Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng về quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại các trường tiểu học Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Giới thiệu tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội, giáo dục và đào tạo của quận
Quận 3 có 14 phường, 63 khu phố, 874 tổ dân phố. Quận 3 được xem là một quận nội thành nằm trong khu vực trung tâm của Thành phố, có địa giới hành chánh rất quan trọng, là nơi có nhiều cơ quan Đảng, Nhà nước, cơ quan hành chánh, cơ quan thông tấn, báo chí, cơ quan ngoại giao và nhà riêng của các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước. Quận 3 còn có vị trí quan trọng về thương mại, dịch vụ… là một địa bàn có đường giao thông đường bộ trọng yếu của Thành phố. Toàn quận có khoảng 45.250 hộ, 222.446 người, mật độ dân số 38.573 người/km2, là quận có mật độ dân số cao đứng hàng thứ 5 của Thành phố. Có 20 dân tộc sinh sống trên địa bàn, dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ cao nhất khoảng 95.71%.
Trong năm 2018, tổng số doanh nghiệp phát triển mới là 3.675 doanh nghiệp với tổng số vốn đăng ký là 39,440.6 tỷ đồng, đồng thời có 421 doanh nghiệp đã hoàn tất thủ tục giải thể, tổng số vốn giải thể là 5,669.37 tỷ đồng.
- Tổng doanh thu bán hàng hóa và dịch vụ đạt 227,591.4 tỷ đồng tăng 15,84% so cùng kỳ năm trước.
- Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế là 530,4 tỷ đồng, lũy kế 12 tháng đạt 6.121,7 tỷ đồng tăng 4,56% cùng kỳ.
- Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh thực hiện là 415,3 tỷ đồng lũy kế 12 tháng đạt 4,733.5 tỷ đồng tăng 3,38% cùng kỳ. Luận văn: Thực trạng quản lý Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.
2.1.1. Giáo dục và Đào tạo Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh
Ngày 03 tháng 01 năm 2003 Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định số 02/2003/QĐ-UB về phê duyệt Quy hoạch phát triển mạng lưới trường học ngành Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 và Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã tiếp tục chỉ đạo bằng công văn số 1082/GDĐT-KHTC ngày 04 tháng 4 năm 2019 về báo cáo công tác quy hoạch phát triển mạng lưới trường học tại 24 quận, huyện. Ủy ban nhân dân Quận 3 đã ban hành Quyết định số 718/QĐ-UBND ngày 21 tháng 7 năm 2009 về phê duyệt đồ án quy hoạch chi tiết mạng lưới trường học trên địa bàn Quận 3 đến năm 2020.
Trên địa bàn mỗi phường có đều 1 đến 2 trường mầm non và trường tiểu học công lập (riêng Phường 12 chưa có trường tiểu học); mỗi phường có trường trung học cơ sở là Phường 1, 2, 4, 5, 6, 7, 8, 11, 12, 14 (riêng trường trung học cơ sở chưa có tọa lạc tại các Phường 3, 9, 10,13).
Được sự đầu tư và quan tâm của các cấp đặc biệt là ngân sách dành cho giáo dục quận nhà cùng với sự quan tâm của toàn xã hội. Từ đó cơ sở vật chất trường lớp thường xuyên được cải tạo, sửa chữa, xây dựng mới và đảm bảo các điều kiện nhằm đáp ứng yêu cầu của học sinh trên địa bàn Quận 3.
Quận 3 có tất cả 121 cơ sở GD&ĐT, bao gồm: 20 trường mầm non công lập, 32 trường mầm non tư thục, 15 nhóm trẻ, 15 trường TH công lập, 02 trường TH tư thục, 02 trường giáo dục chuyên biệt, 11 trường THCS công lập, 03 trường THCS tư thục, 04 trường THPT, 01 Trung tâm Kỹ thuật hướng nghiệp, 01 Trung tâm Dạy nghề, 01 Trung tâm GD thường xuyên và 14 Trung tâm học tập cộng đồng tạo nên mạng lưới giáo dục rộng khắp. Đặc biệt, việc xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia, trường tiên tiến hội nhập đã được các cấp lãnh đạo đưa vào nghị quyết, kế hoạch hàng năm để chỉ đạo thực hiện. Tổng số trường đạt chuẩn quốc gia hiện nay là 6 trường (06 mầm non, chưa có trường TH; THCS đạt chuẩn quốc gia) và đang thực hiện xây dựng đề án trường tiên tiến hiện đại (Trường Mầm non Hoa Mai Phường 7 và trường Tiểu học Trương Quyền Phường 13).
Về việc triển khai đổi mới quản lý giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục
Phòng GD& ĐT đã tham mưu cho UBND quận xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện hiệu quả Nghị định 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm thực hiện bộ máy, biên chế đối với đơn vị sự nghiệp GD&ĐT công lập.
Những kết quả đạt được và một số hạn chế, yếu kém Những kết quả đạt được
Việc phân cấp trong QL đảm bảo tính khoa học; đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và rèn luyện của học sinh, tăng cường hiệu quả công tác bồi dưỡng giáo viên bằng các hoạt động chuyên môn đa dạng để giáo viên có đủ năng lực chủ động lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp đối tượng học sinh trên cơ sở thực hiện Chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình, đáp ứng kịp thời những yêu cầu của xã hội trong điều kiện nhà trường vẫn còn khó khăn về đầu tư và cơ chế hoạt động. Luận văn: Thực trạng quản lý Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.
Công tác Kiểm định chất lượng giáo dục triển khai thực hiện có kế hoạch và đạt kết quả tốt, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tại các đơn vị. Hiện đã có 14/17 trường tiểu học đã được Sở GD&ĐT công nhận đạt chuẩn cấp độ 1. Trong thời gian tới, Phòng GD&ĐT tiếp tục chỉ đạo các trường tiểu học thực hiện nghiêm túc và đúng tiến độ công tác kiểm định chất lượng giáo dục, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục và hiệu suất đào tạo theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa.
Hoạt động xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục đã được những kết quả nhất định như đã huy động các lực lượng xã hội tham gia vào hầu hết các nội dung của Xã hội hóa giáo dục, công tác tham mưu thực sự có hiệu quả, sự phối kết hợp các ban ngành đoàn thể với nhiều hoạt động xã hội phong phú. Bên cạnh đó thực hiện Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30 tháng 5 năm 2008 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường và Quyết định số 1466/QĐ-TTg ngày 10 tháng 10 năm 2008 của Thủ tướng ban hành danh mục chi tiết các loại hình, tiêu chí quy mô, tiêu chuẩn của các cơ sở thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường đã tạo điều kiện phát triển mạnh các trường ngoài công lập là 0,111 tỷ đồng.
Một số hạn chế, yếu kém
Do số lượng học sinh trong độ tuổi đến trường tăng hàng năm quá cao, đặc biệt là tăng cơ học nên vẫn còn một số ít trường chưa đảm bảo số học sinh/lớp theo qui định. Tỷ lệ học sinh học 2 buổi/ngày ở các cấp học tuy có tăng so với năm học trước nhưng nhìn chung vẫn còn thấp, gây khó khăn cho việc đổi mới phương pháp giảng dạy cũng như quá trình xây dựng mô hình trường chuẩn Quốc gia, trường tiên tiến hội nhập khu vực và thế giới.
Công tác tuyên truyền và thông tin quản lý GD về Xã hội hóa giáo dục vẫn còn hạn chế, bất cập. Nguồn kinh phí đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trường học hàng năm chưa đáp ứng yêu cầu phát triển sự nghiệp GD&ĐT. Chưa có trường TH đạt chuẩn quốc gia; nhiều trường còn thiếu phòng chức năng, phòng hành chính.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2.1.2. Tình hình phát triển giáo dục tiểu học Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh
Về quy mô, số lượng Luận văn: Thực trạng quản lý Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.
Năm học 2018-2019, toàn quận có 17 trường TH, 447 lớp, 17.432 học sinh và 611 giáo viên. Tiếp tục duy trì kết quả đạt được về phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi.
Huy động được 100% trẻ 6 tuổi vào lớp 1. Công tác Phổ cập GD TH của Quận 3 đã được kiểm tra công nhận đạt mức độ 3, đến nay vẫn được duy trì.
Về giáo dục toàn diện
Nâng cao chất lượng các hoạt động giáo dục kỹ năng sống tại các trường, quản lý chặt các hoạt động phối hợp giữa các trường với các trung tâm kỹ năng sống;
Thực hiện chỉ đạo công tác chuyên môn theo đúng sự hướng dẫn của Sở GD&ĐT. Tăng cường đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, giáo dục theo hướng hiện đại, phát huy tính chủ động, tích cực, tự học, phát triển năng lực học sinh; dạy học phân hóa, dạy học cá thể, dạy học theo dự án, dạy học ngoài trời, ngoại khóa, dạy học bằng trải nghiệm, ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT), quan tâm hơn đến từng em học sinh trên cơ sở chuẩn kiến thức, kỹ năng của Chương trình giáo dục phổ thông;
Tiếp tục củng cố, vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực vào giảng dạy (Kĩ thuật dạy học “Các mảnh ghép”, “Dạy học theo góc”, “Khăn phủ bàn”; kĩ thuật KWL, Dạy học theo dự án, phương pháp “Bàn tay nặn bột”, phương pháp dạy học Mĩ thuật mới..) để nâng cao chất lượng giáo dục của học sinh.
Về đội ngũ cán bộ, giáo viên
Trong những năm qua, đội ngũ cán bộ, giáo viên tăng cả về số lượng cũng như chất lượng trong biên chế, 100% dạy học 2 buổi trong ngày, đảm bảo tỷ lệ giáo viên 1,5 /lớp; tất cả các cấp học không còn tình trạng có giáo viên chưa đạt chuẩn, tỷ lệ giáo viên trên chuẩn tăng nhiều.
Lãnh đạo ngành GD luôn quan tâm thực hiện các giải pháp xây dựng đội ngũ nhà giáo, CBQL GD trên cả 3 mặt: “Đánh giá, xếp loại; đào tạo, bồi dưỡng; sử dụng, đãi ngộ”; thực hiện rà soát, sắp xếp đội ngũ giáo viên, CBQL GD theo Nghị định 132/2007/NĐ-CP ngày 08/8/2007 của Chính phủ; bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển CBQL GD theo Điều lệ trường học; triển khai nghiêm túc việc đánh giá, xếp loại chuẩn nghề nghiệp giáo viên các cấp học và chuẩn Hiệu trưởng.
Nhìn chung, cán bộ, giáo viên đều nhiệt tình trong công tác, có ý thức trau dồi chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng các tiêu chuẩn, yêu cầu của nghề nghiệp. Đội ngũ CBQL có trình độ chuyên môn vững vàng, được bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý, có khả năng hoạt động thực tiễn đáp ứng yêu cầu đối với công tác Quản lý giáo dục hiện nay.
Về cơ sở vật chất Luận văn: Thực trạng quản lý Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.
Công tác xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học của các trường hàng năm được bổ sung, nâng cấp theo hướng kiên cố hóa, chuẩn hóa, hiện đại hóa thông qua nhiều nguồn vốn. Hiện nay, toàn quận có 447 phòng học.
Nhu cầu số phòng học xây dựng mới đến cuối năm 2020 để đạt chỉ tiêu theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ X nhiệm kỳ 2015 – 2020.
Đối với những khoản tài trợ, đóng góp tự nguyện của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân để tăng cường cơ sở vật chất trường lớp, hỗ trợ hoạt động dạy học, hoạt động giáo dục được tổ chức tiếp nhận và quản lý, sử dụng theo qui định tại Thông tư 29/2012/TT-BGDĐT ngày 10/9/2012 của Bộ GD&ĐT và mới đây là Thông tư 16/2018/TT-BGDĐT ngày 03 tháng 8 năm 2018 của Bộ GD&ĐT Quy định về tài trợ cho các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, Chỉ thị số 14/2013/CT-UBND ngày 20/8/2013 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về quản lý các nguồn tài trợ cho các cơ sở giáo dục trên địa bàn Thành phố.
2.2. Khảo sát và đánh giá thực trạng
2.2.1. Mục đích khảo sát
Nhằm tìm hiểu thực trạng công tác quản lí các hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại các trường tiểu học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
2.2.2. Nội dung khảo sát
Khảo sát chủ yếu thu thập các thông tin liên quan đến chức năng và một số nội dung của công tác quản lí các hoạt động Xã hội hóa giáo dục.
2.2.3. Đối tượng khảo sát
Đối tượng khảo sát được thuể hiện trên biểu đồ 2.1 dưới đây
Biểu đồ 2.1. Cơ cấu đối tượng khảo sát
2.2.4. Địa bàn khảo sát
Khảo sát 5 trường TH Nguyễn Thái Sơn, Phan Đình Phùng; Nguyễn Sơn Hà; Trần Quang Diệu; Trần Quốc Thảo Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Khảo sát được thực hiện trong năm học 2019 – 2020.
2.2.5. Phương pháp khảo sát Luận văn: Thực trạng quản lý Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.
Khảo sát được thực hiện dưới hai hình thức, bảng hỏi và bút vấn. Bảng hỏi được thiết kế phù hợp với từng nội dung nghiên cứu về công tác quản lí. Mỗi câu hỏi được chia làm hai phần, phần mức độ thực hiện (gồm 4 mức nhận định), phần kết quả thực hiện (gồm 4 mức đánh giá). Trong quá trình khảo sát nếu nội dung nào bảng hỏi chưa thể hiện hết thông tin, người nghiên cứu thể hiện bằng hình thức bút vấn trực tiếp.
2.2.6. Cách thức xử lí số liệu và quy ước mã hóa
Số liệu thu được trong nghiên cứu này chủ yếu là số liệu định tính, có hai dạng phiếu hỏi và bút vấn. Các thức xử lí được thực hiện như sau.
2.2.6.1. Cách thức xử lí số liệu
Số liệu khảo sát bằng bảng hỏi được tổng hợp, phân loại và xử lí trên phầm mềm SPSS và phầm mềm Microsoft Excel. Quy ướng mã hóa được trình bày ở bảng 2.1 dưới đây.
Số liệu phỏng vấn được mã hóa theo quy tắc. Phỏng vấn cán bộ quản lí mã hóa thành CBQL được đánh số thứ tự từ 1 cho đến hết. Đối với giáo viên mã hóa GV cũng được đánh số thứ tự từ 1 cho đến hết.
2.2.6.2. Quy ước mã hóa
Bảng 2.1. Quy ước khoảng điểm số và mã hóa số liệu
2.3. Thực trạng hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại các trường tiểu học Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh
2.3.1. Những chủ trương chính sách của địa phương và ngành giáo dục đối với hoạt động Xã hội hóa giáo dục trường tiểu học.
Để có cơ sở đánh giá đúng thực trạng nhận thức về mục đích của chế độ chính sách đối với công tác Xã hội hóa giáo dục. Người nghiên cứu tiến hành khảo sát ý kiến của phụ huynh bằng phiếu hỏi, bảng 2.2 dưới đây là kết quả khảo sát .
Bảng 2.2. Nhận định của phụ huynh về những chủ trương chính sách của địa phương và ngành giáo dục đối với hoạt động Xã hội hóa giáo dục Luận văn: Thực trạng quản lý Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.
Căn cứ kết quả khảo sát bảng 2.2 chúng ta thấy điểm trung bình chung đánh giá của phụ huynh về mục đích công tác Xã hội hóa giáo dục là 2.93 điểm số tương đương mức đánh giá đồng ý. Từ kết quả trên người nghiên cứu cho rằng nhận thực về công tác Xã hội hóa giáo dục các trường tiểu học trên địa bàn quận 3 về cơ bản nhận thức đúng vai trò, ý nghĩa của hoạt động này. Đa số phụ huynh đều đồng tình với chủ trương Xã hội hóa giáo dục ở mức khá. Tuy nhiên, sự đồng tình của phụ huynh chưa thực sự toàn diện, các ý kiến cho rằng nguồn xã hội hóa nêu sử dụng trực tiếp cho con em của họ. Nhận thức trên về cơ bản có những thuận lợi nhất định cho công tác vận động Xã hội hóa giáo dục, tuy nhiên cũng sẽ có những khó khăn cho quá trình sử dụng vào các hoạt động giáo dục.
Kết quả phỏng vấn người nghiên cứu ghi nhận được như sau. Mã số phỏng vấn PH02 cho rằng “Các nguồn lực có được từ công tác Xã hội hóa giáo dục, nhà trường nên phục vụ trực tiếp cho học sinh, vì đây là nguồn đóng góp cho con em của học, nhằm hỗ trợ thêm cho nhà trường trong công tác giáo dục. Cơ sở vật chất hay trang thiết bị dạy học là do nguồn nhân sách của nhà nước không nên sử dụng nguồn xã hội hóa vào mục đích này ”. Kết quả phỏng vấn cho thấy phụ huynh chưa thật sự hiểu hết ý nghĩa của công tác Xã hội hóa giáo dục. Mã số phỏng vấn PH05 cho rằng “Nếu nhà trường sử dụng nguồn Xã hội hóa giáo dục vào đầu tư cho cơ sở hạ tầng sẽ giảm bớt tính thuyết phục cho những lần vận động sau. Các nguồn có được nên phục vụ trực tiếp cho học sinh”. Từ hai ý kiến trên cùng với kết quả khảo sát, chúng ta thầy rằng đa số phụ huynh đều mong muốn sử dụng nguồn xã hội hóa trực tiếp cho học sinh. Tìm hiểu các nội dung có điểm trung bình thấp của bảng 2.2 chúng ta sẽ thấy rõ điều này hơn; Khai thác tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội, trung bình 2.89 xếp hạng 7. Giúp nhà trường khắc phục được những tồn tại trong giáo dục, 2.88 xếp hạng 8. Giúp giáo viên có điều kiện dạy học tốt hơn, trung bình 2.78 xếp hạng 9. Đa số các ý kiến có thứ hạng thấp của bảng chủ yếu không đồng tình về việc sử dụng các nguồn lực có được từ xã hội hóa đầu tư gián tiếp cho học sinh.
Kiểm nghiệm Cronbach’s Alpha các nội dung được hỏi ở bảng 2.2 là 0.842 chỉ số này cho biết thang đo trên hoàn toàn có độ tin cậy về mặt thống kê.
2.3.2. Mục tiêu hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại trường tiểu học.
Kết quả của hoạt động Xã hội hóa giáo dục phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức của đội ngũ trực tiếp thực hiện hoạc động này, trong đó đóng vị trí nòng cốt là cán bộ quản lí và giáo viên của nhà trường. Để có cơ sở đánh giá đúng thực trạng nhận thức của đội ngũ này về Xã hội hóa giáo dục, người nghiên cứu tiến hành thăm dò ý kiến bằng bảng hỏi. Kết quả khảo sát được thể hiện ở bảng 2.3 dưới đây. Luận văn: Thực trạng quản lý Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.
Bảng 2.3. Đánh giá về nhận thức của CBQLG GV về mục tiêu hoạt Xã hội hóa giáo dục
Điểm trung bình chung các nội dung khảo sát ở bảng 2.3 là 2.61 điểm số tương đương mức đánh giá đồng ý. Từ kết quả này, người nghiên cứu cho rằng đa số nhận thức của cán bộ quản lí và giáo viên đều thông suốt với chủ trương chính sát của Đảng và Nhà nước về công tác Xã hội hóa giáo dục. Tuy nhiên, vẫn còn không ít cá nhân chưa thực sự hiểu rõ mục đích hoặc hiểu chưa đúng về công tác Xã hội hóa giáo dục. Cần có biện pháp cụ thể, nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức của các đối tượng trực tiếp tham gia vào hoạt động Xã hội hóa giáo dục.
Phỏng vấn các nội dung trên người nghiên cứu ghi nhận một số ý kiến như sau; Mã số phỏng vấn CBQL 03 cho rằng “Về căn bản những cá nhân khi tham gia hoạt động Xã hội hóa giáo dục đã được nhà trường quán triệt về mục đích ý nghĩa của hoạt động này. Cho nên hầu hết CBGV thực hiện khá nghiêm túc và đầy đủ. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố chi phối như, điều kiện hoàn cảnh của từng cá nhân gia đình, nên sự đóng góp không nhiều cùng với sự giải thích của cán bộ vận động chưa rõ ràng nên nhiều phụ huynh hiểu chưa đúng bản chất của hoạt động. Các tổ chức doanh nghiệp chưa được tiếp cận đầy đủ thông tin về Xã hội hóa giáo dục nên nhiều khi các khoản đóng góp chỉ mang tính tượng trưng”. Mã số phỏng vấn GV 02 cho rằng “Để bộ phận phụ trách công tác Xã hội hóa giáo dục thực hiện có hiệu quả và thể hiện được vai trò trách nhiệm của mình, nhà trường cần có cơ chế rõ ràng cho bộ phận này”. Như vậy, có thể thấy trong công tác quản lí hoạt động này vẫn chưa nhận được nhiều sự quan tâm của các cấp lãnh đạo.
2.3.3. Những nguyên tắc cơ bản của hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại trường tiểu học
Để thực hiện đầy đủ và có hiệu quả công tác Xã hội hóa giáo dục thì các cá nhân tổ chức ngoài việc hiểu biết đầy đủ các quy định về hoạt động này còn phải nắm rõ được các nguyên tắc của công tác Xã hội hóa giáo dục. Bảng 2.4 dưới đây là kết quả khảo sát mức độ thực hiện và kết quả thực hiện các nguyên tắc cơ bản của Xã hội hóa giáo dục.
Bảng 2.4. Đánh giá về mức độ thực hiện và hiệu quả thực hiện những nguyên tắc cơ bản của hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại trường tiểu học
- Về mức độ thực hiện
Kết quả khảo sát bảng 2.4 cho thấy có sự tương quan tương đối giữa những đánh giá về mức độ thực hiện và hiệu quả thực hiện.
- Điểm trung bình chung của các nội dung khảo sát không có sự chênh lệch nhiều.
- Đa số các ý kiến đều đánh giá mức thực hiện ít thường xuyên (Điểm số theo bảng).
Phỏng vấn các nội dung bảng 2.4 người nghiên cứu ghi nhận như sau; Mã số phỏng vấn CBQL01 cho rằng “Để đảm chất lượng của công tác vận động Xã hội hóa giáo dục nhà trường có phân công bộ phận phụ trách hoạt động này thường xuyên liên lạc với các mạnh thường quân, các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp trong địa bàn quận cũng như trên địa bàn thành phố bằng nhiều hình thức khác nhau như; gởi hoa và thiệp chúc mừng lễ tết, ngày thành lập… đồng thời nếu các nhân tổ chức có quan tâm, trường gửi báo cáo về việc thu chi các khoản đóng góp xã hội hóa theo từng năm học”. Ý kiến phỏng vấn cho thấy BGH các trường đã ý thức được tầm quan trọng trong việc thường xuyên gắn kết nhà trường với các tổ chức cá nhân nhằm thực hiện có hiệu quả công tác Xã hội hóa giáo dục. Luận văn: Thực trạng quản lý Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.
- Về kết quả thực hiện
Mã số phỏng vấn CBQL02 cho rằng “Công tác Xã hội hóa giáo dục hiện nay của các trường chủ yếu do bản thân nhà trường thực hiện. Các cơ quan quản lí như phòng giáo dục, UBND chưa có bộ phận chuyên trách phối hợp. hướng dẫn, giúp đỡ các trường. Cho nên, việc liên hệ về hoạt động này nhà trường thường không chủ động. Mà thường căn cứ vào các văn bản pháp quy để triển khai thực hiện. Điều này cũng tạo ra những bất lợi nhất định cho các trường. Vì có những vấn đề cần sự tham vấn của các cấp có chuyên môn, nếu thực hiện không đầy đủ dễ dẫn đến làm sai chủ trường”. Mã số phỏng vấn GV 04 cho rằng “Kế hoạch Xã hội hóa giáo dục hiện nay tại các trường thường được phổ biến vào đầu năm học bằng các chỉ đạo của hiệu trưởng hoặc phó hiệu trưởng phụ trách. Kế hoạch chi tiết và cụ thể hiện đa số các trường chưa có. Giáo viên chỉ căn cứ vào chỉ đạo của BGH để thực hiện hoạt động này, nên hiệu quả không cao và thực hiện không được thường xuyên”. Qua ý kiến phỏng vấn người nghiên cứu cho rằng mặc dù được đánh giá cao ở một số nội dung khi thực hiện các nguyên tắc Xã hội hóa giáo dục, nhưng những nội dung cơ bản lại chưa nhận được sự quan tâm cần thiết của BGH nhà trường. Điều này cần được khắc phục để hoạt động này đạt hiệu quả cao hơn.
- Kết luận
Điểm trung bình chung mức độ thực hiện là 2.41 đạt mức đánh giá ít thường xuyên. Điểm trung bình chung kết quả thực hiện 2.42 đạt mức nhận định mức trung bình. Kết quả này cho thấy việc thực hiện các nguyên tắc khi tổ chức hoạt động vận động Xã hội hóa giáo dục của các trường tiểu học trên địa bàn Quận 3 hiệu quả chưa cao. Kiểm nghiệm tính tin cậy của thang đo người nghiên cứu nhận được kết quả lần lượt mức độ thực hiện 0.958 và 0.863 các chỉ số cho thấy thang đo trên có độ tin cậy khá cao và hoàn toàn có thể tin tưởng số liệu khảo sát. Kiểm nghiệm mức độ tương quan giữa mức độ thực hiện và kết quả thực hiện chỉ số tương quan Preason 0.969 mức độ liên hệ thuận giữa hai đánh giá rất cao.
2.3.4. Nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể, nhân dân và cán bộ quản lý giáo dục đối với hoạt động Xã hội hóa giáo dục
Các cấp thuộc chính quyền địa phương đóng vai trò rất lớn trong việc thực hiện công tác Xã hội hóa giáo dục của các trường. Để đánh giá đúng thực trạng nhận thức của cấp ủy Đảng, chính quyền về công tác Xã hội hóa giáo dục người nghiên cứu tiến hành khảo sát bằng bảng hỏi trên đối tượng là phụ huynh. Bảng 2.5 dưới đây thể hiện kết quả của khảo sát.
Bảng 2.5. Đánh giá nhận thức và tổ chức hoạt động của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể, nhân dân về hoạt động Xã hội hóa giáo dục Luận văn: Thực trạng quản lý Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.
Kết quả khảo sát bảng 2.5 cho thấy, đa số các ý kiến được hỏi đều phản hồi ở mức khá về hoạt động của cấp Ủy Đảng chính quyền địa phương trong công tác Xã hội hóa giáo dục (các mức đánh giá xem ở bảng).
Phỏng vấn các nội dung người nghiên cứu ghi nhận ý kiến như sau; Mã số phỏng vấn CBQL05 cho rằng “Chính quyền địa phương trên địa bàn trường đã có những động thái tích cực trong việc hướng dẫn các thủ tục về công tác Xã hội hóa giáo dục. Nhưng nhận thức về mục đích ý nghĩa của hoạt động này ở một số bộ phận chưa thực sự tốt, Nên nhiều khi gây không ít khó khăn cho nhà trường trong công tác hợp thức hóa các đóng góp của cá nhân và tổ chức”. Mã số phỏng vấn GV03 cho rằng “Các hoạt động tuyên truyền, kết nối giữa nhà các nhà hảo tâm, doanh nghiệp với bộ phận chuyên trách của nhà trường về công tác xã hội hóa hiện nay chưa phát huy được hiệu quả, mọi sự liên hệ chủ yếu xuất phát từ nhà trường. Chính quyền địa phương chủ yếu hỗ trợ về mặt thủ tục hành chính”. Các kết quả phỏng vấn cho thấy để hoạt động Xã hội hóa giáo dục đạt được hiệu quả cao cần có sự thống nhất phối hợp hành động giữa chính quyền địa phương với nhà trường.
Điểm trung bình chung của bảng 2.5 là 2.36 tương đương mức đánh giá khá. Kết quả khảo sát cho thấy, nhận thức và các hoạt động hiện nay của chính quyền địa phương đối với công tác Xã hội hóa giáo dục trên địa bàn Quận 3 về cơ bản đáp ứng được các yêu cầu trong công tác Xã hội hóa giáo dục. Tuy nhiên, để hoạt động này phát huy tốt hơn cần nâng cao nhận thức một số bộ phận trong bộ máy chính quyền, đồng thời điều chỉnh các hoạt động phù hợp với kế hoạch của nhà trường.
2.3.5. Vai trò của phòng giáo dục trong công tác Xã hội hóa giáo dục.
Phòng giáo dục là cơ quan quản lí toàn diện về chuyên môn, trong đó có hoạt động Xã hội hóa giáo dục. Để có cơ sở đánh giá đúng thực trạng về vai trò của phòng giáo dục và đào tạo đối với các hoạt động Xã hội hóa giáo dục của các trường. Người nghiên cứu tiến lấy ý kiến của cán bộ quản lí và giáo viên về mức độ thực hiện và hiệu quả thực hiện của phòng GD đối với hoạt động này, bảng 2.6 dưới đây là kết quả của khảo sát.
Bảng 2.6. Đánh giá mức độ thực hiện vai trò của phòng giáo dục trong công tác Xã hội hóa tại các trường tiểu học hiện nay
- Về mức độ thực hiện
Vai trò của phòng giáo được đánh giá cao nhất là công tác Phối hợp với hội đồng trường kiểm tra đánh giá kết quả Xã hội hóa giáo dục theo định kì, trung bình 2.60 xếp hạng 1 đạt mức đánh giá thường xuyên. Điều này thể hiện quan tâm của cơ quan chuyên môn đối với hoạt động của các trường. Ngoài ra việc Hướng dẫn xây dựng kế hoạch Xã hội hóa giáo dục cho các trường, cũng được ghi nhận ở mức thường xuyên, trung bình 2.46 xếp hạng 2. Vai trò của phòng giáo dục còn được thể hiện ở công tác Chỉ đạo các bộ phận chức năng của phòng phối hợp với các trường thực hiện kế hoạch hóa GD, nội dung này có điểm trung bình khảo sát 2.43 xếp hạng 3 của bảng. Luận văn: Thực trạng quản lý Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.
Kết quả phỏng vấn mã số CBQL04 cho biết thêm “Qua các đợt tổng kết rút kinh nghiệm của các trường, cùng với các đề xuất, kiến nghị nâng cao hơn nữa vai trò của phòng giáo dục đối với công tác Xã hội hóa giáo dục, hiện nay phòng giáo dục giữ vị trí khá quan trọng và là cầu nối giữa các nhà hảo tâm, doanh nghiệp với các trường”. Mã số phỏng vấn GV03 cho biết thêm “Một số cá nhân có trách nhiệm của phòng hướng dẫn bộ phận chức năng về công tác xã hội hóa của các trường rất tận tình. Thường xuyên tạo điều kiện về các cơ chế pháp lí cũng như kết nối nhà trường với các cá nhân có tiềm năng đóng góp”. Các ý kiến phỏng vấn cho thấy trách nhiệm của cơ quan quản lí nhà nước về chuyên môn đã phát huy được vai trò của mình. Đây là tính hiệu tốt cho các trường tận dụng triển khai các kế hoạch Xã hội hóa giáo dục trong những năm tiếp theo.
Các nội dung chưa được đánh giá cao trong bảng 2.6 gồm; Chỉ đạo các bộ phận chức năng của phòng phối hợp với các trường thực hiện kế hoạch hóa GD, trung bình 2.39 xếp hạng 4. Việc chỉ đạo các bộ phận chức năng của phòng phối hợp với các trường thực hiện kế hoạch hóa GD, cũng chưa được đánh giá cao, trung bình 2.33 xếp hạng 6.
- Về kết quả thực hiện
Khảo sát hiệu quả thực hiện vai trò của phòng giáo dục đối với công tác Xã hội hóa giáo dục cho thấy có sự chênh lệch đáng kể giữa mức độ thực hiện với hiệu quả của mức độ (xem bảng). Trong quá trình khảo sát người nghiên cứu nhận thấy còn một số nội dung chưa được đánh giá cao. Cụ thể như sau:
Các nội dung chưa được đánh giá cao về kết quả thực hiện gồm; Hướng dẫn xây dựng kế hoạch Xã hội hóa giáo dục cho các trường, trung bình 2.39 xếp hạng 4. Chỉ đạo các bộ phận chức năng của phòng phối hợp với các trường thực hiện kế hoạch hóa GD, trung bình 2.49 xếp hạng 4. Đánh giá kết quả thực hiện thấp nhất là việc Chỉ đạo các bộ phận chức năng của phòng phối hợp với các trường thực hiện kế hoạch hóa GD, trung bình khảo sát 2.34 xếp hạng 6 của bảng.
Mã số phỏng vấn CBQL06 cho biết thêm về nội dung này “Mặc dù phòng giáo dục là cơ quan quản lí chuyên môn và là cơ quan chịu trách nhiệm trước UBNN về các vấn đề liên quan đến giáo dục trên địa bàn, nhưng không phải tất cả các hoạt động của trường phòng đều quản lí mà có sự phân cấp cho BGH các trường, trong đó có công tác Xã hội hóa giáo dục. Đối với hoạt động này phòng GD chỉ là cơ quan tham mưu, tư vấn còn mọi hoạt động là do nhà trường chủ động thực hiện”. Ý kiến phỏng vấn cho thấy, không phải mọi hoạt động liên quan đến công tác Xã hội hóa giáo dục đều có sự chỉ đạo của phòng giáo dục. Tính chủ động và chịu trách nhiệm thuộc các cơ sở. Tương tự nội dung Ban hành, hướng dẫn các văn bản liên quan đến công tác Xã hội hóa giáo dục, có điểm trung bình khảo sát 2.41 xếp hạng 2.
- Kết luận
Điểm trung bình chung mức độ thực hiện 2.42 tương đương mức đánh giá các hoạt động ít thường xuyên. Phần hiệu quả thực hiện điểm trung bình 2.47 đạt mức nhận định kết quả trung bình. Kết quả trên cho thấy, các hoạt động của phòng giáo dục đối với công tác Xã hội hóa giáo dục của các trường hiện nay chưa thể hiện hết vai trò và chức năng quản lí nhà nước của cơ quan chuyên môn phụ trách về giáo dục. Kiểm nghiệm độ tin cậy cho thấy thang đo của bảng 2.6 hoàn toàn có thể tin tưởng được.
2.4. Thực trạng quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại các trường tiểu học Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
Quản lí hoạt các hoạt động Xã hội hóa giáo dục có vai trò quyết định đến hiệu quả của toàn bộ công tác này. Để có cơ sở đánh giá đúng thực trạng, người nghiên cứu tiến hành khảo sát các nội dung liên quan đến toàn bộ công tác quản lí của lãnh đạo các cấp về Xã hội hóa giáo dục. Dưới đây là các nội dung cụ thể về công tác quản lí hoạt động này.
2.4.1. Thực trạng về tổ chức bộ máy quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục ở trường tiểu học. Luận văn: Thực trạng quản lý Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.
Tổ chức và quản lí bộ máy thực hiện công tác Xã hội hóa giáo dục tại các trường tiểu học có vai trò quyết định đến thành công hay thất bại của công tác này. Bảng 2.7 dưới đây là kết quả khảo sát thực trạng thực trạng về tổ chức bộ máy quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục ở trường tiểu học trên địa bàn Quận 3.
Bảng 2.7. Đánh giá về mức độ tổ chức bộ máy quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục ở trường tiểu học
- Về mức độ thực hiện
Kết quả khảo sát bảng 2.7 cho thấy công tác tổ chức bộ máy quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục, chỉ có một vài nội dung được đánh giá ở mức độ thường xuyên còn lại chủ yếu được nhìn nhận mức độ hoạt động ít thường xuyên. Cụ thể như sau;
Các nội dung chưa được đánh giá cao bao gồm; Sự kết nối với Phòng giáo dục, bộ phận phụ trách văn xã của các phường, trung bình 2.43 xếp hạng 6. Việc liên hệ với các hộ kinh doanh nhỏ, tiểu thương ở các trung tâm thương mại, cũng không được đánh giá cao, trung bình 2.36 xếp hạng 7. Trong đó, việc mời đại diện Đảng Ủy, UBNN, HĐND các cấp của địa phương, tham gia vào bộ phận phụ trách công tác Xã hội hóa giáo dục của trường cũng chỉ được đánh giá ở mức ít thường xuyên trung bình 2.32 xếp hạng 8.
Mã số phỏng vấn CBQL04 cho rằng “Trên cơ sở vận đóng góp về vật chất nhà trường còn chủ trương mời các cá nhân, doanh nghiệp có tâm huyết với giáo dục tham gia vào công tác vận động Xã hội hóa giáo dục. Một mặt vừa thể hiện sự tôn trọng đóng góp của các tổ chức cá nhân. Mặc khác tận dụng được các mối quan hệ giữa các doanh nghiệp với nhau làm cho hoạt động này thêm phong phú và hiệu quả hơn. Bước đầu ghi nhận chủ trương này của nhà trường hoàn toàn đúng đắn mặc dù mới thực hiện nhưng cũng đã có những kết quả đáng ghi nhận”. Quan điểm trên cho thấy BGH các trường bước đầu nhận ra được tính tích cực trong sự kết nối giữa các cá nhân với cá nhân và doanh nghiệp với nhau.
- Về kết quả thực hiện Luận văn: Thực trạng quản lý Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.
Một số nội dung chưa được đánh giá cao hiệu quả tổ chức bộ phận chuyên trách về Xã hội hóa giáo dục; Sự kết nối với Phòng giáo dục, bộ phận phụ trách văn xã của các phường, trung bình 2.43 xếp hạng 6. Hay vận động Các hộ kinh doanh nhỏ, tiểu thương ở các trung tâm thương mại cũng chỉ được ghi nhận mức hiệu quả trung bình. Có đánh giá thấp nhất là Đảng Ủy, UBNN, HĐND các cấp của địa phương, trung bình 2.30 xếp hạng 8. Phỏng vấn nội dung này mã số CBQL05 cho rằng “Việc mời các thành viên của các cấp chính quyền tham gia vào bộ phận chuyên trách công tác Xã hội hóa giáo dục hiện nay tương đối khó. Vì đây là hoạt động mang tính tự nguyện nhiều hơn nên các cơ chế phục vụ cho công tác này chưa rõ ràng. Gây không ít khó khăn cho nhà trường khi chi các khoản hỗ trợ cho đội ngũ này. Xuất phát từ đó nhà trường hạn chế một số đối tượng tham gia vào công tác này của trường ”. Nhận định trên hoàn toàn có cơ sở, hoạt động vận động đóng góp cho giáo dục chủ yếu được thực hiện trên tinh thần thiện nguyện của tất cả các đối tượng, cho nên việc tổ chức thành bộ phận chuyên trách cũng gặp không ít khó khăn về công tác quản lí và điều hành hoạt động
- Kết luận
Điểm trung bình chung phần mức độ thực hiện 2.48 tương đương mức đánh giá ít thường xuyên. Phần kết quả thực hiện có điểm trung bình 2.50 đạt mức nhận định kết quả trung bình. Chỉ số Cronbach’ Alpha lần lượt là 0.879 và 0.960 cho thấy các thang đo của bảng 2.7 hoàn toàn có thể tin cậy được. Căn cứ vào kết quả khảo sát người nghiên cứu cho rằng công tác tổ chức và quản lí bộ máy vận động Xã hội hóa giáo dục hiện nay tại các trường chưa phát huy hết được hiệu quả. Cần có các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa việc quản lí và tổ chức bộ máy nhằm đưa công tác Xã hội hóa giáo dục phát triển đúng tiềm năng của Quận 3.
2.4.2. Thực trạng quản lý hoạt động xây dựng kế hoạch Xã hội hóa giáo dục
Hiệu quả của công tác Xã hội hóa giáo dục chịu ảnh hưởng rất lớn từ kế hoạch của hoạt động này. Bảng 2.8 dưới đây là kết quả khảo sát thực trạng công tác quản lý hoạt động xây dựng kế hoạch Xã hội hóa giáo dục.
Bảng 2.8. Đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động xây dựng kế hoạch Xã hội hóa giáo dục
- Về mức độ thực hiện Luận văn: Thực trạng quản lý Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.
Kết quả khảo sát cho thấy quản lí công tác lập kế hoạch của BGH các trường chỉ được đánh giá cao ở một vài nội dung (chi tiết xem bảng 2.8). Còn lại chủ yếu được nhìn nhận mức độ thực hiện ít thường xuyên. Cụ thể như sau;
Các nội dung chưa nhận được nhiều sự đánh giá cao về mức độ hoạt động của bảng 2.8 gồm; Kế hoạch Xã hội hóa giáo dục đảm bảo đúng và đủ các nguyên tắc, trung bình 2.43 xếp hạng 6. Việc quy định chi tiết vai trò chức năng của các bộ phận tham gia KHHGD, cũng chỉ được ghi nhận ở mức ít thường xuyên, trung bình 2.42 xếp hạng
Nội dung có thứ hạng và điểm số thấp nhất là KHHGD đảm bảo phù hợp với tình hình địa phương và hòan cảnh của cá nhân, trung bình 38 xếp hạng 8. Đây cũng làm một trong những điểm yếu mà quá trình xây dựng kế hoạch các trường vấp phải. Tình hình kinh tế xã hội của địa phương luôn luôn vận động kéo theo đó có sự thay đổi đáng kể về tình hình kinh tế của từng cá nhân, doanh nghiệp. Quá trình xây dựng kế hoạch BGH cần phải có những thông tin cập nhận về tình hình trên địa bàn trường đứng chân nói riêng và tình hình kinh tế của đất nước nói chung để đề ra các mục tiêu phù hợp cho từng giai đoạn.
Phỏng vấn về công tác quản lí lập kế hoạch, người nghiên cứu nhận được ý kiến như sau; Mã số phỏng vấn GV04 cho biết “Việc lập kế hoạch công tác Xã hội hóa giáo dục hiện nay được nhà trường phân công cho bộ phận chuyên trách thực hiện. Quá trình lập kế hoạch thường được thực hiện đầu năm học, sau khi có đánh giá tổng kết quá trình thực hiện kế hoạch năm trước đó. Kế hoạch được xây dựng trên cơ sổ tham khảo ý kiến của các cấp chính quyền, phòng giáo dục và các mạnh thường quân thường xuyên tham gia đóng góp cho nhà trường. Kế hoạch được hoàn thiện trên cơ sở lấy ý kiến thống nhất của BGH, Hội đồng trường và các tổ chức đoàn thể trong nhà trường”. Ý kiến phỏng vấn cho thấy về cơ bản kế hoạch được xây dựng theo đúng quy trình và phù hợp với các quy định hiện hành.
- Về kết quả thực hiện
Các nội dung có đánh giá thấp về kết quả thực hiện gồm; KHHGD đảm bảo phù hợp với tình hình địa phương và hòan cảnh của cá nhân, Quy định chi tiết vai trò chức năng của các bộ phận tham gia KHHGD và Kế hoạch Xã hội hóa giáo dục đảm bảo đúng và đủ các nguyên tắc. Điểm trung bình khảo sát của ba nội dung này là 2.39 cùng xếp hạng 6 của bảng. Đánh giá về kết quả cho thấy mặc dùng các trường tổ chức thực hiện nghiêm túc công tác lập kế hoạch nhưng hiệu quả của một số nội dung chưa được như kì vọng. Cần cần xem xét điều chỉnh một số nội dung cho phù hợp với tình hình thực tế, để nâng cao hơn nữa hiệu quả của hoạt động.
- Kết luận
Điểm trung bình chung phần mức độ thực hiện 2.46 điểm số tương đương mức đánh giá ít thường xuyên. Phần kết quả thực hiện điểm trung bình 2.46 tương đương nhận định hiệu quả của hoạt động ở mức trung bình. Từ kết quả này người nghiên cứu cho rằng, công tác quản lí lập kế hoạch hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại các trường tiểu học trên địa bàn Quận 3 hiện nay chưa cao. Cần có các giải pháp cụ thể để nâng cao hơn nữa vai trò của nhà quản lí nhằm hoàn thiện hơn nữa công tác lập kế hoạch của các trường.
2.4.3. Thực trạng quản lý việc tổ chức thực hiện, điều hành hoạt động Xã hội hóa giáo dục Luận văn: Thực trạng quản lý Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.
Quản lí tổ chức thực hiện kế hoạch là đảm nhằm thực hiện thành công các mục tiêu về công tác Xã hội hóa giáo dục đã được đề ra trước đó. Để có cơ sở đánh giá hoạt động này người nghiên cứu tiến hành khảo sát trên hai đối tượng, phụ huynh và cán bộ quản lí, giáo viên. Kết quả khảo sát được trình bày theo các bảng dưới đây.
2.4.3.1. Đánh giá của phụ huynh
Bảng 2.9 là kết quả đánh giá của phụ huynh về mức độ hoạt động và hiệu quả hoạt động về thực trạng quản lý việc tổ chức thực hiện, điều hành hoạt động Xã hội hóa giáo dục hiện nay tại các trường tiểu học trên địa bàn Q3 Tp HCM.
Bảng 2.9. Đánh giá của phụ huynh về thực trạng quản lý việc tổ chức thực hiện, điều hành hoạt động Xã hội hóa giáo dục
- Về mức độ thực hiện
Khảo sát cho thấy thực trạng mức độ thực hiện quản lý việc tổ chức, điều hành hoạt động Xã hội hóa giáo dục chưa được thực hiện thường xuyên. Các nội dung có đánh giá thấp gồm;
Hình thức thực hiện công tác Xã hội hóa giáo dục đa dạng, trung bình 2.56 xếp hạng 6. Chính quyền vận động cá nhân, doanh nghiệp đóng góp, chỉ đạt mức độ đánh giá hoạt động ít thường xuyên trung bình 2.37 xếp hạng 7. Có hai nội dung có điểm trung bình thấp là Chính quyền giám sát thực hiện kế hoạch vận động Xã hội hóa giáo dục và Chính quyền phối hợp chặt chẽ với nhà trường cùng tổ chức vận động Xã hội hóa giáo dục, điểm trung bình 2.36 xếp hạng 8. Thứ hạng này tương đương mức đánh giá ít thường xuyên. Đánh giá cho thấy mặc dù có sự quan tâm đến công tác Xã hội hóa giáo dục của các trường. Nhưng những nội dung cụ thể như tham gia vận động hay tham gia giám sát việc sử dụng nguồn xã hội hóa của nhà trường lại chưa được các cấp chính quyền quan tâm nhiều. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến vai trò quản lí giám sát nhà nước của địa phương mà còn thể hiện uy tính, trách nhiệm của chính quyền địa phương đối với các hoạt động giáo dục trên địa bàn Quận.
Mã số phỏng vấn CBQL03 cho biết thêm “Nhà trường hiện nay đã chủ động phối hợp với chính quyền địa phương, với phụ huynh học sinh trong công việc tổ chức triển khai điều hành các kế hoạch Xã hội hóa giáo dục và đã nhận được nhiều sự quan tâm ủng hộ tích cực. Trong những năm gần đây, hiệu quả của hoạt động này được nâng lên rất nhiều”. Nội dung Chính quyền phân công bộ phận chuyên trách Xã hội hóa giáo dục, mặc dù chỉ nhận được đánh giá ở mức độ ít thường xuyên nhưng cũng cho thấy trách nhiệm của cơ quan quản lí nhà nước đối với hoạt động này.
- Về kết quả thực hiện Luận văn: Thực trạng quản lý Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.
Đa số các đánh giá của phụ huynh về kết quả thực hiện các nội dung quản lí tổ chức thực hiện kế hoạch , điều hành hoat động Xã hội hóa giáo dục tương quan với các đánh giá về mức độ thực hiện của công tác này. Những nội dung có đánh giá cao về kết quả gồm; Chính quyền tích cực vận động công tác Xã hội hóa giáo dục, trung bình khảo sát 2.63 xếp hạng 1. Phương pháp tổ chức linh hoạt phù hợp với từng đồi tượng, trung bình 2.59 xếp hạng 2 và Chính quyền vận động các tổ chức trong bộ máy nhà nước tham gia tuyên truyền Xã hội hóa giáo dục, trung bình 2.56 xếp hạng 3. Kết quả đánh giá tương đồng với mức độ thực hiện.
Các nội dung về quản lí tổ chức thực hiện kế hoạch Xã hội hóa giáo dục gồm; Chính quyền vận động cá nhân, doanh nghiệp đóng góp, trung bình 2.37 xếp hạng 7. Chính quyền phối hợp chặt chẽ với nhà trường cùng tổ chức vận động Xã hội hóa giáo dục, trung bình 2.35 xếp hạng 8. Từ kết quả đánh giá của phụ huynh chúng ta thấy mặc dù công tác triển khai thực hiện kế hoạch đã nhận được nhiều sự ghi nhận nhưng hiệu quả của công tác này chưa tương xứng với vai trò và tầm quan trọng của nó.
- Kết luận
Điểm trung bình chung phần mức độ thực hiện 2.45 tương đương mức đánh giá hoạt động ít thường xuyên. Phần kết quả thực hiện có điểm trung bình chung 2.45 đạt mức đánh giá kết quả trung bình. Thang đo bảng 2.9 có độ tin cậy lần lượt là 0.817 và 0.866 chỉ số này cho biết số liệu thu được từ bảng trên có sự tin cậy khá cao. Từ trên của phụ huynh người nghiên cứu cho rằng thực trạng quản lý việc tổ chức thực hiện, điều hành hoạt động Xã hội hóa giáo dục của các trường tiểu học trên địa bàn Quận 3 hiện nay cần được xem xét điều chỉnh một số công đoạn, để nâng cao hơn nữa hoạt động này.
2.4.3.2. Đánh giá của cán bộ quản lí và giáo viên
Để có cơ sở đánh giá toàn diện về thực trạng tổ chức thực hiện điều hành hoạt động Xã hội hóa giáo dục. Người nghiên cứu tiến hành khả sát ý kiến của cán bộ quản lí giáo viên về mức độ thực hiện và hiệu quả thực hiện công tác này của các trường tiểu học trên địa bàn Quận 3, bảng 2.10 dưới đây là kết quả khảo sát.
Bảng 2.10. Đánh giá của cán bộ quản lí giáo viên hực trạng quản lý việc tổ chức thực hiện, điều hành hoạt động Xã hội hóa giáo dục
- Về mức độ thực hiện Luận văn: Thực trạng quản lý Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.
Một số nội dung chưa nhận được sự đánh giá tích cực gồm; Việc phối hợp chặt chẽ với phòng giáo dục trong thực hiện KHHGD, chỉ được đánh giá ở mức độ ít thường xuyên trung bình 2.43 xếp hạng 6. Phòng giáo dục với vai trò là cơ quan chỉ đạo và tham mưu chính sách cho các trường, trong đó có hoạt động Xã hội hóa giáo dục nếu có sự phối hợp chặt chẽ từ cơ quan chuyên môn sẽ tạo nhiều thuận lợi hơn cho bộ phận chuyên trách về công tác Xã hội hóa giáo dục. Công tác Đảm bảo tính hiệu quả của từng bộ phận tham gia KHHGD, cũng chưa được đánh giá cao, mức độ thực hiện chỉ đạt ít thường xuyên trung bình khảo sát 2.42 cho thấy các ý kiến khảo sát cho rằng các nhà quản lí chưa thực sự quan tâm đến hoạt động của từng cá nhân khi tham gia công tác Xã hội hóa giáo dục. Việc phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương trong thực hiện KHHGD, chỉ nhận được kết quả đánh giá mức độ ít thường xuyên trung bình 2.37 xếp hạng 8. Điểm số và thứ hạng cho biết trong quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch nhà quản lí chưa chỉ đạo bộ phận chuyên trách của trường tham vấn, phối hợp tốt với chính quyền địa phương về công tác Xã hội hóa giáo dục.
Kết quả phỏng vấn mã số GV02 cho biết thêm “Mặc dù được phân công tham gia vào bộ phận chuyên trách về công tác Xã hội hóa giáo dục, nhưng về bản chất giáo viên vẫn phải thực hiện đầy đủ vai trò trách nhiệm của một giáo viên bình thường. Công tác Xã hội hóa giáo dục được xem như là một hoạt động kiêm nhiệm không chính thức. Điều này gây không ít khó khăn cho giáo viên trong quá trình triển khai thực hiện kế hoạch hóa giáo dục cũng như tham gia giảng dạy trên lớp”. Như vậy, có thể thấy công tác Xã hội hóa giáo dục cần phải được nghiên cứu điều chỉnh để được xem như một hoạt động giáo dục trong nhà trường. Điều này tạo cơ sở pháp lí cho cả nhà quản lí lẫn các thành viên trong bộ phận này.
- Về kết quả thực hiện
Về cơ bản các đánh giá kết quả thực hiện có sự tương quan với đánh giá của mức độ thực hiện, có thể kể đến một số nội dung sau;
Những nội dung được cán bộ quản lí và giáo viên đánh giá cao về kết quả thực hiện gồm; Kịp thời điều chỉnh bổ sung kế hoạch khi cần thiết, trung bình 2.58 xếp hạng 1. Hay triển khai đầy đủ kế hoạch Xã hội hóa giáo dục đến từng bộ phận tham gia, trung bình 2.56 xếp hạng 2. Hoặc thống nhất tiêu chí hoạt động cho các bộ phận tham gia, trung bình 2.52 xếp hạng 3.
Các nội dung có điểm trung bình và thứ hạng thấp gồm; Phối hợp chặt chẽ với phòng giáo dục trong thực hiện KHHGD, trung bình 2.37 xếp hạng 7 tương đương kết quả trung bình. Nội dung phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương trong thực hiện KHHGD, điểm trung bình 2.34 xếp hạng 8, kết quả trung bình. Có đánh giá thấp nhất bảng là nội dung Phối hợp chặt chẽ với các tổ chức, cơ quan đoàn thể trong thực hiện KHHGD, trung bình 2.29 xếp hạng 9, kết quả trung bình.
- Kết luận Luận văn: Thực trạng quản lý Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.
Điểm trung bình chung phần mức độ thực hiện 2.47 tương đương mức thực hiện ít thường xuyên. Phần kết quả thực hiện điểm trung bình chung 2.45 tương đương ghi nhận kết quả trung bình. Các thang đo của bảng 2.10 có chỉ số Cronbach’s Alpha lần lượt là 0.898 và 0.886. Chỉ số này cho thấy thang đo trên có độ tinh cậy tương đối cao. Căn cứ vào kết quả đánh giá của cán bộ quản lí và giáo viên bảng 2.10 người nghiên cứu cho rằng; thực trạng quản lý việc tổ chức thực hiện, điều hành hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại các trường tiểu học trên địa bàn Quận 3 hiện nay chưa thực sự tốt. Cần có giải pháp nhằm nâng cao vai trò của nhà quản lí trong tồ chức và điều hành hoạt động này.
2.4.4. Thực trạng quản lý, chỉ đạo hoạt động Xã hội hóa giáo dục.
Chỉ đạo và điều chỉnh là khâu quan trọng của chức năng quản lí. Hiệu quả của toàn bộ hoạt động phụ thuộc rất nhiều vào công tác này, cho nên để đánh giá đúng thực trạng, người nghiên cứu tiến hành khảo sát trên hai đối tượng, phụ huynh và cán bộ quản lí, giáo viên về công tác điều hành và chỉ đạo các hoạt động xã hội hóa giao dục trên đại bàn Quận 3 Tp HCM.
2.4.4.1. Đánh giá của phụ huynh
Bảng 2.11 dưới đây là kết quả khảo sát phụ huynh về thực trạng quản lý, chỉ đạo hoạt động Xã hội hóa giáo dục.
Bảng 2.11. Phụ huynh đánh giá thực trạng quản lý, chỉ đạo hoạt động Xã hội hóa giáo dục
- Về mức độ thực hiện
Các nội dung có đánh giá chưa cao bao gồm ; Sự phối hợp của các cơ quan chức năng đối với công tác Xã hội hóa, trung bình 2.34 xếp hạng 5. Sự phối hợp của các cơ quan chức năng đối với công tác Xã hội hóa, trung bình 2.32 xếp hạng 6. Nội dung có đánh giá thấp nhất về hoạt động là BGH đề nghị hội PHHS của nhà trường tham gia vận động Xã hội hóa giáo dục, trung bình 2.30 xếp hạng 7. Hội phụ huynh học sinh là cầu nối quan trọng giữa nhà trường với các cá nhân doanh nghiệp trong công tác Xã hội hóa giáo dục nếu phát huy tốt lợi thế này thì công tác Xã hội hóa giáo dục sẽ gặp nhiều thuận lơi. Theo nhìn nhận của khảo sát hoạt động này không được thường xuyên BGH quan tâm thực hiện.
Mã số phỏng vấn CBQL02 cho cho rằng “Nhà trường đã cử các thành viên có kinh nhiệm và uy tính tham gia phụ trách công tác Xã hội hóa giáo dục, bước đầu có ghi nhận được một số thành quả nhất định. Tuy nhiên, thành viên của bộ phận chuyên trách chủ yếu là giáo viên kiêm nhiệm. Họ phải thực hiện đồng thời nhiều nhiệm vụ khác nhau, dạy học, tham gia công tác đoàn thể và thực hiện công tác Xã hội hóa giáo dục. Đối với công tác Xã hội hóa giáo dục các chế độ chính sách cũng như cơ chế ràng buộc chưa chặt chẽ. Cho nên, việc động viên khuyến khích về vật chất và tinh thần chưa thỏa đáng nên chưa tạo được sự khích lệ đúng mức cho hoạt động này”. Ý kiến của nhà quản lí cho thấy mặc dù công tác Xã hội hóa giáo dục có tác động không nhỏ đến hoạt động giáo dục của các trường nhưng do cơ chế quy định nên công tác này còn bộc lộ nhiều hạn chế về tính ràng buộc. Nội dung BGH nhà trường phân công bộ phận chuyên trách về công tác Xã hội hóa giáo dục, có điểm trung bình 2.39 xếp hạng 4 thứ hạng tương đương mức đánh giá ít thường xuyên. Trên thực tế các trường hiện nay đã phân công bộ phận chuyên trách về công tác Xã hội hóa giáo dục nhưng do hoạt động chưa sôi nổi nên các đánh giá từ ngoài chỉ mang tính bề nổi. Việc bộ phận phụ trách công tác Xã hội hóa giáo dục nhận được sự chỉ đạo của chính quyền về công tác Xã hội hóa, cũng được đánh giá rất thấp ít thường xuyên, trung bình 2.34. Luận văn: Thực trạng quản lý Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.
- Về kết quả thực hiện
Kết quả đánh giá của phụ huynh về hiệu quả thực hiện công tác điều hành chỉ đạo của nhà trường khá tương đồng với đánh giá mức độ thực hiện. Nội dung được đánh giá cao về hiệu quả là BGH chỉ đạo GV vận động phụ huynh đóng góp cho công tác Xã hội hóa giáo dục, trung bình 2.51 xếp hạng 1 kết quả đạt mức tốt. Bộ phận chuyên trách tiếp xúc với cá nhân, doanh nghiệp để vận động Xã hội hóa giáo dục, trung bình 2.51 xếp hạng 2 kết quả chỉ đạt mức trung bình. Các nội dung còn lại điểm trung bình đều nhỏ hơn 2.51 nên kết quả đánh giá chỉ ở mức trung bình. Công tác chỉ đạo và kiểm soát các hoạt động thực hiện kế hoạch Xã hội hóa giáo dục có ảnh hưởng rất lớn đền hiệu quả. Theo đánh giá của phụ huynh, các bộ quản lí chưa thực sự thể hiện hết vai trò của mình đối với công tác này.
- Kết luận
Điểm trung bình chung khảo sát phần mức độ thực hiện 2.40 tương đương mức đánh giá hoạt động ít thường xuyên. Phần kết quả thực hiện có điểm trung bình 2.37 tương đương mức nhận định hiệu quả trung bình. Thang đo trên có độ tinh cậy chấp nhận được (Cronbach’s Alpha 0.794 và 0.954). Từ kết quả trên người nghiên cứu cho rằng thực trạng quản lý, chỉ đạo hoạt động Xã hội hóa giáo dục của cán bộ quản lí các trường tiểu học trên địa bàn Quận 3 hiện nay chưa thực sự phát huy được vai trò của nhà quản lí đối với một trong những hoạt động liên quan đến công tác giáo dục. Chính điều này nên hiệu quả của công tác vận động Xã hội hóa giáo dục tại các trường chỉ mới thực hiện ở quy mô nhỏ và hiệu quả chưa cao.
2.4.4.2. Đánh giá của cán bộ quản lí
Bảng 2.12 dưới đây là kết quả khảo sát cán bộ quản lí, giáo viên về thực trạng quản lý, chỉ đạo hoạt động Xã hội hóa giáo dục.
Bảng 2.12. CBQL, GV đánh giá thực trạng quản lý, chỉ đạo hoạt động Xã hội hóa giáo dục
- Về mức độ thực hiện Luận văn: Thực trạng quản lý Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.
Nội dung được đánh giá cao nhất bảng là chỉ đạo các bộ phận khác của nhà trường hỗ trợ tốt cho việc thực hiện công tác Xã hội hóa giáo dục, trung bình 2.57 xếp hạng 1 độ lệch chuẩn 0.497 cho thấy số người lựa chọn nhận định thực hiện thường xuyên tương đối cao. Nội dung Kịp thời điều động, bổ sung các bộ phận hỗ trợ khi cần thiết, trung bình 2.54 xếp hạng 2 mức đánh giá thường xuyên. Các đánh giá trên cho thấy CBQL có sự điều phối, huy động nhân lực hỗ trợ cho bộ phận chuyên trách về công tác Xã hội hóa giáo dục. Quá trình triển khai thực hiện kế hoạch Nêu rõ mục đích yêu cầu và các chỉ dẫn cần thiết cho các cá nhân tham gia HĐ Xã hội hóa giáo dục, trung bình 2.46 xếp hạng 3 đánh giá mức độ thực hiện ít thường xuyên. Cùng nhận được đánh giá đó là nội dung Có mặt kịp thời giải quyết các tình huống phát sinh trong quá trình tổ chức KH Xã hội hóa giáo dục, trung bình 2.41 xếp hạng 5.
Mã số phỏng vấn CBQL01 cho rằng “Về cơ chế khích lệ các thành tích của bộ phận chuyên trách công tác Xã hội hóa giáo dục hiện nay chưa cụ thể, nên BGH chủ yếu động viên tinh thần chứ chưa có khuyến khích về mặt vật chất cũng như tạo điều kiện giảm bớt chuyên môn hay các hoạt động giáo dục khác cho các cá nhân tham gia công tác Xã hội hóa giáo dục. Đây là điều bất cập, đề nghị các cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết nhằm mang lại quyền lợi cho bộ phận”. Kế quả phỏng vấn trên hoàn toàn có cơ sở.
Các nội dung có điểm trung bình đánh giá thấp về mức độ thực hiện gồm; Triển khai đồng bộ kế hoạch cho các bộ phận tham gia, trung bình 2.38 xếp hạng 6 mức đánh giá ít thường xuyên. Việc Phân phối hợp lí các nguồn lực cho các bộ phận khi có yêu cầu, trung bình 2.33 xếp hạng 7 mức đánh giá ít thường xuyên.
- Về kết quả thực hiện
Đánh giá kết quả thực hiện các nội dung quản lý, chỉ đạo hoạt động Xã hội hóa giáo dục có một số nội dung có sự khác biệt đáng kể với đánh giá mức độ thực hiện. cụ thể như sau;
Nội dung Có cơ chế khuyến kích các các nhân tổ chức, tham gia có hiệu quả công tác Xã hội hóa giáo dục, điểm trung bình 2.84 xếp hạng 1 tương đương mức đánh giá kết quả khá. Trong khi đó nội dung này phần mức độ thực hiện chỉ được xếp hạng 4 với hoạt động ít thường xuyên điều này cho thấy tinh thần trách nhiệm của những cá nhân tham gia vào công tác Xã hội hóa giáo dục rất cao. Ngược lại nội dung Nêu rõ mục đích yêu cầu và các chỉ dẫn cần thiết cho các cá nhân tham gia HĐ Xã hội hóa giáo dục, điểm trung bình kết quả thực hiện là 2.43 xếp hạng 5 hiệu quả trung bình. Trong khi đó phần mức độ thực hiện nội dung này được đánh giá khá cao trung bình 2.46 xếp hạng 3. Điều này cho thấy mặc dùng được cán bộ quản lí quan tâm chỉ đẫn trong quá trình triển khai kế hoạch nhưng hiệu quả được ghi nhận của công tác này không cao. Các nội dung khác có đánh giá hiệu quả tương đồng với đánh giá mức độ thực hiện.
- Kết luận Luận văn: Thực trạng quản lý Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.
Điểm trung bình chung phần mức độ thực hiện 2.45 tương đương mức đánh giá ít thường xuyên. Phần kết quả thực hiện điểm số trung bình 2.50 tương đương ghi nhận hiệu quả trung bình. Kiểm nghiệm Cronbach’s Alpha lần lượt 0.767 và 0.854 chỉ số này cho thấy thang đo của bảng 2.12 có độ tin cậy ở mức chấp nhận được.
Đánh giá của CBQL,GV tại bảng 2.12 hoàn toàn phù hợp với đánh giá của phụ huynh bảng 2.10. Căn cứ kết quả khảo sát người nghiên cứu cho rằng trạng quản lý, chỉ đạo hoạt động Xã hội hóa giáo dục của CBQL tại các trường tiểu học trên địa bàn Quận 3 hiện nay chưa cao, chưa phát huy được hết hiệu quả của công tác Xã hội hóa giáo dục.
2.4.5. Thực trạng quản lý kiểm tra, đánh giá hoạt động Xã hội hóa giáo dục.
Kiểm tra đánh giá là một khâu quan trọng trong quá trình tổ chức thực hiện các nội dung Xã hội hóa giáo dục. Tuy nhiên, kiểm tra đánh giá không phải là khâu cuối cùng của hoạt động, mà công tác này phải được thực hiện thường xuyên liên tục trong tất cả các công đoạn của kế hoạch. Để có cơ sở đánh giá đúng thực trạng quản lý kiểm tra, đánh giá hoạt động Xã hội hóa giáo dục. Người nghiên cứu tiến hành khảo sát ý kiến của cả hai đối tượng, phụ huynh và CBQL, GV về hoạt động này. Dưới đây là kết quả của khảo sát.
2.4.5.1. Đánh giá của phụ huynh
Bảng 2.13 là kết quả khảo sát mức độ thực hiện và hiệu quả thực hiện về thực trạng quản lý kiểm tra, đánh giá hoạt động Xã hội hóa giáo dục của phụ huynh.
Bảng 2.13. Phụ huynh đánh giá thực trạng quản lý kiểm tra, đánh giá hoạt động Xã hội hóa giáo dục
- Về mức độ thực hiện
Một số nội dung có mức độ đánh giá ít thường xuyên gồm; Chính quyền kiểm tra xây dựng kế hoạch vận động Xã hội hóa giáo dục tại địa phương, trung bình 2.39 xếp hạng 5. Chính quyền địa phương tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm Xã hội hóa giáo dục hàng năm, trung bình 2.38 xếp hạng 6 và nội dung BGH hàng năm phối hợp với chính quyền địa phương kiểm tra công tác Xã hội hóa giáo dục, trung bình 2.37 xếp hạng 7. Kết quả khảo sát cho thấy việc phối hợp với chính quyền địa phương nhằm kiểm tra đánh giá các hoạt động phối hợp, kết quả thu được qua công tác vận động hay việc sử dụng nguồn xã hội hóa của các trường hiện nay còn nhiều hạn chế. Nếu có sự tham gia của chính quyền địa phương với tư cách quản lí nhà nước sẽ tạo điều kiện nâng cao tính minh bạch và uy tính của trường trước các nhà hảo tâm và doanh nghiệp thường xuyên đóng góp.
Mã số phỏng vấn CBQL02 cho biết thêm “Hàng năm nhà trường có mời đại diện chính quyền tham gia giám sát cùng đội ngũ thanh tra nhân dân của trường, rà soát toàn bộ kế hoạch sử dụng nguồn lực Xã hội hóa giáo dục. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố như, tính chất công việc, chuyên môn, thời gian nên có khi UBND cử người tham gia có lúc có lúc không. Qua các đợt tổng kết nhà trường có gửi văn bản đến cấp có thẩm quyền xem xét và báo cáo”. Qua ý kiến phỏng vấn người nghiên cứu nhận thấy công tác kiểm tra đánh giá vẫn được trường phối hợp với chính quyền nhưng do đây là hoạt động chuyên môn nên phụ huynh học sinh có ít thông tin dẫn đến đánh giá mang tính trực quan.
- Về kết quả thực hiện Luận văn: Thực trạng quản lý Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.
Căn cứ vào kết quả khảo sát phần kết quả thực hiện chúng ta thấy đa số các ý kiến đánh giá đều phù hợp với các nhận định về mức độ thực hiện. Cụ thể như sau;
Các nội dung có mức đánh giá kết quả khá gồm; Các trường tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm Xã hội hóa giáo dục hàng năm, trung bình 2.73 xếp hạng 1. Phòng giáo dục tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm Xã hội hóa giáo dục hàng năm, trung bình 2.70 xếp hạng 2. GV báo cáo tình hình vận động Xã hội hóa giáo dục cho BGH, trung bình 2.72 xếp hạng 3. Các nội dung trên được ghi nhận có kết quả thực hiện tương đồng với đánh giá mức độ thực hiện.
Các nội dung có mức đánh giá kết quả trung bình gồm; Chính quyền kiểm tra xây dựng kế hoạch vận động Xã hội hóa giáo dục tại địa phương, trung bình 2.38 xếp hạng 5. Chính quyền địa phương tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm Xã hội hóa giáo dục hàng năm, trung bình 2.68 xếp hạng 6 và nội dung BGH hàng năm phối hợp với chính quyền địa phương kiểm tra công tác Xã hội hóa giáo dục, trung bình 2.34 xếp hạng 7. Mặc dù có kết quả đánh giá thấp nhưng điều này cũng thể hiện sự quan tâm của cán bộ quản lí đến công tác kiểm tra đánh giá hoạt động Xã hội hóa giáo dục.
- Kết luận
Điểm trung bình phần mức độ thực hiện 2.58 tương đương mức đánh giá thường xuyên thực hiện công tác kiểm tra đánh giá. Phần kết quả điểm trung bình chung 2.55 tương đương nhận định kết quả mức khá. Độ tin cậy của thang đo có chỉ số Cronbach’s Alpha lần lượt là 0.712 và 0.718 đạt mức đánh giá độ tin cậy ở mức khá.
Qua kết quả khảo sát trên đối tượng phụ huynh, người nghiên cứu cho rằng thực trạng quản lý công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động Xã hội hóa giáo dục của BGH các trường tiểu học trên địa bàn Quận 3 đã đáp ứng được cơ bản về yêu cầu. Tuy nhiên, cần khắc phục một số nội dung như mở rộng thành phần tham gia, phối hợp chặt chẽ với cơ quan quản lí trực tiếp để nhận được sự tham vấn về chuyên môn nhằm nâng cao hiệu quả hơn nữa công tác Xã hội hóa giáo dục.
2.4.5.2. Đánh giá của cán bộ quản lí và giáo viên
Bảng 2.14 dưới đây là kết quả khảo sát của CBQL, GV về thực trạng quản lý kiểm tra, đánh giá hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại các trường tiểu học trên địa bàn Quận 3 Tp HCM.
Bảng 2.14. Cán bộ quản lí, giáo viên đánh giá thực trạng quản lý kiểm tra, đánh giá hoạt động Xã hội hóa giáo dục
- Về mức độ thực hiện Luận văn: Thực trạng quản lý Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.
Nội dung dược CBQL, GV đánh giá cao về mức độ hoạt động là Kiểm tra chỉ đạo thực hiện kế hoạch, trung bình 2.52 xếp hạng 1 mức đánh giá thường xuyên. Đánh giá trên chứng tỏ BGH các trường có kiểm tra đôn đốc quá trình triển khai thực hiện kế hoạch. Ngoài ra việc Kiểm tra xây dựng kế hoạch Xã hội hóa giáo dục, cũng được ghi nhận mức thường xuyên trung bình 52 xếp hạng 2 độ lệch chuẩn 0.501 cho th6a1y mức độ đồng tình với nhận định này khá cao. Tuy nhiên, sau khi triển khai kế hoạch công tác kiểm tra lại chưa được ghi nhận tích cực, trung bình 2.49 xếp hạng 3 tương đương mức ánh giá thực hiện ít thường xuyên. Chứng tỏ quá trình thực hiện các nội dung của kế hoạch BGH chưa thực sư sâu sát nhằm đánh giá tình hình để có những điều chỉnh kịp thời.
Mã số phỏng vấn VG04 cho biết thêm “Toàn bộ kế hoạch được BGH chủ động giao cho bộ phận chuyên trách thực hiện và có phân công người phụ trách chính. Những khó khăn trong quá trình thực hiện các thành viên chủ động khắc phục và có báo cáo với BGH. Nhưng thông thường kết quả chỉ đạo phải chờ sự thống nhất trong BGH với hội đồng trường nên bộ phận chuyên trách chủ động giải quyết trong nhiệm vụ quyền hạn được phân công”. Từ ý kiến trên cho thấy công tác quản lí hoạt động này còn nhiều vấn đề bất cập đặc biệt trong những tình huống cần sự chỉ đạo của BGH.
Các nội dung có đánh giá chưa cao về mức độ hoạt động gồm; Bổ sung kịp thời cách thức đánh giá kết quả HĐ Xã hội hóaHGD phù hợp với tình hình nhà trường, trung bình 2.35 xếp hạng 5. Kiểm tra kết quả thực hiện so với mục đích yêu cầu của kế hoạch, trung bình 2.43 xếp hạng 5. Kiểm tra, điều chỉnh các tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện KH Xã hội hóa giáo dục, trung bình 2.39 xếp hạng 7. Đánh giá trên cho thấy vai trò quản lí về công tác kiểm tra đánh giá hoạt động xã hội hóa giao dục trong quá trình thực hiện chưa thực sự tốt.
- Về kết quả thực hiện
Các nội dung đánh giá của cán bộ quản lí, giáo viên về hiệu quả của công tác kiểm tra đánh giá thực hiện công tác Xã hội hóa giáo dục cơ bản có sự tương đồng với đánh giá mức độ thực hiện. Có một vài sự khác biệt về điểm số nhưng không đáng kể và không ảnh hưởng nhiều đến kết quả khảo sát, cụ thể như sau;
Nội dung bổ sung kịp thời cách thức đánh giá kết quả HĐ Xã hội hóaHGD phù hợp với tình hình nhà trường, trung bình 2.47 xếp hạng 4 mức đánh giá kết quả trung bình. Nội dung này phần kết quả thực hiện có thứ hạng 5 tuy nhiên mức đánh giá cũng chĩ đạt ít thuồng xuyên. Nội dung Kiểm tra, điều chỉnh các tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện KH Xã hội hóa giáo dục, trung bình 2.41 Kiểm tra, điều chỉnh các tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện KH Xã hội hóa giáo dục xếp hạng 4 đánh giá kết quả trung bình. Nội dung Kiểm tra kết quả thực hiện so với mục đích yêu cầu của kế hoạch, trung bình 2.40 xếp hạng 7, mức độ thực hiện hạng 6. Thứ hạng có sự chênh lệch nhưng các mức đánh giá có sự tương đồng.
- Kết luận
Điểm trung bình chung của mức độ thực hiện 2.47 tương đương mức đánh giá ít thường xuyên. Phần kết quả thực hiện có điểm trung bình 2.47 đạt mức nhận định về kết quả trung bình. Từ kết quả bảng 2.14 người nghiên cứu cho rằng thực trạng quản lý kiểm tra, đánh giá hoạt động Xã hội hóa giáo dục của các trường tiểu học trên địa bàn Quận 3 hiện này chưa thực sự tốt. Cần có giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa vai trò của nhà quản lí đồi với hoạt động này.
2.5. Thực trạng mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động Xã hội hóa giáo dục Luận văn: Thực trạng quản lý Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.
Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lí hoạt động Xã hội hóa giáo dục của các trường tiểu học bao gồm yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan. Để có số liệu đánh giá đúng thực trạng các yếu tố tác động đến công tác này, người nghiên cứu tiến hành khảo sát mức độ ảnh hưởng dựa trên đánh giá của cán bộ quản lí và giáo viên. Bảng 2.15 dưới đây là kết quả khảo sát các nội dung ảnh hưởng.
2.5.1. Các yếu tố khách quan
Bảng 2.15 dưới đây là kết quả khảo sát các yếu tố khách quan có ảnh hưởng đến công tác quản lí hoạt động Xã hội hóa giáo dục.
Bảng 2.15. Các yếu tố khách quan có ảnh hưởng đến công tác quản lí
Kết quả bảng 2.15 cho thấy điểm trung bình khảo sát rất cao, chứng tỏ các nội dung được hỏi có ảnh hưởng lớn đến công tác điều hành chỉ đạo của cán bộ quản lí đối với hoạt động Xã hội hóa giáo dục. Nội dung có điểm đánh giá cao nhất là Sự hưởng ứng của các cá nhân, mạnh thường quân, trung bình 3.75 xếp hạng 1 tương đương mức nhận định rất ảnh hưởng. Tiếp đến Điều kiện xã hội, kinh tế, văn hóa của địa phương, cũng được ghi nhận rất ảnh hưởng trung bình 3.71. Nội dung Sự tham gia của các tổ chức doanh nghiệp, cơ sở SX, trung bình 3.67. Các nội dung trên là những yếu tố khách quan nhưng liên quan trực tiếp đến đối tượng của công tác Xã hội hóa giáo dục. Trong quá trình thực hiện nhà quản lí cần đánh giá đúng tình hình về điều kiện kinh tế địa phương, sự tham gia hưởng ứng của doanh nghiệp, cơ sở sản xuất để có các hình thức vận động phù hợp, mang lại hiệu quả thiết thực cho công tác Xã hội hóa giáo dục.
Những nội dung có điểm đánh giá thấp gồm; Sự quan tâm của chính quyền địa phương, trung bình 3.48 xếp hạng 6. Chủ trương, đường lối của nhà nước về Xã hội hóa giáo dục, trung bình 3.40 xếp hạng 7 và nội dung Các văn bản pháp quy quy định, hướng dẫn công tác Xã hội hóa giáo dục, trung bình 3.33. Mã số phỏng vấn CBQL cho biết thêm về nội dung này như sau “Hiện nay khó nhất là văn bản mang tính pháp quy, hướng dẫn chi tiết hoạt động Xã hội hóa giáo dục chưa hoàn thiện. Các trường chủ yếu dựa vào kinh nghiệp và sự chỉ đạo của các cấp có thẩm quyền để thực hiện. Nhiều lúc gặp khó khăn như nguồn tài trợ lớn như đất đai, bất động sản, vượt quá khả năng xử lí của trường”. Ý kiến trên hoàn toàn phản ánh đúng thực trạng hiện nay. Các cơ chế về chính sách đối với hoạt động Xã hội hóa giáo dục chưa được hoàn thiện. Chế độ chính sách cho bộ phận thực hiện nội dung này còn chung chung, gây không ít lúng túng cho các trường khi triển khai thực hiện.
Căn cứ vào kết quả khảo sát các yếu tố khách quan tác động đến công tác quản lí hoạt động Xã hội hóa giáo dục của bảng 2.15 người nghiên cứu nhận thấy; Cần bổ sung các văn bản pháp quy, tạo điều kiện cho các trường định hướng tốt hơn hoạt động Xã hội hóa giáo dục. Đây cũng là cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền thực hiện kiểm tra và đánh giá công tác Xã hội hóa giáo dục tại các trường. Luận văn: Thực trạng quản lý Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.
Điểm trung bình chung 3.56 tương đương mức đánh giá rất ảnh hưởng. Chỉ số kiểm nghiệm độ tin cậy của thang đo 0.771 cho thấy kết quả khảo sát của bảng 2.15 hoàn toàn có thể sử dụng được.
2.5.2. Các yếu tố chủ quan
Bảng 2.16 dưới đây là kết quả khảo sát các yếu tố chủ quan có ảnh hưởng đến công tác quản lí các hoạt động Xã hội hóa giáo dục.
Bảng 2.16. Các yếu tố chủ quan có ảnh hưởng đến công tác quản lí
Nội dung được đánh giá cao nhất về mức độ ảnh hưởng là Năng lực thực hiện của các cá nhân khi tham gia KH Xã hội hóa giáo dục, trung bình 3.61 xếp hạng 1 mức đánh giá rất ảnh hưởng. Ngoài ra Sự tham gia tích cực của các tổ chức cá nhân, cũng được ghi nhận rất ảnh hưởng trung bình 3.61 xếp hạng 2. Công tác XD kế hoạch Xã hội hóa giáo dục phù hợp với tình hình thực tế, trung bình 3.47 xếp hạng 3. Căn cứ các nhận định trên người nghiên cứu cho rẳng để nhà quản lí thực hiện tốt chức năng của mình thì ngoài năng lực điều hành thì công tác kiểm soát toàn bộ quá trình hoạt động diễn ra có tính quyết định đến hiệu quả của hoạt động. Ghi nhận các yếu tố trên cho thấy việc lựa chọn những thành viên vào bộ phận chuyên trách Xã hội hóa giáo dục có ý nghĩa rất quan trọng.
Vì đây là hoạt động mang tính kiêm nhiệm nên các chế độ ưu đãi không có, chính vì thế cần phải lựa chọn những người thực sự có tâm huyết với công tác này và có mong muốn phát triển giáo dục của trường.
Các nội dung có điểm trung bình đánh giá thấp gồm; Sự quan tâm của lãnh đạo ngành giáo dục, trung bình 3.43 xếp hạng 4. Năng lực điều hành của BGH, Hội đồng trường, trung bình 3.42 xếp hạng 5. Sự quan tâm của BGH, Hội đồng trường, trung bình 3.31 xếp hạng 6. Mặc dù có điểm trung bình tập trung ở cuối bảng nhưng điểm số đánh giá đều thuộc khung đánh giá rất ảnh hưởng.
Điểm trung bình chung 3.46 tương đương mức đánh giá rất ảnh hưởng. Chỉ số kiểm nghiệm độ tin cậy của thang đo 0.846 cho thấy kết quả khảo sát của bảng 2.16 hoàn toàn có thể sử dụng được.
2.6. Đánh giá chung về thực trạng Luận văn: Thực trạng quản lý Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.
Qua tổng hợp, phân tích số liệu thu được từ khảo sát thực trạng công tác quản lí hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại các trường tiểu học trên địa bàn Quận 3. Người nghiên cứu nhận thấy hoạt động này có một số điểm mạnh và điểm yếu sau đây.
2.6.1. Điểm mạnh của thực trạng
Về cơ bản nhận thức của đa số phụ huynh, cán bộ quản lí, giáo viên và các bộ phận tham gia công tác Xã hội hóa giáo dục đảm bảo yêu cầu. Trong đó đa số các ý kiến được hỏi đều cho rằng Xã hội hóa giáo dục là nhằm giảm bớt ngân sách đầu tư cho giáo dục. Đây cũng là một trong những hình thức nhằm đa dạng hóa các loại hình giáo dục. Xã hội hóa giáo dục còn nhằm mục đích khai thác các nguồn lực ngoài xã hội hỗ trợ ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục, tạo điều kiện cho con em họ có môi trường học tập tốt hơn.
Các nguyên tắc cơ bản được vận dụng khá đầy đủ trong quá trình triển khai thực hiện kế hoạch Xã hội hóa giáo dục. Trong đó nhà trường đã phát huy được vai trò của ban đại diện cha mẹ HS tham gia vận động công tác Xã hội hóa giáo dục. Đồng thởi tận dụng tốt các mối quan hệ của nhà trường với các cá nhân, đơn vị, doanh nghiệp.
Theo kết quả đánh giá của khảo sát cấp ủy, chính quyền địa phương, phòng giáo dục và các tổ chức đoàn thể đã có những đóng góp nhất định vào việc tổ chức triển khai kế hoạch Xã hội hóa giáo dục, bước đầu ghi nhận những hiệu quả tích cực như; Tổ chức vận động các nhà hảo tâm, doanh nghiệp tham gia đóng góp. Tuyên truyền phụ huynh tham gia đóng góp dưới nhiều hình thức khác nhau.
Về công tác tổ chức bộ máy đánh giá của khảo sát cho thấy hiện nay các trường tổ chức khá bài bản. Vận động tập thể cán bộ quản lí, giáo viên của nhà trường tham gia theo năng lực đóng góp tự nguyện của từng cá nhân. Mời gọi các đoàn thể, tổ chức ngoài xã hội, các hiệp hội các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trên địa bàn quận cùng tham gia với nhà trường.
Công tác xây dựng kế hoạch đã đạt được một số thành quả nhất định. Kế hoạch Xã hội hóa giáo dục đảm bảo đúng mục tiêu và tinh thần chỉ đạo của phòng giáo dục. Đảm bảo đáp ứng đầy đủ các yêu cầu và chỉ đạo của các cấp có thẩm quyền. Nhận được sự thống nhất cao giữa hội đồng trường, BGH, Hội phụ huynh học sinh.
Công tác quản lí kiểm tra đánh giá đã phát huy được vai trò giám sát, điều chỉnh của các cơ quan có thẩm quyền cụ thể; Phòng giáo dục tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm Xã hội hóa giáo dục hàng năm, các trường tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm Xã hội hóa giáo dục theo định kì. GV báo cáo kết quả tình hình vận động Xã hội hóa giáo dục cho BGH.
2.6.2. Điểm yếu của thực trạng Luận văn: Thực trạng quản lý Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.
Vẫn còn một số đối tượng chưa nhận thức đầy đủ ý nghĩa và vai trò của hoạt động Xã hội hóa giáo dục. Cho nên trong quá trình thực hiện hiệu quả chưa cao và chưa thể hiện hết tinh thần trách nhiệm đối với hoạt động này.
Quá trình thực hiện vẫn còn một số nguyên tắc chưa được thực hiện đầy đủ. Như vận dụng các chủ trương Xã hội hóa giáo dục phù hợp với đặc điểm tình hình địa phương. Việc kết nối giữa nhà trường với phòng giáo dục, chính quyền địa phương cùng thực hiện công tác Xã hội hóa giáo dục chưa đảm bảo theo yêu cầu. Ngoài ra BGH lập kế hoạch chi tiết cho các hoạt động Xã hội hóa giáo dục cũng chưa được đầu tư nghiêm túc.
Một số tổ chức cá nhân ngoài nhà trường khi tham gia hoạt động chưa nhận thức đầy đủ về vai trò và ý nghĩa của công tác Xã hội hóa giáo dục, cho nên dẫn đến việc tổ chức các hoạt động còn sơ sài, hiệu quả không cao.
Quá trình tổ chức bộ máy vẫn chưa có sự tham gia đầy đủ của một số bộ phận quan trọng như, Chính quyền địa phương, cơ quan quản lí chuyên môn phòng giáo dục, các bộ phận phụ trách văn xã của phường…
Quá trình xây dựng kế hoạch vẫn còn một số điểm yếu sau, Chưa đảm bảo đúng và đủ các nguyên tắc. Quy định chi tiết vai trò chức năng của các bộ phận tham gia KHHGD chưa rõ ràng và tính ràng buộc chưa cao. Ngoài ra KHHGD đảm bảo phù hợp với tình hình địa phương và hòan cảnh của cá nhân cũng chưa được xem xét kĩ.
Trong công tác kiểm tra đánh giá còn tồn tại một số điểm yếu sau đây; Chính quyền kiểm tra xây dựng kế hoạch vận động Xã hội hóa giáo dục tại địa bàn chưa được thực hiện nghiêm túc. Việc Chính quyền địa phương phối hợp với phòng giáo dục, nhà trường, hội phụ huynh tổng kết rút kinh nghiệm Xã hội hóa giáo dục hàng năm chưa được thực hiện thường xuyên. Ngoài ra BGH hàng năm phối hợp với chính quyền địa phương kiểm tra công tác Xã hội hóa giáo dục cũng được đánh giá hiệu quả rất thấp.
2.6.3. Nguyên nhân của điểm yếu
Nhận thức của một số bộ phận tham gia công tác Xã hội hóa giáo dục chưa tốt chủ yếu do đây là hoạt động mang tính kiêm nhiệm, chưa có quy chế ràng bộc. Các hoạt động chủ yếu dựa vào sự nhiệt tình và tinh thần vì sự nghiệp giáo dục của từng cá nhân riêng lẻ. Luận văn: Thực trạng quản lý Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.
Mặc dù các trường về cơ bản đã có bộ phận chuyên trách về Xã hội hóa giáo dục nhưng quy mô và tần suất hoạt động của bộ phận này chưa đảm bảo đúng các yêu cầu. Nên một số hoạt động như; đánh giá thực trạng, lập kế hoạch, kết nối với các tổ chức doanh nghiệp chưa được đầu tư đúng mức nên dẫn đến hiệu quả không cao.
Các cá nhân tổ chức tham gia vào bộ phận chuyên trách của trường về vận động Xã hội hóa giáo dục chủ yếu tham gia với tinh thần tự nguyện và chỉ trong một vài hoạt động, cho nên việc đòi hỏi tính chuyên môn cao đối với bộ phận này là hoàn toàn không cần thiết. Nên phân công và sử dụng họ một các hơp lí nhằm phát huy các thế mạnh vốn của của họ.
Quá trình xây dựng kế hoạch chủ yếu được thực hiện đầu năm học và do bộ phận chuyên trách soạn thảo. Trong khi thực hiện kế hoạch được thực hiện theo từng giai đoạn cho nên việc kế hoạch chưa phù hợp với tình hình thực tế là điều có thật. Ngoài ra, sự tham gia của các các nhân theo từng giai đoạn có sự biến động, nên sự thống không cao và nhất quán.
Công tác kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện các nội dung Xã hội hóa giáo dục hiện nay tại các trường chưa được xây dựng chi tiết và cụ thể. Cho nên quá trình thực hiện chủ yếu đựa trên kinh nghiệm và căn cứ vào số lượng đóng góp để đánh giá hiệu quả, chứ chưa đi sâu phân tích từng nội dung, công việc được triển khai từ đó có giải pháp khắc phục hoặc phát huy.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
Trong chương 2 người nghiên cứu làm rõ thực trạng công tác quản lí các hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại các trường tiểu học trên địa bàn Quận 3 Tp Hồ Chí Minh. Trên cơ sở thu thập số liệu, tổng hợp, phân tích từng nội dung cụ thể của hoạt động này. Qua quá trình tìm hiểu người nghiên cứu đã đánh giá ưu điểm và nhược của từng nội dung trong công tác quản lí. Các nội dung được nghiên cứu bao gồm;
- Những chủ trương chính sách của địa phương và ngành giáo dục đối với hoạt động Xã hội hóa giáo dục trường tiểu học;
- Mục tiêu hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại trường tiểu học.
- Những nguyên tắc cơ bản của hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại trường tiểu học;
- Nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể, nhân dân và cán bộ quản lý giáo dục đối với hoạt động xã hội hóa giáo dục;
- Vai trò của phòng giáo dục trong công tác Xã hội hóa giáo dục.
Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại các trường tiểu học gồm những nội dung sau:
- Thực trạng về tổ chức bộ máy quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục ở trường ;
- Thực trạng quản lý hoạt động xây dựng kế hoạch Xã hội hóa giáo dục;
- Thực trạng quản lý việc tổ chức thực hiện, điều hành hoạt động Xã hội hóa giáo dục;
- Thực trạng quản lý, chỉ đạo hoạt động Xã hội hóa giáo dục;
- Thực trạng quản lý kiểm tra, đánh giá hoạt động Xã hội hóa giáo dục;
- Thực trạng mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xã hội hóa giáo dục.
Quá trình phân tích bình luận người nghiên cứu đã chỉ ra được những ưu điểm cũng như những tồn tại trong công tác quản lí các hoạt động Xã hội hóa giáo dục. Đây chính là cơ sở để tham khảo và đề xuất các biện pháp ở Chương 3. Luận văn: Thực trạng quản lý Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học
