Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát về điều kiện kinh tế – xã hội và giáo dục của Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương

2.1.1. Tình hình phát triển kinh tế xã hội Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương

Điều kiện tự nhiên

Thành phố Thuận An có diện tích tự nhiên 83,71 km2, nằm ở phía Nam của tỉnh Bình Dương; phía Đông giáp Thành phố Dĩ An, phía Bắc giáp Thành phố Thủ Dầu Một và thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, phía Tây giáp quận 12, phía Nam giáp quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. (UBND Thành phố Thuận An, 2020)

Kinh tế – xã hội

Trong những năm qua, Thành phố Thuận An luôn là một trong những địa phương đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh Bình Dương. Tốc độ tăng trưởng kinh tế Thành phố Thuận An luôn ở mức cao, thu nhập bình quân đầu người đạt 143,88 triệu đồng/người/năm. Lĩnh vực kinh tế chuyển biến tích cực theo cơ cấu công nghiệp, dịch vụ – thương mại, nông nghiệp; năm 2018, tỷ lệ công nghiệp – xây dựng chiếm 79,48%, thương mại – dịch vụ – du lịch chiếm 20,44% và nông lâm nghiệp chiếm 0,08%. Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.

Toàn Thành phố hiện có 03 khu công nghiệp (VSIP 1, Việt Hương, Đồng An) và 03 cụm công nghiệp tập trung, thu hút 2.368 doanh nghiệp trong và ngoài nước; trong đó, số doanh nghiệp hoạt động trong các khu công nghiệp và cụm công nghiệp là 400 doanh nghiệp.

Các hoạt động trên lĩnh vực văn hóa xã hội đều có những chuyển biến tích cực theo định hướng, hài hòa với phát triển kinh tế. Tổ chức tốt các hoạt động chào mừng các ngày lễ, kỷ niệm, tết Nguyên Đán và các sự kiện của địa phương. Công tác giảm nghèo và chăm lo đời sống cho các đối tượng chính sách, xã hội được quan tâm thường xuyên. Công tác khám chữa bệnh, phòng chống dịch bệnh và các chương trình mục tiêu y tế quốc gia được duy trì thường xuyên. Công tác xã hội hóa trên lĩnh vục giáo dục, y tế được thực hiện có hiệu quả đáp ứng nhu cầu học tập và khám chữa bệnh của nhân dân. Cơ sở vật chất trường lớp, trang thiết bị y tế và các thiết chế văn hóa thể thao tiếp tục được đầu tư xây dựng phục vụ nhu cầu học tập, vui chơi giải trí ngày càng tăng của nhân dân. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.

Phát huy các điều kiện thuận lợi về điều kiện tự nhiên, tiềm năng kinh tế – xã hội và các thành tựu đã đạt được, trong thời gian tới, Thuận An sẽ tiếp tục phấn đấu để giữ vững nhịp độ tăng trưởng kinh tế theo hướng ổn định và bền vững, phát triển kinh tế gắn liền với giải quyết tốt các vấn đề xã hội, bảo vệ môi trường, giữ vững an ninh chính trị, quyết tâm xây dựng đúng định hướng quy hoạch của tỉnh Bình Dương. (UBND Thành phố Thuận An, 2020)

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Quản Lý Giáo Dục

2.1.2. Tình hình giáo dục – đào tạo Trung học cơ sở trên địa bàn Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương

Tính đến năm 2020 – 2021, mạng lưới trường lớp, các loại hình giáo dục đã được củng cố, phát triển, điều chỉnh gắn với địa bàn dân cư và bố trí tương đối hợp lý ở các địa phương, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho người học, vừa thực hiện tốt mục tiêu giáo dục. Phải nói rằng quy mô giáo dục của Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương trong những năm gần đây đã không ngừng tăng lên. Ngành GD&ĐT đã góp phần phát triển đúng hướng theo mục tiêu: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” cho Thành phố.

Bảng 2.1: Quy mô trường lớp năm học 2020 – 2021 Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.

Ngành GD & ĐT Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã gặp không ít những khó khăn nhưng vẫn cố gắng phấn đấu vượt qua và đạt được những thành tích đáng kể. Năm 2020 – 2021 mạng lưới trường lớp đã phát triển rộng khắp với 106 trường mầm non, mẫu giáo, 25 trường Tiểu học, 12 trường THCS và 3 trường THPT. Đặc biệt khối THCS hiện nay tại Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương có 12 trường với 510 lớp, dạy học cho 20.684 học sinh với 909 giáo viên nhân viên và 33 cán bộ quản lý.

Bảng 2.2: Chất lượng giáo dục THCS qua các năm (mặt học lực, hạnh kiểm)

Ngành giáo dục và đào tạo của Thành phố Thuận An đã tập trung chỉ đạo thực hiện tốt chương trình đổi mới giáo dục phổ thông ở các cấp học. Chỉ đạo thực hiện nghiêm túc và đạt hiệu quả cao chương trình và quy chế chuyên môn. Công tác giáo dục đạo đức và hoạt động ngoài giờ lên lớp được chỉ đạo triển khai hiệu quả với nhiều hình thức hoạt động, có tác dụng tốt trong việc giáo dục nhân cách học sinh. Tăng cường chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá học sinh. Hàng năm tổ chức Hội thi giáo viên dạy giỏi các môn văn hoá và giáo viên giỏi chuyên đề “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” được triển khai có nhiều đổi mới và thu được kết quả tốt. Giữ vững chất lượng giáo dục ở tất cả các cấp học.

Về chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý: trong nhiều năm qua, ngành Giáo Dục Thành phố Thuận An đã xác định nhiệm vụ quan trọng là xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý các trường Trung học cơ sở đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, nâng cao về chất lượng. Việc sắp xếp, bố trí đội ngũ cán bộ quản lý được thực hiện kịp thời, phù hợp với năng lực công tác và phẩm chất đạo đức. Tính đến năm học 2020 – 2021 tình hình đội ngũ cán bộ quản lý (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng) các trường Trung học cơ sở của Thành phố Thuận An có 33 cán bộ quản lý trong đó có 15 nữ và 18 nam. Tất cả CBQL đều đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn, 33 cán bộ quản lý tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm (chiếm 100 %), có 8 CBQL đã tốt nghiệp Cao học quản lý giáo dục. Về chất lượng đội ngũ giáo viên: Đội ngũ giáo viên của Thành phố Thuận An trong nhiều năm qua đủ về số lượng, mạnh về chất lượng và đồng bộ về cơ cấu là cơ sở để nhà trường thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Hầu hết các giáo viên THCS ở Thành phố Thuận An đều được đào tạo đạt chuẩn và trên chuẩn. Nhìn chung, giáo dục và đào tạo của Thành phố Thuận An có nhiều thuận lợi như sự đầu tư xây dựng mạng lưới trường lớp, chất lượng đội ngũ CBQL và giáo viên đều đạt chuẩn và có tay nghề.

Từ thực tế địa phương, chúng tôi nhận thấy như sau:

Mặt mạnh

Thành phố Thuận An có tốc độ phát triển đô thị hóa nhanh, có tiềm lực về quỹ đất và sự đầu tư, là địa phương có phong trào giáo dục mạnh, nhân dân có truyền thống hiếu học. Đảng bộ và chính quyền các cấp rất quan tâm đến sự nghiệp giáo dục. Bên cạnh đó đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đa số yêu nghề yêu trẻ, luôn nhiệt tình, tự trọng và tinh thần trách nhiệm cao. Cơ sở vật chất tại các trường, lớp và trang thiết bị dạy học tương đối đầy đủ, ngày càng đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng dạy học. Song song đó công tác xã hội hoá giáo dục tiếp tục được đẩy mạnh, đã tạo ra các nguồn lực đầu tư cho giáo dục. Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.

Hạn chế

  • Về phía giáo viên:

Số giáo viên biến động hàng năm, những năm gần đây do áp dụng tinh giản biên chế, nên nhiều huyện thị thiếu giáo viên rất nhiều. Việc sắp xếp và phân công thường lệ thuộc vào phân bổ người của PGD&ĐT. Giáo viên tìm hiểu học sinh và đưa ra các biện pháp giáo dục có khi chưa sát thực tế vì không có nhiều thời gian. Đời sống của cán bộ, giáo viên chưa được cải thiện nhiều, một số giáo viên chưa an tâm công tác và chưa dành hết tâm lực cho công tác giáo dục.

  • Về phía học sinh:

Vẫn còn nhiều học sinh con em gia đình lao động nghèo, buôn bán cá thể một số em hoàn cảnh phức tạp cha mẹ ly hôn hoặc làm ăn xa, gửi con cho với ông, bà, chú, bác nuôi dưỡng ít được quan tâm chăm sóc, giáo dục tỉ mỉ. Một số học sinh cha mẹ chưa quan tâm sâu sát, thường lợi dụng các buổi không đến trường, tham gia vào các trò chơi trên mạng internet nên việc tiếp thu bài còn chậm. Ngoài ra một số học sinh ý thức học tập chưa cao, đến lớp không làm bài, không thuộc bài … rất khó khăn trong hoạt động dạy học.

  • Về phía Cha mẹ học sinh

Đa số cha mẹ học sinh thuộc thành phần buôn bán, lao động cá thể, công nhân, ít có thời gian kiểm tra việc học tập của học sinh. Một số gia đình chưa dành nhiều thời gian nhắc nhở, đôn đốc và kiểm tra việc học tập của con em mình, còn giao khoán cho nhà trường, do vậy việc phối hợp các môi trường thiếu chặt chẽ, gây hạn chế cho công tác giáo dục và ảnh hưởng không tốt đến chất lượng học tập của học sinh.

2.2. Tổ chức nghiên cứu thực trạng hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương

2.2.1. Mục tiêu khảo sát

Khảo sát thực trạng hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương cũng như quản lý hoạt động này nhằm tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu, xác định nguyên nhân của thành công cũng như chưa thành công trong quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. Từ đó làm cơ sở đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng trong quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

2.2.2. Nội dung khảo sát Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.

Đánh giá thực trạng nhận thức về mục đích cũng như tầm quan trọng của hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh ở các trường Trung học cơ sở.

Đánh giá kết quả thực hiện về nội dung, hình thức, phương pháp và kết quả thực hiện của các hình thức kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.

Đánh giá công tác quản lý của Hiệu trưởng về việc xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, công tác chỉ đạo và kiểm tra đánh giá đối hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tìm hiểu các yếu tố gây khó khăn trong hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

2.2.3. Công cụ điều tra, khảo sát thực trạng

Đối với phương pháp phỏng vấn

Phiếu phỏng vấn được thực hiện đối với CBQL và GV các trường THCS trên địa bàn thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương gồm: 4 CBQL được mã hóa bằng các kí hiệu QL01, QL02, QL03, QL04 và 6 GVCN được GV01, GV02, GV03, GV04, GV05, GV06.

Đối với các dữ liệu định tính, chúng tôi trích lọc các ý kiến để đưa vào phân tích thực trạng.

Đối với phương pháp khảo sát

Công cụ điều tra khảo sát thực trạng chủ yếu là phiếu hỏi dành cho CBQL và đội ngũ giáo viên. Thông qua phiếu hỏi, chúng tôi thu thập thông tin từ các đối tượng là Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, Tổ trưởng chuyên môn và giáo viên các trường THCS trên địa bàn Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương với các nội dung đã xác định trong phần nội dung khảo sát. Tổng số phiếu phát ra 152 phiếu, thu về 152 phiếu (đạt 100%). Cụ thể như sau:

  • CBQL: 12 phiếu
  • GV: 140 phiếu

Sau khi thu thập số liệu từ bảng khảo sát, đề tài sử dụng phần mềm SPSS statitis 20.0 để xử lý thông tin phiếu điều tra.

2.2.4. Tổ chức điều tra, khảo sát Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.

2.2.4.1. Đối với phương pháp phỏng vấn

Chúng tôi sử dụng 1 mẫu phỏng vấn dành cho 4 CBQL và 6 GV các trường THCS trên địa bàn Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương (Phụ lục 2).

Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn tại 4 trường THCS trên địa bàn Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. Trong đó các trường đều đạt chuẩn bao gồm các đối tượng là CBQL (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng), giáo viên. Cụ thể trình bày ở bảng 2.3 như  sau: Bảng 2.3: Thống kê số liệu các trường thực hiện phỏng vấn.

2.2.4.2. Đối với phương pháp khảo sát

Chúng tôi sử dụng 1 mẫu khảo sát dành cho 12 CBQL và 140 GV các trường THCS trên địa bàn Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương (Phụ lục 1).

Chúng tôi đã tiến hành khảo sát tại 6 trường THCS trên địa bàn Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. Trong đó các trường đều đạt chuẩn bao gồm các đối tượng là CBQL (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng), tổ trưởng chuyên môn, giáo viên. Cụ thể trình bày ở bảng 2.4 như sau:

Đối với phiếu khảo sát CBQL và GV: Chúng tôi thu được 152 phiếu có thông tin, đặc điểm đối tượng khảo sát thể hiện ở bảng 2.5 như sau:

Bảng 2.5: Đặc điểm CBQL và GV được khảo sát

Các giáo viên và cán bộ quản lý làm việc trong ngành giáo dục có độ tuổi từ 30 đến dưới 40 chiếm đa số với 59.9%, dưới 30 tuổi chiếm 29.6% và trên 40 tuổi chiếm 10.5%. Ngoài ra, giáo viên và cán bộ quản lý làm việc trong ngành giáo dục đều có bằng đại học, với 82.9% là giáo viên, cán bộ quản lý đã có bằng cử nhân, sau đại học chiếm 5.3%, cao đẳng chiếm 11.8%.

Thâm niên giáo dục của giáo viên và cán bộ quản lý làm việc trong ngành giáo dục như sau: với 7.2% giáo viên công tác dưới 5 năm, 67.1% cán bộ quản lý, giáo viên công tác từ 5 đến dưới 10 năm, 19.7% cán bộ quản lý, giáo viên công tác từ 10 năm đến 20 năm và 5.9% cán bộ quản lý, giáo viên công tác trên 20 năm.

Bên cạnh đó, vị trí công tác của giáo viên và cán bộ quản lý làm việc trong ngành giáo dục như sau: với 7.2% là giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm là 68.8%, Bí thư Đoàn và Tổng phụ trách đội chiếm 5.9% cho thấy sự đa dạng của đối tượng khảo sát.

Nhìn vào bảng 2.5 ta thấy, đối tượng khảo sát có đặc điểm đa dạng, phong phú cho phép đề tài thu thập thông tin toàn diện về thực trạng giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THCS và thực trạng quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh tại các trường THCS Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

2.2.5. Cách xử lý dữ liệu Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.

2.2.5.1. Qui ước thang đo cho phiếu phỏng vấn

Người nghiên cứu tiến hành phỏng vấn cán bộ quản lý, giáo viên bằng cách gửi nội dung câu hỏi phỏng vấn đến từng CBQL, giáo viên. Sau đó, CBQL, giáo viên ghi âm các câu trả lời theo phiếu phỏng vấn và gửi lại cho người nghiên cứu. Người nghiên cứu sẽ tiến hành xả băng ghi âm bằng cách sử dụng ứng dụng của Google đọc.

Người nghiên cứu tổng hợp ý kiến trả lời của 10 đối tượng được phỏng vấn và được thể hiện trong phụ lục 4 của luận văn.

2.2.5.2. Qui ước thang đo cho phiếu khảo sát

Người nghiên cứu tiến hành thu thập các phiếu khảo sát từ cán bộ quản lý, giáo viên để tổng hợp và xử lý thống kê dữ liệu qua sự hỗ trợ từ phần mềm SPSS phiên bản 20.0 để tính giá trị trung bình, độ lệch chuẩn. Đối với tính giá trị trung bình (TTB), ứng với mỗi mức độ được tính điểm như sau:

  • Hoàn toàn quan trọng/ Đạt hoàn toàn các yêu cầu/ Hoàn toàn đồng ý: 5 điểm
  • Quan trọng/ Đạt phần lớn các yêu cầu/ Đồng ý: 4 điểm
  • Phân vân/ Đạt khoảng phân nửa so với yêu cầu/ Phân vân: 3 điểm
  • Không quan trọng/ Đạt một ít so với yêu cầu/ Không đồng ý: 2 điểm
  • Hoàn toàn không quan trọng/ Đạt rất ít so với yêu cầu/ Hoàn toàn không đồng ý: 1 điểm

Từ đó, thang đo được quy ước như sau: Điểm trung bình cộng: ĐTB = X

Bảng 2.6: Qui ước thang đo

Kết quả xử lý thống kê được thể hiện trong phụ lục 5 của luận văn.

2.3. Thực trạng giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương

2.3.1. Thực trạng nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh ở các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.

Nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh tại các trường THCS là rất quan trọng, đặc biệt với người làm công tác quản lý. Nếu CBQL, giáo viên đều có nhận thức đầy đủ về vấn đề này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh.

Kết quả điều tra về nhận thức của 12 CBQL và 140 giáo viên về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh tại các trường THCS Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương được thể hiện qua bảng 2.7 như sau:

Bảng 2.7: Nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương

Dựa vào bảng 2.7 ta thấy, đại đa số ý kiến (79.7%) cho rằng công tác giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THCS là quan trọng và hoàn toàn quan trọng, 20.3% ý kiến cho rằng công tác giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THCS là phân vân và không có CBQL hay giáo viên nào đánh giá công tác giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THCS là không quan trọng hay hoàn toàn không quan trọng. Điều này cho thấy CBQL, giáo viên nhận thấy được vai trò quan trọng của công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường.

Rõ ràng việc nhận thức về tầm quan trọng của giáo dục bảo vệ môi trường của đối tượng khảo sát là rất cao. Từ nhận thức ấy nên việc đầu tư về nhân sự, thời gian và vật chất cũng như quan tâm đến các yếu tố có liên quan có nhiều thuận lợi. Nhiều cán bộ quản lý đã thực sự chú trọng về vấn đề này.

2.3.2. Thực trạng thực hiện mục đích giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương

Nhận thức hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh còn được phản ảnh rõ hơn qua bảng khảo sát nhận thức về mục đích của hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường trong công tác giáo dục học sinh qua bảng 2.8 sau đây:

Bảng 2.8: Nhận thức về mục đích giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.

Từ kết quả của bảng 2.8, có thể rút ra những nhận xét sau đây:

Điểm trung bình nhận thức của CBQL và GV về mục đích giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh ở trường THCS đều nằm trong khoảng từ 3.39 – 4.33. Trong 4 nội dung khảo sát, có 2 nội dung được đánh giá với kết quả đạt hoàn toàn các yêu cầu, 1 nội dung được đánh giá với kết quả đạt phần lớn các yêu cầu và 1 nội dung được đánh giá với kết quả đạt khoảng phân nửa so với yêu cầu. Cụ thể như sau:

Nội dung “Học sinh nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng các vấn đề môi trường” với ĐTB là 4.33 xếp hạng 1, nội dung “Cung cấp cho học sinh cơ hội và động lực tham gia bảo vệ môi trường” với ĐTB là 4.24 xếp hạng 2, nội dung “Học sinh có kỹ năng để nhận ra và giải quyết các vấn đề môi trường” với ĐTB là 3.64 xếp hạng 3 và nội dung “Học sinh hiểu rõ bản chất các vấn đề về môi trường” được đánh giá thấp nhất với ĐTB là 3.39 xếp hạng 4. Qua trao đổi phỏng vấn, tác giả ghi nhận một số ý kiến sau: “Theo tôi, giáo dục môi trường cho học sinh nhằm mục đích hình thành cho học sinh nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của các vấn đề môi trường. Tạo cho học sinh có ý thức và hành động bảo vệ môi trường để môi trường trở nên xanh và sạch, từ đó lan toả thông điệp bảo vệ môi trường đến tất cả mọi người trong xã hội. Song song đó, tạo nguồn cảm hứng cho học sinh làm các dự án, nghiên cứu khoa học có liên quan đến môi trường” (QL002)

Qua đây cho thấy, phần lớn các nội dung của mục đích bảo vệ môi trường đều đạt yêu cầu đề ra, tuy nhiên vẫn còn có hạn chế đó là chưa giúp học sinh hiểu rõ bản chất các vấn đề về môi trường. Đây là một vấn đề đáng lo ngại, bởi muốn thực hiện tốt công tác giáo dục bảo vệ môi trường, đặc biệt là đối với CBQL, họ phải có sự hiểu biết đúng đắn về bản chất các vấn đề môi trường, có như vậy khi thực hiện sẽ dễ dàng và đem lại hiệu quả như mong muốn.

Ngoài ra, độ lệch chuẩn từ các kết quả nhận thức về mục đích giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh ở trường Trung học cơ sở ở CBQL và GV dao động từ 0.577 – 0.778 cho thấy, số liệu thu được đảm bảo độ tin cậy.

Kết quả điều tra này cũng cho ta thấy kết quả thực hiện giáo dục bảo vệ môi trường được CBQL và giáo viên đánh giá ở 1 số nội dung đạt khoảng phân nửa so với yêu cầu. Mặc dù họ đã nhận thấy tầm quan trọng, cần thiết của nó trong công tác giáo dục học sinh, song cụ thể mục đích của việc giáo dục bảo vệ môi trường vẫn chưa được hiểu đầy đủ. Đây cũng chính là nguyên nhân làm cho hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường chưa chặt chẽ và đạt hiệu quả chưa cao.

2.3.3. Thực trạng thực hiện nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh ở các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương

Trên cơ sở đánh giá về thực trạng thực thực hiện nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương thông qua kết quả điều tra thu được ở bảng 2.9 như sau:

Bảng 2.9: Thực trạng thực hiện nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.

Kết quả điều tra cho thấy:

Các nội dung được đánh giá với mức độ thực hiện đạt hoàn toàn các yêu cầu là: nội dung “Các vấn đề về môi trường như sự ô nhiễm, chất thải…” với ĐTB là 4.33 xếp hạng 1, nội dung “Những khái niệm về môi trường” với ĐTB là 4.28 xếp hạng 2 và nội dung “Các hoạt động lao động cộng đồng về giữ gìn và bảo vệ môi trường” với ĐTB là 4.25 xếp hạng 3.

Các nội dung được đánh giá với mức độ thực hiện đạt phần lớn các yêu cầu là: nội dung “Các hoạt động tham quan trải nghiệm thực tế về môi trường” với ĐTB là 3.89 xếp hạng 4, nội dung “Một số biện pháp bảo vệ môi trường” với ĐTB là 3.74 xếp hạng 5, nội dung “Mối quan hệ giữa con người và môi trường” với ĐTB là 3.70 xếp hạng 6 và nội dung “Các hoạt động tuyên truyền về giáo dục bảo vệ môi trường” với ĐTB là 3.47 xếp hạng 7.

Nội dung được đánh giá với mức độ thực hiện đạt khoảng phân nửa so với yêu cầu là “Những quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường” với ĐTB là 3.39 xếp hạng 8. Qua trao đổi phỏng vấn, tác giả ghi nhận một số ý kiến sau: “Đối với những nội dung về giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh thì cán bộ quản lý và giáo viên sử dụng những nội dung gần gũi, phù hợp với lứa tuổi nhằm tạo cho học sinh có nhận thức và tự giác về việc bảo vệ môi trường còn đối với những quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường thường có nội dung chung chung cho cả nước, đa số là mang tính răng đe và chế tài đối với những đối tượng không tuân thủ quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, trong quá trình giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh có rất ít các văn bản hướng dẫn cụ thể để giáo viên có thể áp dụng vào chương trình” (GV006)

Qua kết quả điều tra ta thấy, nội dung trong giáo dục học sinh bảo vệ môi trường hướng vào nhiều nội dung khác nhau, chưa đi vào chiều sâu, còn mang nặng về hình thức tuyên truyền, tham quan trải nghiệm, quy định của pháp luật, nội dung trao đổi hay sự ảnh hưởng của nhà trường, của giáo viên còn hạn chế. Những điều này làm cho chất lượng, hiệu quả trong việc giáo dục học sinh bảo vệ môi trường chưa đạt được hiệu quả cao. Vì vậy các cán bộ quản lý cần phải tăng cường tuyên truyền vận động, đưa ra kế hoạch với những nội dung phong phú, phù hợp với điều kiện của nhà trường để thực hiện tốt hơn nhằm nâng cao chất lượng giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh.

2.3.4. Thực trạng thực hiện hình thức hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương

Khi nghiên cứu thực trạng về các hình thức hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. Tác giả tiến hành khảo sát về mức độ thực hiện các hình thức nhằm giáo dục học sinh bảo vệ môi trường và thu được kết quả tại bảng 2.10 như sau:

Bảng 2.10: Thực trạng thực hiện hình thức hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.

Qua bảng 2.10 cho thấy:

Các hình thức báo cáo chuyên đề, tham gia sự kiện, tổ chức các hội thi vẽ tranh, sáng tác thơ, văn nghệ, thời trang hay dạy học lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường giữ vai trò quan trọng trong hoạt động giáo dục học sinh ý thức bảo vệ môi trường. Thông qua các hoạt động này, nhà quản lý, GVCN, GVBM, TPT đội có thể lồng ghép nội dung giáo dục bảo vệ môi trường có tác dụng hình thành cho các em ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết tương thân, tương ái, sống nhân văn. Lứa tuổi các em là lứa tuổi ưa hoạt động, thích tìm tòi cái mới lạ, muốn được thể hiện cá nhân, giao lưu học hỏi. Các hoạt động được CBQL, giáo viên đánh giá với kết quả thực hiện đạt hoàn toàn các yêu cầu là: hoạt động “Báo cáo chuyên đề về giáo dục bảo vệ môi trường” xếp vị trí thứ 1 với ĐTB là 4.33, đây có thể nói là một trong những hình thức tuyên truyền tốt nhất về giáo dục bảo vệ môi trường. Hoạt động “Tham gia các sự kiện về bảo vệ môi trường điển hình như “Giờ Trái Đất” với ĐTB là 4.50 xếp vị trí thứ 2. Thật vậy, qua trao đổi phỏng vấn, tác giả ghi nhận một số ý kiến sau: “Bảo vệ môi trường là hoạt động đề cao tinh thần trách nhiệm của con người đối với môi trường, vì vậy việc giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh cần phải lựa chọn những nội dung phổ biến, dễ thực hiện dành cho mọi lứa tuổi. Đặc biệt, đối với các em học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường thì những báo cáo chuyên đề về giáo dục bảo vệ môi trường giúp cho giáo viên dễ lồng ghép vào các hoạt động giáo dục thông qua hoạt động này giúp cho giáo viên và học sinh đạt hiệu quả cao trong quá trình thực hiện giúp học sinh tự tìm hiểu về nội dung cần nghiên cứu và tự báo cáo chuyên đề trước tập thể và tham gia các sự kiện về bảo vệ môi trường điển hình như “Giờ Trái Đất” là hoạt động phổ biến dành cho tất cả mọi người, rất dễ thực hiện và học sinh có khả năng tuyên truyền cho mọi người xung quanh về các hoạt động bảo vệ môi trường. Vì vậy, hai hình thức này được CBQL và GV quan tâm đánh giá cao” (GV005)

Các hoạt động được CBQL, giáo viên đánh giá với kết quả thực hiện đạt phần lớn các yêu cầu như: hoạt động “Tổ chức các cuộc thi vẽ tranh, sáng tác thơ, văn nghệ, thời trang” với ĐTB là 3.99 xếp vị trí thứ 3, hoạt động “Dạy học các bài về bảo vệ môi trường” với ĐTB là 3.79 xếp vị trí thứ 4 và hoạt động “Tổ chức tham quan thực tế ở trường hoặc địa phương” với ĐTB là 3.46 xếp vị trí thứ 5. Đây là các hình thức mà các em tham gia trực tiếp chỉ ở mức độ vừa phải chưa đạt hoàn toàn so với yêu cầu. Do đó cần được chú trọng và quan tâm nhiều.

Ngoài ra, 2 hoạt động được CBQL, giáo vịên đánh giá với kết quả thực hiện đạt khoảng phân nửa so với yêu cầu là: hoạt động “Dạy học lồng ghép hoạt động bảo vệ môi trường vào môn học” với ĐTB là 3.37 xếp vị trí thứ 6 và hoạt động “Tổ chức nghiên cứu về môi trường” với ĐTB là 3.34 xếp vị trí thứ 7. Trong giáo dục học sinh về bảo vệ môi trường thì việc lồng ghép các nội dung vào các môn học như: địa lý, GDCD, ngữ văn, công nghệ, … là điều dễ dàng đối với GVBM. Tuy nhiên, kết quả thực hiện vẫn chưa được CBQL, giáo viên đánh giá cao. Ngoài ra việc tổ chức nghiên cứu về môi trường thì còn mới mẻ so với lứa tuổi của các em. Nếu có đi chăng nửa thì cũng là một số dự án bên phong trào Đội thiếu niên với số lượng học sinh tham gia là rất hạn chế. Từ thực tế trên, để giáo dục học sinh bảo vệ môi trường thì nhà quản lý đặc biệt chú trọng các nội dung trên.

Như vậy, từ những vấn đề trên đặt ra yêu cầu nhà quản lý phải xem xét một cách nghiêm túc để tìm ra một cơ chế thích hợp sao cho những hình thức hoạt động đưa ra hoạt động có hiệu quả, đạt mục tiêu giáo dục học sinh.

2.3.5. Thực trạng thực hiện phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh ở các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương

Kết quả khảo sát từ cán bộ quản lý và giáo viên về phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương được thể hiện trong bảng 2.11 cụ thể như sau:

Bảng 2.11: Thực trạng thực hiện phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.

Từ bảng 2.11 cho thấy, các phương pháp: “Phương pháp thí nghiệm” với ĐTB là 4.41 xếp hạng 1; “Phương pháp dạy học khám phá” với ĐTB là 4.33 xếp hạng 2 và “Phương pháp nêu gương” với ĐTB là 4.24 xếp hạng 3 được giáo viên và cán bộ quản lý đánh giá đạt hoàn toàn các yêu cầu. Ngược lại, “Phương pháp dạy học theo dự án” với ĐTB là 3.37 xếp hạng 6 được giáo viên và cán bộ quản lý đánh giá đạt khoảng phân nửa so với yêu cầu, cho nên các trường thỉnh thoảng sử dụng phương pháp dây học theo dự án để thực hiện giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh. Qua trao đổi phỏng vấn, tác giả ghi nhận một số ý kiến sau: “Trong số các phương pháp thì phương pháp dạy học theo dự án là một hình thức dạy học mà học sinh phải liên tục chủ động, tự tìm hiểu, tự chịu trách nhiệm và tự giải quyết các vấn đề mà giáo viên đưa ra đồng thời cũng nhận được sự hỗ trợ của giáo viên. Tuy nhiên, phương pháp này là một mô hình học tập hiện đại, lấy học sinh làm trung tâm, giáo viên chỉ có việc hướng dẫn cho học sinh thực hiện, nhưng đối với điều kiện của nhà trường và học sinh chưa có được hình thành thói quen tự học tập từ nhỏ. Khi giáo viên thực hiện phương pháp này vào hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường thì khá là mất nhiều thời gian nên đa phần giáo viên sẽ lựa chọn những phương pháp khác” (GV003)

Ngoài ra, hai phương pháp “Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề” và “Phương pháp dạy học trải nghiệm” được giáo viên và cán bộ quản lý đánh giá đạt phần lớn các yêu cầu.

Nhìn chung, trong quá trình thực hiện hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh, các trường thường xuyên sử dụng tốt phương pháp và đạt hiệu quả cao.

2.3.6. Kết quả thực hiện của các hình thức kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương

Nghiên cứu thực trạng các hình thức kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh, tác giả đã tiến hành điều tra các đối tượng khảo sát và kết quả đạt được như sau: Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.

Bảng 2.12: Kết quả thực hiện của các hình thức kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương

Từ bảng 2.12 cho thấy, Thông qua “Kiểm tra tự luận” với ĐTB là 4.28 xếp hạng 1 và “Kiểm tra kết hợp tự luận và trắc nghiệm” với ĐTB là 4.23 xếp hạng 2 là hai hình thức được CBQL, giáo viên đánh giá đạt hoàn toàn các yêu cầu. Từ đó, hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương được thực hiện rất thường xuyên.

Bên cạnh đó, hình thức “Kiểm tra vấn đáp” với ĐTB là 3.89 xếp hạng 3; “Kiểm tra trắc nghiệm” với ĐTB là 3.76 xếp hạng 4 là 2 là hai hình thức được CBQL, giáo viên đánh giá đạt phần lớn các yêu cầu.

Ngoài ra, các hình thức được CBQL, giáo viên đánh giá đạt khoảng phân nửa so với yêu cầu là: “Đánh giá sự tiến bộ của học sinh (về ý thức, về hành vi)” với ĐTB là 3.38 xếp hạng 5 và “Tổ chức cho học sinh đánh giá chéo” với ĐTB là 3.36 xếp hạng 6.

Trên đây chỉ là khảo sát mang tính khách quan. Như vậy, căn cứ vào tình thực tiễn của từng đơn vị và địa phương mà người quản lý áp dụng các hình thức kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh một các phù hợp, không nên cứng nhắc theo một khuôn mẫu, mục đích cuối cùng chỉ là giáo dục học sinh ý thức bảo vệ môi trường.

2.4. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương

2.4.1. Thực trạng xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương

Một trong những khâu quan trọng của việc quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường là xây dựng các kế hoạch sao cho đảm bảo thực hiện được mục tiêu đã đề ra. Để tìm hiểu kế hoạch đã đặt ra việc xây dựng kế hoạch giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh tác giả đã khảo sát và thu được kết quả ở bảng 2.13 như sau:

Bảng 2.13: Kết quả khảo sát xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.

Từ bảng 2.13 cho thấy, giáo viên và CBQL đánh giá cao mức độ đạt hoàn toàn các yêu cầu ở 2 nội dung là “Hướng dẫn xây dựng các loại kế hoạch và chương trình hoạt động cụ thể” với ĐTB là 4.30 xếp hạng 1, độ lệch chuẩn là 0.660 thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá và nội dung “Công bố, thông báo kế hoạch giáo dục môi trường đến giáo viên và học sinh” với ĐTB là 4.22 xếp hạng 2, độ lệch chuẩn là 0.673 thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá. Qua đây cho thấy, người quản lý luôn có các hướng dẫn cụ thể để các bộ phận xây dựng kế hoạch hoạt động bảo vệ môi trường, từ đó đề ra các chương trình hoạt động cụ thể. Đồng thời cũng thông báo các kế hoạch giáo dục môi trường đến toàn thể giáo viên và học sinh trong đơn vị. Đây là 2 nội dung được đánh giá về tính hiệu quả cao. Từ đó, trong việc xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương cần bám sát theo hướng dẫn xây dựng các loại kế hoạch và chương trình hoạt động cụ thể và thông báo kế hoạch giáo dục môi trường đến giáo viên và học sinh để mang lại hiệu quả cao.

Việc “Xác định các lực lượng tham gia, điều kiện, kinh phí thực hiện và hỗ trợ” với ĐTB là 3.92 xếp hạng 3, độ lệch chuẩn là 0.724 thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá và “Khảo sát, đánh giá thực trạng giáo dục môi trường hàng năm của nhà trường” với ĐTB là 3.52 xếp hạng 4, độ lệch chuẩn là 0.563 thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá là 2 nội dung được CBQL và giáo viên đánh giá mức độ đạt phần lớn các yêu cầu. Qua khảo sát trên cho thấy trong xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã thực hiện thường xuyên và đạt phần lớn các yêu cầu trong việc xác định được thực trạng giáo dục môi trường hàng năm của nhà trường. Tương tự, việc xác định các lực lượng tham gia, điều kiện, kinh phí thực hiện và hỗ trợ cũng được giáo viên và CBQL đánh giá đã thực hiện thường xuyên và đạt phần lớn các yêu cầu khi thực hiện. Vậy, khi xây dựng kế hoạch cho hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh, các trường đã thực hiện thường xuyên và hiệu quả việc xác định các lực lượng tham gia, điều kiện, kinh phí thực hiện và hỗ trợ cũng như khảo sát, đánh giá thực trạng giáo dục môi trường hàng năm của nhà trường.

Bên cạnh đó, việc “Xây dựng nội dung cụ thể theo từng học kỳ” với ĐTB là 3.39 xếp hạng 5, độ lệch chuẩn là 0.553 thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá và “Xác định mục tiêu cụ thể phù hợp với điều kiện của nhà trường” với ĐTB là 3.33 xếp hạng 6, độ lệch chuẩn là 0.513 thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá là 2 nội dung được CBQL và giáo viên đánh giá mức độ đạt khoảng phân nửa so với yêu cầu. Mặc dù nhà quản lý có đưa ra việc xây dựng nội dung cụ thể theo từng học kỳ hay xác định mục tiêu cụ thể phù hợp với điều kiện của nhà trường nhưng trong quá trình thực hiện xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường thì chưa được chú ý đến do những nội dung này chủ yếu là giáo viên chủ nhiệm hay các bộ phận chức năng chuyên trách đảm nhận đôi khi có nhiệm vụ còn chồng chéo lên nhau giữa các tổ và các khối lớp. Chính vì vậy, hiệu quả hoạt động đôi khi còn bị động và phụ thuộc vào các tổ chức khác. Cho nên cần phải có những biện pháp thích hợp để xây dựng nội dung cụ thể theo từng học kỳ, chỉ đạo thực hiện kế hoạch trong công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường để đạt mục tiêu giáo dục đã đề ra.

Nhìn chung, trong quá trình xây dựng kế hoạch cho hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương được thường xuyên thực hiện và mang lại hiệu quả cao về việc hướng dẫn xây dựng các loại kế hoạch và chương trình hoạt động cụ thể và công bố, thông báo kế hoạch giáo dục môi trường đến giáo viên và học sinh. Tuy nhiên, các trường chưa thực hiện hiệu quả việc xây dựng nội dung cụ thể theo từng học kỳ và xác định mục tiêu cụ thể phù hợp với điều kiện của nhà trường. Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.

2.4.2. Thực trạng tổ chức hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương

Kết quả khảo sát từ cán bộ quản lý và giáo viên về tổ chức hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương được thể hiện trong bảng 2.14, cụ thể như sau:

Bảng 2.14: Kết quả khảo sát tổ chức hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương

Từ bảng 2.14 cho thấy, trong quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động bảo vệ môi trường, việc thực hiện theo kế hoạch đã được xây dựng được giáo viên và cán bộ quản lý đánh giá cao mức độ đạt phần lớn các yêu cầu với giá trị trung bình từ 3.56 đến 3.81, độ lệch chuẩn thấp từ 0.546 đến 0.599 thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá. Từ đó, trong tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tổ chức thực hiện theo kế hoạch thường xuyên và mang lại hiệu quả đạt phần lớn các yêu cầu. Tuy nhiên vẫn có các bộ phận được CBQL, giáo viên đánh giá thực hiện chưa tốt, cụ thể như sau:

Nội dung “Lập danh sách các công việc cần hoàn thành để đạt được mục tiêu” với ĐTB là 3.56 xếp hạng 4. Qua trao đổi phỏng vấn, tác giả ghi nhận một số ý kiến sau: “Việc tổ chức hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường ở đơn vị tôi cho thấy còn nhiều hạn chế, để tổ chức thực hiện tốt việc giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh thì cần sau khi thực hiện nhà quản lý, giáo viên cần phải ngồi lại đánh giá xem mình đã thực hiện được những công việc nào, từ đó rút kinh nghiệm và đề ra các biện pháp cho các lần triển khai tiếp theo” (GV001)

Đối với nội dung phân công nhiệm vụ cụ thể cho các đối tượng trong kế hoạch giáo dục bảo vệ môi trường thì việc “Cho giáo viên bộ môn lồng ghép vào các môn học” với ĐTB là 4.30 được CBQL và giáo viên đánh giá cao. Ngược lại, hai nội dung được CBQL, giáo viên đánh giá thực hiện chưa cao khi được phân công nhiệm vụ là “Cho giáo viên chủ nhiệm” với ĐTB là 3.35 và “Cho Phó Hiệu trưởng và Tổ trưởng chuyên môn” với ĐTB là 3.38. Qua đây cho thấy, sự phối hợp trong thực hiện của các lực lượng chưa được đánh giá cao, việc giáo dục học sinh bảo vệ môi trường là nhiệm vụ chung của toàn ngành, toàn trường chứ không riêng một bộ phân hay cá nhân nào. Do đó, nhà quản lý cần xem xét lại trách nhiệm của từng bộ phận để có hướng điều chỉnh trong những năm tiếp theo đạt kết quả cao hơn.

Đối với nội dung phối hợp công việc giữa các lực trong kế hoạch giáo dục bảo vệ môi trường thì việc “Quy định cách phối hợp công việc giữa giáo viên và cán bộ Đoàn, Đội” với ĐTB là 3.39 chưa được CBQL, giáo viên đánh giá thực hiện tốt bởi vì phân công nôi dung chưa phù hợp thì việc phối hợp các công việc sẽ đạt kết quả không cao là điều tất nhiên.

Đối với nội dung phân bồi dưỡng, tập huấn về giáo dục môi trường thì việc bồi dưỡng cho các bộ phận chưa được CBQL, giáo viên đánh giá cao như: “Chi Đoàn và Tổng phụ trách Đội” với ĐTB là 3.39, “Phó Hiệu trưởng và Tổ trưởng chuyên môn” với ĐTB là 3.38 và “Giáo viên chủ nhiệm” với ĐTB là 3.33. Điều này cho thấy các nhà quản lý cần chú trọng hơn trong việc mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng công tác giáo dục bảo vệ môi trường cho toàn thể cán bộ giáo viên, công nhân viên trong đơn vị mình góp phần giáo dục học sinh một cách toàn diện. Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.

Qua kết quả khảo sát công tác tổ chức hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường được các cán bộ quản lý quan tâm và đánh giá đạt phần lớn các yêu cầu. Nhưng thực tế sự quan tâm và thực hiện này chỉ diễn ra đầu năm học mà chưa được duy trì thường xuyên theo từng tuần, từng tháng xuyên suốt năm học nên chưa đạt hiệu quả cao như mong muốn.

2.4.3. Thực trạng lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương

Đối với cán bộ quản lý giáo dục, bên cạnh công tác tổ chức thì sự chỉ đạo hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho chặt chẽ và thường xuyên để đạt được mục tiêu giáo dục. Kết quả điều tra được thể hiện qua bảng 2.15 như sau:

Bảng 2.15: Kết quả khảo sát việc lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương

Từ bảng 2.15 cho thấy, nội dung hướng dẫn thực hiện, động viên khen thưởng cũng như chỉ đạo các hoạt động của từng bộ phận, từng cá nhân tham gia giáo dục bảo vệ môi trường được giáo viên và cán bộ quản lý đánh giá cao về mức độ kết quả thực hiện đạt phần lớn các yêu cầu với giá trị trung bình 3.72 và 4.05, độ lệch chuẩn từ 0.643 đến 0.677 thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá. Từ đó, việc chỉ đạo hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương của từng bộ phận, từng cá nhân tham gia giáo dục bảo vệ môi trường là thường xuyên và đạt hiệu quả.

Nội dung “hướng dẫn thực hiện kế hoạch” với ĐTB là 3.91 xếp hạng 2, độ lệch chuẩn là 0.677 thể hiện sự đồng nhất cao trong đánh giá. Trong đó, nội dung được CBQL, giáo viên đánh giá với kết quả thực hiện cao nhất là “Hướng dẫn giáo viên bộ môn thực hiện dạy học lồng ghép” với ĐTB là 4.30. Qua đó cho thấy, đại đa số các trường trên địa bàn khảo sát thực hiện nghiêm và đạt hiểu quả cao trong việc đưa các nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào bài giảng của mình giúp học sinh có ý thức bảo vệ môi trường. Ngoài ra, các nội dung như “Hướng dẫn Chi Đoàn, Tổng phụ trách Đội tổ chức các hoạt động liên quan” với ĐTB là 3.93; “Hướng dẫn giáo viên chủ nhiệm tổ chức các hoạt động liên quan” với ĐTB là 3.89 và nội dung “Hướng dẫn Phó Hiệu trưởng và Tổ trưởng chuyên môn tổ chức báo cáo chuyên đề” với ĐTB là 3.53 đều được CBQL, giáo viên đánh giá ở mức độ thực hiện đạt phần lớn các yêu cầu. Qua đó cho thấy, các bộ phận trong nhà trường thực hiện công việc một cách nhịp nhàng, phối hợp lẫn nhau, cùng nhau thực hiện chung một nhiệm vụ đã đề ra góp phần giáo dục học sinh đạt kết quả cao nhất.

Nội dung “Giám sát và thúc đẩy thực hiện đối với các lực lượng” với ĐTB là 4.05 xếp hạng 1. Trong đó 2 nội dung được CBQL, giáo viên đánh giá đạt hoàn toàn các yêu cầu là “Chi Đoàn và Tổng phụ trách Đội” với ĐTB là 4.26 và “Giáo viên bộ môn” với ĐTB là 4.23. Ngoài ra, lực lượng “Giáo viên chủ nhiệm” với ĐTB là và “Phó Hiệu trưởng và tổ trưởng chuyên môn” với ĐTB là 3.80. Như vậy, công tác giám sát và thúc đẩy thực hiện đối với các lực lượng tham gia bảo vệ môi trường được các nhà quản lý thực hiện tốt đáp ứng được công tác giáo dục học sinh bảo vệ môi trường. Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.

Bên cạnh đó, việc “Động viên, khen thưởng” các bộ phận, các cá nhân thực hiện đúng tiến độ của kế hoạch đã xây dựng được giáo viên và cán bộ quản lý đánh giá mức độ hiệu quả đều đạt mức đạt phần lớn các yêu cầu. Đồng thời, với độ lệch chuẩn 0.643 thể hiện sự đồng nhất cao trong đánh giá. Từ đó, việc chỉ đạo kịp thời động viên, khuyến khích các bộ phận, các cá nhân thực hiện đúng tiến độ của kế hoạch đã xây dựng được thực hiện và kết quả mang lại đạt phần lớn so với yêu cầu đề ra.

Nhìn chung, trong công tác chỉ đạo hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh, các trường đã thực hiện thường xuyên và hiệu quả việc chỉ đạo các hoạt động của từng bộ phận, từng cá nhân tham gia giáo dục bảo vệ môi trường, cũng như sự chỉ đạo giáo viên tuân thủ nội dung kế hoạch đề ra. Tuy nhiên, về việc động viên, khen thưởng đối với giáo viên bộ môn chưa được thực hiện thường xuyên và chưa mang lại hiệu quả cao.

2.4.4. Thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương

Kết quả khảo sát từ cán bộ quản lý và giáo viên về kiểm tra, đánh giá thực hiện hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường ở các trường THCS được thể hiện trong bảng 2.16, cụ thể như sau:

Bảng 2.16: Kết quả khảo sát việc kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương

Các nội dung đánh giá được CBQL, giáo viên đưa ra ý kiến cho rằng đã thực hiện đạt phần lớn các yêu cầu, đạt hoàn toàn các yêu cầu là: “Tuyên dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân thực hiện tốt” với ĐTBlà 4.26 xếp hạng 1; nội dung “Xác định các hình thức kiểm tra, đánh giá” với ĐTB là 3.89 xếp hạng 2; nội dung “Nhắc nhở, kiểm điểm những cá nhân chưa thực hiện tốt” với ĐTB là 3.83 xếp hạng 3 và nội dung “Xác định tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm tra, đánh giá đối với các lực lượng” vớ ĐTB là 3.82 xếp hạng 4.

Nội dung được các đối tượng khảo sát đánh giá là thực hiện đạt khoảng phân nửa so với yêu cầu là “Tổng kết, rút kinh nghiệm theo học kỳ” với ĐTB là 3.34 xếp hạng 5. Qua trao đổi phỏng vấn, tác giả ghi nhận một số ý kiến sau: “Hiện tại trên địa bàn Thành phố Thuận An, các nội dung về hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường chưa có văn bản chỉ đạo cụ thể dành cho các CBQL và GV, do đó hoạt động bảo vệ môi trường ở các trường thực hiện còn đơn sơ và không quan tâm nên khi tổng kết và rút kinh nghiệm là hầu như không được tổ chức thực hiện hoặc chỉ thực hiện sơ sài” (QL001)

Qua đây cho thấy hạn chế lớn nhất của quản lý kiểm tra, đánh giá thì việc xác định các tiêu chí, tiêu chuẩn đối với các bộ phận chưa rõ ràng chỉ mang tính hình thức. Việc tổng kết, rút kinh nghiệm theo học kỳ còn hạn chế, tổng kết hoa loa chưa thúc đẩy còn hạn chế chưa chỉ ra hướng giải quyết những tồn tại của GV trong quá trình tham gia giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh trong nhà trường. Việc tổng kết, rút kinh nghiệm sẽ tác động vào một bộ phận nhỏ GV yếu kém hoặc xuất sắc mà còn kích thích được sự nỗ lực phấn đấu phát triển nghề nghiệp của toàn đội ngũ nhằm đạt được mục đích cơ bản mục tiêu giáo dục đề ra. Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.

2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương

Trong quá trình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tác giả luận văn đã tổ chức điều tra trong đội ngũ CBQL và GV kết quả được thể hiện qua bảng 2.17 dưới đây:

Bảng 2.17: Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương

Kết quả khảo sát cho thấy, các yếu tố trên đều ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Yếu tố ảnh hưởng được CBQL, giáo viên đánh giá ở mức độ hoàn toàn đồng đến thực trạng quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An là “Kinh phí thực hiện còn hạn chế” với ĐTB là 4.38 xếp hạng 1; “Cơ sở vật chất, điều kiện, phương tiện phục vụ chưa đáp ứng nhu cầu” với ĐTB là 4.36 xếp hạng 2; “Các văn bản hướng dẫn thực hiện của Phòng Giáo dục và Đào tạo chưa rõ ràng” với ĐTB là 4.29 xếp hạng 3 và “Thời gian thực hiện hoạt động ít” với ĐTB là 4.26 xếp hạng 4. Tác giả ghi nhận ý kiến cho rằng: “Một phần học sinh tiếu ý thức bảo vệ môi trường do thiếu quan tâm đến việc học tập ở nhà của con em, phó mặc mọi việc cho nhà trường và thầy cô; Gia đình học sinh gặp nhiều khó khăn về kinh tế hoặc đời sống tình cảm khiến trẻ không chú tâm vào học tập. Đặc biệt, một số cha mẹ quá nuông chiều con cái, quá tin tưởng vào các em nên học sinh lười học, xin nghỉ để làm việc riêng (như đi chơi, giả bệnh,…) cha mẹ cũng đồng ý cho phép nghỉ học, vô tình góp phần làm học sinh lười học, mất dần kiến thức căn bản…Từ đó dẫn đến tình trạng yếu kém”.

Ngoài ra, nội dung “Về nhận thức của các lực lượng” với ĐTB là 3.86 xếp hạng 5 và nội dung “Các văn bản hướng dẫn kiểm tra, đánh giá giáo viên về giáo dục môi trường của Phòng Giáo dục và Đào tạo chưa rõ ràng” với ĐTB là 3.67 xếp hạng 6 được CBQL và giáo viên đánh giá mức độ đồng ý trong việc gây khó khăn cho giáo dục bảo vệ môi trường.

Để quản lý tốt hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường thì yếu tố “con người”, bao gồm: cái “tâm” và cái “tầm” của người quản lý và chủ thể thực hiện trực tiếp là yếu tố quan trọng góp phần cho Hiệu trưởng chỉ đạo thực hiện hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường đạt hiệu quả; còn nội dung, phương pháp, điều kiện cơ sở vật chất và các phương tiện hỗ trợ có ảnh hưởng trực tiếp. Điều đó chứng tỏ các nguyên nhân trên đều ảnh hưởng đến thực trạng quản lý hoạt động hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường. Đặc biệt đáng chú ý là nội dung các văn bản hướng dẫn chưa rõ ràng, hay kinh phí hoạt động hạn chế, CSVC chưa đáp ứng yêu cầu, thời gian dành cho hoạt động còn ít cần có những giải pháp tác động vào các nguyên nhân để đạt được kết quả như mong muốn.

Như vậy, để thực hiện quản lý hoạt động hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường đòi hỏi những điều kiện thích hợp về phương tiện, cơ sở vật chất và tổ chức giáo dục, điều kiện về tổ chức, quản lý. Bên cạnh đó, cần có các chính sách riêng nhằm khen thưởng, động viên GV đạt thành tích cao, hay các chính sách đãi ngộ đặc thù cho GV tham gia tích cực hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường. Kết quả nghiên cứu trên sẽ là cơ sở để xây dựng biện pháp thực hiện ở chương 3 của đề tài.

2.6. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.

2.6.1. Ưu điểm

Các trường có đội ngũ giáo viên có thâm niên lâu năm trong ngành giáo dục và đều có bằng cử nhân, gắn bó với nghề. Bên cạnh đó, các em học sinh rất tôn trọng thầy cô giáo, ý thức tự học cao và biết lắng nghe, nghe lời thầy cô giáo. Đồng thời, các giáo viên và cán bộ quản lý có nhận thức cao về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường của nhà trường.

Về mục đích hoạt động giáo dục BVMT, được các trường quan tâm sâu sắc giúp học sinh nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng các vấn đề môi trường cũng như cung cấp cho học sinh cơ hội và động lực tham gia bảo vệ môi trường

Về nội dung hoạt động giáo dục BVMT, được các trường quan tâm đến vấn đề môi trường như sự ô nhiễm, chất thải…; các hoạt động lao động cộng đồng về giữ gìn và bảo vệ môi trường; tham quan trải nghiệm thực tế về môi trường

Về công tác quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THCS, các trường đã thực hiện kế hoạch nghiêm túc và thường xuyên trong việc xác định thực trạng bảo vệ môi trường của học sinh. Bên cạnh đó, các trường đã tổ chức thường xuyên và hiệu quả trong việc quản lý soạn bài, chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên và vận động nâng cao tinh thần trách nhiệm của các lực lượng tham gia vào quá trình giáo dục bảo vệ môi trường với những phương pháp phù hợp. Đặc biệt, Hiệu trưởng các trường đã tích cực trong việc chỉ đạo đến từng bộ phận tuân thủ thực hiện theo nội dung chương trình giáo dục phổ thông của Bộ GĐ&ĐT đưa ra và các chường trình khác, cũng như thực hiện kiểm tra đánh giá thường xuyên và theo tiêu chi rõ ràng.

2.6.2. Hạn chế

Đối với phần nhận thức

  • Tầm quan trọng của bảo vệ môi trường: có 31 đối tượng (chiếm 20.3%) đánh giá ở mức độ phân vân.
  • Mục đích: Học sinh hiểu rõ bản chất các vấn đề về môi trường
  • Nội dung: Những quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.

Hạn chế về thực trạng hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường, bao gồm:

Hình thức tổ chức: Dạy học lồng ghép hoạt động bảo vệ môi trường vào môn học chưa phong phú, còn đơn điệu nên hiệu quả chưa cao; Tổ chức nghiên cứu về môi trường; Các trường chỉ tập trung vào hoạt động giáo dục đạo đức thông qua các môn học. Việc tổ chức cho học sinh tham quan, du lịch hay phối hợp giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường để thực hiện giáo dục đạo đức cho học sinh là không thường xuyên.

Phương pháp: Phương pháp dạy học theo dự án. Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.

Kết quả thực hiện của các hình thức kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường: Tổ chức cho học sinh đánh giá chéo; Đánh giá sự tiến bộ của học sinh (về ý thức, về hành vi)

Hạn chế về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh, bao gồm:

Lập kế hoạch giáo dục bảo vệ môi trường: Xác định mục tiêu cụ thể phù hợp với điều kiện của nhà trường; Xây dựng nội dung cụ thể theo từng học kỳ. Việc xây dựng kế hoạch BVMT đã có nhiều cố gắng nhưng thực chất chưa bài bản và chưa đạt yêu cầu về mặt chất lượng;

Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục bảo vệ môi trường: Các trường chưa thực hiện hiệu quả và thường xuyên về:

Phân công nhiệm vụ: Cho giáo viên chủ nhiệm; Cho Phó Hiệu trưởng và Tổ trưởng chuyên môn.

Phối hợp các công việc: Quy định cách phối hợp công việc giữa giáo viên và cán bộ Đoàn, Đội.

Bồi dưỡng, tập huấn về giáo dục môi trường: Chi Đoàn và Tổng phụ trách Đội; Chi Đoàn và Tổng phụ trách Đội; Phó Hiệu trưởng và Tổ trưởng chuyên môn.

Chỉ đạo thực hiện kế hoạch giáo dục bảo vệ môi trường: Việc động viên, khen thưởng đối với giáo viên bộ môn chưa được thực hiện thường xuyên và chưa mang lại hiệu quả cao;

Hạn chế trong công tác kiểm tra – đánh giá hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường: Việc thực hiện trong công tác kiểm tra chưa mang lại hiểu quả đối với việc tổng kết, rút kinh nghiệm theo học kỳ. Ngoài ra việc xác định tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm tra, đánh giá đối với các lực lượng: Giáo viên chủ nhiệm; Phó Hiệu trưởng và tổ trưởng chuyên môn chưa được các lực lượng khảo sát đánh giá cao.

Từ các hạn chế nổi bật nêu trên có thể hình dung mối liên hệ giữa các biện pháp quản lý cần thực hiện nhằm khắc phục hạn chế như sau:

2.6.3. Nguyên nhân hạn chế Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.

Qua kết quả khảo sát và phỏng vấn sâu từ CBQL, GV tại các trường THCS

Thành phố Thuận An về những nguyên nhân khó khăn và thuận lợi, cũng như ý kiến đóng góp được sắp xếp theo thứ tự tần suất xuất hiện giảm dần, cụ thế như:

Nguyên nhân khó khăn: Kinh phí thực hiện còn hạn chế; CSVC, điều kiện, phương tiện phục vụ chưa đáp ứng nhu cầu; Các văn bản hướng dẫn thực hiện của Phòng Giáo dục và Đào tạo chưa rõ ràng; Thời gian thực hiện hoạt động ít; Về nhận thức của các lực lượng; Các văn bản hướng dẫn kiểm tra, đánh giá giáo viên về giáo dục môi trường của Phòng Giáo dục và Đào tạo chưa rõ ràng.

Nguyên nhân thuận lợi: Các em chấp hành nội quy nhà trường; Giáo viên nhiệt tình yêu nghề, tham gia giảng dạy các môn liên quan nội dung giáo dục BVMT có thâm niên lâu năm; Nhà trường luôn quan tâm đến hoạt động giáo dục BVMT cho học sinh; Tinh thần tự học, tự bồi dưỡng nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên cao; Giáo viên chủ nghiệm tham gia tích cực các lớp bồi dưỡng, tập huấn, sinh hoạt chuyên đề đầy đủ; Phương pháp giảng dạy của GV lôi cuốn sinh động;

Nhìn chung, để vệc giáo dục bảo vệ môi trường cho HS ở các trường đạt hiệu quả cao thì Nhà quản lý cần quan tâm, chú ý mở các lớp bồi dưỡng thường xuyên về nghiệp vụ tổ chức hoạt động giáo dục BVMT cho giáo viên có nhu cầu; Ban giám hiệu nhà trường thường xuyên tổ chức các buổi chuyên đề sinh hoạt ngoại khóa để giáo dục cho học sinh về bảo vệ môi trường, nêu gương điển hình; Tổ chức câu lạc bộ kỹ năng sống; Ngày chủ nhật xanh, tham gia các hoạt động Giờ Trái Đất; Cần kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường – gia đình – xã hội; Tăng cường đào tạo bồi dưỡng nâng cao năng lực nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên, vai trò đoàn thanh niên trong nhà trường, trách nhiệm giáo viên hướng dẫn; Phối hợp tổ các hoạt động ngoại khóa; Xây dựng kế hoạch giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh thông qua hoạt động ngoại khóa phù hợp với nguồn lực nhà trường.

Tiểu kết chương 2

Trong chương này, tác giả đã tập trung thực hiện nghiên cứu thực trạng về công tác quản lý hoạt động giáo dục môi trường cho học sinh THCS Thành phố Thuận An. Từ thực trạng cho thấy, quá trình tổ chức thực hiện quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THCS các trường tuy đã thực hiện thường xuyên trong việc xây dựng kế hoạch, cũng như mang lại những thành công trong công tác tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá, nhưng quá trình thực hiện được CBQL, giáo viên đánh giá đạt phần lớn hiệu quả song vẫn còn tồn tại một số hạn chế, khó khăn nhất định. Những hạn chế được thể hiện trong sự nhận thức của giáo viên và cán bộ quản lý về mục đích, nội dung, phương pháp và hình thức hoạt động trong công tác quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THCS. Đồng thời, những hạn chế, thiếu sót còn thể hiện trong quá trình xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, cũng như sự chỉ đạo và trong kiểm tra đánh giá.

Qua đó, với những kết quả nghiên cứu trên, các biện pháp đề xuất được đưa ra nhằm khắc phục những hạn chế thiếu sót trong quá trình quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THCS, góp phần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh THCS, cũng như trong quá trình quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh tại các trường THCS trên địa bàn Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương được bảo đảm chất lượng, các biện pháp được trình bày đầy đủ trong chương 3, bao gồm mục tiêu, nội dung và cách thực hiện. Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *