Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường Phổ thông Dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trải qua hơn 4 nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã xây dựng được nền văn hóa phong phú, đa dạng, mang tính đặc trưng và độc đáo. Các giá trị văn hóa ấy được tạo nên từ các hoạt động vật chất và tinh thần của mỗi con người Việt Nam qua lịch sử phát triển hàng nghìn năm của dân tộc. Nó góp phần khẳng định với các quốc gia, các dân tộc khác trên thế giới một đất nước, một dân tộc Việt Nam có ý chí mạnh mẽ, bất khuất trong chống giặc ngoại xâm; cần cù, siêng năng, chịu thương, chịu khó trong quá trình học tập, lao động. Góp phần hình thành nên nền văn hóa đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc (VHDT) của Việt Nam còn có sự đóng góp của văn hóa 54 dân tộc anh em trên dãi đất hình chữ S. Mỗi dân tộc đều có bản sắc đặc trưng riêng của mình và chính sự thống nhất, hòa quyện vào nhau của các giá trị văn hóa 54 dân tộc ấy đã tạo ra một dân tộc Việt Nam có văn hóa đặc trưng và độc đáo.
Hiện nay, quá trình hội nhập và phát triển của đất nước diễn ra mạnh mẽ, từ đó, những luồng văn hoá ngoại lai ngày càng xâm nhập sâu rộng vào đời sống xã hội.Bên cạnh những giá trị văn hóa mới mang tính tích cực thì cũng có quá nhiều giá trị văn hóa tiêu cực gây ảnh hưởng, tác động mạnh đến văn hoá truyền thống. Lối sống cá nhân, ích kỉ, tự tư, tự lợi ngày càng làm phai mờ nét đẹp “lá lành đùm lá rách”, những sản phẩm văn hóa phẩm đồi trụy, các trang web đen tràn lan trên mạng internet, những phim ảnh đầy cảnh bạo lực đã ảnh hưởng rất lớn đến lối sống của thế hệ trẻ, làm gia tăng các loại tội phạm trong xã hội, đặc biệt ở lứa tuổi vị thành niên. Đáng chú ý và lo ngại là nguy cơ phai mờ, biến dạng bản sắc Văn hóa dân tộc. Do vậy, việc Giáo dục văn hóa dân tộc cho thế hệ trẻ là nhiệm vụ cấp thiết, có ý nghĩa chiến lược cần phải tiếp tục thực hiện thường xuyên và lâu dài.
Nhận thức được tầm quan trọng của văn hóa trong công cuộc xây dựng đất nước, Nghị quyết “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” mà Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII (1998) đưa ra đến nay vẫn là Nghị quyết có ý nghĩa chiến lược, chỉ đạo quá trình xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hóa ở nước ta, cần được kế thừa, bổ sung và phát huy trong thời kỳ mới. Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển 2011) được Đại hội XI của Đảng thông qua đã xác định: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”..
Sóc Trăng, các trường phổ thông nói chung và trường phổ thông dân tộc nội trú (PTDTNT) nói riêng cũng có quan tâm đến việc Giáo dục văn hóa dân tộc (GDVHDT) cho học sinh (HS) và đạt được một số kết quả tích cực nhất định. Hầu hết các trường đều có tổ chức tích hợp nội dung Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh qua các môn học, qua Giáo dục kĩ năng sống. Tuy nhiên, công tác chỉ đạo của đội ngũ cán bộ quản lí (CBQL) giáo dục về giáo dục (GD) văn hóa cho học sinh chưa cụ thể, nội dung và hình thức tổ chức Giáo dục còn rất hạn chế, chưa phong phú. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.
Xuất phát từ những lí do quan trọng nêu trên, tôi chọn đề tài “ Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường Phổ thông Dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng” làm đề tài nghiên cứu.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng, từ đó đề xuất một số biện pháp cải tiến hiệu quả quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường này.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- 3.1. Khách thể nghiên cứu: Quản lý hoạt động sư phạm ở trường Trung học phổ thông.
- 3.2. Đối tượng nghiên cứu: Quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường Phổ thông Dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng.
4. Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng đã đạt được một số kết quả nhất định về hình thức tổ chức, chỉ đạo tích hợp nội dung Giáo dục qua các môn học và các hoạt động Giáo dục khác.Tuy nhiên, công tác này vẫn còn những hạn chế, bất cập về quản lý mục tiêu, phương pháp tổ chức và lập kế hoạch Giáo dục văn hóa dân tộc. Nếu khảo sát và đánh giá đúng thực trạng về công tác quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng thì người nghiên cứu có thể đề xuất một số biện pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc và quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc ở trường trung học.
5.2. Đánh giá thực trạng hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc và quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng.
5.3. Đề xuất một số biện pháp nhằm cải tiến và nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng.
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6.1. Cơ sở của phương pháp luận nghiên cứu
6.1.1. Quan điểm hệ thống cấu trúc Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.
Theo quan điểm hệ thống cấu trúc, khi nghiên cứu một sự vật, hiện tượng phải xem xét nó một cách toàn diện ở nhiều mặt, phân tích chúng thành nhiều bộ phận như hình thức, mục tiêu, nội dung, phương pháp và kiểm tra đánh giá. Mọi sự vật, hiện tượng đều do nhiều yếu tố hợp thành, nên phải xem xét mối quan hệ hữu cơ của chúng với các yếu tố khác trong cùng hệ thống. Qua quan điểm hệ thống cấu trúc, người nghiên cứu thấy được hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc và quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường Phổ thông dân tộc nội trú là một thành phần của Giáo dục tổng thể, có mối liên hệ chặt chẽ với các mặt Giáo dục khác và các chủ thể quản lý khác như gia đình và xã hội. Do đó, Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường Phổ thông dân tộc nội trú phải kết hợp với hoạt động dạy học, phải có sự tham gia của các lực lượng Giáo dục trong nhà trường và ngoài nhà trường (gia đình và xã hội).
GD là một bộ phận của kinh tế-xã hội. Do đó, khi nghiên cứu hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc và quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường Phổ thông dân tộc nội trú phải đặt trong hoàn cảnh kinh tế-xã hội của đất nước. Thông qua quan điểm hệ thống cấu trúc giúp người nghiên cứu xác định chính xác thực trạng hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc và công tác quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng.
6.1.2. Quan điểm lịch sử- logic
Quan điểm lịch sử- logic giúp người nghiên cứu xem xét quá trình hình thành và phát triển của quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc tại Việt Nam và trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng. Quan điểm này cũng giúp người nghiên cứu xác định phạm vi, không gian, thời gian, điều kiện cụ thể để điều tra, nghiên cứu và thu thập số liệu chính xác, đồng thời trình bày công trình nghiên cứu một cách logic.
6.1.3. Quan điểm thực tiễn
Vận dụng quan điểm thực tiễn vào nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng xuất phát từ thực tiễn của công tác quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc ở các cơ sở Giáo dục này để tìm ra những mặt hạn chế, khó khăn trong công tác quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường Phổ thông dân tộc nội trú tại tỉnh Sóc Trăng, từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động này mang tính khả thi và cần thiết.
6.2. Các phương pháp nghiên cứu
6.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá lý luận về hoạt động Giáo dục Giáo dục văn hóa dân tộc và quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc trong các công trình nghiên cứu, các tác phẩm trong và ngoài nước, các văn kiện của Đảng và Nhà nước làm cơ sở lý luận cho đề tài. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.
6.2.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Mục đích điều tra: Thu thập số liệu về thực trạng quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng chứng minh cho giả thuyết của đề tài.
- Nội dung điều tra:
- Thực trạng hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh.
- Thực trạng quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh.
- Tính cần thiết và khả thi của các biện pháp quản lý Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng.
- Đối tượng điều tra: Cán bộ quản lý, giáo viên (GV) và học sinh tại 5 trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng.
- Cách thức thực hiện: Xây dựng bảng hỏi và gởi đến Cán bộ quản lý, Giáo viên và học sinh ở các trường tổ chức điều tra.
6.2.3. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để xử lý số liệu thu được từ khảo sát bằng phiếu hỏi để đánh giá thực trạng và đề xuất biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng.
7. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
7.1. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận, thực trạng và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh.
7.2. Giới hạn nghiên cứu
Đề tài tiến hành khảo sát ở Cán bộ quản lý, Giáo viên bộ môn, học sinh của 5 trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng.
7.3. Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu nội dung Giáo dục văn hóa dân tộc và quản lí hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trong các năm học từ: 2016- 2017; 2017-2018.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu; phần Kết luận – Kiến nghị, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục; nội dung của Luận văn được thực hiện trong 3 chương: Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.
- Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục cho học sinh ở trường trung học;
- Chương 2. Thực trạng quản lí hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng;
- Chương 3. Biện pháp nâng cao hiệu quả quản lí hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng.
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC VĂN HÓA DÂN TỘC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Văn hóa là vấn đề được các nhà tư tưởng và triết học đề cập đến từ lâu, được xã hội mọi thời đại cả ở phương Tây lẫn phương Đông quan tâm và coi trọng.
Ở phương Đông, Khổng Tử (551 – 479 TCN), nhà triết học lớn, nhà giáo dục lớn của Trung Quốc đã khai sinh ra Nho giáo với quan điểm bồi dưỡng người có “đức nhân”, người “quân tử” có đủ phẩm cách và năng lực thi hành “đạo lớn”. Ông đã viết tác phẩm bất hủ “Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Xuân Thu”, trong đó rất xem trọng việc giáo dục đạo đức.
Petxtalôdi (1746 – 1827), một trong những nhà giáo dục tiêu biểu của thế kỷ XIX, đã đánh giá rất cao vai trò của Giáo dụcVH. Ông cho rằng nhiệm vụ trung tâm của giáo dục là giáo dục văn hóa cho trẻ em trên cơ sở chung nhất là tình yêu về con người. Tình yêu ấy bắt nguồn từ gia đình, trước hết là đối với cha mẹ, anh chị em rồi đến bạn bè và mọi người trong xã hội.
C.Mác (1818 -1883), người sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản khoa học, cho rằng: “Con người phát triển toàn diện sẽ là mục đích của nền giáo dục cộng sản chủ nghĩa và con người phát triển toàn diện là con người phát triển đầy đủ, tối đa năng lực sẵn có về tất cả mọi mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, tình cảm, nhận thức, năng lực, óc thẩm mỹ và có khả năng cảm thụ được tất cả những hiện tượng tự nhiên, xã hội xảy ra chung quanh” (Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt, 1998).
Vào thế kỷ XX, nhà sư phạm A.C. Macarenco của Liên Xô với tác phẩm “Bài ca sư phạm” đã đề cập đến vấn đề giáo dục công dân (giáo dục trẻ em phạm pháp và không gia đình). Trong tác phẩm này ông đã nhấn mạnh đến vấn đề giáo dục văn hóa thông qua nhiều phương pháp như phương pháp nêu gương, giáo dục bằng tập thể và thông qua tập thể.
Tại Hội nghị khoa học “Đẩy mạnh giá trị nhân văn, đạo đức, văn hóa quốc tế” tổ chức ở Tokyo vào tháng 2 năm 1994 với sự tham gia của 12 nước trong khu vực.
Hội nghị đã tổng kết kinh nghiệm và đã thống nhất đưa ra mô hình giáo dục giá trị nhân văn, đạo đức, văn hóa quốc tế gồm 8 nhóm giá trị:
- 1- Nhóm giá trị liên quan đến quyền con người;
- 2- Nhóm giá trị liên quan đến dân chủ;
- 3- Nhóm giá trị liên quan đến hợp tác và hòa bình;
- 4- Nhóm các giá trị liên quan đến bảo vệ môi trường;
- 5- Nhóm giá trị liên quan đến bảo vệ di sản văn hóa;
- 6- Nhóm các giá trị liên quan đến bản thân và những người khác;
- 7- Nhóm các giá trị liên quan đến tính dân tộc;
- 8- Nhóm liên quan đến tâm linh
Việt nam là một quốc gia với lịch sử trên 4000 năm dựng nước và giữ nước, có trên 54 dân tộc cùng chung sống. Với bề dày lịch sử xây dựng và bảo vệ tổ quốc, sự phong phú trong đời sống vật chất, tinh thần và sự đa dạng về các tộc người cùng chung sống xen kẻ, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau để phát triển đã tạo nên một bản sắc văn hóa Việt Nam vô cùng độc đáo.
Để bảo vệ và phát huy các giá trị văn hóa ấy, nhiều Nghị quyết của Đảng, Chỉ thị của Nhà nước đã đề cập đến Giáo dục truyền thống văn hóa cho học sinh, sinh viên như: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (Đảng cộng sản Việt Nam, 1991, 1998). Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.
Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới, trong quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, Người đã tiếp thu và truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào với phong trào cách mạng Việt Nam, chú trọng đến việc Giáo dục bảo tồn, phát huy bản sắc văn hoá, các giá trị truyền thống của các dân tộc Việt Nam. Điều đó được thể hiện trong các tác phẩm của người (Hồ Chí Minh, 1970, 1992). Người đã chỉ rõ những mục tiêu cơ bản mà cách mạng Việt Nam cần phải đạt được trong lĩnh vực văn hoá là: “Phải triệt để tẩy trừ mọi di tích thuộc địa và ảnh hưởng nô dịch của văn hoá đế quốc, đồng thời phát triển những truyền thống tốt đẹp của văn hoá dân tộc và hấp thụ những cái mới của văn hoá tiến bộ thế giới để xây dựng một nền văn hoá Việt Nam có tính dân tộc, khoa học và đại chúng” (Hồ Chí Minh, 1996). Quan điểm của người được thể hiện rõ ràng “Càng thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lênin bao nhiêu thì càng phải coi trọng những truyền thống văn hoá tốt đẹp của cha ông bấy nhiêu” (Hồ Chí Minh, 1996). Người yêu cầu phải biết giữ gìn vốn văn hoá quý báu của dân tộc, khôi phục những yếu tố tích cực trong kho tàng văn hoá dân tộc, loại bỏ những yếu tố tiêu cực trong đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân. Người nêu rõ sức mạnh đặc biệt của văn hóa đối với sự phát triển của dân tộc: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”. Người khẳng định: Trong sự nghiệp kiến thiết đất nước, có bốn lĩnh vực cần phải coi trọng ngang nhau là kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Đó là quan điểm nhất quán thể hiện tầm nhìn thời đại của Người mà sau này Đảng ta tiếp tục vận dụng và phát huy trong quá trình xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2017).
Trong chương trình giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) ở các cấp học, bậc học, những giá trị bản sắc văn hóa của dân tộc đã được lựa chọn, xây dựng thành các hoạt động hữu ích và tổ chức cho người học. Bộ Giáo dục&ĐT và Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch đã có Hướng dẫn sử dụng di sản văn hóa trong dạy học ở trường phổ thông, Trung tâm Giáo dục thường xuyên nhằm hình thành và nâng cao ý thức tôn trọng, giữ gìn, phát huy những giá trị của di sản văn hóa; rèn luyện tính chủ động, tích cực, sáng tạo trong đổi mới phương pháp học tập và rèn luyện; góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả Giáo dục, phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu, tài năng của học sinh (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch, 2013). Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa ở các góc độ tiếp cận khác nhau của nhiều tác giả, tác phẩm trong nước như “Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam” (Trần Văn Giàu, 1980), tác phẩm: “Cơ sở văn hóa Việt Nam”, “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” (Trần Ngọc Thêm, 1997, 2001); đã cung cấp những kiến thức, khái niệm cơ sở nền tảng cho ngành văn hóa học. Với quan điểm dân tộc học, GS.TS. Phan Hữu Dật có tác phẩm “Góp phần nghiên cứu dân tộc học Việt Nam” (Phan Hữu Dật, 2004). Tác giả Nguyễn Hồng Hà “Văn hóa truyền thống dân tộc với Giáo dục thế hệ trẻ ” (Nguyễn Hồng Hà, 2001).
Bên cạnh đó cũng có đề tài luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Đức Long “Biện pháp quản lí phát triển các hoạt động giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc ở Trung tâm học tập cộng đồng huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La” (Phạm Đức Long,2009). Đề tài “Nhà trường với vai trò bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số tỉnh Điện Biên” của sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Điện Biên (Sở Giáo dục và Đào tạo Điện Biên,2012). Hầu hết các tài liệu, công trình nghiên cứu cũng đã đề cập đến những nét văn hóa truyền thống của các dân tộc, việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa đó. Cũng có một số công trình nghiên cứu về việc giữ gìn văn hóa dân tộc trong giai đoạn hội nhập nhưng đối tượng không phải là giáo dục học sinh. Luận văn thạc sỹ của tác giả Phạm Đức Long cũng đã đề cập đến vấn đề quản lí phát triển các hoạt động giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc song đối tượng ở các trung tâm học tập cộng đồng. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.
Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài. Tuy nhiên, việc nghiên cứu về quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trường Phổ thông dân tộc nội trú chưa được quan tâm chú ý. Tôi hi vọng rằng, những đóng góp của đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng” góp phần nâng cao hiệu quả quản lý Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh Phổ thông dân tộc nội trú nói chung và Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng nói riêng.
1.2. Các khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.2.1. Trường Phổ thông dân tộc nội trú
Trường Phổ thông dân tộc nội trú là trường chuyên biệt nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, được Nhà nước thành lập cho con em dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn nhằm góp phần tạo nguồn đào tạo nguồn cán bộ cho các vùng này. Điều 2 Quy chế Tổ chức hoạt động trường Phổ thông dân tộc nội trú có quy định mục tiêu, vai trò và tính chất của trường Phổ thông dân tộc nội trú như sau: (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2016)
- 1- Nhà nước thành lập trường Phổ thông dân tộc nội trú cho con em các dân tộc thiểu số, con em các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, nhằm góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ cho các vùng này.
- 2- Trường Phổ thông dân tộc nội trú có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội và củng cố an ninh, quốc phòng ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số.
- 3- Trường Phổ thông dân tộc nội trú là loại trường chuyên biệt mang tính chất phổ thông, dân tộc và nội trú.
1.2.2. Giáo dục
John Dewey triết gia nổi bật nhất của nước Mỹ đầu thế kỷ XX theo thuyết hành dụng cho rằng, Giáo dục là “khả năng” của loài người để đảm bảo tồn tại xã hội, ông cũng cho rằng xã hội không chỉ tồn tại nhờ truyền dạy, nhưng còn tồn tại chính trong quá trình truyền dạy ấy (J. Dewey, 2008)
Đa số các giáo trình Giáo dục học Việt Nam đều cho rằng “GD là hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử – xã hội của các thế hệ loài người”( Phạm Viết Vượng, 2000).
Theo giáo trình Giáo dục học đại cương do Trần Thị Hương chủ biên, Giáo dục có thể hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp:
Theo nghĩa rộng: Giáo dục là hoạt động Giáo dục tổng thể hình thành và phát triển nhân cách được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch nhằm phát triển tối đa những tiềm năng (sức mạnh thể chất và tinh thần) của con người.
Theo nghĩa hẹp: Giáo dục là một bộ phận của hoạt động Giáo dục (nghĩa rộng), là hoạt động Giáo dục nhằm hình thành thế giới quan khoa học, tư tưởng chính trị, đạo đức, thẩm mỹ, lao động, phát triển thể lực, những hành vi và thói quen ứng xử đúng đắn của cá nhân trong các mối quan hệ xã hội. Theo nghĩa này, Giáo dục bao gồm các bộ phận: đức dục, mỹ dục, thể dục, Giáo dục lao động. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.
1.2.3. Văn hóa
Trên thế giới và Việt Nam có rất nhiều khái niệm văn hóa rất khác nhau. Theo UNESCO văn hóa là: “Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng”.
Ông tổng giám đốc UNESCO F.May-ơ (Federico Mayor Zaragoza) cũng đưa ra định nghĩa của riêng mình như sau: “Văn hóa là tổng thể sống động của các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”.
Theo từ điển triết học của Liên Xô, văn hóa được định nghĩa như sau: “Văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần, được nhân loại sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn lịch sử – xã hội; Các giá trị ấy nói lên trình độ phát triển của lịch sử loài người” (Theo Trần Khánh Đức, 2014).
Việt Nam, từ “văn hóa” được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Trong tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa); theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn (văn hóa Đông Sơn). Trong khi theo nghĩa rộng thì văn hóa bao gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống, lao động.
Vào năm 1943, Hồ Chí Minh đã nêu ra một định nghĩa về văn hoá: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ các sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” (Hồ Chí Minh, 2009).
PGS.VS Trần Ngọc Thêm trong cuốn Cơ sở văn hoá Việt Nam đã định nghĩa văn hoá: “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” (Trần Ngọc Thêm, 1999).
1.2.4. Văn hóa dân tộc Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.
VHDT bao gồm giá trị văn hóa của cộng đồng dân tộc sáng tạo trong quá trình lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc đó. Tùy tình hình vận động và phát triển của mỗi dân tộc mà quy mô và bề dày sáng tạo văn hóa của từng dân tộc có khác nhau. Dù vậy thì mỗi dân tộc có những giá trị sáng tạo riêng, tình hình văn hóa mang tính đặc trưng và đều khẳng định sức sống mãnh liệt của những sáng tạo ấy. Văn hóa dân tộc bảo tồn và phát triển có ý nghĩa là một dân tộc được tồn vong.
Việt Nam là quốc gia có nhiều dân tộc cùng chung sống với giá trị Văn hóa dân tộc rất đa dạng và đặc sắc, các dân tộc đều có nền văn hóa riêng được khẳng định bằng những giá trị sáng tạo giàu có và bản sắc văn hóa các dân tộc đã góp phần hình thành nền văn hóa Việt Nam đa dạng về bản sắc.
Do kết tinh những điều kiện tự nhiên lịch sử và mối quan hệ giao lưu mà ngoài đặc trưng riêng của từng dân tộc thì các nền văn hóa còn hình thành đặc trưng theo vùng. Việt Nam có thể chia thành 6 vùng văn hóa, gồm: vùng Đông Bắc, vùng Tây Bắc, vùng châu thổ Bắc Bộ, vùng Trung Bộ, vùng Tây Nguyên, vùng Nam Bộ. Mỗi vùng văn hóa có những đặc điểm chung và riêng (Mông Ký Slay, et al., 2013).
1.2.5. Quản lý
Quản lý là một quá trình mà chủ thể quản lý tác động đến khách thể quản lý-trong một tổ chức – bằng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo kiểm tra đánh giá, dựa trên những nguồn lực và những điều kiện có thể nhằm đạt được mục đích của tổ chức.
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo thì quản lý có 4 chức năng: ” Kế hoạch hóa – Tổ chức – Chỉ đạo – Kiểm tra” (Đặng Quốc Bảo, 2010). Có thể khái quát 4 chức năng như sau:
Kế hoạch hóa là quá trình xác định mục tiêu và quyết định những biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu. Thực chất của kế hoạch hóa là đưa toàn bộ những hoạt động vào công tác kế hoạch với mục tiêu, biện pháp, bước đi cụ thể và ấn định tường minh các nguồn lực, điều kiện để thực hiện mục tiêu.
Tổ chức là sắp xếp, sắp đặt một cách khoa học những yếu tố, những con người, những hoạt động thành một hệ toàn vẹn nhằm đảm bảo cho chúng tương tác với nhau một cách hợp lý. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.
Chỉ đạo là chỉ dẫn, động viên, điều chỉnh và phối hợp các lực lượng để thực hiện kế hoạch đã đề ra.
Kiểm tra là chức năng dùng để kiểm tra trạng thái của hệ thống, kiểm tra kết quả thực hiện kế hoạch so với mục tiêu đề ra, kiểm tra còn nhằm phát hiện sai sót để kịp thời uốn nắn, sửa chữa trong quá trình thực hiện kế hoạch.
Thông tin được coi là sợi dây liên kết cả 4 chức năng của quản lý.
1.2.6. Quản lý giáo dục
Quản lý Giáo dục chính là một quá trình tác động có định hướng của nhà quản lý Giáo dục (chủ thể) trong việc vận hành những nguyên lý, phương pháp chung nhất của khoa học quản lý vào lĩnh vực Giáo dục nhằm đạt những mục tiêu Giáo dục đề ra. Chủ thể quản lý là trung tâm thực hiện các tác động có mục đích của Giáo dục, trung tâm ra quyết định điều hành và kiểm tra các hoạt động của hệ thống Giáo dục theo mục tiêu đề ra. Đối tượng quản lý Giáo dục bao gồm nguồn nhân lực của Giáo dục, cơ sở vật chất kĩ thuật của Giáo dục và các hoạt động có liên quan đến việc thực hiện chức năng của Giáo dục, đó chính là những đối tượng chịu sự tác động của cán bộ quản lý (chủ thể) để thực hiện và biến đổi phù hợp với ý chí của chủ thể quản lý đã đề ra.
Theo Trần Kiểm, xét về cấp độ có thể hiểu khái niệm quản lí Giáo dục như sau: Ở cấp vĩ mô, “quản lý Giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát,… một cách có hiệu quả các nguồn lực Giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển Giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội” (Trần Kiểm, 2008).
Ở cấp vi mô, “quản lý Giáo dục thực chất là những tác động của chủ thể quản lí vào quá trình Giáo dục (được tiến hành bởi tập thể Giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường” (Trần Kiểm, 2008).
1.2.7. Quản lý giáo dục văn hóa dân tộc
Theo người nghiên cứu: Quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc trong trường Phổ thông dân tộc nội trú là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch của hiệu trưởng tới cán bộ, Giáo viên, công nhân viên và học sinh, nhằm tổ chức các hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc trong nhà trường đạt được mục tiêu và kế hoạch Giáo dục của nhà trường đề ra.
1.3. Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trường Phổ thông dân tộc nội trú Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.
1.3.1. Đặc điểm của học sinh trường Phổ thông dân tộc nội trú
Đặc điểm tình cảm của học sinh dân tộc
HS dân tộc có đặc điểm tâm lí chung như những học sinh phổ thông khác. Song bên cạnh đó, các em cũng có những đặc điểm riêng. Theo tác giả Nguyễn Văn Sáng thì đặc điểm tình cảm của học sinh dân tộc như sau:
Tình cảm của các em học sinh dân tộc rất chân thực, mộc mạc, yêu ghét rõ ràng, không có hiện tượng quanh co. Tình cảm của các em rất thầm kín, ít bộc lộ ra ngoài. Chúng ta khó thấy học sinh dân tộc biểu lộ tình cảm của mình một cách rõ rệt, sôi nổi, mạnh mẽ. Sự biểu lộ tình cảm tương đối ổn định, kéo dài đến các lứa tuổi sau, thậm chí cả những thanh niên trưởng thành.
Các em học sinh rất gắn bó với gia đình, phum sóc, quê hương. Hầu hết các em không muốn xa gia đình. Khi phải đi học xa như vào các trường dân tộc nội trú, các em rất nhớ nhà, có em nằm khóc hàng tuần. Đã nhiều em trốn về tham nhà. Do đó, ngoài việc dạy học trên lớp cần phải tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao để thu hút các em tham gia vui chơi nhằm hình thành ở học sinh dân tộc tình cảm đối với bạn bè, thầy cô, trường lớp. Tình cảm của học sinh dân tộc rất độc đáo, vài ba em cùng tuổi, hợp tính, hợp nết chơi thân với nhau là kết bạn tri kỉ, đó là tình bạn dựa trên đặc điểm cùng tuổi, cùng cảnh và cùng học và tình cảm đó có thể được các em giữ gìn đến hết cuộc đời.
Bên cạnh những ưu điểm của tình cảm bạn bè như nêu trên thì cũng có một vài hạn chế. Bởi vì các em đã thân nhau thì sẽ bảo vệ nhau đến cùng. Ví dụ, một em học sinh vẽ bậy lên bảng, trong lớp nhiều bạn khác biết, nhưng khi cô giáo hỏi thì cả lớp đều im lặng. Một tuần lễ liền cô giáo cho bỏ phiếu kín để tìm xem ai vẽ thì chỉ có một phiếu ghi là “bạn lớp trưởng biết”, còn trên 30 học sinh đều ghi phiếu là “không biết”. Nhà trường gọi em lớp trưởng lên, ba ngày sau, em lớp trưởng mới chịu nói ra ai là người vẽ bậy lên bảng. Do đặc điểm này nên Giáo viên chủ nhiệm các trường dân tộc nội trú rất khó điều tra hiện tượng học sinh đánh nhau, bỏ học, đi chơi điện tử, hiện tượng yêu đương hay các hiện tượng tiêu cực khác.
HS lứa 12-18 là lứa tuổi có nhiều chuyển biến mạnh mẽ cả về thể chất lẫn tâm lí. Các em dễ có phản ứng mãnh liệt trước sự đánh giá thiếu công bằng của người lớn. Đôi khi các em có những phản ứng tiêu cực như bỏ học, đánh nhau, bỏ nhà…Các em sống bằng tình cảm và muốn giải quyết các vấn đề bằng tình cảm. Mỗi khi các em có khuyết điểm, nếu Giáo viên biết thuyết phục, giải quyết nhẹ nhàng, tình cảm và phân tích đúng sai cho các em thì hiệu quả Giáo dục cao hơn. Nếu cứng nhắc dùng biện pháp đe dọa thì các em sẽ phản ứng lại mạnh mẽ.
Các em học sinh dân tộc ở trường phổ Phổ thông dân tộc nội trú còn những nét ngây thơ, chưa nhận biết rõ ràng tình cảm và hành vi của mình, cũng như chưa biết xây dựng mối quan hệ với bạn khác giới. Do vậy, các em cần được giúp đỡ để hiểu đúng đắn về sự phát triển tình cảm, không làm cho các em e ngại, xấu hổ, bi quan dẫn đến bỏ học. Đây cũng là lứa tuổi khó khăn về tâm lí, đặc biệt là vấn đề tình cảm. Tình cảm của các em còn mang tính bồng bột, dễ xúc động, dễ vui buồn, nếu bị trách mắng không đúng dễ gây sự tổn thương cho các em. Hoặc một lời phê bình của thầy cô giáo, hay bị yêu cầu nhận khuyết điểm một cách thô bạo thì dễ nảy sinh những phản ứng khó lường từ học sinh (Hoàng Gia Trang, 2015).
Đặc điểm tính cách của học sinh dân tộc Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.
Tính cách của học sinh dân tộc cũng có đặc điểm chung của tâm lí lứa tuổi, song cũng có một số đặc điểm tính cách riêng như sau:
Các em sống rất hồn nhiên, giản dị, thật thà, chất phác. Trong quan hệ với mọi người, các em rất trung thực, ít có sự gian dối. Các em thường nghĩ thế nào thì nói ra tương ứng, không có chuyện thêm bớt nội dung câu chuyện. Vốn mộc mạc, chân thành nên các em muốn mọi người tôn trọng các em trong mọi trường hợp và không muốn ai xúc phạm mình.
Nét tính cách khác điển hình của học sinh dân tộc là rụt rè, ít nói, tự ti và ngại giao tiếp với người lạ. Nguyên nhân là do các em còn hạn chế về ngôn ngữ Tiếng Việt, ít có cơ hội giao tiếp xã hội và tham gia các hoạt động khác. Ngoài ra, do sự hiểu biết về kiến thức còn hạn chế, nói ra sợ sai, sợ thầy cô, các bạn chê cười nên các em rất ngại phát biểu ý kiến trong lớp. Sự tự ti, rụt rè khiến các em ngại va chạm, không dám đấu tranh với những biểu hiện sai trái của bạn bè xung quanh, đồng thời cũng không muốn ai động chạm đến mình. Chúng ta có thể thấy nét tính cách này của học sinh dân tộc khi tiếp xúc lần đầu tiên với người lạ, các em thường co cụm lại từng nhóm. Tuy nhiên, khi các em được tạo điều kiện tham gia các hoạt động tập thể, hoạt động giao lưu thì các em trở nên mạnh dạn hơn, và hòa đồng hơn với các bạn và mọi người xung quanh.
HS dân tộc có lòng tự trọng cao, đặc biệt là hay tự ái và tủi thân. Nếu các em cảm thấy không được tôn trọng, hoặc thái độ đối xử của Giáo viên không thân thiện, đe nẹt thì có thể dẫn đến việc các em sẽ bỏ học. Và trong nhiều trường hợp không chỉ có học sinh đó mà còn các bạn khác cũng sẽ bỏ học cùng. Ở trường dân tộc nội trú, do các em chưa thích nghi với môi trường mới nên sinh hoạt chưa ngăn nắp, chưa hợp vệ sinh. Ngoài ra, cách nói năng của học sinh cũng tự do, nói thiếu chủ ngữ là do thói quen của các em ở gia đình. Do đó cần hỗ trợ các em để hòa nhập với cuộc sống mới và thực hành nội quy của trường phổ thông nội trú.
Một đặc điểm tính cách quan trọng nữa của học sinh dân tộc là dễ tin người song cũng dễ nghi ngờ. Khi các em đã tin tưởng ai thì dường như không có bất cứ sự e ngại nào nữa. Tuy nhiên, nếu các em phát hiện ra bị lừa dối thì niềm tin đó không thể nào lấy lại được nữa. học sinh dân tộc không ưa dối trá mà thường là thẳng thắn, chân thật. Khi đã tin và yêu quý ai thì sẵn sàng giúp đỡ người khác nhiệt tình (Hoàng Gia Trang, 2015).
Đặc điểm giao tiếp của học sinh dân tộc
Trong giao tiếp, học sinh dân tộc ít người bộc lộ cảm xúc rõ rệt, song thiếu kĩ năng định vị. Khi giao tiếp với người thân, với bạn bè, các em đều thẳng thắn, bình đẳng, lời nói ít quan tâm đến chủ ngữ, hay nói trống không, với Giáo viên ít thưa gửi. Gặp người lạ, các em khó tiếp xúc, ngại trao đổi, chủ yếu là tò mò, quan sát. Kĩ năng định hướng trong giao tiếp của học sinh dân tộc ít người chưa được định hình chắc chắn. Mặc dù sinh sống với nhiều dân tộc khác, song điều này không làm biến đổi nhiều về phong cách giao tiếp của học sinh dân tộc.
Như vậy, có thể thấy, trong giao tiếp, học sinh dân tộc thường rụt rè, chưa mạnh dạn trong các hoạt động, chưa chủ động trong các mối quan hệ giao tiếp. Điều này cản trở sự tiếp xúc và thiết lập các mối quan hệ mới (Hoàng Gia Trang, 2015).
Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh dân tộc Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.
Ngoài các đặc điểm tâm sinh lí chung của lứa tuổi trung học phổ thông, học sinh Phổ thông dân tộc nội trú còn có những đặc điểm riêng: Ở lứa tuổi này về thể lực học sinh dân tộc thiểu số có phần trội hơn học sinh người Kinh. Trong quan hệ công đồng, quan hệ xã hội, các em coi trọng tín nghĩa, thẳng thắn, yêu ghét rạch ròi, các em yêu lao động, quý trọng thầy trò, tình bạn trung thực, gắn bó, trong học tập và rèn luyện ở môi trường nội trú phần lớn các em có tâm lý tự ti, mặc cảm, hay đôi khi có tính tự ái dân tộc khá cao, tính cách này thể hiện nhiều trong các sinh hoạt tập thể vui chơi giải trí. Vì là học sinh dân tộc thiểu số có ngôn ngữ, phong tục tập quán sinh hoạt riêng, hơn nữa, khả năng tư duy và nhận thức có mặt hạn chế nên còn tư tưởng ngại học, sợ học; các em thường thích sống tự do, không thích bị ràng buộc bởi nề nếp, quy định tập thể, nhiều thói quen chưa tốt như tác phong lề mề, chậm chạp, thiếu ngăn nắp. Tình cảm của học sinh dân tộc thiểu số thầm kín, ít biểu hiện ra ngoài một cách mạnh mẽ, khi hòa nhập với cuộc sống tập thể các em còn bỡ ngỡ, lúng túng (Hoàng Gia Trang, 2015).
1.3.2. Mục tiêu giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trong nhà trường
GDVHDT có vai trò quan trọng trong Giáo dục học sinh trường Phổ thông dân tộc nội trú. Hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc là hoạt động Giáo dục có mục tiêu nhằm nâng cao hiểu biết của học sinh về các giá trị Văn hóa dân tộc, bồi dưỡng ở học sinh tình cảm trân trọng, yêu quý các giá trị văn hóa truyền thống, hình thành ý thức trách nhiệm giữ gìn và phát huy bản sắc Văn hóa dân tộc.
Hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc góp phần Giáo dục toàn diện học sinh cả về trí, đức, thể, mỹ. Với việc tìm hiểu về văn hóa các dân tộc và vận dụng các giá trị Văn hóa dân tộc vào các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, sinh hoạt nội trú,…trường Phổ thông dân tộc nội trú giáo dục học sinh có nhận thức sâu sắc về Văn hóa dân tộc, có đủ năng lực và phẩm chất để phát huy các giá trị đó vào thực tế cuộc sống, đào tạo họ thành những người lao động mới, những cán bộ ưu tú cho vùng dân tộc.
GDVHDT góp phần thực hiện Giáo dục hòa nhập và thân thiện. Trường Phổ thông dân tộc nội trú tạo điều kiện để học sinh được thể nghiệm các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình, đồng thời giúp học sinh tiếp xúc, giao lưu Văn hóa của các dân tộc khác. Thông qua các hoạt động đó, học sinh sẽ hiểu biết nhau, tôn trọng nhau và thật sự sống với nhau bằng thái độ và tình cảm thân thiện. Nhờ Giáo dục văn hóa mà học sinh có được một môi trường tập thể trong lành, giúp các em gắn bó với nhau, cùng nhau trưởng thành.
Hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc không chỉ là điều kiện để mỗi học sinh được thể hiện những giá trị bản sắc văn hóa của dân tộc mình mà còn giúp học sinh được tiếp cận, giao lưu học hỏi với các giá trị văn hóa, hiện tượng văn hóa của các dân tộc khác. Qua các hoạt động này, học sinh được hòa nhập với bạn bè, hiểu biết về văn hóa, lối sống của các dân tộc, từ đó biết điều chỉnh, tiếp thu những giá trị văn hóa tích cực mà tạo nên sự hòa nhập, thân thiện với tập thể, bạn bè, thầy cô. Hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc tạo ra một môi trường tốt để tăng cường sự đoàn kết các dân tộc.
GDVHDT trong trường Phổ thông dân tộc nội trú góp phần thực hiện bảo tồn và phát triển Văn hóa dân tộc. Mỗi học sinh trường Phổ thông dân tộc nội trú là đại biểu văn hóa của một dân tộc, một vùng quê. Trường Phổ thông dân tộc nội trú tạo điều kiện để học sinh được tiếp xúc và thể nghiệm các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình để mạch chảy văn hóa không ngừng được nuôi dưỡng và lớn mạnh. Trường Phổ thông dân tộc nội trú tổ chức các hoạt động tìm hiểu, thể hiện, giao lưu văn hóa để học sinh trao đổi học tập và cùng tham gia vào việc bảo tồn, phát triển các giá trị văn hóa mà học sinh trường Phổ thông dân tộc nội trú vẫn là người con của dân tộc, hiểu biết và giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc.
1.3.3. Nội dung giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trong nhà trường Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.
Thông tư 01/2016/TT-BGDĐT ngày 15/01/2016 quy định về tổ chức hoạt động lao động, văn hóa, văn nghệ, thể thao trong các trường Phổ thông dân tộc nội trú như sau: “Hoạt động lao động, văn hóa, văn nghệ, thể thao: sinh hoạt văn nghệ, thể dục, thể thao, hoạt động theo chủ đề, chủ điểm, tham quan du lịch, lễ hội, tết dân tộc; giao lưu văn hóa và các hoạt động xã hội khác nhằm giáo dục lòng yêu nước, đạo đức, lối sống, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc, xóa bỏ các tập tục lạc hậu, góp phần phát triển và hoàn thiện nhân cách học sinh” (Điều 21).
Những nội dung Văn hóa dân tộc cần thiết trong Giáo dục học sinh trường Phổ thông dân tộc nội trú rất phong phú bao gồm các phương diện văn hóa, các giá trị văn hóa. Có thể phân chia chúng như sau:
- 1- Chữ viết: đưa chương trình dạy tiếng dân tộc Khmer vào dạy trong nhà trường
- 2- Lễ tục: Lễ hội (lễ tết cổ truyền, lễ hội dân gian), nghi lễ tín ngưỡng, tập tục (cưới xin, sinh đẻ, chữa bệnh ốm đau), tập quán (tập quán cư trú, tổ chức cộng đồng, nghi thức giao tiếp).
- 3- Kiến trúc: Kiến trúc nhà ở, nơi sinh hoạt cộng đồng (nhà sàn, nhà rông, nhà văn hóa), nơi thờ tự (đình, chùa, tháp, miếu).
- 4- Thủ công mỹ nghệ: Các nghề thủ công truyền thống (dệt, mộc, đan lát, hạm khắc, gốm), các làng nghề truyền thống.
- 5- Trang phục truyền thống: Y phục của nam và nữ (quần áo, khăn, mũ), đồ dùng sinh hoạt.
- 6- Ẩm thực: Văn hóa ăn, uống, các món ăn truyền thống.
- 7- Ngôn ngữ: Ngữ, từ vựng, ngữ pháp, phong cách.
- 8- Văn học: Văn học dân gian:
- Thần thoại, sử thi, truyền thuyết
- Truyện cổ tích, truyện cười, truyện thơ
- Ca dao, tục ngữ
- 9- Âm nhạc: Dân ca, nhạc dân gian, nhạc cụ truyền thống.
- 10- Vũ: Các điệu múa dân gian.
- 11- Trò chơi: Các trò chơi dân gian, đồng dao
Các nội dung Giáo dục văn hóa dân tộc có thể cụ thể như: Yêu gia đình,yêu quê hương, yêu dân tộc và đất nước; khiêm tốn, thật thà, cần cù, sáng tạo, có ý chí vươn lên; truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán dân tộc; tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng; dạy chữ viết, tiếng nói của dân tộc cùng với tiếng phổ thông; quan niệm đúng đắn về tình bạn, tình yêu; bảo vệ sức khỏe, bảo vệ môi trường; phòng tránh các tệ nạn XH, mê tín dị đoan; văn hóa ứng xử, giao tiếp.
Những phương diện văn hóa và hiện tượng văn hóa như trên đều thuộc nội dung cần thiết trong Giáo dục học sinh trường Phổ thông dân tộc nội trú. Tùy điều kiện của mỗi cơ sở Giáo dục, mỗi địa phương mà nội dung văn hóa có thể được khai thác và vận dụng khác nhau sao cho phù hợp. Càng khai thác và vận dụng được nhiều giá trị văn hóa vào Giáo dục học sinh thì địa phương và cơ sở Giáo dục đó càng đem lại hiệu quả tốt trong Giáo dục học sinh trường Phổ thông dân tộc nội trú (Mông Ký Slay, et al., 2013). Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.
1.3.4. Hình thức, phương pháp giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trong nhà trường
Tổ chức các hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc rất đa dạng và phong phú. Theo đặc điểm hoạt động của trường Phổ thông dân tộc nội trú, việc tổ chức hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc có thể chia thành hai phạm vi hoạt động cơ bản là Giáo dục văn hóa dân tộc trong giờ học và Giáo dục văn hóa dân tộc ngoài giờ lên lớp. Hai phạm vi này đều thống nhất một mục tiêu nhưng cách thức và phương pháp thì khác nhau.
- Tổ chức hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc trong giờ học:
Trong giờ học, Giáo dục văn hóa dân tộc được thực hiện qua các môn học với nhiều cách thức, phương pháp khác nhau. Tùy thuộc vào mức độ quan hệ giữa môn học với hiện tượng Văn hóa dân tộc mà các môn học tham gia vào việc Giáo dục văn hóa dân tộc khác nhau. Nhìn chung cách thức của các môn học tham gia vào Giáo dục văn hóa dân tộc theo cách lồng ghép và phương pháp được sử dụng là tích hợp.
Hiện nay, do việc tổ chức dạy học trong trường Phổ thông dân tộc nội trú thống nhất với chương trình phổ thông nên các nội dung Giáo dục đặc thù, các nội dung Giáo dục văn hóa dân tộc đều không được bố trí chính thức trong chương trình. Việc Giáo dục văn hóa dân tộc đều phải thực hiện lồng ghép theo điều kiện và khả năng thực hiện của từng địa phương, từng cơ sở Giáo dục. Việc lồng ghép có thể được thực hiện theo các mức độ khác nhau tùy mối quan hệ kiến thức, tùy đặc điểm quy mô của hiện tượng Văn hóa dân tộc hoặc tùy khả năng của Giáo viên
Phương pháp chủ yếu được thực hiện trong lồng ghép là phương pháp tích hợp. Phương pháp tích hợp là sự kết hợp một cách có hệ thống các kiến thức Văn hóa dân tộc và kiến thức môn học thành một nội dung thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong bài học để học sinh nhận thức và thực hành vận dụng kiến thức vào thực tiễn trong đó có thực tiễn Văn hóa dân tộc.
Do đặc điểm của giờ học bị quy định hạn chế về không gian và thời gian nên việc sử dụng phương pháp tích hợp đối với Giáo dục văn hóa dân tộc trong trường Phổ thông dân tộc nội trú là rất phù hợp. Phương pháp tích hợp giúp cho việc giới thiệu về Văn hóa dân tộc được thực hiện linh hoạt, có trọng tâm, trọng điểm. Trong điều kiện xã hội ngày càng phát triển, cùng với sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ thông tin, máy chiếu, phim, ảnh việc giới thiệu Văn hóa dân tộc theo phương pháp tích hợp được thực hiện ngày càng phát hiệu quả. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.
Phương pháp tích hợp có khả năng sử dụng phổ biến và hiệu quả trong GDVHDT. Nhờ phương pháp tích hợp mà các bộ môn đều có thể tham gia vào việc GDVHDT cho học sinh. Trong đó, việc tích hợp Giáo dục văn hóa dân tộc có hiệu quả nhất là các môn:
Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân, Sinh học, Công nghệ.
Việc tích hợp kiến thức Văn hóa dân tộc trong các môn học được thể hiện 3 mức độ: Mức độ toàn phần, mức độ bộ phận, mức độ liên hệ.
Mức độ toàn phần: Mục tiêu và nội dung bài học hoặc chương trình học hoàn toàn phù hợp với mục tiêu và nội dung của Giáo dục văn hóa dân tộc.
Mức độ bộ phận: chỉ một bộ phận bài học có mục tiêu và nội dung của Giáo dục văn hóa dân tộc.
Mức độ liên hệ: Các kiến thức Giáo dục văn hóa dân tộc không được nêu rõ trong sách giáo khoa, nhưng dựa vào kiến thức bài học, Giáo viên có thể bổ sung các kiến thức đó bằng cách liên hệ các kiến thức Giáo dục văn hóa dân tộc (các hiện tượng, hình ảnh, số liệu về thực trạng văn hóa) vào bài giảng trên lớp dưới hình thức các ví dụ khi phân tích bài một cách hợp lí.
- Tổ chức hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc ngoài giờ học:
Hoạt động ngoài giờ lên lớp (HĐNGLL): học sinh trường Phổ thông dân tộc nội trú được tổ chức học tập, nuôi dạy theo hệ thống quản lý suốt cả ngày tại trường. Ngoài thời gian học sinh học tập trên lớp theo chương trình Giáo dục chính thức của cấp học, thời gian còn lại đều là thời gian ngoài giờ lên lớp. Thời gian ngoài giờ lên lớp chiếm dung lượng lớn trong tổng số thời gian của học sinh tại trường Phổ thông dân tộc nội trú.
HĐNGLL là hoạt động Giáo dục thực hiện trong thời gian ngoài giờ lên lớp ở trường Phổ thông dân tộc nội trú. Hoạt động ngoài giờ lên lớp được tổ chức theo nhiều hình thức, thực hiện nhiều nhiệm vụ Giáo dục nhằm nâng cao kiến thức, bồi dưỡng tư tưởng tình cảm và phẩm chất đạo đức, hình thành năng lực và kỹ năng sống cho học sinh. Hoạt động ngoài giờ lên lớp giữ vai trò quan trọng trong Giáo dục toàn diện học sinh trường Phổ thông dân tộc nội trú.
Đặc điểm của hoạt động ngoài giờ lên lớp
HĐNGLL thực hiện mục tiêu và kế hoạch Giáo dục và đào tạo của trường Phổ thông dân tộc nội trú. Vai trò của Hoạt động ngoài giờ lên lớp đồng đẳng với các hoạt động Giáo dục khác trong chương trình Giáo dục của trường Phổ thông dân tộc nội trú. Hoạt động ngoài giờ lên lớp trở thành chương trình Giáo dục bắt buộc trong trường PTDTNT.
HĐNGLL mở rộng mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng Giáo dục. Ngoài Giáo viên, Cán bộ quản lý, nhân viên, phụ huynh, các thành phần xã hội khác đều có thể tham gia vào việc tổ chức, quản lý Giáo dục học sinh. học sinh tham gia vào các Hoạt động ngoài giờ lên lớp với tư cách là người học, người thực hành, nhưng có khi lại là người tổ chức, người hướng dẫn, người trình diễn,… Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.
HĐNGLL ở trường Phổ thông dân tộc nội trú đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung. Hoạt động ngoài giờ lên lớp được tổ chức theo hình thức, như: lao động sản xuất, sinh hoạt tập thể, hoạt động chuyên biệt, giao lưu Văn hóa giữa học sinh các dân tộc với nhau, tự học, tự rèn luyện; tổ chức các cuộc thi, tìm hiểu theo chủ đề; tìm hiểu bản sắc văn hóa, phong tục, tập quán của các dân tộc ở địa phương. Nội dung triển khai của Hoạt động ngoài giờ lên lớp bao gồm các kiến thức về văn hóa – khoa học kỹ thuật, kỹ năng lao động, kỹ năng sống.
Tổ chức Hoạt động ngoài giờ lên lớp có tính chất mềm dẻo và linh hoạt. Việc tổ chức Hoạt động ngoài giờ lên lớp đều tính đến sự phù hợp về con người, thời gian, không gian, văn hóa. Việc tổ chức Hoạt động ngoài giờ lên lớp vừa mang tính chất bắt buộc (hoạt động được xây dựng trong kế hoạch Giáo dục của nhà trường, Giáo viên và học sinh có trách nhiệm thực hiện như một nhiệm vụ Giáo dục chính thức), vừa mang tính chất tự nguyện (hoạt động được tổ chức theo sở thích, sở trường của học sinh nhằm phát huy, phát triển các năng lực của học sinh).
Ý nghĩa của Giáo dục văn hóa dân tộc qua Hoạt động ngoài giờ lên lớp:
HĐNGLL thực hiện mục tiêu Giáo dục toàn diện cho học sinh. Hoạt động ngoài giờ lên lớp với các hoạt động tự học, học có hướng dẫn đã góp phần củng cố, khắc sâu, hệ thống hóa kiến thức giúp học sinh học tập tốt hơn chương trình của cấp học. Bên cạnh đó, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao; các hoạt động lao động sản xuất; các hoạt động phát huy sở thích, sở trường và rèn luyện kỹ năng sống đã góp phần Giáo dục toàn diện học sinh cả về trí, đức, thể, mỹ. Qua Hoạt động ngoài giờ lên lớp, trường Phổ thông dân tộc nội trú giáo dục học sinh có đủ năng lực và phẩm chất tốt đẹp để đào tạo họ thành những cán bộ ưu tú cho vùng dân tộc.
HĐNGLL thực hiện Giáo dục hòa nhập và thân thiện. Hoạt động ngoài giờ lên lớp không chỉ là điều kiện để mọi học sinh được thể hiện mà còn là điều kiện để học sinh được giao lưu học hỏi. Qua Hoạt động ngoài giờ lên lớp, học sinh được hòa nhập với bạn bè, hiểu biết về văn hóa, lối sống của các dân tộc, từ đó biết điều chỉnh, tiếp thu những giá trị văn hóa tích cực mà tạo nên sự hòa nhập, thân thiện với tập thể, bạn bè, thầy cô. Hoạt động ngoài giờ lên lớp tạo ra môi trường tốt để tăng cường sự đoàn kết các dân tộc.
HĐNGLL thực hiện bảo tồn và phát triển Văn hóa dân tộc. Mỗi học sinh trường Phổ thông dân tộc nội trú là đại biểu văn hóa của một dân tộc, một vùng quê. Trường Phổ thông dân tộc nội trú tạo điều kiện để HS được tiếp xúc và thể nghiệm các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình để mạch chảy văn hóa không ngừng được nuôi dưỡng và lớn mạnh. Trường Phổ thông dân tộc nội trú tổ chức các hoạt động tìm hiểu, thể hiện, giao lưu văn hóa để học sinh được trao đổi học tập và cùng tham gia vào việc bảo tồn, phát triển các giá trị Văn hóa dân tộc. Nhờ được tiếp xúc thường xuyên với các hoạt động văn hóa mà học sinh trường Phổ thông dân tộc nội trú vẫn là người con của dân tộc, hiểu biết và giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc mình.
- Giáo dục Văn hóa dân tộc cho học sinh Phổ thông dân tộc nội trú thông qua các hoạt động ngoại khóa, hoạt động xã hội, từ thiện.
- Giáo dục Văn hóa dân tộc thông qua tổ chức thực hiện phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.
- Giáo dục Văn hóa dân tộc thông qua hoạt động theo chủ đề những giá trị văn hóa, giáo dục truyền thống văn hóa, các lễ hội của các dân tộc và của địa phương.
- Giáo dục Văn hóa dân tộc trong các giờ chào cờ, sinh hoạt lớp.
- Giáo dục Văn hóa dân tộc thông qua hoạt động Đoàn.
- Tự giáo dục của học sinh.
- Ngoài ra các phương pháp cần được áp dụng như: Nêu gương cá nhân, tập thể có hành vi tốt hay chưa tốt trong hoạt động giữ gìn Văn hóa dân tộc; khen thưởng, kỷ luật kịp thời; Nhắc nhở, động viên.
1.3.5. Nhà giáo dục
Trong trường Phổ thông dân tộc nội trú, Ban giám hiệu, Bí thư đoàn trường, Tổng phụ trách Đội, Giáo viên chính là lực lượng Giáo dục chủ yếu Giáo dục học sinh những giá trị Văn hóa dân tộc thông qua tích hợp lồng ghép vào nội dung các môn học, các buổi sinh hoạt dưới cờ, các tiết sinh hoạt ngoài giờ lên lớp, Giáo dục kĩ năng sống từ đó góp phần hình thành và hoàn thiện nhân cách học sinh.
Quy chế tổ chức và hoạt động của trường phổ thông dân tộc nội trú quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Ban giám hiệu, Giáo viên như sau:
Nhiệm vụ và quyền hạn của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng
Theo Điều 14, Quy chế tổ chức và hoạt động của trường phổ thông dân tộc nội trú quy định: (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2016)
Ngoài các nhiệm vụ và quyền hạn được quy định tại Điều lệ trường trung học hiện hành, hiệu trưởng, phó hiệu trưởng trường Phổ thông dân tộc nội trú còn có nhiệm vụ và quyền hạn sau:
- Nắm vững chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước.
- Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của trường Phổ thông dân tộc nội trú quy định tại Điều 3 của Quy chế này.
- Tích cực tìm hiểu văn hóa, ngôn ngữ, phong tục, tập quán và đặc điểm tâm lý học sinh các dân tộc thiểu số ở địa phương.
- Tổ chức thực hiện chương trình và các hoạt động Giáo dục phù hợp với học sinh Phổ thông dân tộc nội trú.
- Phối hợp với chính quyền, các cơ quan đoàn thể, tổ chức xã hội ở địa phương trong việc quản lí, nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe học sinh.
- Được bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ và phương pháp Giáo dục, chăm sóc học sinh Phổ thông dân tộc nội trú và được hưởng các chế độ, chính sách ưu đãi theo quy định của Nhà nước.
Nhiệm vụ và quyền hạn của Giáo viên Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.
Theo Điều 15, Quy chế tổ chức và hoạt động của trường phổ thông dân tộc nội trú quy định: (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2016)
Ngoài các nhiệm vụ và quyền hạn được quy định tại Điều lệ trường trung học hiện hành, Giáo viên trường Phổ thông dân tộc nội trú có nhiệm vụ và quyền hạn sau:
- Chấp hành phân công của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng trong tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của trường Phổ thông dân tộc nội trú quy định tại Điều 3 của Quy chế này.
- Tìm hiểu và Giáo dục chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước cho HS.
- Tích cực tìm hiểu văn hóa, ngôn ngữ, phong tục, tập quán và đặc điểm tâm lý học sinh các dân tộc thiểu số ở địa phương.
- Vận dụng phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học và kiểm tra đánh giá phù hợp với học sinh Phổ thông dân tộc nội trú; tham gia quản lý, Giáo dục học sinh ngoài giờ chính khóa; bồi dưỡng và phụ đạo học sinh; hướng dẫn học sinh tự học; tổ chức các hoạt động lao động và trải nghiệm sáng tạo cho học sinh.
- Được bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ và phương pháp Giáo dục, chăm sóc học sinh Phổ thông dân tộc nội trú và được hưởng các chế độ, chính sách ưu đãi theo quy định của Nhà nước.
Như vậy, Ban giám hiệu và Giáo viên các trường Phổ thông dân tộc nội trú ngoài các nhiệm vụ theo Điều lệ nhà trường phổ thông thì còn có các nhiệm vụ phù hợp với loại hình trường chuyên biệt, trong đó có nhiệm vụ “GD học sinh về chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước; bản sắc văn hóa và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc Việt Nam” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2016).
1.3.6. Kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trong nhà trường
Kiểm tra, đánh giá là một khâu cuối cùng của hoạt động quản lý cũng như của bất kì hoạt động Giáo dục nào được tổ chức thực hiện. Nhờ có kiểm tra, đánh giá chúng ta có thể phát hiện những vấn đề về nội dung, hình thức, phương pháp, phương tiện trong quá trình thực hiện các hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc, từ đó nhìn nhận được những ưu điểm, hạn chế cũng như đưa ra nguyên nhân và giải pháp mới tốt hơn trong thời gian tới. Kiểm tra cũng góp phần khuyến khích, động viên những cá nhân thực hiện tốt đồng thời phát hiện, ngăn chặn những sai sót xảy ra.
Trong trường Phổ thông dân tộc nội trú việc đánh giá xếp loại đạo đức của học sinh cũng giống với các trường phổ thông, được thực hiện theo Thông tư số 58/2011/TT-BGDĐT ngày 12/12/2011 của Bộ Giáo dục&ĐT. Hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc trong nhà trường xét về mục tiêu chung là nhằm Giáo dục các giá trị đạo đức của học sinh. Cho nên, đánh giá kết quả hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc là một kênh thông tin để Giáo viên đánh giá kết quả rèn luyện đạo đức của học sinh.
Một số nội dung cần kiểm tra, đánh giá trong hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh: Thái độ tham gia các hoạt động Giáo dục của nhà trường; Ý thức sử dụng trang phục, ngôn ngữ dân tộc trong các hoạt động tập thể; ý thức, hành vi quảng bá những sản phẩm văn hóa và phong tục tập quán của dân tộc mình; thái độ tôn trọng tập tục, ngôn ngữ, phong cách và trang phục của dân tộc khác. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.
1.3.7. Điều kiện, môi trường thực hiện hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trong nhà trường
Theo Điều 6 của Thông tư 01/2016/TT ngày 15/01/2016 Ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của trường phổ thông dân tộc nội trú, quy định Cơ sở vật chất và thiết bị của trường phổ thông dân tộc nội trú (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2016).
Trường Phổ thông dân tộc nội trú có cơ sở vật chất, thiết bị theo quy định tại Điều lệ trường trung học hiện hành và đảm bảo tiêu chí của trường chuẩn quốc gia, ngoài ra còn có các hạng mục sau:
- Khu nội trú có diện tích sử dụng tối thiểu 6m2/HS.
- Phòng ở nội trú, nhà ăn cho học sinh và các trang thiết bị kèm theo.
- Nhà công vụ cho Giáo viên.
- Nhà sinh hoạt, Giáo dục văn hóa dân tộc với các thiết bị kèm theo.
- Phòng học và thiết bị Giáo dục hướng nghiệp, dạy nghề phổ thông, nghề truyền thống của các dân tộc phù hợp với địa phương.
1.4. Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trong trường phổ thông
1.4.1. Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh thông qua hoạt động dạy học
Quản lý hoạt động Giáo dục VH cho học sinh thông qua hoạt động dạy học là tác động quản lý của hiệu trưởng tới đội ngũ Giáo viên thông qua lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra hoạt động giảng dạy của Giáo viên. Cụ thể gồm các công việc quản lý sau
Hiệu trưởng cần xác định rõ và quán triệt cho người Giáo viên về mục tiêu của Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở trường Phổ thông dân tộc nội trú. Các mục tiêu này thể hiện trong các nội dung hoạt động giảng dạy (từ việc soạn bài, giảng dạy trên lớp và kiểm tra đánh giá học sinh). Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.
Quản lý việc soạn bài và chuẩn bị giờ lên lớp của Giáo viên. Chỉ đạo giáo viên gắn bài giảng của mình (hình thức Giáo dục, nội dung Giáo dục) với các ví dụ thực tiễn ở địa phương, thông qua đó làm cho học sinh nhận thức được những giá trị Văn hóa dân tộc cần được gìn giữ và phát huy.
Quản lý giờ lên lớp của Giáo viên. Chỉ đạo Giáo viên tổ chức hoạt động dạy học theo hướng hình thành được cho học sinh phương pháp tự học, tự bồi dưỡng để có điều kiện học tập suốt đời và học tập ở mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh.
Tổ chức sinh hoạt tổ chuyên môn ở trường Phổ thông dân tộc nội trú theo hướng nghiên cứu bài học nhằm mục đích phát triển năng lực nghề nghiệp tốt nhất cho Giáo viên để họ đáp ứng yêu cầu đổi mới Giáo dục hiện nay.
Chỉ đạo xây dựng đề kiểm tra định kì, học kì có nội dung Giáo dục văn hóa dân tộc.
Tổ chức đánh giá kết quả Giáo dục văn hóa dân tộc qua các môn học ở cuối học kì, cuối năm học.
1.4.2. Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh thông qua các Hoạt động ngoài giờ lên lớp
Tổ chức Đoàn thanh niên trong nhà trường giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục nói chung, hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc nói riêng cho học sinh nhà trường. Những nội dung hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cụ thể như:
- Liên kết chương trình, kế hoạch hoạt động của Đoàn thanh niên với kế hoạch của nhà trường, các bộ phận có liên quan trong việc thực hiện hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc.
- Phân công trách nhiệm rõ ràng trong tổ chức các hoạt động, tổ chức Đoàn sẽ chịu trách nhiệm thực hiện một số đầu việc như:
- Phối hợp với tổ chuyên môn, Giáo viên chủ nhiệm tổ chức các hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc và đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh.
- Trên cơ sở sự chỉ đạo của Đoàn cấp trên, Đoàn trường triển khai thực hiện các phong trào, các hoạt động xã hội, văn hóa văn nghệ mang tính Giáo dục văn hóa dân tộc; Tổ chức các cuộc thi, các hoạt động biểu diễn văn hóa-văn nghệ trong nhà trường nhằm Giáo dục văn hóa dân tộc; phát động các đợt thi đua, tổ chức các sân chơi, các hoạt động giao lưu, tuyên truyền, các hoạt động nhân đạo, hoạt động lao động công ích, tình nguyện nhằm nâng cao nhận thức cho mọi người về ý nghĩa của Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh.
- Tổ chức cho học sinh tham quan các di tích lịch sử, các di tích văn hóa, làng nghề để Giáo dục văn hóa dân tộc
- Tổ chức lồng ghép nội dung Giáo dục văn hóa dân tộc trong các tiết Hoạt động ngoài giờ lên lớp theo chủ điểm phù hợp với các tháng
- Cử cán bộ Đoàn, Tổng phụ trách Đội đi dự các lớp tập huấn về nghiệp vụ hoạt động Đoàn- Đội, tổ chức giao lưu giữa các trường về công tác Đoàn- Đội.
1.4.3. Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh thông qua công tác chủ nhiệm Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.
- Chỉ đạo Giáo viên CN đề ra mục tiêu Giáo dục văn hóa dân tộc trong xây dựng kế hoạch chủ nhiệm của năm học và kế hoạch hàng tháng.
- Chỉ đạo Giáo viên CN phối hợp tốt với cha mẹ học sinh để Giáo dục văn hóa dân tộc
- GV chủ nhiệm thông qua các cuộc họp phụ huynh học sinh, tuyên truyền để cha mẹ học sinh hiểu được về các hoạt động giáo dục trong nhà trường, thống nhất yêu cầu Giáo dục giữa nhà trường với gia đình, trách nhiệm của gia đình trong Giáo dục con em, thống nhất kênh liên lạc giữa Giáo viên chủ nhiệm và cha mẹ học sinh.
- Phối hợp với Ban đại diện cha mẹ học sinh lớp tham gia tổ chức các hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh.
- Phối hợp với Ban đại diện cha mẹ học sinh trường để có sự hỗ trợ về kinh phí, về cơ sở vật chất, về chất xám trong tổ chức các hoạt động quy mô toàn trường.
- Tăng cường phối hợp giữa Giáo viên CN với các lực lượng trong và ngoài nhà trường trong công tác Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh.
- Bồi dưỡng kiến thức Văn hóa dân tộc, nhất là Văn hóa dân tộc thiểu số cho Giáo viênCN.
1.4.4. Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh thông qua phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội
Để quản lý tốt sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong việc Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh, hiệu trưởng nhà trường thực hiện các hoạt động sau đây:
- Chỉ đạo, tổ chức phối hợp giữa ban giám hiệu, các tổ chuyên môn, Giáo viên chủ nhiệm với tổ chức Đoàn thanh niên.
- Chỉ đạo, tổ chức phối hợp giữa ban giám hiệu, Giáo viên chủ nhiệm với tổ chức hội cha mẹ học sinh:
- Trước hết, xây dựng cơ chế phối hợp giữa nhà trường với gia đình học sinh.
- Xây dựng kế hoạch theo từng học kỳ cho hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội, trong đó thể hiện rõ mục đích của hoạt động cần đạt được, trách nhiệm của các bên liên quan, thời gian thực hiện và nguồn lực cần được huy động.
- Phối hợp giữa nhà trường và các lực lượng xã hội trong tổ chức hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh: Tổ chức và chỉ đạo thực hiện sự phối hợp giữa nhà trường và lực lượng xã hội trên cơ sở kế hoạch đã đề ra, đảm bảo tổ chức thức hiện theo đúng mục đích, huy động đầy đủ nguồn lực và có kết quả và có hiệu quả.
Thường xuyên kiểm tra, giám sát và đánh giá các hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong việc Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh.
1.4.5. Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh thông qua xây dựng môi trường văn hoá nhà trường
Theo tác giả Nguyễn Sỹ Thư trong Đề cương bài giảng xây dựng và phát triển văn hóa nhà trường: Văn hóa nhà trường là hệ thống các chuẩn mực, giá trị, niềm tin, nghi thức, biểu tượng và những tiểu sử, sự kiện làm nên bộ mặt riêng của nhà trường. Đó là một loạt những kì vọng không viết thành văn được hình thành trong suốt chặng đường phát triển của nhà trường do Giáo viên, lãnh đạo nhà trường, cha mẹ và học sinh cùng nhau giải quyết các vấn đề, vượt qua những thách thức, và đương đầu với những thất bại. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.
Nội dung cơ bản của việc xây dựng văn hóa nhà trường: Dựa trên cơ sở của “Các yếu tố cấu thành văn hóa nhà trường” và “Các yêu tố ảnh hưởng văn hóa nhà trường” có thể xác định các nội dung cơ bản của việc xây dựng văn hóa nhà trường, đó là:
- Các mục tiêu và chính sách, các chuẩn mực và nội quy;
- Biểu tượng, các giá trị truyền thống của nhà trường;
- Niềm tin, các loại thái độ, cảm xúc và ước muốn cá nhân;
- Các mối quan hệ giữa các nhóm và các thành viên;
- Nghi thức và hành vi, đồng phục,…
Hiệu trưởng có vai trò quyết định/chi phối sự phát triển văn hoá nhà trường:
- Tư duy phát triển Giáo dục của người hiệu trưởng ảnh hưởng đến văn hoá nhà trường;
- Hiệu trưởng có vai trò quan trọng trong việc hình thành các chuẩn mực, các giá trị cốt lõi, niềm tin;
- Sự quan tâm, chú ý của hiệu trưởng đến cái gì sẽ ảnh hưởng chi phối văn hóa nhà trường;
- Hiệu trưởng xác định, tập hợp tạo lập hệ thống giá trị cốt lõi của trường;
Để nuôi dưỡng, phát triển văn hóa nhà trường, hiệu trưởng phải thực hiện một số nội dung sau:
- Xây dựng nguồn tài liệu phong phú, cung cấp đầy đủ lượng sách báo và tạp chí phục vụ hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc.
- Trang bị cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ công tác tuyên truyền, dạy học GDVHDT.
- Gia tăng nguồn lực tài chính cho công tác tuyên truyền, Giáo dục văn hóa dân tộc.
- Xây dựng môi trường xã hội văn hóa lành mạnh để học sinh được rèn luyện, cống hiến và trưởng thành.
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trong trường phổ thông dân tộc nội trú
1.5.1. Yếu tố chủ quan
Phẩm chất và năng lực quản lí của hiệu trưởng nhà trường
Trong nhà trường Phổ thông dân tộc nội trú, hiệu trưởng là người đứng đầu trong lãnh đạo, quản lí điều hành mọi hoạt động dạy học và Giáo dục. Do đó, nếu người hiệu trưởng có phẩm chất và năng lực tốt sẽ làm cho mọi hoạt động trong trường hoạt động có hiệu quả và đạt được mục tiêu đề ra. Từ lý luận và thực tiễn cho thấy, để tổ chức tốt các hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh, hiệu trưởng không những có phẩm chất, có kiến thức về văn hóa các dân tộc, có lòng nhiệt huyết với công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc cho các thế hệ học sinh mà còn phải có kiến thức lý luận và kinh nghiệm thực tế quản lí tốt để có thể chỉ đạo, tổ chức, điều hành các lực lượng trong nhà trường thực hiện tốt các hoạt động Giáo dục.
Năng lực và phẩm chất của đội ngũ Giáo viên thực hiện Giáo dục văn hóa dân tộc
GV chính là người trực tiếp tổ chức Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh thông qua nội dung các bài học liên quan, các Hoạt động ngoài giờ lên lớp cho nên Giáo viên có vai trò quan trọng trong việc truyền cảm hứng nhận thức, hình thành tình cảm và mong muốn thực hiện các hình thức giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc. Giáo viên thiếu vốn sống về Văn hóa dân tộc, không nhận thức sâu sắc vai trò của văn hóa trong Giáo dục thế hệ trẻ thì sẽ ảnh hưởng năng nề đến hoạt động Giáo dục của nhà trường. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.
Trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ của đất nước và sự thay đổi nhanh chóng của thế giới như hiện nay, có nhiều văn hóa ngoại lai xâm nhập vào nước ta, bên cạnh những mặt tốt thì có nhiều mặt còn hạn chế, ảnh hưởng đến tâm tư, tình cảm và thái độ sống của học sinh. Do đó, Giáo viên phải không ngừng tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, không ngừng đổi mới, sáng tạo trong dạy học và Giáo dục học sinh thì mới có thể giúp học sinh có những kiến thức bổ ích, thực tế và có sức thuyết phục.
Tính tích cực, tự giác, tự Giáo dục của người học
Suy cho cùng, mọi sự Giáo dục muốn đạt được hiệu quả thì nhân tố quan trọng nhất, quyết định nhất chính là bản thân người được Giáo dục. Sự tích cực, tự giác của học sinh sẽ giúp các em khám phá được nhiều kiến thức mới, thậm chí những tri thức đó không phải do các em tiếp nhận từ Giáo viên mà từ những nguồn khác. Sự tích cực, tự giác của các em sẽ làm cho các hoạt động Giáo dục trong nhà trường trở nên sinh động, hấp dẫn, lôi cuốn hơn. Nếu học sinh thiếu tính tự học, tự Giáo dục thì sự tác động của Giáo viên rất khó đem lại hiệu quả. Mọi sự Giáo dục sẽ không đem lại hiệu quả nếu thiếu sự tự Giáo dục. Thực tế cho thấy, nhiều học sinh trường Phổ thông dân tộc nội trú mặc dù thường xuyên được thầy cô Giáo dục phải biết lễ phép, kính trên nhường dưới, không hút thuốc, uống rượu nhưng khi các em về với gia đình thì có rất nhiều em có hành vi vi phạm.
Nội dung, hình thức, phương pháp và phương tiện Giáo dục văn hóa dân tộc
Nội dung phải có tính thực tế, phù hợp, thiết thực thì sẽ kích thích học sinh tham gia học tập, rèn luyện, đem lại hiệu quả.
Hình thức, phương pháp phải phát huy tính năng động, sáng tạo của học sinh, kích thích học sinh tham gia vào các hoạt động Giáo dục và hình thành ý thức tự học, tự Giáo dục ở các em.
Phương tiện dạy học phải đảm bảo đáp ứng được yêu cầu cho việc tổ chức dạy học và Giáo dục, chúng ta không thể mong muốn học sinh biết cách sử dụng nhạc cụ dân tộc nhưng lại không có một hình ảnh, video clip hay nhạc cụ thực tế để học sinh có thể học tập.
1.5.2. Yếu tố khách quan
Chủ trương, quan điểm của Đảng, Nhà nước và các cấp Quản lý giáo dục về hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh
Hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh sẽ có những thuận lợi to lớn nếu có chủ trương, đường lối chỉ đạo của Đảng, chính sách của Nhà nước và các văn bản điều hành của các cấp quản lí Giáo dục, nó sẽ tạo nên một sự thống nhất chung và là động lực thúc đẩy việc Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ngày càng được quan tâm và phát triển.
Lý luận và thực tiễn hiện nay cho thấy, Đảng, Nhà nước đã có rất nhiều Nghị quyết, Quyết định nhằm bảo tồn và phát huy bản sắc Văn hóa dân tộc. Trong đó, Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Viện Nam khóa VIII về xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (16-7-1998) là Nghị quyết có vai trò đặc biệt quan trọng trong lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam thời kì đổi mới.
Bộ Giáo dục&ĐT đến Sở Giáo dục&ĐT đã phát động trong toàn ngành phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” để tăng cường công tác Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh.
Tất cả các văn bản chỉ đạo của các cấp nêu trên chính là những cơ sở pháp lý để hiệu trưởng các trường phổ thông nói chung và Phổ thông dân tộc nội trú nói riêng đề ra những biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.
Truyền thống văn hóa, đời sống kinh tế, xã hội của địa phương, môi trường Giáo dục gia đình
Truyền thống văn hóa, đời sống kinh tế, xã hội của địa phương, môi trường Giáo dục gia đình là các yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động Giáo dục và quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường PDTNT. Nó có thể thúc đẩy cũng như kìm hãm các hoạt động này.
Trong các yếu tố trên, gia đình có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất. Bởi vì, nhân cách của một con người chịu ảnh hưởng và bị chi phối sớm nhất là ở trong gia đình. Gia đình chính là cái nôi lưu giữ truyền thống Văn hóa dân tộc qua các thế hệ. Nếu một gia đình có ông bà, cha mẹ sống mẫu mực, biết vun đắp các giá trị đạo đức, văn hóa tốt đẹp cho con cháu thì việc Giáo dụcVH cho các em trong nhà trường chắc chắn sẽ nhanh chóng đem lại hiệu quả. Do đó, để Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh, mỗi gia đình cần giữ gìn đạo đức, nề nếp gia phong, phát huy các giá trị đạo đức truyền thống, bản sắc Văn hóa dân tộc, tín ngưỡng làm cho các giá trị đó ngày càng toả sáng, góp phần bồi dưỡng tư tưởng tình cảm cao đẹp cho thế hệ con cháu.
Sự phối hợp của các lực lượng Giáo dục
Để Giáo dục nhân cách một con người đòi hỏi phải có sự kết hợp giữa các lực lượng Giáo dục, bởi vì con người có tham gia hoạt động, giao tiếp, giao lưu với nhiều đối tượng, nhiều môi trường khác nhau, các môi trường đó gồm nhà trường, gia đình và xã hội, nên đòi hỏi phải có sự hợp tác thống nhất, sự kết hợp nhịp nhàng và đồng bộ, hỗ trợ nhau giữa ba môi trường Giáo dục ấy. Sự phối hợp Giáo dục đòi hỏi phải thường xuyên, liên tục, tác động mạnh mẽ vào quá trình phát triển nhân cách toàn diện của học sinh. Để thực hiện được sự phối hợp Giáo dục học sinh đòi hỏi thầy cô giáo, phụ huynh học sinh và các tổ chức xã hội phải có nhận thức đúng đắn và thống nhất thực hiện thì mới mang lại hiệu quả.
Kết luận chương 1
Giáo dục Văn hóa dân tộc cho học sinh trường Phổ thông dân tộc nội trú có những đặc trưng về nội dung, phương pháp, hình thức và kết quả thực hiện hoạt động. Quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc trường Phổ thông dân tộc nội trú thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý của hiệu trưởng trường Phổ thông dân tộc nội trú là:
- Quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh thông qua con đường dạy học;
- Quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh thông qua các hoạt động ngoại khoá;
- Quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh thông qua công tác chủ nhiệm ;
- Quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh thông qua phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội;
- Quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh thông qua xây dựng môi trường văn hoá nhà trường.
Để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh nói chung và Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh các trường Phổ thông dân tộc nội trú trong thời kì mới thì vấn đề Giáo dục văn hóa dân tộc cho các em là một việc làm cần thiết. Các em tự tin trong cuộc sống song vẫn giữ được nét đẹp truyền thống của dân tộc mình thì đòi hỏi các Cán bộ quản lý cần phải có các biện pháp quản lý Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh có hiệu quả, khả thi hơn . Việc nghiên cứu lí luận có tính thống nhất với thực tiễn là tiền đề khoa học để nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng quản lí giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh
