triển hệ thống thông tin phản hồi từ du khách đến công ty. Hệ thống này giúp công ty xác định được mong muốn của khách, những gì khách kỳ vọng để dịch vụ ngày càng tốt hơn. Hình thức phổ biến nhất là dùng ankét (bảng hỏi sau khi tour kết thúc) để tìm hiểu về sự thỏa mãn của du khách đối với dịch vụ của công ty.
  • Tổ chức đưa tiễn khách chu đáo khi kết thúc chương trình.

Sau khi chương trình kết thúc, hướng dẫn viên thay mặt công ty đưa  tiễn khách. Nên có một chút quà lưu niệm nhỏ tặng khách để bày tỏ lòng biết ơn với khách vì đã sử dụng dịch vụ của công ty. Hơn nữa, món quà lưu niệm đó sẽ làm khách nhớ đến công ty sau khi đã rời khỏi Việt Nam.

  • Cần giữ liên lạc với khách sau khi đã về nước.

Cách tốt nhất để giữ liên lạc với khách là thường xuyên gửi email tới khách để cảm ơn khách đã sử dụng dịch vụ của công ty và nhằm khơi gợi nhu cầu quay lại thăm Việt Nam lần tiếp theo. Luận văn: Giải pháp chất lượng tour du lịch ở du khách Nhật Bản.

3.2.3. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệp lữ hành 

  • Cán bộ quản lý và điều hành của doanh nghiệp lữ hành

Đây là bộ não chỉ huy mọi hoạt động của một doanh nghiệp. Do đó, để lãnh đạo hiệu quả, cần rèn luyện và nâng cao các kỹ năng cơ bản sau:

  1. Kỹ năng lập kế hoạch
  2. Kỹ năng tiếp nhận, truyền đạt và xử lý thông tin
  3. Kỹ năng giải quyết các tình huống
  4. Kỹ năng làm việc theo nhóm
  5. Kỹ năng tập hợp, động viên nhân viên
  6. Kỹ năng ra quyết định
  7. Kỹ năng kiểm tra và giám sát các hoạt động
  8. Kỹ năng sử dụng ngoại ngữ (ưu tiên tiếng Nhật)
  • Nhân viên của doanh nghiệp lữ hành

Chất lượng của dịch vụ phụ thuộc nhiều vào đội ngũ nhân viên của doanh nghiệp. Để nâng cao chất lượng của một tour du lịch, tất yếu doanh nghiệp và tự bản thân mỗi nhân viên phải nâng cao chất lượng trong các lĩnh vực chuyên trách.

Sau đây là một số giải pháp cơ bản có thể thực hiện trên thực tế ở các công ty lữ hành hiện nay:

Doanh nghiệp cần kết hợp với các tổ chức đào tạo các khóa học ngắn hạn cho nhân viên công ty nhằm bồi dưỡng kiến thức chuyên môn và tiếng Nhật nhằm phục vụ cho công việc.

Công ty nên có một bộ phận chuyên về quan hệ khách hàng (Guest Relations), bộ phận này sẽ có trách nhiệm trực tiếp giải quyết mọi thắc mắc, khiếu kiện hay khi có vấn đề xảy ra trong quá trình tour được thực hiện. Việc trao đổi trực tiếp giữa bộ phận Quan hệ Khách hàng và khách sẽ tạo hiệu quả lớn. Nhân viên của bộ phận này phải là những người có kiến thức chuyên môn vững vàng và giỏi tiếng Nhật. Luận văn: Giải pháp chất lượng tour du lịch ở du khách Nhật Bản.

Cần tuyển dụng người phù hợp với từng vị trí công việc. Ưu tiên người giỏi tiếng Nhật.

  • Nâng cao kỹ năng dự đoán nhu cầu của khách Nhật
  • Nâng cao khả năng thuyết phục khách hàng mua tour du lịch.
  • Tìm hiểu và thực hiện các nguyên tắc giao tiếp với khách Nhật
  • Luôn chu đáo và nhiệt tình với khách hàng
  • Luôn lắng nghe và cảm thông với khách hàng.

Luôn cố gắng hết mình để thực hiện những gì đã cam kết với khách hàng, tránh việc hứa hẹn rất nhiều để làm đẹp lòng khách giây phút ban đầu và sau đó thì không thực hiện được những gì đã hứa. Đây là điều tối kỵ đối với khách Nhật vì đó chính là sự không tôn trọng khách hàng và cũng là không tôn trọng chính bản thân mình.

  • Tổ chức khảo sát thực tế để nhân viên (đặc biệt là bộ phận điều hành tour) có kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn trong việc điều hành.
  • Cần sát sao theo dõi quá trình tour du lịch đang thực hiện để hạn chế những sai sót có thể xảy ra.
  • Có chính sách khuyến khích tinh thần trách nhiệm của nhân viên, quan tâm đến nhu cầu của từng nhân viên trong công ty.
  • Có quy định về trang phục cho nhân viên.

Hướng dẫn viên

Hướng dẫn viên luôn đóng vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện tour du lịch. Đó là người đại diện cho doanh nghiệp và rộng hơn nữa, là “sứ giả” của đất nước Việt Nam để giới thiệu những nét đẹp của đất nước và con người Việt Nam.

Nhìn chung hiện nay, đội ngũ hướng dẫn viên tiếng Nhật của các công ty lữ hành vừa thiếu lại vừa yếu, do tiếng Nhật là một ngoại ngữ hiếm, đòi hỏi sự kiên trì và nhẫn nại rất lớn ở người học. Đặc biệt vào thời điểm đông khách, các công ty lữ hành phải điều động đến lực lượng hướng dẫn viên là cộng tác viên của công ty. Lực lượng cộng tác viên này hầu như chưa qua trường lớp đào tạo về kiến thức chuyên ngành du lịch, hầu hết họ đều tốt nghiệp khoa tiếng Nhật của một số trường đại học và họ làm công việc hướng dẫn chỉ dựa hoàn toàn vào kinh nghiệm và học hỏi những người đi trước. Cho nên, công việc hướng dẫn của đội ngũ cộng tác viên hầu hết chỉ dừng lại ở việc cung cấp những thông tin cơ bản nhất, không thể giới thiệu và trình bày với khách các kiến thức về văn hóa, lịch sử đất nước một cách sâu sắc và bài bản. Do đó, việc cộng tác viên thực hiện tour du lịch có chất lượng thực sự tốt như doanh nghiệp mong muốn không phải bao giờ cũng đạt được.

Giải pháp cho vấn đề này là các doanh nghiệp lữ hành kinh doanh thị trường Nhật Bản có thể tư vấn cho các cơ sở đào tạo du lịch về nội dung giảng dạy, về kiến thức phục vụ du lịch trong mảng thị trường khách Nhật sao cho phù hợp với thực tế kinh doanh. Đồng thời, các công ty lữ hành khách Nhật đưa ra con số dự báo số lượng hướng dẫn viên còn thiếu để định hướng cho các cơ sở đào tạo. Sinh viên của các cơ sở đào tạo có thể đến thực tập tại các công ty lữ hành để làm quen và cọ xát với thực tế; các sinh viên có thể cùng đi thực địa để có thêm cái nhìn sâu sát hơn. Các công ty lữ hành nên có chính sách thu hút các sinh viên khoa tiếng Nhật của các trường đại học về làm việc cho công ty mình, đào tạo họ bằng các khóa học trung hạn và ngắn hạn đào tạo về kiến thức chuyên môn. Đồng thời, nhất thiết phải có mức đãi ngộ tương xứng với năng lực và trình độ.

Để nâng cao chất lượng của hướng dẫn viên, doanh nghiệp cần đào tạo và nâng cao các khía cạnh sau cho hướng dẫn viên:

  • Kiến thức chuyên môn và xã hội
  • Nghiệp vụ hướng dẫn
  • Khả năng sử dụng tiếng Nhật
  • Khả năng nhận biết tâm lý khách
  • Hiểu và áp dụng tốt văn hóa giao tiếp với khách Nhật
  • Sự nhiệt tình, tận tâm phục vụ khách
  • Khả năng nhận biết tâm lý khách Nhật
  • Sức khỏe
  • Trang phục và hình dáng

3.2.4. Lựa chọn và xây dựng mối quan hệ thân thiết với các nhà cung cấp dịch vụ 

Các nhà cung cấp dịch vụ về khách sạn, nhà hàng, phương tiện vận chuyển và các dịch vụ bổ sung khác đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình thực hiện tour. Do đó, các hãng lữ hành cần xây dựng mối quan hệ tốt với các nhà cung cấp. Bản thân các công ty lữ hành không thể nâng cao chất lượng dịch vụ của các nhà cung cấp mà chỉ có tác động phần nào đến việc cải tiến chất lượng của nhà cung cấp. Do đó, công ty lữ hành cần xem xét nhằm lựa chọn những nhà cung cấp có chất lượng dịch vụ đáp ứng yêu cầu của tour du lịch. Luận văn: Giải pháp chất lượng tour du lịch ở du khách Nhật Bản.

Để góp phần nâng cao chất lượng của các nhà cung cấp dịch vụ, các hãng lữ hành nên:

  • Thường xuyên gặp gỡ, trao đổi với đại diện các nhà cung cấp. Cùng nhau thảo luận về cách thức tốt nhất nhằm đáp ứng nhu cầu của khách Nhật một cách tối ưu. Hãng lữ hành nên bày tỏ ý kiến và mong muốn của mình đối với nhân viên của các nhà cung cấp trong phong cách phục vụ, cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho khách Nhật. Từ đó, các nhà cung ứng có cơ hội hiểu thêm về thị trường khách này và có phương thức làm việc phù hợp hơn.

Sau đây là những điểm quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ cho khách Nhật mà các hãng lữ hành cần nhấn mạnh khi trao đổi với nhà cung ứng ba dịch vụ chính: lưu trú, vận chuyển và ăn uống.

Đối với nhà cung ứng về dịch vụ lưu trú cho khách Nhật Bản:

  • Sự an toàn về con người và hành lý (Đây là đặc điểm cần nhấn mạnh đầu tiên)
  • Tính hiện đại của cơ sở lưu trú
  • Tính thẩm mỹ của cơ sở lưu trú
  • Tác phong nhanh chóng của nhân viên khi thực hiện thủ tục nhận phòng và trả phòng.
  • Sự chuyên nghiệp của nhân viên phục vụ
  • Phong cách chào hỏi và phục vụ theo phong cách Nhật Bản của nhân viên của cơ sở lưu trú.
  • Vệ sinh sạch sẽ
  • Tính linh hoạt của cán bộ quản lý các cơ sở lưu trú khi có tình huống cảy ra
  • Mức độ phù hợp của hàng hóa và dịch vụ đối với khách Nhật
  • Khả năng giải quyết tình huống bất ngờ của cán bộ quản lý cơ sở lưu trú.

Đối với nhà cung ứng dịch vụ vận chuyển dành cho khách Nhật:

  • Mức độ an toàn
  • Mức độ tiện lợi
  • Khả năng và kinh nghiệm của lái xe
  • Mức độ chính xác trong phục vụ của lái xe và bộ phận điều hành phương tiện vận chuyển
  • Mức độ vệ sinh trên phương tiện vận chuyển
  • Tính linh hoạt của lái xe

Đối với nhà cung ứng dịch vụ ăn uống dành cho khách Nhật:

  • Mức độ vệ sinh của nhà hàng
  • Mức độ an toàn của thực phẩm và trong khi chế biến
  • Tính hiện đại và thẩm mỹ của nhà hàng
  • Sự phù hợp về thời gian phục vụ
  • Kỹ năng phục vụ khách Nhật của nhân viên
  • Mức độ phù hợp của đồ ăn và thức uống đối với khách Nhật
  • Tính linh hoạt của nhà hàng

Để đáp ứng được yêu cầu của các hãng lữ hành, hai bên có thể kết hợp với nhau để đào tạo nhân viên của nhà cung cấp chính của hãng lữ hành sao cho phù hợp với phong cách thị trường khách Nhật, đáp ứng những yêu cầu nêu trên một cách tốt nhất. Phương án đưa ra là các công ty lữ hành giới thiệu các khóa đào tạo nhân viên theo phong cách Nhật và có thể tài trợ một phần chi phí trong việc đào tạo đó. Hoặc công ty lữ hành cử chuyên gia có kiến thức và kinh nghiệm của công ty đến để trao đổi, giao lưu và thuyết trình cho nhân viên các nhà cung ứng nhằm nâng cao kiến thức.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 Luận văn: Giải pháp chất lượng tour du lịch ở du khách Nhật Bản.

Những hạn chế nêu ra trong chương 2 đã làm nền tảng cho chương 3 trong việc trình bày các giải pháp đối với hạn chế do khách quan và chủ quan đưa lại trong việc nâng cao chất lượng một số tour du lịch xuất phát từ Hà Nội cho du khách Nhật Bản.

Với hạn chế do khách quan, một số giải pháp đã được đưa ra đối với các lĩnh vực cơ bản như:

  • Nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch Việt Nam sang thị trường Nhật Bản.
  • Về đầu tư phát triển du lịch
  • Về nguồn nhân lực phục vụ dòng khách Nhật Bản

Với hạn chế do chủ quan, luận văn đã đưa ra giải pháp đối với các lĩnh vực:

  • Nâng cao chất lượng thiết kế và xây dựng chương trình du lịch của doanh nghiệp
  • Nâng cao chất lượng dịch vụ trong quá trình thực hiện tour du lịch
  • Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệp lữ hành
  • Lựa chọn và xây dựng mối quan hệ thân thiết với các nhà cung ứng dịch vụ du lịch

Tóm lại, chương 3 đã nêu lên những giải pháp mang tính cơ bản đối với Tổng cục Du lịch Việt Nam và bản thân các hãng lữ hành trong việc nâng cao chất lượng một số tour du lịch xuất phát từ Hà Nội cho du khách Nhật Bản. Những giải pháp đó sẽ làm tăng hiệu quả của chất lượng các tour du lịch, đặc biệt là đối với các hãng lữ hành chuyên về mảng thị trường khách Nhật Bản, một thị trường được xem là rất khó tính và cũng đang và sẽ là thị trường trọng điểm hàng đầu trong phát triển du lịch của nước ta. Việc áp dụng những giải pháp đó một cách thích hợp và linh hoạt sẽ tạo hiệu quả đáng kể trong việc đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của dòng du khách Nhật Bản, đặc biệt trong giai đoạn Việt Nam vừa mới gia nhập WTO tháng 11 năm 2006 vừa qua.

KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp chất lượng tour du lịch ở du khách Nhật Bản.

Đất nước Việt Nam từ Bắc đến Nam đâu đâu cũng có phong cảnh hữu tình vốn đã làm mê say lòng người từ xưa tới nay. Những tài nguyên du lịch quý giá đó không phải quốc gia nào cũng may mắn sở hữu được. Đó chính là vẻ đẹp tự nhiên và nhân văn, là sự đúc kết và hòa quyện lẫn nhau giữa thiên nhiên và con người để tạo nên một dấu ấn khó quên trong lòng du khách thập phương.

Ngày nay, trong quá trình hội nhập quốc tế, du lịch được xác định là một ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước. Việt Nam đang được du khách quốc tế đánh giá là một trong những điểm đến an toàn và thân thiện nhất Đông Nam Á. Trong dòng khách quốc tế đến đất nước ta trong những năm gần đây, Nhật Bản là một trong những thị trường quan trọng nhất của ngành du lịch Việt Nam.

Một trong những mấu chốt để thu hút lượng khách Nhật Bản đến Việt Nam và quay lại Việt Nam đó là cần nâng cao chất lượng tour du lịch. Để góp phần giải quyết vấn đề này, trước hết, luận văn đã nghiên cứu hệ thống lý thuyết liên quan đến tour du lịch, các bước xây dựng và thiết kế chương trình du lịch, việc xúc tiến và quảng bá chương trình du lịch bằng cách thông tin trực tiếp, quan hệ công chúng và quảng cáo. Bên cạnh đó, luận văn còn đề cập đến việc tổ chức bán chương trình du lịch và việc thực hiện tour du lịch bao gồm công việc dành cho nhà điều hành và công việc dành cho hướng dẫn viên. Vấn đề quan trọng được phân tích tiếp theo là khái niệm chất lượng tour du lịch và các tiêu chí đánh giá chất lượng tour du lịch, bao gồm tiêu chí của doanh nghiệp kinh doanh lữ hành bằng chất lượng thiết kế và chất lượng thực hiện và tiêu chí của du khách qua sự tiện lợi, tiện nghi, vệ sinh, chu đáo và an toàn. Luận văn: Giải pháp chất lượng tour du lịch ở du khách Nhật Bản.

Phương pháp đánh giá chất lượng tour du lịch là điều tra xã hội học và xử lý và phân tích thông tin. Ngoài ra luận văn còn nêu rõ đặc điểm yêu cầu của khách Nhật Bản khi sử dụng các dịch vụ lưu trú, ăn uống, vận chuyển và các dịch vụ bổ sung khác.

Để tìm hiểu thực trạng chất lượng tour du lịch xuất phát từ Hà Nội cho du khách Nhật Bản, luận án đã sử dụng kết quả khảo sát về đánh giá của khách Nhật Bản trên địa bàn Hà Nội của tác giả Lê Thị Lan Hương trong luận văn tiến sỹ “Một số giải pháp nâng cao chất lượng chương trình du lịch cho khách quốc tế đến Hà Nội của các công ty lữ hành trên địa bàn Hà Nội” về một số mặt chủ yếu như chương trình du lịch, nhân viên bán chương trình du lịch, hướng dẫn viên tiếng Nhật, năm tiêu chí về sự tiện lợi, tiện nghi, lịch sự và chu đáo, vệ sinh và an toàn, khách sạn, nhà hàng, dịch vụ vận chuyển và điểm tham quan. Để tìm hiểu thực trạng chất lượng tour du lịch của chính các công ty kinh doanh lữ hành chuyên về thị trường khách Nhật Bản, luận văn đã tiến hành khảo sát thực tế bốn công ty: OSC Travel, công ty Liên doanh Apex chi nhánh Hà Nội, Sài Gòn Tourist và NTD Travel. Kết quả là đã thu được các ý kiến đánh giá tương đối chính xác về các mặt: (1) Đánh giá về chất lượng thiết kế và xây dựng chương trình du lịch, (2) Đánh giá về chất lượng dịch vụ trong quá trình thực hiện tour du lịch, (3) Đánh giá về hướng dẫn viên, (4) Đánh giá về cán bộ quản lý và điều hành, (5) Đánh giá về chất lượng dịch vụ lưu trú, (6) Đánh giá về chất lượng dịch vụ vận chuyển, (7) Đánh giá về chất lượng dịch vụ ăn uống, (8) Đánh giá về chất lượng của các dịch vụ bổ sung khác. Luận văn cũng thu thập thông tin về số lượng và trình độ học vấn của hướng dẫn viên mỗi công ty.

Sau khi đã nêu lên kết quả khảo sát, luận văn đi đến kết luận về hạn chế chủ quan và khách quan của chất lượng tour du lịch xuất phát từ Hà Nội cho du khách Nhật Bản. Hạn chế chủ quan bao gồm các vấn đề: (1) Việc thiết kế và xây dựng chương trình du lịch của các doanh nghiệp, (2) chất lượng dịch vụ trong quá trình thực hiện tour du lịch của doanh nghiệp; (3) hướng dẫn viên tiếng Nhật của doanh nghiệp, (4) nhân viên của doanh nghiệp, (5) cán bộ quản lý và điều hành của doanh nghiệp, (6) cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp, (7) phiếu nhận xét của mỗi công ty sau khi chuyến đi kết thúc. Hạn chế do khách quan bao gồm: (1) giá cả của các chương trình du lịch, (2) cơ cấu khách, (3) sự phối hợp giữa các đơn vị, địa phương liên quan đến hoạt động hướng dẫn, (4) việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ thị trường du khách Nhật Bản mang tính chiến lược phát triển lâu dài, (5) việc xúc tiến, quảng bá hình ảnh du lịch Việt Nam tới thị trường Nhật Bản.

Với những hạn chế khách quan, một số giải pháp đã được đưa ra đối với Tổng cục Du lịch Việt Nam về các lĩnh vực như nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch Việt Nam sang thị trường Nhật Bản; về đầu tư phát triển du lịch và về nguồn nhân lực phục vụ dòng khách Nhật Bản. Với những hạn chế chủ quan, một số giải pháp được đưa ra và nhắm đến đối tượng là các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành chuyên thị trường Nhật Bản như nâng cao chất lượng thiết kế và xây dựng chương trình du lịch của doanh nghiệp, nâng cao chất lượng dịch vụ trong quá trình thực hiện tour du lịch, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệp lữ hành, lựa chọn và xây dựng mối quan hệ thân thiết với các nhà cung ứng dịch vụ du lịch.

Với những kết quả đạt được, luận văn hy vọng sẽ đóng góp một phần bé nhỏ vào việc nâng cao chất lượng tour du lịch xuất phát từ Hà Nội cho khách Nhật Bản. Do trình độ còn nhiều mặt hạn chế, chắc chắn bản luận văn sẽ còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các độc giả quan tâm để luận văn được hoàn thiện hơn. Xin trân trọng cảm ơn. Luận văn: Giải pháp chất lượng tour du lịch ở du khách Nhật Bản.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Chất lượng tour du lịch cho du khách Nhật Bản

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537