Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở học sinh trung học

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở học sinh trung học hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS huyện Thanh Ba – Tỉnh Phú Thọ theo định hướng giáo dục kỹ năng sống dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Việt Nam đang trong thời kỳ hội nhập với quốc tế ngày càng sâu rộng và ở đó chúng ta có sự giao thoa và cơ hội tiếp nhận những giá trị tinh hoa của nhân loại, nhưng hơn lúc nào hết chúng ta cũng đang phải đối mặt với những thách thức không nhỏ của hiện tượng toàn cầu hóa, biến đổi khí hậu… Bên cạnh đó cuộc cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển với quy mô ngày càng sâu rộng với trình độ ngày càng cao, đòi hỏi mỗi quốc gia phải đổi mới toàn diện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa và toàn cầu hóa.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, phần IV, điểm 9 đã xác định “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt”. [9, 76]

Hiện nay, đã có hơn 155 nước trên thế giới quan tâm đến việc đưa KNS vào nhà trường dưới hình thức một môn học riêng, tích hợp vào tất cả các môn học riêng biệt hoặc tích hợp vào một số môn học chính. Tại Việt Nam, hoạt động GDNGLL là một trong những môn học có nhiều đóng góp cho việc hình thành và rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh đặc biệt là ở cấp THCS. Với mục tiêu hướng tới đào tạo Công dân toàn cầu đặt ra cho giáo dục Việt Nam nhiệm vụ không chỉ cung cấp tri thức, rèn luyện kỹ năng các môn học mà còn phải hình thành và rèn luyện kỹ năng sống và năng lực xã hội cho người học theo hướng hòa nhập, thân thiện. Ngày 15 tháng 5 năm 2008, tại trường THCS Vạn Phúc- Hà Đông, Phó Thủ tướng Chính phủ – Bộ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân đã phát động phong trào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008-2013 bao gồm 5 nội dung: Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở học sinh trung học.

  1. Xây dựng trường, lớp xanh, sạch, đẹp, an toàn.
  2. Dạy và học có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của học sinh ở mọi địa phương, giúp các em tự tin trong học tập.
  3. Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh.
  4. Tổ chức các hoạt động tập thể vui tươi, lành mạnh
  5. Học sinh tham gia tìm hiểu, chăm sóc và gìn giữ giá trị các di tích lịch sử, văn hoá, cách mạng ở địa phương

Việc giáo dục kĩ năng sống là nhiệm vụ cần thiết, trực tiếp của các nhà trường THCS. Ngoài các môn học trong chương trình giáo dục phổ thông thì HĐ NGLL là hoạt động nối tiếp của các môn học trên lớp, giúp các em học sinh rèn luyện các kỹ năng cơ bản và cần thiết cho cuộc sống hàng ngày. HĐ GDNGLL giúp các em có điều kiện để khẳng định sở trường, năng lực và phát triển năng khiếu của bản thân như rèn luyện kỹ năng, hợp tác nhóm, giao tiếp, tự tin trước đám đông…

Việc giáo dục như thế nào để học sinh đáp ứng được các yêu cầu của cuộc sống là vấn đề đặt ra cho tất cả các nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân. Đối với cấp trung học cơ sở (THCS) lứa tuổi học sinh đang lớn, các em dễ bị tác động bởi môi trường bên ngoài xã hội. Cái tốt thì ảnh hưởng khó nhưng cái xấu thì dễ bị lây lan, tiêm nhiễm. Vì vậy, giáo dục cho các em những kỹ năng cần thiết để có đủ sức đề kháng với những cái xấu là trách nhiệm đặt ra đối với người cán bộ quản lý trường phổ thông nói chung, đối với cán bộ quản lý cấp THCS nói riêng.

Tuy nhiên, qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách sâu sắc và thiết thực đối với việc quản lý hoạt động GDNGLL theo định hướng giáo dục KNS cho học sinh THCS.

Từ các lý do về lý luận và thực tiễn trên đây, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS huyện Thanh Ba – Tỉnh Phú Thọ theo định hướng giáo dục kỹ năng sống.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Quản Lý Giáo Dục

2. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường THCS huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ, đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS theo định hướng giáo dục kỹ năng sống, nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở các trường THCS trên địa bàn huyện.

3. Đối tượng, khách thể nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở học sinh trung học.

Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp theo định hướng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THCS huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.

3.2. Khách thể nghiên cứu

Hoạt động quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp theo định hướng giáo dục KNS ở trường THCS huyện Thanh Ba.

4. Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1. Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về quản lý hoạt động GDNGLL, giáo dục KNS và tổ chức hoạt động NGLL theo định hướng giáo dục KNS ở trường THCS.

4.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động GDNGLL theo hướng tiếp cận giáo dục KNS ở các trường THCS, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.

4.3. Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động GDNGLL theo định hướng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh ở các trường THCS huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.

5. Câu hỏi nghiên cứu

  1. Thực trạng hiện nay việc tổ chức hoạt động GDNGLL đã và đang diễn ra theo định hướng giáo dục KNS tại các trường THCS huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ như thế nào?
  2. Những biện pháp quản lý nào giúp cho hoạt động GDNGLL theo định hướng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tại các trường THCS huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ có hiệu quả?

6. Giả thuyết nghiên cứu Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở học sinh trung học.

Hoạt động GDNGLL ở các trường THCS trên địa bàn huyện Thanh Ba đã đạt được những thành công nhất định, tuy nhiên hoạt động GDNGLL theo định hướng giáo dục KNS còn mờ nhạt và chưa hiệu quả, chưa phát huy được vai trò hết vai trò của hoạt động này trong giáo dục toàn diện cho học sinh. Công tác quản lý hoạt động GDNGLL theo định hướng giáo dục KNS của các CBQL trên địa bàn huyện Thanh Ba còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập. Nguyên nhân chủ yếu của sự yếu kém bất cập là do các trường chưa có biện pháp quản lý phù hợp với sự thay đổi trong tổ chức thực hiện hoạt động GDNGLL theo định hướng giáo dục KNS hiện nay. Nếu phân tích rõ cơ sở lý luận và những hạn chế trong quản lý thì có thể đề xuất được biện pháp quản lý có hiệu quả hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp theo định hướng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THCS ở huyện Thanh Ba thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh.

7. Phạm vi nghiên cứu

Nội dung: Quản lý hoạt động NGLL theo định hướng giáo dục kĩ năng sống của các trường THCS ở huyện Thanh Ba, Phú Thọ

Về địa bàn: Đề tài khảo sát thực trạng vấn đề quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp theo định hướng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THCS trên 04 trường THCS huyện Thanh Ba – Tỉnh Phú Thọ: THCS Thanh Hà, THCS Yển Khê, THCS Sơn Cương, THCS Chí Tiên.

Về thời gian: Đề tài chỉ sử dụng các số liệu thống kê về các trường THCS và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp theo định hướng giáo dục kĩ năng sống của các trường từ năm 2016 trở lại đây.

8. Phương pháp nghiên cứu

8.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận

Sử dụng phương pháp này để phân tích, tổng hợp các tài liệu khoa học, các đề tài có liên quan để khái quát cơ sở lý luận, xây dựng khung lý luận của đề tài.

8.2. Phương pháp nghiên cứu (Nghiên cứu lý luận, nghiên cứu thực tiễn, công cụ nghiên cứu, phụ lục nghiên cứu (đối tượng khảo sát)

Phương pháp quan sát sư phạm: Quan sát các hoạt động của trường khi triển khai thực hiện các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp theo hướng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS.

Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi để nhận định, đánh giá rõ các mặt mạnh, mặt yếu và tìm ra nguyên nhân của hạn chế, yếu kém trong tổ chức hoạt động giáo dục NGLL, hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các trường THCS huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ; thăm dò ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý và giáo viên về mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động GDNGLL theo định hướng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.

Phương pháp chuyên gia nhằm đánh giá các kết quả giáo dục kỹ năng sống và kết quả quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của các trường THCS. Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở học sinh trung học.

Phương pháp tổng kết kinh nghiệm để tiến hành sưu tầm, nghiên cứu, phân tích các kinh nghiệm tổ chức, quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và giáo dục kỹ năng sống ở trường THCS để có cơ sở tích hợp hai hoạt động này và đưa ra các biện pháp quản lý phù hợp.

  • Phụ lục nghiên cứu:

Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động NGLL theo định hướng GD KNS của 4 trường đại diện cho 4 vùng: miền núi, nông thôn, trung tâm và bán trung tâm của huyện Thanh Ba

  • Khảo sát 8 CBQL của 4 trường
  • Khảo sát 20 GV của 4 trường
  • Khảo sát 200 học sinh của 4 trường

8.3. Xử lý số liệu thu được bằng thống kê toán học

Xử lý số liệu thu được bằng thống kê toán học và lập các bảng thống kê và biểu đồ để biểu diễn các số liệu thu được. Kết quả khảo sát được tính bằng điểm trung bình, hệ số thứ bậc.

9. Cấu trúc của luận văn

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp theo định hướng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THCS.
  • Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp theo định hướng giáo dục kĩ năng sống ở các trường THCS ở huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ
  • Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp theo định hướng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh ở các trường THCS huyện Thanh Ba – Tỉnh Phú Thọ.

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP THEO ĐỊNH HƯỚNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ

1.1. Sơ lược các nghiên cứu về vấn đề

1.1.1. Những nghiên cứu ngoài nước Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở học sinh trung học.

Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp hay thường gọi là hoạt động ngoại khoá là một phần quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông ở hầu hết tất cả các nước trên thế giới. Hoạt động ngoài giờ lên lớp được chú trọng nghiên cứu và thực hiện một cách hữu ích để giúp học sinh có kết quả học tập tốt hơn và giúp các em phát triển toàn diện về nhân cách, phẩm chất, năng lực.

Trong cuốn “Nói chuyện giáo dục thế giới đời xưa” tác giả Võ Quang Phúc viết: Ở Pháp, thời kỳ phục hưng có Rabơle (1494-1553) yêu cầu giáo dục phải bao gồm các nội dung: “trí dục, đạo đức, thể chất và thẩm mĩ và đã có sáng kiến tổ chức các hình thức giáo dục như ngoài việc học ở lớp và ở nhà, còn có các buổi tham quan các xưởng thợ, các cửa hàng, tiếp xúc với các nhà văn, các nghị sĩ, đặc biệt là mỗi tháng một lần thầy và trò về sống ở nông thôn một ngày” [24,39]

Cơrúpxcaia (1869-1939) là nhà hoạt động chính trị xuất sắc của Đảng và Nhà nước Xô Viết vừa là một nhà tâm lí học, giáo dục học có những đóng góp kiệt xuất cả về lý luận lẫn thực tiễn. Ông cho rằng muốn đào tạo một người phát triển toàn diện cần phải giáo dục cả đức, trí, thể, mĩ, lao động, quân sự và coi trọng giáo dục qua các hoạt động tập thể như cắm trại,sinh hoạt văn hóa, lao động tại các lâm trường.

Trong cuốn “Giáo trình hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp” tác giả Ngô Dục Quang đã viết: “Tại Anh, gần 7 triệu học sinh hàng năm được tham gia hoạt động ngoài giờ lên lớp và các hoạt động ngoại khoá, hàng tuần có hàng nghìn em được đi tham quan hay tham gia vào các câu lạc bộ học tập. Theo các nhà giáo dục Anh, các hoạt động này giúp học sinh gắn kiến thức trên lớp với cuộc sống. Chính phủ Anh cho rằng, cần xem các hoạt động này là một phần quan trọng của công tác giáo dục thế hệ trẻ. Để nâng cao chất lượng và tăng cường số lượng các hoạt động này, chính phủ Anh đã đưa ra các qui định về trách nhiệm của giáo viên và nhà trường, tăng cường các nguồn lực và các điều kiện cho việc tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp và các hoạt động ngoại khóa khác” [26,16]

Vào những năm 60-70, trên con đường xây dựng CNXH Đảng cộng sản và Nhà nước Liên Xô coi trọng việc giáo dục con người phát triển toàn diện do đó HĐ GDNGLL được đẩy mạnh. Công tác giáo dục ngoại khoá bổ sung và làm sâu thêm hoạt động giáo dục trên lớp, trước tiên hoạt động ngoại khóa là phương tiện để phát hiện năng khiếu và năng lực của trẻ em, làm cho hứng thú của học sinh trỗi dậy và là nơi rèn luyện về hành vi đạo đức cho học sinh.

Các nghiên cứu của các nhà giáo dục trên đều nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục ngoại khoá. Các thầy cô giáo cung cấp tri thức trong các môn học cho học sinh chưa đủ để học sinh phát triển toàn diện mà còn cần phải coi trọng các hoạt động ngoài giờ lên lớp.

1.1.2. Những nghiên cứu trong nước Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở học sinh trung học.

Hoạt động GDNGLL là một phần hoạt động giáo dục không thể thiếu trong chương trình giáo dục phổ thông ở Việt Nam. Hoạt động GDNGLL đang được chú trọng và được nghiên cứu để trở thành một công cụ hữu ích giúp nâng cao kết quả học tập của HS và phát triển toàn diện hơn về nhân cách, phẩm chất. Hoạt động GDNGLL giúp các em HS đưa kiến thức học được trong nhà trường vào thực tiễn cuộc sống. Hoạt động GDNGLL là vấn đề mới được nghiên cứu, tuy nhiên thực tiễn giáo dục gần đây đã xác định rõ muốn thực hiện hiệu quả chất lượng giáo dục các môn học cần tổ chức tốt các hoạt động ngoại khóa.

Trong quá trình giáo dục, hoạt động GDNGLL là một trong những hoạt động trọng tâm, quyết định sự thành công của quá trình giáo dục. Vì vậy việc quản lý hoạt động GDNGLL là một vấn đề quan trọng của ngành giáo dục và của cả xã hội. Hiện nay có nhiều tài liệu, nhiều luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ nghiên cứu vấn đề quản lý hoạt động GDNGLL như:

Các tác giả Hà Thế Ngữ – Đặng Vũ Hoạt trong cuốn “Giáo dục học” [21,15] đã nhấn mạnh vai trò và tác dụng của hoạt động ngoại khóa, coi hoạt động ngoại khóa là một hình thức dạy học có khả năng tạo hứng thú cho học sinh, giúp các em mở rộng, khắc sâu, nâng cao kiến thức.

Trong cuốn “Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp” của tác giả Nguyễn Dục Quang [25,20], đã đề cập đến những nội dung cơ bản xoay quanh những vấn đề của hoạt động GDNGLL cung cấp cho giáo sinh làm cơ sở cho công tác thực tập sư phạm và công tác chủ nhiệm lớp sau này.

Tác giả Hà Nhật Thăng viết cuốn “Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp” [32, 26] đã nêu lên mục tiêu giáo dục, nội dung chương trình, phương thức tổ chức, CSVC thiết bị cho việc tổ chức, đánh giá kết quả hoạt động của HS và hướng dẫn thực hiện theo các chủ điểm giáo dục.

Tác giả Đặng Thị Chính Thao với đề tài nghiên cứu “ Biện pháp quản lí hoạt động NGLL ở trường THCS quận Hoàn Kiếm thành phố Hà Nội” [31,67] đã đưa ra một số biện pháp quản lí như nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên, giáo viên chủ nhiệm, phụ huynh HS về vị trí, vai trò, tác dụng của hoạt động GDNGLL trong quá trình giáo dục toàn diện học sinh, đổi mới phương pháp tổ chức, phối hợp và huy động các lực lượng…

Tác giả Nguyễn Thị Hoa với công trình nghiên cứu “Quản lý hoạt động NGLL ở trường THCS Hải Toàn, Hải Hậu, Nam Định” [12,75] đã khẳng định tổ chức hoạt động GDNGLL có hiệu quả sẽ phát huy vai trò chủ thể trong quá trình hình thành nhân cách của mỗi học sinh, đáp ứng nhu cầu của xã hội trong xu thế hội nhập, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của mỗi nhà trường. Trong công trình nghiên cứu tác giả đã đưa ra các biện pháp như; xây dựng kế hoạch quản lý HĐNGLL phù hợp và hiệu quả, đa dạng các hình thức và nội dung quản lý HĐNGLL, đề cao vai trò chủ thể của học sinh……..

Nhìn chung các tác giả đã đề cao vai trò của hoạt động GDNGL L trong quá trình giáo dục học sinh, khẳng định tính cần thiết việc tổ chức các hoạt động GDNGLL ở các trường phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân ở Việt Nam hiện nay.

1.2. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và giáo dục kỹ năng sống Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở học sinh trung học.

1.2.1. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

1.2.1.1. Khái niệm về hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

Hoạt động GDNGLL là những hoạt động giáo dục được tổ chức ngoài giờ học các môn văn hóa. Đây là những hoạt động nối tiếp các hoạt động giáo dục trong giờ lên lớp. Nói một cách hình ảnh thì hoạt động GD kỹ năng là chiếc cầu nối giữa công tác giảng dạy trên lớp với công tác giáo dục học sinh ngoài lớp để giúp học sinh phát triển một cách toàn diện.

Hoạt động GDNGLL theo chương trình của bộ giáo dục và đào tạo, do nhà trường quản lí theo các chủ điểm của từng tháng đã quy định hay xen kẽ trong các môn học, trong nhà trường hoặc có quy mô lớn hơn là ngoài xã hội, diễn ra trong cả năm học

Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt: “HĐ GDNGLL là việc tổ chức giáo dục thông qua hoạt động thực tiễn của HS về khoa học kỹ thuật, lao động công ích, hoạt động xã hội, hoạt động nhân văn, văn hóa văn nghệ, thẩm mỹ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí… giúp các em hình thành và phát triển nhân cách” [14,16]

HĐ GDNGLL ở trường THPT giúp các em HS có cơ hội tham gia vào các hoạt động thực tiễn. Các em HS tham gia vào HĐ GDNGLL là hòa mình trải nghiệm vào đời sống thực của xã hội và qua đó cũng học hỏi được nhiều kinh nghiệm như hợp tác nhóm, giao tiếp, kiềm chế cảm xúc….để rèn luyện kỹ năng sống hình thành nhân cách.

Hoạt động GDNGLL là hoạt động tiếp nối của hoạt động trên lớp, gắn lí thuyết đến gần với thực tiễn, giữa nhận thức đi đôi với việc làm, hình thành thái độ, niềm tin, giúp học sinh phát triển một cách nhân cách toàn diện.

1.2.1.2. Vị trí, vai trò của hoạt động GDNGLL ở trường THCS

Chương trình THCS ban hành theo quyết định số 03/2002/QĐ-BGD&ĐT ngày 14-01-2002 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nêu: “Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học của các môn học trên lớp, là sự tiếp nối các hoạt động dạy và học trên lớp, là con đường gắn lý thuyết với thực tiễn, tạo sự thống nhất giữa nhận thức và hành động của học sinh” [2,3]. Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở học sinh trung học.

Hoạt động GDNGLL là một trong hai hình thức giáo dục cơ bản, được thực hiện có tổ chức, có mục đích theo kế hoạch của nhà trường, thông qua hoạt động thực tiễn của học sinh, nhằm giúp các em hình thành và phát triển nhân cách theo mục tiêu đào tạo, đáp ứng yêu cầu đa dạng của xã hội.

Vị trí của hoạt động GDNGLL là một bộ phận trong quá trình đào tạo được tổ chức thực hiện theo chương trình giáo dục, đáp ứng tinh thần đổi mới của nghị quyết 40/2000/QH10 của Quốc hội ngày 09/2/2000. Bộ Giáo dục ban hành chương trình, nội dung các hoạt động GDNGLL cho từng cấp học, đồng thời có các văn bản hướng dẫn thực hiện, được triển khai nhằm nâng cao hiệu quả của hình thức giáo dục này, thông qua các phong trào như: “Về nguồn”, “Giáo dục môi trường”, “Xây dựng trường học thân thiện, HS tích cực”…tất cả đều gắn với mục tiêu giáo dục của từng cấp học.

Vai trò của hoạt động GDNGLL ở trường THCS thể hiện sự tiếp nối hoạt động dạy học, nhằm thực hiện mục tiêu cấp học. Hoạt động GDNGLL vừa mang tính đặc thù của giáo dục, vừa mang tính xã hội rất đặc biệt của nhà trường, thể hiện chỗ: sản phẩm của nhà trường đáp ứng yêu cầu đào tạo những người chủ tương lai của xã hội. Thông qua các hoạt động GDNGLL, HS tiếp cận các vấn đề cuộc sống, được rèn luyện bản thân, rèn luyện ý thức, kỹ năng, hành vi và thói quen.

Như vậy, hoạt động GDNGLL do nhà trường tổ chức và quản lý với sự tham gia của các lực lượng xã hội, có vị trí và vai trò quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ dạy người của nhà trường hiện nay. Hoạt động GDNGLL không thể thiếu trong quá trình giáo dục tại các trường phổ thông nói chung và đối với trường THCS nói riêng.

1.2.2. Hoạt động giáo dục kỹ năng sống

1.2.2.1. Kỹ năng sống là gì

Kỹ năng sống được diễn đạt theo nhiều cách khác nhau:

Kỹ năng sống là tập hợp các hành vi tích cực và khả năng thích nghi cho phép mỗi cá nhân đối phó hiệu quả với các nhu cầu thách thức của cuộc sống hàng ngày; nói cách khác là khả năng tâm lý xã hội. Đó là tập hợp các kỹ năng mà con người tiếp thu qua giáo dục hoặc trải nghiệm trực tiếp được dùng để xử lí các vấn đề và câu hỏi thường gặp trong đời sống hàng ngày.

Có quan niệm cho rằng KNS là những thói quen hợp lý, cần thiết để xử lý trong các tình huống cụ thể. Ứng xử phù hợp trong những tình huống này sẽ giúp các em thoát khỏi nguy hiểm hoặc xử lý vấn đề hiệu quả, phù hợp.

Có quan niệm coi kỹ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày (Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục của Liên hiệp quốc viết tắt là UNESCO).

Tổ chức y tế thế giới (viết tắt là WHO) coi kỹ năng sống là những kĩ năng mang tính tâm lí xã hội và kĩ năng về giao tiếp được vận dụng trong những tình huống hằng ngày để tương tác một cách hiệu quả với người khác và giải quyết có hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống hàng ngày. Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở học sinh trung học.

Trong cuốn “Xây dựng lối sống và đạo đức mới cho sinh viên” tác giả Nguyễn Quang Uẩn viết “Kĩ năng sống là một tổ hợp phức tạp của một hệ thống các kĩ năng nói lên năng lực sống của con người, giúp con người thực hiện công việc và tham gia vào cuộc sống hàng ngày có kết quả, trong những điều kiện xác định của cuộc sống” [35, 112].

Như vậy chúng ta có thể hiểu kĩ năng sống là năng lực tâm lí – xã hội của mỗi cá nhân, giúp con người có khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống. Cụ thể như kĩ năng nhận biết; kĩ năng học tập; kĩ năng kiểm soát cảm xúc; kĩ năng ứng phó với căng thẳng; kĩ năng thể hiện sự tự tin; kĩ năng giải quyết vấn đề; kĩ năng tư duy phê phán; kĩ năng ra quyết định; kĩ năng giải quyết mâu thuẫn; kĩ năng quản lí thời gian; kĩ năng tìm kiếm và xử lí thông tin…

Để sống (tồn tại và phát triển) con người cần có những kĩ năng sống cơ bản trong các mối quan hệ đó là con người với mối quan hệ với bản thân mình; con người với tự nhiên; con người với các mối quan hệ xã hội. Do đó các kĩ năng sống sẽ giúp con người (người học) biến những kiến thức học được, những thái độ, tư tưởng, tình cảm thành những hành động thực tế giúp mỗi người phát triển một cách toàn diện hơn. Những kĩ năng sống của mỗi cá nhân không thể tồn tại bất biến mà nó biến đổi theo thời gian, theo từng thời điểm và trong từng thời đại mà cá nhân đó sống.

Kỹ năng sống của mỗi con người vừa mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội. Kỹ năng sống mang tính cá nhân vì đó là năng lực của cá nhân, kỹ năng sống còn mang tính xã hội vì trong mỗi một giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội, ở mỗi vùng miền lại đòi hỏi mỗi cá nhân có những kỹ năng sống phù hợp để tồn tại và phát triển.

1.2.2.2. Ý nghĩa, vai trò của GD kỹ năng sống

Giáo dục kĩ năng sống là quá trình hình thành những hành vi tích cực, lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp học sinh có cả kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng thích hợp; là giáo dục những kĩ năng mang tính cá nhân và xã hội nhằm giúp học sinh chuyển dịch kiến thức (cái học sinh biết), thái độ, giá trị (cái mà học sinh cảm nhận, tin tưởng, quan tâm) thành hành động thực tế (làm gì và làm cách nào) trong những tình huống khác nhau của cuộc sống.

Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trung học cơ sở sẽ đem lại những lợi ích thiết thực cho người học và cộng đồng, xã hội:

Giúp học sinh giải quyết được những nhu cầu của bản thân để phát triển theo hướng tích cực, góp phần vận dụng môi trường sống lành mạnh, đảm bảo cho trẻ phát triển tốt về thể chất, tinh thần và xã hội. Giáo dục kĩ năng sống giúp học sinh hình thành hành vi sức khỏe đúng đắn, lành mạnh để phòng tránh các nguy cơ (như HIV, AIDS, lạm dụng ma túy) tạo ra sự thay đổi hành vi để làm giảm những nguy cơ, cung cấp các thông tin cơ bản và giúp thanh thiếu niên phát triển những kĩ năng sống cần thiết để ra quyết định và hành động theo những quyết định liên quan đến sức khỏe. Thông qua giáo dục kĩ năng sống, học sinh có được kiến thức, giá trị, thái độ và các kĩ năng sống cần thiết để xây dựng nền mảng vững chắc cho lòng tôn trọng quyền con người, các nguyên tắc dân chủ và chống lại bạo lực, tội ác; giúp các em có thể phát triển các kĩ năng phân tích, tư duy phê phán, ra quyết định, tự trọng, thiện chí, sáng tạo, giao tiếp, giải quyết xung đột, hợp tác. Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở học sinh trung học.

Giáo dục kĩ năng sống có tác động tích cực trong quá trình dạy và học, là thực hiện yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông. Mục tiêu của giáo dục phổ thông theo yêu cầu mới đã chuyển từ chỗ chủ yếu là trang bị kiến thức cho học sinh sang chủ yếu là trang bị những phản chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Luật Giáo dục năm 2005, Điều 5 đã khẳng định phương pháp giáo dục phổ thông cũng được xác định “phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”. Giáo dục kĩ năng sống với mục tiêu và cách tiếp cận là hình thành và làm thay đổi hành vi của học sinh theo huống tích cực, bồi dưỡng cho các em năng lực hành động trong cuộc sống, thực chất là thực hiện mục tiêu giáo dục phổ thông. Phương pháp giáo dục kĩ năng sống là thực hiện quan điểm hướng vào người học nên có thể đáp ứng được nhu cầu của người học, năng cao chất lượng cuộc sống của mỗi cá nhân. Mặt khác, giáo dục kĩ năng sống thông qua những phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực mang tính tương tác, cùng tham gia, đề cao vai trò chủ động, tự giác của người học sẽ có những tác động tích cực đối với quan hệ giữa thầy và trò, giữa học sinh với nhau, tạo ra động lực cho việc học tập. Học sinh sẽ hứng thú và học tập tích cực hơn, có hiệu quả hơn, nhất là khi các vấn đề mà các em được tham gia có quan hệ trực tiếp đến cuộc sống của bản thân.

Giáo dục kĩ năng sống thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội tích cực, góp phần xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống xã hội, làm giảm các tiêu cực trong xã hội như nạn nghiện rượu, nghiện ma tuý, cờ bạc, mại dâm, bạo lực. Giáo dục kĩ năng sống giải quyết một cách tích cực nhu cầu và quyền con người, quyền công dân được ghi trong pháp luật Việt Nam và quốc tế; giải quyết các vấn đề cụ thể như hoà bình và an ninh, bình đẳng giới, đa dạng văn hoá và hiểu biết về giao lưu văn hoá, sức khỏe, HIV7AIDS, bảo vệ môi trường, giúp cho mỗi cá nhân có thể định hướng tới cuộc sống lành mạnh phù hợp với các giá trị sống của xã hội, giúp thúc đẩy sự phát triển bền vững của cá nhân và của tập thể, xã hội; góp phần củng cố sự ổn định, an ninh chính trị của quốc gia.

Học sinh trung học cơ sở đang ở trong độ tuổi thiếu niên, lứa tuổi đang phát triển mạnh về cả thể chất và tinh thần. Nhu cầu hoạt động và giao tiếp của các em đang phát triển mạnh. Do đó, ý thức về cuộc sống, về bản thân, về con người cũng phát triển; các năng lực cá nhân cũng dần hình thành. Đời sống tình cảm của các em cũng rất phong phú, thể hiện rõ nhất trong quan hệ tình bạn (đồng giới hoặc khác giới). Nó chi phối tình cảm và xu hướng hoạt động của các em. Giáo dục kĩ năng sống nếu biết khai thác những khía cạnh tích cực trong đặc điểm tâm lí của học sinh sẽ tạo điều kiện thuận lợi giúp các em phát triển nhân cách. Bên cạnh đó, môi trường xã hội cũng ảnh hưởng rất lớn đến nhân cách của học sinh trung học cơ sở. Bối cảnh hội nhập quốc tế và cơ chế thị trường hiện nay với những tác động tích cực và tiêu cực đan xen khiến trẻ luôn luôn phải có sự lựa chọn, phải đương đầu với những áp lực, thử thách, nếu không được hướng dẫn, các em dễ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực như nghiện hút, bạo lực, ăn chơi sa đọa. Giáo dục kĩ năng sống giúp các em ứng phó với những vấn đề của lứa tuổi học sinh trung học cơ sở như phòng tránh lạm dụng game, phòng tránh rủi ro trong quan hệ giới tính, phòng tránh sử dụng chất gây nghiện, phòng tránh bạo lực học đường; từ đó tạo điều kiện giúp Quốc hội giải quyết một cách tích cực nhu cầu và quyền trẻ em, giúp học sinh xác định được nghĩa vụ của mình đối với bản thân, gia đình, xã hội. Có thể nói, giáo dục kĩ năng sống có giá trị đặc biệt đối với thanh, thiếu niên đang lớn lên trong xã hội hiện đại với nền văn hoá đa dạng, nền kinh tế phát triển và bối cảnh thế giới được coi là một mái nhà chung. Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở học sinh trung học.

Giáo dục kỹ năng sống là dạy cho học sinh sống một cách có ý nghĩa, sống một cách tích cực và lành mạnh trong xã hội hiện đại. Bên cạnh đó đồng thời làm thay đổi những hành vi xấu, tiêu cực và điều chỉnh hành vi thái độ tích cực một cách thích hợp

Tiếp cận kĩ năng sống trong các nội dung giáo dục là cần thiết để góp phần hình thành những hành vi tích cực mang tính xây dựng và thay đổi những hành vi tiêu cực. Từ đó học sinh có thể tự cảm nhận, tự sáng tạo, tự tư duy để phát triển năng lực cá nhân và tự kiểm soát được cuộc sống của mình.

1.2.2.3. Nguyên tắc và hình thức giáo dục KNS cho học sinh THCS

  • Nguyên tắc

Có 5 nguyên tắc giáo dục KNS cho HS THCS:

  • Tương tác: Để quá trình hình thành KNS diễn ra hiệu quả GV cần tổ chức cho các em HS tham gia các hoạt động, tương tác với cô giáo và với nhau trong quá trình GD. Quá trình này sẽ không hiệu quả nếu học sinh chỉ ngồi đọc sách hoặc thu động nghe giảng mà không tương tác
  • Trải nghiệm: KNS được hình thành khi người học được trải nghiệm qua các tình huống thực tế.
  • Tiến trình: GD KNS không thể hình thành trong “ngày một, ngày hai” mà đòi hỏi phải có cả quá trình: nhận thứcàhình thành thái độ thay đổi hành vi.
  • Thay đổi hành vi: GDKNS thúc đẩy người học thay đổi hay định hướng lại các giá trị, thái độ và hành động của mình, đó là mục đích cao mà quá trình GD KNS hướng tới.
  • Thời gian- môi trường giáo dục: GD KNS cần thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc và thực hiện càng sớm càng tốt đối với trẻ em. Môi trường giáo dục được tổ chức nhằm tạo cơ hội cho HS áp dụng kiến thức và kĩ năng vào các tình huống “thực” trong cuộc sống.

Các hình thức giáo dục KNS

  • Các hình thức giáo dục KNS hiện nay trong các trường phổ thông được thực hiện chủ yếu thông qua hai hình thức:
  • Thông qua hoạt động giáo dục lồng ghép, tích hợp vào các môn học, bài học trong chương trình giáo dục của nhà trường.
  • Giáo dục KNS thông qua nhiều hình thức ngoại khóa như tham gia câu lạc bộ, tham gia học tại các lớp dạy KNS ở các trung tâm và ngoài nhà trường.

1.3. Quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp

1.3.1. Quản lý và các chức năng của quản lý

1.3.1.1. Khái niệm quản lý. Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở học sinh trung học.

Trong bất kì một ngành nghề, một lĩnh vực nào đều cần có sự quản lý. Quản lý đã và đang trở thành một lĩnh vực khoa học có tác động rất lớn và có tính chất quyết định đến sự phát triển kinh tế – xã hội và đến nay khoa học quản lý ngày càng được hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của đời sống xã hội. Vì xét cho cùng của tất cả các hoạt động đều phục vụ cho sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa. Hoạt động quản lý có từ rất lâu, từ thời F.W.Taylor và Henri Fayol, các ông thường được xem như là cha đẻ của thuyết quản lý khoa học. Các ông đã khẳng định hoạt động quản lý ở bất kì tổ chức nào cũng đều có các hoạt động cơ bản liên quan đến các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra trên cơ sở thu thập và xử lí thông tin [11, 5].

Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quản lý:

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang “quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu đã dự kiến [27,1].

Trong cuốn “giáo trình quản lý về giáo dục” tác giả Phan Văn Kha đã viết: “quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được mục đích đã định” [15,10]

Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “quản lý là những tác động có tính định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt được mục đích nhất định [16,27].

Theo tác giả Đỗ Hoàng Toàn trong cuốn “lý thuyết quản lý” khẳng định “quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng hiệu quả nhất các tiềm năng các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường” [34,45].

Từ những định nghĩa đã trình bày ở trên ta thấy các định nghĩa đều có những điểm chung cơ bản sau:

  • Quản lý thì phải có chủ thể quản lý, đối tượng bị quản lý và mục tiêu quản lý.
  • Mục tiêu của quản lý nhằm thay đổi hoạt động của tổ chức, trạng thái của hoạt động và nâng cao hiệu quả của hoạt động.
  • Chủ thể quản lý phải thực hiện việc tác động. Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở học sinh trung học.
  • Chủ thể quản lý có thể là một người hoặc nhiều người hoặc một thiết bị còn đối tượng bị quản lý có thể là một người, nhiều người hoặc nhà cửa, máy móc, vật nuôi, cây trồng…
  • Điều đầu tiên của quản lý chính là quản lý con người, tác động lên con người để họ làm việc có lợi cho tổ chức. Làm thế nào để họ có thể mang hết năng lực của họ ra để cống hiến, phục vụ một cách tự nguyện.

Như vậy, quản lý là quá trình chủ thể quản lý tác động lên đối tượng bị quản lý một cách gián tiếp hay trực tiếp nhằm thu được những thay đổi tích cực nhất định của tổ chức. Quản lý là thực hiện những công việc có tính định hướng, điều tiết phối hợp các hoạt động của cấp dưới; đó chính là các chức năng của quản lý.

1.3.1.2. Chức năng quản lý.

Trong cuốn “đại cương khoa học quản lý giáo dục”, các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã khẳng định: Hiện nay, hoạt động quản lý thường được định nghĩa rõ hơn “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”[7,9].

Sơ đồ 1.1. Sơ đồ mô tả các chức năng trong quá trình quản lý

Như vậy theo cuốn“đại cương khoa học quản lý giáo dục” thì quản lý có bốn chức năng cơ bản:

Chức năng kế hoạch hóa: Kế hoạch hóa là một chức năng quản lý.“Kế hoạch hóa có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó”[7,12]. Đây là chức năng cơ bản nhất của quản lý, là bước soạn thảo và thông qua được những quyết định về chủ trương, mục tiêu và cách thức quản lý quan trọng.

Chức năng tổ chức: “Tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức”[7, 13]. Như vậy, chức năng tổ chức là chức năng để thực hiện các chủ trương, kế hoạch, các quyết định bằng cách xây dựng cấu trúc tổ chức của đối tượng quản lý, xây dựng mạng lưới quan hệ tổ chức tuyển lựa, phân công, sắp xếp bồi dưỡng cán bộ, nhằm hiện thực hóa mục tiêu.

Chức năng chỉ đạo: “Chỉ đạo là quá trình liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức”[7,13]. Chức năng chỉ đạo (lãnh đạo) là chức năng nhằm chỉ dẫn, vận động điều chỉnh và phối hợp với các lực lượng tích cực chủ động theo sự phân công và kế hoạch đã định.

Chức năng kiểm tra, đánh giá: là chức năng nhằm thực hiện việc xem xét tình hình thực hiện công việc, đối chiếu với yêu cầu để có cơ sở đánh giá và tiến hành những hoạt động điều chỉnh nhằm giúp cho đối tượng đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức.

Nếu nhà quản lý nắm vững điều kiện khách quan, đối tượng quản lý thì sẽ đưa ra được những kế hoạch tốt nhất, những phương pháp phù hợp nhất và tổ chức thực hiện kế hoạch với hiệu quả cao nhất và ngược lại nếu nhà quản lý không nắm được nguyên tắc quản lí, đối tượng quản lý, những yếu tố ảnh hưởng đến kế hoạch thì kết quả thu được sẽ rất thấp.

1.3.2. Quản lý HĐNGLL theo định hướng giáo dục KNS Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở học sinh trung học.

Quản lý tồn tại như một tất yếu khách quan từ khi loài người xuất hiện và ngày nay đã trở thành một khoa học, có vai trò quyết định đến sự thành công hay thất bại ở mọi lĩnh vực.

Quản lý hoạt động GDNGLL là quản lý về mục tiêu giáo dục, kế hoạch giáo dục, quá trình giáo dục, quản lý công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện HĐNGLL. Việc quản lý hoạt động GDNGLL được tiến hành ngoài giờ học trên lớp trong phạm vi nhà trường. Hoạt động này diễn ra ở các tháng trong suốt năm học.

1.3.2.1. Nội dung giáo dục KNS cho HS thông qua hoạt động GDNGLL “Giáo dục KNS cho HS THCS là giáo dục những kĩ năng cốt lõi cần hình thành và phát triển ở các em. Theo chương trình Bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS của Bộ giáo dục và đào tạo năm 2013, nội dung GDKNS cho HS THCS gồm các kĩ năng sống cơ bản như sau:

Kĩ năng tự nhận thức: là khả năng con người có thể ý thức rõ ràng về cảm xúc, tính cách, quan điểm giá trị và động cơ, hiểu biết và chấp nhận những tố chất vốn có để phát huy điểm mạnh, hạn chế những điểm yếu nhằm tổ chức tốt cuộc sống và cải thiện mối quan hệ của mình với mọi người

Kĩ năng giao tiếp: là một trong những kĩ năng mềm cực kỳ quan trọng rong thế kỷ XXI, là một tập hợp những quy tắc nghệ thuật, cách ứng xử, đối đáp, được đúc rút qua kinh nghiệm thực tế hàng ngày giúp mọi người giao tiếp hiệu quả thuyết phục hơn khi áp dụng thuần thục kỹ năng giao tiếp

Kĩ năng lắng nghe tích cực: là kỹ năng quan trọng trong việc phát triển mối quan hệ thông qua giao tiếp, tạo sự đồng cảm, thể hiện sự chấp nhận và thông cam với vấn đề của người nói.

Kĩ năng xác định giá trị: là khả năng xác định giá trị của bản thân mình để sống và hành động theo giá trị đó.

Kĩ năng kiểm soát cảm xúc: Kĩ năng kiểm soát cảm xúc giúp các em học sinh kiềm chế bản thân khi tức giận, mất bình tĩnh, giúp các em tự tin sống vui, khỏe mỗi ngày.

Kĩ năng ra quyết định: là một loạt các kết luận và hoạt động của bản thân để đưa ra một quyết định đảm bảo đạt được một kết quả nào đó theo mong muốn của bản thân. Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở học sinh trung học.

Kĩ năng hợp tác: là khả năng bản thân mỗi người biết gánh vác, chia sẻ trách nhiệm và cùng làm việc với một nhóm người để công việc đó mang lại hiệu quả cao.

Kĩ năng ứng phó với căng thẳng: Khi gặp tình huống gây căng thẳng mỗi người cần biết ứng phó một cách tích cực, có hiệu quả, phù hợp với điều kiện bản thân.

Kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ: Trong cuộc sống, nhiều khi chúng ta gặp những vấn đề, tình huống phải cần đến sự hỗ trợ, giúp đỡ của những người khác, giữ bình tĩnh khi gặp sự cố, không sợ hãi và tìm kiếm, đề nghị sự giúp đỡ của người khác.

Kĩ năng thể hiện sự tự tin: Tự tin là có niềm tin vào bản thân; tự hài lòng với bản thân; tin rằng mình có thể trở thành một người có ích và tích cực, có niềm tin về tương lai, cảm thấy có nghị lực để hoàn thành các nhiệm vụ.

Kĩ năng thể hiện sự cảm thông: là khả năng mỗi người có thể hình dung và đặt mình vào hoàn cảnh của người khác, giúp chúng ta hiểu và chấp nhận người khác vốn là những người rất khác mình, qua đó chúng ta có thể hiểu rõ cảm xúc và tình cảm của người khác và cảm thông với hoàn cảnh hoặc nhu cầu của họ

Nội dung GDKNS ở trong từng bậc học có các biểu hiện khác nhau thay đổi theo lứa tuổi, theo kinh nghiệm xã hội, theo trình độ học vấn của từng cá nhân người học. Mỗi KNS có những cách thức hình thành và phát triển chuyên biệt khác nhau.

Các KNS có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và hỗ trợ nhau phát triển tuy rằng khác nhau: hướng nội, hướng ngoại. Khi người học đã giải quyết một vấn đề nào đó thì họ cũng tự nhận thức về bản thân rõ hơn, tự tin mạnh mẽ hơn trong cuộc sống.

Nội dung GDKNS ở trong từng bậc học có các biểu hiện khác nhau thay đổi theo lứa tuổi, theo kinh nghiệm xã hội, theo trình độ học vấn của từng cá nhân người học. Mỗi KNS có những cách thức hình thành và phát triển chuyên biệt khác nhau.

Các KNS có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và hỗ trợ nhau phát triển tuy rằng khác nhau: hướng nội, hướng ngoại. Khi người học đã giải quyết một vấn đề nào đó thì họ cũng tự nhận thức về bản thân rõ hơn, tự tin mạnh mẽ hơn trong cuộc sống.

1.3.2.2. Những chủ đề hoạt động GDNGLL có thể giáo dục KNS cho học sinh Tất cả các chủ điểm hoạt động GDNGLL đều có thể giáo dục KNS cho học sinh, cụ thể như các chủ điểm: Truyền thống nhà trường; chăm ngoan học giỏi; tôn sư trọng đạo; uống nước nhớ nguồn; mừng Đảng mừng xuân; tiến bước lên đoàn; hòa bình hữu nghị; Bác Hồ kính yêu.

Có thể lồng ghép một số nội dung giáo dục vào HĐ GDNGLL theo định hướng giáo dục KNS cho HS để giúp cho các em tránh xa những tiêu cực của xã hội, biết khẳng định bản thân, yêu thương cảm thông chia sẻ với người khác như

  • Giáo dục về Quyền trẻ em;
  • Giáo dục phòng chống HIV/AIDS, ma tuý và các tệ nạn xã hội;
  • Giáo dục môi trường; bảo vệ môi trường
  • Giáo dục trật tự an toàn giao thông; chấp hành luật giao thông khi tham gia giao thông
  • Những hoạt động hưởng ứng phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, HS tích cực”;
  • Hoạt động theo những yêu cầu về chính trị văn hóa của địa phương, đất nước

1.4. Nội dung quản lý hoạt động GDNGLL theo định hướng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THCS

1.4.1. Quản lí việc xây dựng kế và việc giám sát thực hiện kế hoạch

Hiệu trưởng quản lí việc xây dựng kế hoạch như việc ra quyết định thành lập ban chỉ đạo, xác định con đường, biện pháp cách thức khả thi để thực hiện hoạt động NGLL theo định hướng giáo dục KNS. Xác định và đảm bảo các nguồn lực để nhà trường thực hiện hoạt động NGLL như ai sẽ tổ chức hoạt động và hướng dẫn học sinh hoạt động, chương trình hoạt động ra sao hay tài chính và cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động này như thế nào Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở học sinh trung học.

Hiệu trưởng giám sát việc thực hiện kế hoạch thông qua các tổ chuyên môn, ban giám hiệu.

1.4.2. Quản lí việc đào tạo bồi dưỡng đội ngũ giáo viên thực hiện hoạt động GDNGLL theo định hướng giáo dục KNS

Người Hiệu trưởng nhận thức tầm quan trọng của việc đào tạo bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tham gia tổ chức hoạt động NGLL. Hiệu trưởng tạo điều kiện cho giáo viên được tập huấn về công tác tổ chức hoạt động NGLL với nhiều hình thức khác nhau như gửi GV đi tập huấn, yêu cầu GV dự giờ HĐNGLL ở một số trường điển hình.

1.4.3. Quản lý cơ sở vật chất phục vụ hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp theo định hướng giáo dục kĩ năng sống

Trang thiết bị cho hoạt động GDNGLL cần phải được Hiêu trưởng cần quản lý sát sao và mang lại hiệu quả cho người học

Về tài liệu: Sách hướng dẫn HĐ GDGNLL là cẩm nang dành cho BGH, GVCN, Cán bộ Đoàn Đội. Trong thư viện nhà trường cần phải có đầy đủ các loại sách tham khảo, bổ trợ cho các môn học như sách giáo dục đạo đức, pháp luật; tài liệu tập huấn, các bộ sách tham khảo, băng đĩa về giáo dục KNS cho học sinh…để giáo viên lựa chọn các nội dung cho các hoạt động.

Về trang thiết bị: Cũng như trong dạy học các môn, HĐ GDNGLL theo định hướng giáo dục KNS rất cần có CSVC, kỹ thuật để hoạt động đạt được hiệu quả mong muốn. Cơ sở vật chất như loa đài, sân khấu, máy chiếu… sẽ làm tăng tính hấp dẫn và hiệu quả của hoạt động. Thiết bị tối thiểu để tổ chức HĐ GDGNLL cần có như đài, đầu video, đàn, micro…

Việc đầu tư kinh phí cho hoạt động cũng là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của hoạt động. Vì vậy người hiệu trưởng cần có sự quan tâm đúng mức về các điều kiện CSVC cũng như kinh phí thì hoạt động GDNGLL theo định hướng GDKNS cho HS mới đạt hiệu quả theo mục tiêu đã xác định.

1.4.4. Quản lý các hình thức và phương pháp giáo dục ngoài giờ lên lớp theo định hướng giáo dục kĩ năng sống

Để đạt được mục tiêu giáo dục là hình thành và phát huy tính năng động, sáng tạo để nhận biết và vượt qua những khó khăn trong cuộc sống hàng ngày, các hình thức và phương pháp tiến hành hoạt động GDNGLL theo định hướng giáo dục KNS phải thường xuyên đổi mới theo hướng coi trọng người học, coi người học là chủ thể của hoạt động, khuyến khích các HĐ học tập tích cực, chủ động, sáng tạo của người học trong quá trình dạy học là rất cần thiết.

1.4.5. Quản lý sự tham gia của các lực lượng giáo dục ngoài giờ lên lớp theo định hướng giáo dục kĩ năng sống Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở học sinh trung học.

Hiện nay, đội ngũ giáo viên chuyên trách dạy GDNGLL được đào tạo chính quy vừa thiếu lại vừa yếu. Các trường phải huy động đội ngũ GVCN và cán bộ phụ trách công tác Đoàn, Đội để thực hiện nhiệm vụ này.

Vì vậy việc quản lý đội ngũ tham gia GDNGLL theo định hướng giáo dục KNS của người Hiệu trưởng phải hết sức được chú trọng. Người Hiệu trưởng phải quản lý chặt chẽ các lực lượng tham gia hoạt động, cụ thể như: Việc triển khai hoạt động trong từng lớp như thế nào? Có làm đúng chương trình, nội dung, hình thức hay không? Năng lực, hiệu quả của đội ngũ trong việc thực hiện hoạt động như thế nào? Việc sắp xếp bố trí đội ngũ có đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ không?

Người Hiệu trưởng cũng cần quản lý tốt việc phối hợp, huy động các lực lượng GD trong và ngoài nhà trường để tổ chức tốt hoạt động GDNGLL theo định hướng GD KNS, thực hiện tốt xã hội hóa giáo dục, tạo môi trường GD tốt nhất cho học sinh.

1.4.6. Quản lí việc tổ chức triển khai hoạt động GDNGLL theo định hướng giáo dục KNS

Hiệu trưởng quản lí tổ chức triển khai hoạt động NGLL theo định hướng giáo dục KNS thông qua việc hình thành mối quan hệ giữa các bộ phận đoàn thể, các thành viên trong nhà trường nhằm thực hiện thành công kế hoạch hoạt động NGLL đã đề ra. Bên cạnh đó Hiệu trưởng còn phân phối và sắp xếp các thành viên trong nhà trường theo các vị trí công việc phù hợp với năng lực nhằm thực hiện hoạt động NGLL một cách hiệu quả theo mục tiêu kế hoạch đã đề ra. Hiệu trưởng tạo nên sức mạnh, thu hút các thành viên trong nhà trường và khai thác được mọi nguồn lực vào hoạt động NGLL để đạt hiệu quả cao nhất. Phân công thực hiện giảng dạy: TPT, GVCN….Phân công theo dõi đôn đốc các hoạt động: BGH, tổ CM. Bên cạnh đó kết hợp với Đoàn thanh niên phối hợp tổ chức các hoạt động lớn như kỉ niệm ngày 26/3, ngày nhà giáo Việt Nam 20/11. Tạo điều kiện về kinh phí để nhà trường thực hiện hoạt động một cách khả thi

1.4.7. Quản lí chỉ đạo thực hiện hoạt động GDNGLL theo định hướng giáo dục KNS

Hiệu trưởng đa dạng hóa môi trường hoạt động, các hình thức tổ chức hoạt động sẽ huy động được tối đa các nguồn lực cho hoạt động GDNGLL theo định hướng GDKNS cho học sinh, đặc biệt là sự ủng hộ của cha mẹ học sinh, của các nhà hảo tâm, các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường. Phối hợp chặt chẽ các lực lượng giáo dục gia đình, nhà trường, xã hội tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động GDNGLL theo định hướng giáo dục KNS cho học sinh. Đầu tư cơ sở vật chất và tạo nguồn kinh phí phục vụ hoạt động giáo dục NGLL theo định hướng giáo dục KNS cho học sinh. Phân cấp quản lí cho các thành viên trong BGH và các tổ chuyên môn

1.4.8. Quản lý kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục ngoài giờ lên lớp theo định hướng giáo dục kĩ năng sống

Việc kiểm tra đánh giá chất lượng giáo dục một cách khách quan, chân thực sẽ giúp đưa chất lượng giáo dục nâng lên đáp ứng với mục tiêu giáo dục. Sản phẩm hoàn thiện của giáo dục bao gồm đầy đủ có đạo đức, kiến thức văn hóa và kỹ năng sống. Hình thức kiểm tra đánh giá được đổi mới như cách thức thi, cách xếp loại hạnh kiểm

Sau mỗi chủ điểm hay sau mỗi đợt sinh hoạt chuyên đề, người hiệu trưởng, các cán bộ phụ trách hoạt động đều phải đánh giá kết quả hoạt động của từng HS ở các mức độ và khía cạnh khác nhau. Để việc đánh giá được khách quan, cần phải có một thang chuẩn đánh giá, theo một quy trình chặt chẽ và khoa học, đánh giá qua nhiều kênh khác nhau như bản thân HS tự đánh giá, tổ đánh giá xếp loại, lớp đánh giá, GV đánh giá. Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở học sinh trung học.

Hiệu trưởng quản lý tốt việc đánh giá HS qua hoạt động GDNGLL sẽ góp phần đánh giá chất lượng giáo dục nói chung đặc biệt là hạnh kiểm và KNS của các em hiện nay. Bản thân HS nhìn thấy rõ ưu điểm, nhược điểm của mình để từ đó nỗ lực, phấn đấu. Đối với giáo viên, kết quả đánh giá phản ánh sự trưởng thành của HS và giúp giáo viên đánh giá khả năng, hiệu quả tổ chức hoạt động của mình, giúp GV tự rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, bồi dưỡng nâng cao năng lực giáo dục học sinh.

1.5. Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GDNGLL theo định hướng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THCS

1.5.1. Đặc điểm tâm lý- xã hội của lứa tuổi HS THCS

HS THCS bao gồm các em có độ tuổi 11, 12, đến 14, 15 tuổi. Đó là HS từ lớp 6 đến lớp 9, là lứa tuổi thiếu niên, có vị trí đặc biệt trong giai đoạn phát triển của trẻ. Vị trí đặc biệt được thể hiện bằng những tên gọi khác nhau thời kỳ quá độ, tuổi bùng nổ, tuổi bất trị, tuổi khủng hoảng… Những tên gọi không những nói lên tính phức tạp, mà cả tầm quan trọng của lứa tuổi này trong quá trình phát triển con người. Đây là thời kỳ chuyển từ tuổi nhi đồng sang tuổi thiếu niên, sự chuyển tiếp tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt về mọi mặt, đó là sự hình thành cấu tạo tâm lí mới, sự biến đổi về cơ thể, sự phát triển ý thức, trong các mối quan hệ giữa các em với các em cùng lứa tuổi và các em với người lớn. Sự thay đổi hoạt động học tập, hoạt động xã hội, và xuất hiện những biểu hiện bắt đầu của tuổi trưởng thành. Cụ thể:

Về sinh lý: Sự phát triển quan trọng nhất của cơ thể là sự biến đổi về yếu tố sinh dục, làm cho cơ thể các em phát triển mất cân đối dẫn đến sự thay đổi về mặt tâm lý thích được làm người lớn, muốn được người lớn tôn trọng, dễ xúc động và dễ bị kích động. Hoạt động thần kinh không cân bằng, phần hưng phấn chiếm ưu thế hơn so với phần ức chế, đây là đặc điểm quá độ, phức tạp và có nhiều mâu thuẫn trong sự phát triển tâm lí cũng như sinh lí ở lứa tuổi này, cơ thể phát triển, trưởng thành nhanh nhưng chưa ổn định.

Vị trí của các em ở gia đình, xã hội thay đổi hẳn, tình cảm có những nét đặc biệt, dễ vui, dễ buồn, dễ hăng say, dễ chán nản, muốn hiểu biết nhiều, và muốn làm được nhiều việc lớn nhưng vì khả năng còn hạn chế nên dễ nảy sinh mâu thuẫn giữa ước mơ và năng lực. Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở học sinh trung học.

Đối với thầy cô, các em cũng có quan hệ khác trước. Các em được học nhiều môn học, nhiều thầy cô giảng dạy. Mỗi thầy cô có một phong cách khác nhau, ảnh hưởng tới tình cảm và nhận thức của các em. Giao tiếp của các em với người lớn và với bạn bè cũng khác trước. Các em có nhu cầu cao hơn trong việc giao tiếp với bạn bè. Vì vậy có thể ở lứa tuổi này hoạt động giao tiếp là hoạt động chủ đạo, trong quá trình giáo dục cho HS ở lứa tuổi này cần lưu ý đến những hoạt động nhóm bạn mà HS tham gia.

Lứa tuổi thiếu niên là lứa tuổi hồn nhiên, bồng bột, sôi nổi, thích hoạt động, nhưng khả năng còn hạn chế. Vì vậy, giáo dục ở lứa tuổi này cần hình thành nhận thức, niềm tin, những hành vi thói quen chuẩn mực cho học sinh, cần chú ý đến tính tự giác để phát huy khả năng tự giáo dục của học sinh.

Các thầy cô giáo cần định hướng hoạt động cho các em. Hoàn cảnh xã hội ảnh hưởng lớn đến sự phát triển tâm sinh lý và hình thành nhân cách của các em, do đó cần chú ý đến môi trường giáo dục lành mạnh, không để các em bị tác động xấu ngoài xã hội, cần lựa chọn phương thức hoạt động phù hợp với đặc điểm lứa tuổi này, hiệu quả giáo dục mới cao.

1.5.2. Trình độ, năng lực đội ngũ giáo viên đối với hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp theo định hướng giáo dục kĩ năng sống

Trong giai đoạn hiện nay đội ngũ giáo viên giảng dạy ở các trường THCS đều có trình độ từ cao đẳng sư phạm trở lên, trong đó đa số giáo viên đã có trình độ Đại học và một số có trình độ sau đại học.

Trình độ, năng lực của đội ngũ giáo viên là yếu tố nòng cốt quyết định thành công của hoạt động GDNGLL theo định hướng giáo dục KNS.

Trong thực tế thấy rằng chất lượng giáo dục được tạo nên bởi rất nhiều các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động dạy học, trong đó yếu tố giáo viên là quan trọng, giáo viên là người tổ chức hướng dẫn học sinh mọi hoạt động. Thành công của giáo dục có được hay không là do người giáo viên.

1.5.3. Sự tham gia của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường

Các lực lượng giáo dục trong nhà trường gồm có các cán bộ quản lý, các thầy cô giáo, cán bộ công nhân viên, các tổ chức đoàn thể trong nhà trường như Đoàn thanh niên và Đội thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh. Đây là lực lượng tiếp xúc hàng ngày đối với học sinh, tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục đối với HS nên có tác động và ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động GDNGLL theo định hướng GDKNS cho học sinh. Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở học sinh trung học.

Các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường như gia đình, các tổ chức chính trị xã hội,…là lực lượng có ảnh hưởng lớn đến việc hình thành các kĩ năng và sự phát triển nhân cách của trẻ. Gia đình là nơi rèn cho các em các kĩ năng tự phục vụ bản thân, kĩ năng giao tiếp, giúp trẻ trở nên tự tin, biết sống tự chủ, độc lập và thận trọng, biết cảm thông chia sẻ… Gia đình là nơi hình thành những nét cá tính của trẻ, những cách cư xử như quá nuông chiều, quá dễ dãi hay quá nghiêm khắc đều có ảnh hưởng không tốt đến việc rèn luyện KNS cho trẻ.

Các tổ chức chính trị xã hội, các đoàn thể của địa phương là các lực lượng phối kết hợp giáo dục HS trong cộng đồng xã hội. Chất lượng của các hoạt động giáo dục luôn là kết quả của sự phối kết hợp của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường.

1.5.4. Nhận thức của hiệu trưởng và các lực lượng giáo dục

Nhận thức của Hiệu trưởng và các lực lượng giáo dục đối với hoạt động GDNGLL theo định hướng giáo dục KNS cho HS THCS được đánh giá bởi các vấn đề như: Nhận thức của Hiệu trưởng và các lực lượng giáo dục về tầm quan trọng và sự cần thiết của việc giáo dục KNS cho HS thông qua hoạt động GDNGLL; ý nghĩa vai trò của hoạt động GDNGLL theo định hướng GDKNS; nhận thức về vai trò và trách nhiệm của hiệu trưởng và mỗi bộ phận trong việc quản lý và tổ chức hoạt động GDNGLL theo định hướng GDKNS cho học sinh.

Thực tế cho thấy trình độ nhận thức của các lực lực lượng tham gia quản lý và giáo dục là không như nhau, có sự cập lệch nên sự tham gia vào HĐ GDNGGLL theo định hướng GD KNS của các lực lượng sẽ không đồng đều như nhau. Vì vậy đòi hỏi nhà quản lý mà chủ đạo là người hiệu trưởng cần có sự tuyên truyền, vận động, hướng dẫn, động viên khuyến khích kịp thời tới các lượng lượng tham gia quản lý và tổ chức các hoạt động giáo dục thì hoạt động GDNGLL theo định hướng GDKNS cho HS mới có hiệu quả và nâng tầm, đáp ứng được mục tiêu GD.

1.5.5. Nội dung chương trình hoạt động

Hoạt động GDNGLL được phân phối theo chương trình của Bộ giáo dục và Đào tạo đã ban hành và đi vào giảng dạy cho từng khối lớp (từ khối 6 – khối 9), cụ thể như sau:

Hoạt động GDNGLL theo định hướng GDKNS cho HS phải bám sát với nội dung chương trình của hoạt động GDNGLL được ban hành. Trong đó người Hiệu trưởng là trưởng ban điều hành hoạt động, hiệu trưởng phải nắm vững các chủ điểm giáo dục hàng tháng, có sự gợi ý hướng dẫn để tích hợp nội dung GD KNS với các chủ điểm cho phù hợp và hiệu quả.

Bên cạnh nội dung và tài liệu GDNGLL ban hành, các nhà trường cần phải có các tài liệu chính thống về hoạt động giáo dục KNS cho học sinh, các sách hướng dẫn tổ chức hoạt động GSKNS, băng đĩa, các hình thức tổ chức GDNGLL theo định hướng GDKNS cho phù hợp với điều kiện từng trường. Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở học sinh trung học.

1.5.6. Cơ sở vật chất của nhà trường

Điều kiện CSVC, kỹ thuật, tài chính phục vụ cho các hoạt động GDNGLL diễn ra ở trên lớp, trong nhà trường và ngoài xã hội, bao gồm nhiều hình thức phong phú, đa dạng: vui chơi giải trí, văn nghệ, thể dục thể thao, tham quan dã ngoại, câu lạc bộ giải trí, các cuộc thi trí tuệ, bơi lội… Điều kiện để hoạt động hiệu quả là lớp học, sân bãi, hội trường… và tài chính chi phí tổ chức hoạt động, do đó cần có biện pháp xây dựng điều kiện hoạt động, một vài biện pháp cần thiết như sau:

  • Cải tạo điều kiện sẵn có như: sân chơi, lớp học, phòng thí nghiệm, phòng bộ môn, thư viện, thiết bị, và sử dụng phù hợp với từng hoạt động.
  • Huy động khả năng đóng góp của xã hội.
  • Trang bị phương tiện cần thiết.
  • Xây dựng kế hoạch phát triển lâu dài.

1.5.7. Phương pháp kiểm tra đánh giá và cơ chế động viên khen thưởng

Đánh giá để khẳng định sự phát triển của HS về mặt nhận thức, về năng lực được rèn luyện, và mức độ trưởng thành về mặt nhân cách của học sinh, từ đó định hướng cho hoạt động. Khích lệ sự phấn đấu vươn lên mạnh mẽ của HS về học tập và rèn luyện đạt kết quả theo mục tiêu đặt ra, kiểm tra đánh giá giúp nhà trường thu thập thông tin để có cơ sở điều chỉnh nội dung hoạt động.

Kiểm tra đánh giá hoạt động GDNGLL theo định hướng GDKNS cần tiến hành theo quy trình cụ thể, thực hiện thường xuyên và có định kỳ, kiểm tra trong khi đang thực hiện để đánh giá mức độ thực hiện và có thể điều chỉnh kịp thời kế hoạch hoạt động.

Kiểm tra đánh giá kết hợp với tổng kết thi đua khen thưởng động viên khích lệ kịp thời là yếu tố quan trọng giúp thầy và trò phấn đấu nỗ lực hơn.

Tiểu kết chương 1 Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở học sinh trung học.

Hoạt động GDNGLL có vị trí và vai trò quan trọng trong giáo dục phổ thông nói chung và trong các trường THCS nói riêng. GDNGLL theo định hướng giáo dục KNS là hoạt động giáo dục có mục đích, có kế hoạch, được tổ chức thực hiện trong các hoạt động GDNGLL nhằm rèn luyện cho HS những phẩm chất, năng lực, những KNS cơ bản, thói quen tư duy thông qua các hoạt động thực tiễn về khoa học, kỹ thuật, lao động, văn hóa, nghệ thuật và vui chơi giải trí. Các em được rèn luyện thể chất, bồi dưỡng tình cảm lành mạnh đối với các mối quan hệ bạn bè, cha mẹ thầy cô và đặc biệt nắm bắt được các KNS xử lý các tình huống trong cuộc sống và trong các mối quan hệ xã hội khác.

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp theo định hướng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS. Trong đó, chủ yếu là các yếu tố thuộc về đặc điểm học sinh THCS và các điều kiện cụ thể về chương trình, điều kiện cụ thể của trường THCS. Bên cạnh đó là nhận thức, sự quan tâm và năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, các lực lượng giáo dục tham gia vào hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và giáo dục kỹ năng sống cho các em.

Quản lý hoạt động GDNGLL là quản lý mục tiêu và nội dung, QL việc xây dựng kế hoạch, thực hiện chương trình, nội dung từng chủ đề, QL việc đào tạo và bồi dưỡng giáo viên, QL phương pháp giảng dạy, QL CSVC, thiết bị và đồ dùng dạy học, QL kiểm tra đánh giá hoạt động GDNGLL. Thông qua đó có cơ sở giúp tác giả phân tích thực trạng QL của hiệu trưởng các trường THCS huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ để đề xuất ra một số biện pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng quản lý hoạt động GDNGLL theo định hướng GDKNS cho học sinh nhằm đáp ứng yêu cầu giáo dục phát triển toàn diện con người Việt Nam. Luận văn: Quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp ở học sinh trung học.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *