Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Vai trò của Tòa án trong giải thích pháp luật hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Vai trò của Tòa án trong giải thích pháp luật dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
- Lý luận về giải thích pháp luật là một bộ phận quan trọng của khoa học pháp lý, được tổng kết từ thực tiễn giải thích pháp luật ở nhiều nước, có tính phổ biến, có giá trị hướng dẫn và thúc đẩy hoạt động giải thích pháp luật ở mỗi quốc gia. Việc giải thích pháp luật có hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào chủ thể giải thích pháp luật. Tuy nhiên, ở Việt Nam, chủ thể về giải thích pháp luật chưa được quan tâm đúng mức, chưa có điều kiện chính thức để nhận quyền giải thích pháp luật.
- Hoạt động giải thích pháp luật ở nước ta do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thực hiện theo quyền hạn, thực sự chưa đáp ứng được nhu cầu. Pháp luật Việt Nam không trao quyền giải thích pháp cho Tòa án nhưng để thực hiện chức năng xét xử của mình, Tòa án nhân dân Tối cao đã tham gia vào hoạt động giải thích pháp luật một cách có hiệu quả. Trong những năm qua, Tòa án có vị trí, vai trò nhất định trong hoạt động giải thích pháp luật.
- Nước ta đang đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền và Cải cách tư pháp theo những yêu cầu và mục tiêu chiến lược đã được hoạch định. Trao quyền giải thích pháp luật cho Tòa án là một trong những biện pháp bảo đảm cho sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa.
- Hiện nay, việc trao quyền giải thích pháp luật cho Tòa án đang có nhiều tranh cãi cả về mặt thực tiễn và lý luận
Xuất phát từ những lý do trên, đề tài “ Vai trò của Tòa án trong giải thích pháp luật” ở Việt Nam hiện nay là một đề tài nghiên cứu có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2. Tình hình nghiên cứu
Trong những năm gần đây, có một số đề tài, công trình nghiên cứu giải thích pháp luật, giải thích hiến pháp với mục đích, góc độ phạm vi tiếp cận khác nhau trong đó ít nhiều đề cập đến vấn đề học viên đang nghiên cứu.
Tìm hiểu lịch sử pháp luật Việt Nam cho thấy, hoạt động giải thích pháp luật đã được ghi nhận từ rất sớm, từ năm 1959. Tòa án thường xuyên giải thích pháp luật thông qua hoạt động của mình song không được thừa nhận chính thức. Nhưng cho đến nay, với nhiều lý do, tình hình triển khai hoạt động này của chủ thể được trao quyền trên thực tế là còn rất hạn chế. Mới một lần duy nhất UBTVQH (sau đây viết tắt là UBTVQH) thực hiện thẩm quyền này. Vì vậy, về mặt nghiên cứu, chưa có bất cứ một luận văn, luận án nào đề cập trực tiếp đến vấn đề này. Có một số bài viết, bài báo, công trình nghiên cứu, đề tài khoa học có đề cập. Nhưng số lượng không nhiều và phạm vi đề cập thì còn rất hạn chế. Có thể kể đến một số bài viết, bài báo, công trình nghiên cứu hay đề tài khoa học liên quan đến hoạt động giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh sau đây:
- Một số bài viết Luận văn: Vai trò của Tòa án trong giải thích pháp luật.
Luận án tiến sĩ Luật học “Giải thích pháp luật ở Việt Nam hiện nay” của Phạm Thị Duyên Thảo năm 2012; “Thẩm quyền của UBTVQH về giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh”, “Về quyền lập pháp của Quốc hội” của TS. Hoàng Văn Tú, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 5/2000 và số 11/2002; “Bàn về UBTVQH”, “Sự chuyển biến chức năng của Nghị viện”, “Sự hạn chế của quyền lực Nhà nước”, “thể chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền” PGS.TS Nguyễn Đăng Dung, Tạp chí Khoa học/ Kinh tế – Luật trường Đại học Quốc gia Hà Nội, số 2/2003 và số 2/2005; “Giải thích luật các nước theo hệ thống thông luật” Nguyễn Thuý Hà, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 5 T6/2001; “Thẩm quyền của các cơ quan bảo hiến ở các nước” Nguyễn Đức Lam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 9/2001…;
- Một số cuốn sách
“Hiến pháp những vấn đề lý luận và thực tiễn” – Nxb ĐHQG Hà Nội 2011; Chủ biên: PGS, TS Nguyễn Đăng Dung, PGS, TS Phạm Hồng Thái, PGS-TS Phạm Công Giao; “Thể chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền”, PGS, TS Nguyễn Đăng Dung (Chủ biên), Nxb Tư pháp, Hà Nội năm 2004; “Cơ chế bảo hiến”, Đặng Văn Chiến (Chủ biên), Phó trưởng Ban công tác lập pháp. Nxb Tư pháp, Hà Nội năm 2005; “Quy trình, thủ tục trong hoạt động của Quốc hội”, Ban Công tác lập pháp, Hà nội 2005; “Góp phần nghiên cứu Hiến pháp và nhà nước pháp quyền”, Ths Bùi Ngọc Sơn, Nxb Tư pháp, Hà Nội năm 2005…; “Quyền lực chính trị, quyền lực Nhà nước và yêu cầu về kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực”, GS Đào Trí Úc
- Đề tài khoa học
Đề tài khoa học cấp bộ của Văn phòng Quốc hội: “Đổi mới và hoàn thiện quy trình lập pháp của Quốc hội và ban hành pháp lệnh của UBTVQH” (mã số: 99 – 98 – 169 năm 2001) do ông Vũ Mão làm Chủ nhiệm; Đề tài khoa học “Cơ sở lý luận và thực tiễn của thẩm quyền giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh của UBTVQH”, Mã số: 94-98-106/ĐT của Vụ Pháp luật, Văn phòng Quốc hội, do TS. Nguyễn Văn Thuận, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban pháp luật của Quốc hội làm Chủ nhiệm.
Trên cơ sở kế thừa và phát triển những kết quả của các bài viết, bài báo, công trình nghiên cứu và đề tài khoa học trên, Luận văn là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện dưới góc độ lý luận nhà nước và pháp luật về vai trò của Tòa án trong giải thích pháp luật.
3. Mục đích và nhiệm vụ Luận văn: Vai trò của Tòa án trong giải thích pháp luật.
Luận văn có mục đích tổng quát là nghiên cứu các nội dung, tình hình thực tiễn của tòa án trong hoạt động giải thích pháp luật; đề xuất các giải pháp hoàn thiện để cho hoạt động này đi vào cuộc sống và đạt hiệu quả cao, góp phần tăng cường pháp chế và bảo vệ trật tự pháp luật.
Với mục đích nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ cơ bản sau đây:
- Xây dựng và làm rõ các khái niệm và nội dung có liên quan; tìm hiểu nội dung các quy định của pháp luật, cách thức tiến hành ở một số nước trên thế giới để tìm ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Từ đó, xây dựng cơ sở lý luận của hoạt động giải thích pháp luật
- Đánh giá thực trạng cơ sở pháp lý và tình hình thực hiện hoạt động giải thích pháp luật ở Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử để tìm ra những tồn tại và nguyên nhân; xây dựng cơ sở thực tiễn của hoạt động giải thích pháp luật của Tòa án
- Đề xuất những quan điểm, giải pháp và kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện hoạt động giải thích pháp luật của tòa án ở nước ta hiện nay, phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội và chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân
4. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của luận văn
Là một đề tài thuộc chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật nên Luận văn tập trung vào các vấn đề sau:
- Lý luận về giải thích pháp luật pháp luật
- Hoạt động giải thích pháp luật của chủ thể là cơ quan lập pháp, hành pháp và Tòa án
- Giải pháp đảm bảo vai trò giải thích pháp luật của Tòa án ở Việt Nam
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được xây dựng trên phương pháp nghiên cứu nền tảng là phương pháp luận của triết học Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; các nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử; các nguyên tắc của lý luận về nhà nước và pháp luật, các quan điểm của Đảng về nhà nước và pháp luật trong thời kỳ đổi mới. Do đó, phương pháp nghiên cứu của luận văn bao gồm: Luận văn: Vai trò của Tòa án trong giải thích pháp luật.
- Sử dụng phương pháp tổng hợp để tổng hợp, phân tích các thông tin, tư liệu liên quan đến nội dung nghiên cứu;
- Sử dụng phương so sánh, đối chiếu để so sánh, đối chiếu các quy định của pháp luật với thực tiễn hoạt động, các quy định của pháp luật nước ngoài với pháp luật Việt Nam;
- Sử dụng phương pháp thống kê và điều tra xã hội học và khảo sát thực tiễn để hình thành các quan điểm và số liệu cụ thể trong nội dung luận văn.
6. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Một là: Luận văn là công trình khoa học đầu tiên xây dựng cơ sở lý luận một cách toàn diện về hoạt động giải thích pháp luật. Lần đầu tiên hệ thống các khái niệm và nội dung có liên quan đến hoạt động giải thích pháp luật và làm rõ về nội hàm và bản chất một cách đầy đủ và có hệ thống;
- Hai là, Luận văn đã thể hiện một cách có hệ thống và tương đối toàn diện về cơ sở pháp lý cũng như tình hình thực hiện hoạt động giải thích pháp luật của Tòa án qua các giai đoạn lịch sử. Từ đó, thấy được những ưu điểm, tồn tại và nguyên nhân làm cho hoạt động này chưa thật sự được phát huy;
- Ba là, dựa vào những luận chứng, luận cứ và kinh nghiệm đã được rút ra trong quá trình phân tích, Luận văn đã đề xuất những giải pháp toàn diện, cụ thể và có tính khả thi, phù hợp với điều kiện kinh tế – chính trị – xã hội Việt Nam, góp phần tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hoạt động giải thích pháp luật của Tòa án trong thời gian tới.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động giải thích pháp luật của tòa án và có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy; đồng thời, là tài liệu tham khảo cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động xây dựng pháp luật, thực hiện pháp luật và giám sát việc thi hành pháp luật.
8. Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, gồm 2 chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về giải thích pháp luật và vai trò của Tòa án trong giải thích pháp luật
- Chương 2: Thực trạng giải thích pháp luật và Quan điểm, giải pháp đảm bảo vai trò của Tòa án trong giải thích pháp luật ở Việt Nam hiện nay Luận văn: Vai trò của Tòa án trong giải thích pháp luật.
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT VÀ VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN TRONG GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT
1.1. Những vấn đề lý luận cơ bản về giải thích pháp luật
1.1.1 . Khái niệm giải thích pháp luật
Như vậy, có thể đưa ra khái niệm về giải thích pháp luật như sau: Giải thích pháp luật được hiểu là việc làm sáng tỏ về tư tưởng, tinh thần, ý nghĩa và nội dung, mục đích của các quy phạm pháp luật, đảm bảo cho việc nhận thức và thực hiện đúng, thống nhất pháp luật.
1.1.2. Hình thức Giải thích pháp luật
1.1.3. Phương pháp giải thích pháp luật
- 1.1.3.1. Phương pháp giải thích ngôn ngữ, văn phạm.
- 1.1.3.2. Phương pháp giải thích logic
- 1.1.3.3. Phương pháp giải thích chính trị – lịch sử
- 1.1.3.4. Phương pháp giải thích hệ thống
- 1.1.3.5. Giải thích pháp luật theo cách phát triển mở rộng và Giải thích pháp luật theo cách hạn chế.
1.1.4. Chủ thể giải thích pháp luật
- 1.1.4.1. Chủ thể có thẩm quyền giải thích pháp luật là Tòa án
- 1.1.4.2. Chủ thể có thẩm quyền giải thích pháp luật là cơ quan lập pháp
- 1.1.4.3. Chủ thể có thẩm quyền giải thích pháp luật là các cơ quan thuộc cả ba nhánh quyền lực nhà nước gồm: Tòa án, Chính phủ, Tổng thống, các cơ quan hành chính và cả cơ quan lập pháp.
1.1.5. Phạm vi giải thích pháp luật Luận văn: Vai trò của Tòa án trong giải thích pháp luật.
1.1.5.1. Phạm vi giải thích pháp luật
Bất cứ một hoạt động pháp lý nào cũng phải có một phạm vi nhất định, đặc biệt đối với hoạt động có tính nhạy cảm cao như giải thích pháp luật. Nhận thức được phạm vi của hoạt động giải thích pháp luật và điều chỉnh nó theo một chừng mực nhất định là việc cần thiết.
Phạm vi của giải thích pháp luật là các vấn đề được cho phép thực hiện hoạt động giải thích pháp luật. Tức là các vấn đề mà nằm trong đó thì được phép giải thích còn các vấn đề mà không nằm trong đó thì không được phép giải thích. Trong các vấn đề được hoạt động giải thích pháp luật điều chỉnh thì chủ thể của giải thích pháp luật được quyết định, được thể hiện. Phụ thuộc vào từng hệ thống pháp luật, từng chế độ chính trị của từng quốc gia mà các vấn đề được giải thích có những quy định cụ thể để điều chỉnh. Để phạm vi giải thích pháp luật được hiện hữu thì phái có các nguyên tắc giải thích, pháp luật về giải thích, đối tượng, thẩm quyền, giải thích, phương pháp, hình thức giải thích… Và khi có các quy định về giải thích pháp luật thì để giải thích pháp luật phải thực hiện theo đúng như đã được quy định.
1.1.5.2. Ý nghĩa của việc xác định phạm vi giải thích pháp luật
Thứ nhất, Việc xác định phạm vi giải thích pháp luật là để thiết lập tính hợp pháp của hoạt động giải thích. Tính hợp pháp được thể hiện việc chủ thể giải thích là chủ thể được pháp luật quy định. Các chủ thể có thẩm quyền giải thích pháp luật thì các sản phẩm mà các chủ thể đó thực hiện mới có giá trị pháp lý. Sản phẩm đó được ra đời trên cơ sở đã được rút kinh nghiêm, tham khảo từ thực tiễn xã hội, từ hệ thống văn bản pháp luật, từ sự giải thích pháp luật không chính thức, từ các thẩm phán, từ các cuộc hội thảo, tranh luận.
Thứ hai, phạm vi của giải thích pháp luật giúp hạn chế lạm quyền.
Thứ ba, Giải thích pháp luật do Tòa án thực hiện nhằm đảm bảo cho chủ thể áp dụng pháp luật (Thẩm phán) nhận thức, áp dụng và thực hiện pháp luật thống nhất.
Thứ tư, GTPL do Tòa án thực hiện sẽ dần dần xóa bỏ khoảng cách giữa thực tế và pháp luật thành văn.
Thứ năm, GTPL do Tòa án thực hiện sẽ nâng cao ý thức pháp luật của người dân, đồng thời nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật của chủ thể áp dụng pháp luật (Thẩm phán).
Thứ sáu, GTPL do Tòa án thực hiện thể hiện trình độ, giá trị của pháp luật, xã hội mà quốc gia đạt được
1.2. Vị trí, vai trò của Tòa án trong giải thích pháp luật Luận văn: Vai trò của Tòa án trong giải thích pháp luật.
1.2.1. Vị trí của Tòa án trong Bộ máy Nhà nước
Tại Điều 2 Hiến pháp 2013 quy định: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa VIệt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân
Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.
Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”
Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 nêu: “Sau gần hai mươi năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đã có những tiến bộ quan trọng, quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật được đổi mới. Nhiều bộ luật, luật, pháp lệnh được ban hành đã tạo khuôn khổ pháp lý ngày càng hoàn chỉnh hơn để Nhà nước quản lý bằng pháp luật trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại… Nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa từng bước được đề cao và phát huy trên thực tế”
Bộ máy nhà nước ta được tổ chức theo nguyên tắc tập trung quyền lực có sự phân công, phối hợp, kiểm soát chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiên ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Thực hiện quyền tư pháp mà chủ yếu là quyền xét xử là một trong những chức năng rất quan trọng của Nhà nước Việt Nam và được giao cho Toà án nhân dân. Do vậy, Toà án nhân dân có vị trí rất quan trọng trong bộ máy nhà nước. Toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân địa phương, các Toà án quân sự và các Toà án khác do luật định là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Chức năng và thẩm quyền của Toà án được quy định trong Hiến pháp 2013, Luật Tổ chức Toà án nhân dân, Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính và các văn bản pháp luật khác.
Toà án là nơi biểu hiện quyền lực mạnh mẽ nhất, sâu sắc nhất, mọi phán quyết của Toà án có tính cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước. Theo quy định tại Điều 136 HP 1992 quy định: “Các bản án và quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải chấp hành nghiêm chỉnh”. Tại Điều 106 Hiến pháp 2013 đã được sửa đổi như sau: “Bản án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành” Luận văn: Vai trò của Tòa án trong giải thích pháp luật.
Nhà nước luôn tạo ra một hệ thống thiết chế, chế tài hỗ trợ cho bản án,quyết định được thực hiện trong thực tế cuộc sống được quy định trong Hiến pháp – văn bản pháp lý có hiệu lực cao nhất. Và trong Bộ luật hình sự hiện hành có quy định ba tội phạm liên quan đến phán quyết của toà án, đó là tội “không chấp hành án” (Điều 304), tội “không thi hành án” (Điều và tội “cản trở việc thi hành án” (Điều 306).
Toà án là nơi thực hiện chức năng tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật có hiệu quả nhất, bằng việc đưa lên phương tiện thông tin đại chúng các phiên toà xét xử, tổ chức xét xử lưu động ngoài tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung, còn có tác dụng tuyên truyền, giới thiệu, giải thích cho quần chúng nhân dân về pháp luật để mọi người hiểu biết thêm về pháp luật và hướng họ tới “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”. Bằng các hoạt động, Toà án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác.
Toà án có vị trí trung tâm trong các cơ quan tư pháp. Nghị quyết số 49-NQ-TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” đã khẳng định: “Tổ chức các cơ quan tư pháp và các chế định bổ trợ tư pháp hợp lý, khoa học và hiện đại về cơ cấu tổ chức và điều kiện, phương tiện làm việc; trong đó xác định Toà án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trung tâm”, điều này được thể hiện ở các điểm sau:
Toà án là cơ quan xét xử duy nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chỉ có Toà án mới có quyền tuyên bố một người có tội hoặc vô tội và áp dụng hình phạt hoặc các biện pháp tư pháp khác đối với họ;
Toà án xét xử theo chế độ hai cấp: xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm. Ngoài ra, Toà án còn thực hiện chức năng giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án hay quyết định của Toà án cấp sơ thẩm hoặc phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có sự vi phạm nghiêm trọng trình tự, thủ tục tố tụng, hoặc phát hiện có những tình tiết mới làm thay đổi bản chất vụ án… để đảm bảo hoạt động xét xử của Toà án phải là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, tránh oan sai xảy ra;
Toà án xét xử tập thể và quyết định theo đa số. Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Không một cá nhân, cơ quan tổ chức nào được phép can thiệp, tác động làm ảnh hưởng đến tính độc lập xét xử của Toà án. Phán quyết của Toà án là nhân danh Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Bản án, quyết định của Toà án có tính cưỡng chế nhà nước khiêm khắc nhất để đảm bảo hiệu lực thi hành;
Trong tố tụng hình sự, mọi hoạt động điều tra, truy tố đều phục vụ quá trình xét xử, phục vụ cho việc áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Bản án, quyết định của Toà án làm cơ sở cho việc áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội;
Khi nói đến quyền tư pháp là phải nói đến Toà án, Toà án là nơi biểu hiện một cách mạnh mẽ, tập trung và rõ ràng nhất quyền lực tư pháp thông qua hoạt động xét xử; Luận văn: Vai trò của Tòa án trong giải thích pháp luật.
Ngoài chức năng xét xử, Toà án còn có nhiệm vụ đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, góp phần ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và mọi cá nhân. Trong quá trình xét xử, giải quyết vụ án hình sự, Toà án có nhiệm vụ tìm ra nguyên nhân và điều kiện phạm tội, để từ đó có những kiến nghị, yêu cầu đối với cá nhân có trách nhiệm, tổ chức, cơ quan nhà nước có liên quan có những biện pháp hợp lý và kịp thời để chống và ngăn ngừa tội phạm mới phát sinh.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, ra quyết định thi hành bản án, Toà án có nhiệm vụ phối hợp với chính quyền địa phương, các cơ quan đoàn thể, cơ quan Viện kiểm sát để theo dõi, giám sát, giáo dục bị cáo được hưởng án treo, cải tạo không giam giữ, xét giảm thời gian thử thách đối với những người bị phạt tù nhưng cho hưởng án treo, công tác đặc xá.
Trong các vụ án dân sự, lao động, kinh tế Toà án là nơi bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mọi tổ chức, cá nhân khi có tranh chấp xảy ra, luôn cố gắng xây dựng mối đoàn kết trong nhân dân qua việc xét xử, hoà giải các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, hàn gắn và khôi phục lại một phần những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, giữ được truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc ta là đoàn kết, thân ái, giúp đỡ, chín bỏ làm mười, lá lành đùm lá rách, trọng tình, nghĩa…
1.2.2. Vai trò của Tòa án trong giải thích pháp luật. Mục đích, ý nghĩa GTPL do Tòa án thực hiện
Giải thích pháp luật (GTPL) là một hoạt động tất yếu, đóng vai trò quan trọng trong việc đưa các quy phạm pháp luật vào cuộc sống mà bất kỳ nhà nước nào cũng phải thực hiện.
Giải thích pháp luật cần thiết cho nhiều mục đích khác nhau, để áp dụng pháp luật, để tìm hiểu, nhận thức về các quy phạm pháp luật. GTPL cần thiết cho việc xây dựng các quy định pháp luật mới. Nhất là trong điều kiện cải cách, hoàn thiện hệ thống pháp luật như hiện nay thì rất cần thiết phải dựa vào thực tiễn các quy định pháp luật đang tồn tại. GTPL cần thiết trong hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước, thực hiện pháp luật, tìm hiểu pháp luật của công dân. GTPL có mục đích cơ bản là làm rõ ý nghĩa của quy định pháp luật, mục đích chính và khuynh hướng của chúng, làm rõ bối cảnh, điều kiện xã hội cả việc ban hành chúng. Làm rõ lời văn của quy phạm, ý chí của nhà làm luật trong quy định pháp luật. Không thể thoát khỏi việc chịu trách nhiệm pháp lý với lý do không hiểu biết luật hoặc hiểu sai luật. Chính vì vậy, hoạt động giải thích pháp luật lài càng cần thiết. Luận văn: Vai trò của Tòa án trong giải thích pháp luật.
Giải thích pháp luật có khả năng giải quyết tính khái quát của các quy phạm pháp luật bằng cách đặt nó đúng vào những quan hệ xã hội mà pháp luật mong muốn điều chỉnh dù thực tế biểu hiện của các quan hệ ấy có riêng lẻ, rời rạc. Giải thích pháp luật có khả năng đặt các quy phạm pháp luật có tính dự báo vào những tình huống pháp lý trong những quan hệ xã hội mới nảy sinh với sự hợp lý, khoa học. Việc giải quyết được các tình huống cần giải thích của các văn bản pháp luật cụ thể cũng là sự đóng góp trí tuệ vào việc giữ gìn tính minh bạch của pháp luật, bảo vệ và phát huy các giá trị của pháp luật.
Giải thích pháp luật có tác dụng đem lại những nhận thức nghiêm túc, đúng đắn cho người dân về pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật ở mỗi chủ thể pháp luật. Giải thích pháp luật góp phần xây dựng đươc thái độ đúng đắn trước pháp luật, bao gồm thái độ đúng đắn trong công tác lập pháp, công tác hành pháp, công tác tư pháp và thái độ đúng đắn của mỗi công dân trong hành vi pháp lý của mình.
Giải thích pháp luật nhằm nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật. Khi các chủ thê áp dụng pháp luật nhận thức và thực hiện một cách thống nhất pháp luật thì chất lượng của việc áp dụng pháp luật được nâng cao, các quyết định áp dụng pháp luật được đảm bảo đúng đắn hơn.
Giải thích pháp luật suy cho cùng là một nhu cầu tự nhiên, khách quan cũng như chính bản thân pháp luật là cần thiết khách quan trong xã hội hiện đại. Không chỉ giải thích những quy định pháp luật không rõ ràng mà các quy định có “rõ ràng, dễ hiểu” trong pháp luật chỉ mang tính tương đối nên cũng cần phải giải thích để có sự thống nhất.
GTPL sẽ làm khắc phục, hạn chế được sự tùy tiện trong việc hiểu, vận dụng pháp luật, sự cố tình, hay vô ý hiểu sai lệch các quy định của pháp luật với những động cơ, mục đích khác nhau. GTPL có vai trò to lớn, thiết thực để bảo vệ và tăng cường sự tuân thủ, tôn trọng pháp luật – một trong những nguyên tắc của nhà nước pháp quyền.
Trong lịch sử tư pháp của Việt Nam, Tòa án luôn có vai trò lớn trong việc giải thích pháp luật thông qua các Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán, Thông tư (bao gồm cả Thông tư tự mình ban hành hay các Thông tư liên tịch được ban hành cùng với các cơ quan chức năng khác như Bộ Công an, Bộ Tư pháp hay Viện kiểm sát nhân dân Tối cao) của Tòa án nhân dân Tối cao với các chủ thể khác có thẩm quyền và các công văn của Tòa án nhân dân Tối Cao. Tuy nhiên, sự ghi nhận vai trò này trong pháp luật thực định diễn ra muộn hơn. Lần đầu tiên, Điều 14 Bộ luật dân sự 1995 quy định: “trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận, thì có thể áp dụng tập quán hoặc các quy định tương tự của pháp luật”. Điều này dẫn đến chính thức thừa nhận tập quán pháp và tiền lệ pháp như là nguồn của luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Thừa nhận tập quán pháp và tiền lệ pháp dẫn đến thừa nhận quyền giải thích pháp luật của Tòa án. Vì vậy, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 1996 đã chính thức thừa nhận Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao là văn bản quy phạm pháp luật. Phạm vi giải thích của Nghị quyết Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao đến đâu? Chỉ đưa ra các quy định chi tiết hóa luật hay các quy định mang tính “tiên phát”. Thực tế cho thấy, Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao chứa đựng cả hai loại quy phạm nói trên và Hội đồng thẩm phán ra nghị quyết mà không phải tham chiếu ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu giải thích pháp luật trong hoạt động xét xử, nên Tòa án còn sử dụng loại văn bản thứ hai là công văn hướng dẫn của Tòa án nhân dân Tối cao. Công văn này mang tính chất luật rất cao nhưng Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2002 không ghi nhận là văn bản quy phạm pháp luật. Ví dụ Công văn số 39/KHXX ngày 06/7/1996 của Tòa án nhân dân Tối Cao đã phân định thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính giữa Tòa án hành chính và cơ quan quản lý nhà nước khi vụ việc được đương sự đưa lên cấp có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần thứ hai đồng thời đưa vụ việc ra tòa hành chính. Thực tế cho thấy loại công văn này chứa đựng các quy phạm mang tính chất áp dụng chung và có hiệu lực trực tiếp mạnh mẽ nhưng lại không được đăng công báo; làm ảnh hưởng quyền lợi của nhận dân và vô hình dung làm cho Tòa án Việt Nam vi phạm các quy định về minh bạch hóa pháp luật tại Chương VI Hiệp định thương mại Việt Mỹ 16. Hay một ví dụ khác, đó là Công văn số 165/KHXX ngày 18/10/2007 của Tòa án nhân dân Tối cao giải thích quy định tại Khoản 2 Điều 305 của Bộ luật dân sự. Để thi hành đúng và thống nhất quy định tại Khoản 2 Điều 313 của Bộ luật dân sự năm 1995 (BLDS 1995) tại điểm 1 Mục III của Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Bộ tư pháp, Bộ tài chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản đã hướng dẫn như sau: “… hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi xuất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án”. Tuy nhiên, Bộ luật dân sự 2005 ban hành và đã có hiệu lực thi hành từ ngày 01.01.2006, một số quy định đã có sự sửa đổi, bổ sung so với BLDS 1995. Tại Khoản 2 Điều 305 của BLDS 2005 quy định: “ Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi xuất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán…”, có nghĩa là việc trả lãi đối với số tiền chậm trả phải theo lãi xuất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố. Hơn nữa, thực tế hiện nay các Ngân hàng đã bỏ mức lãi xuất nợ quá hạn. Vì vậy, vấn đề này được thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 305 của BLDS 2005. Ví dụ: Công văn số 40/KHXX ngày 06/4/2007 của Tòa án nhân dân Tối cao về việc “Thụ lý giải quyết tranh chấp về họ”… Luận văn: Vai trò của Tòa án trong giải thích pháp luật.
Giải thích pháp luật là một yêu cầu khách quan để đảm bảo tính minh bạch và thống nhất của toàn bộ hệ thống pháp luật, nó gắn liền với sự tồn tại của nhà nước và pháp luật. Mặc dù có ý nghĩa đặc biệt quan trọng song giải thích pháp luật ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa được chú ý, phát triển trên cả hai phương diện là lí luận và thực tiễn đúng với tầm vóc vốn có của nó. Giai thích pháp luật chính thức vẫn dừng lại là giải thích văn bản qui phạm pháp luật. Trong các văn bản qui phạm pháp luật chỉ qui định việc giải thích hiến pháp, luật, pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội – một thiết chế cho đến nay chỉ thực hiện thẩm quyền này được năm lần kể từ khi thành lập. Thực trạng này cho thấy tính minh bạch của hệ thống pháp luật đang bị thách thức nghiêm trọng. Các phương pháp giải thích pháp luật ở Việt Nam cũng chưa được ghi nhận trong bất kỳ văn bản nào. Trong bối cảnh các đạo luật, pháp lệnh đều tồn tại dưới dạng luật khung, nếu không có hướng dẫn chi tiết thì việc thực hiện sẽ hết sức lung túng, mỗi người hiểu một kiểu, không truyền đạt đúng đắn nội dung pháp lí trong các qui phạm pháp luật đến đối tượng thi hành. Không ít các trường hợp, các văn bản hướng dẫn đó đã “xé rào” do cơ quan ban hành không nhận thức đầy đủ các yêu cầu của nhà lập pháp. Trên thực tế, Tòa án nhân dân Tối cao vẫn ban hành các nghị quyết và thông tư liên tịch với các cơ quan nhà nước có liên quan để giải thích và hướng dẫn áp dụng pháp luật, mặc dù nó không được thừa nhận có thẩm quyền giải thích pháp luật chính thức. Bản chất và giá trị pháp lý của các văn bản này đến nay vẫn chưa được khẳng định trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Vì vậy, chúng ta cần phải nhận thức lại về mục tiêu, bản chất, nguyên tắc, phương pháp và các hình thức giải thích pháp luật của Việt Nam.
Không chỉ nội dung của các qui phạm pháp luật không rõ ràng, đa nghĩa dẫn đến cần phải có hoạt động giải thích pháp luật mà cả trong trường hợp nội dung của các qui phạm pháp luật khá rõ ràng nhưng do sự phát triển của các quan hệ xã hội dẫn đến qui phạm pháp luật đó không còn phù hợp nữa, đòi hỏi phải có cách giải thích mở rộng, phù hợp với sự phát triển của xã hội. Hoặc khi xây dựng luật, các nhà làm luật đã không đặt ra các qui tắc điều chỉnh các quan hệ xã hội hoàn toàn tương tự, dẫn đến phải có cách giải thích mở rộng để áp dụng pháp luật tương tự. Dù cho trình độ lập pháp có phát triển đến đâu thì các nước văn minh vẫn tiếp tục thừa nhận tập quán pháp và tiền lệ pháp bên cạnh văn bản qui phạm pháp luật. Việc thừa nhận các loại nguồn này kéo theo việc thừa nhận quyền giải thích pháp luật của Tòa án và các cơ quan áp dụng pháp luật. Như vậy, có thể khẳng định, giải thích pháp luật là một hoạt động tất yếu, cần thiết, đóng vai trò quan trọng trong việc đưa các qui phạm pháp luật vào cuộc sống và mọi người đều phải thực hiện.
1.3. Giải thích pháp luật ở một số quốc gia trên thế giới
- 1.3.1. Giải thích pháp luật ở Trung Quốc
- 1.3.2. Giải thích pháp luật ở Hàn Quốc
- 1.3.3. Giải thích pháp luật ở Hoa Kỳ
Kết luận Chương 1 Luận văn: Vai trò của Tòa án trong giải thích pháp luật.
Với các nội dung chính được trình bày ở các tiểu mục, Chương đã đề cập đến những nội dung cơ bản nhất, cần thiết nhất để hình thành nên cơ sở lý luận của hoạt động giải thích pháp luật. Nội dung của các tiểu mục nêu trên sẽ đưa ra lý luận chung nhất về khái niệm, vị trí và vai trò của giải thích pháp luật; qua đó, giúp người đọc nhận biết được chính xác các đối tượng của hoạt động giải thích pháp luật và thấy được sự cần thiết phải giải thích pháp luật, bởi tầm quan trọng của giải thích pháp luật trong quá trình áp dụng pháp luật để giải quyết những vụ việc phát sinh trong thực tế. Tìm hiểu về các chủ thể giải thích pháp luật – yếu tố quyết định đến nội dung hoạt động giải thích pháp luật. Đồng thời, giới thiệu giải thích pháp luật của một số quốc gia thế giới để từ đó rút ra những kinh nghiệm giải thích pháp luật trên thế giới để từ đó có thể hiểu rõ hơn về vai trò, tầm quan trọng của
Tòa án trong việc giải thích pháp luật. Trên thực tế, Tòa án ở Việt Nam không được trao quyền giải thích pháp luật nhưng trên thực tế Tòa án đã thực hiện công việc này rất thường xuyên. Do vậy, đặt ra câu hỏi có nên trao quyền giải thích pháp luật cho Tòa án? Từ trước đến nay Tòa án đóng vai trò như thế nào đối với hoạt động giải thích pháp luật ở Việt Nam?
Chương 2 THỰC TRẠNG GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT VÀ QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN TRONG GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM
2.1 . Thực trạng giải thích pháp luật ở Việt Nam
2.1.1. Hoạt động giải thích pháp luật của cơ quan lập pháp
- Giải thích điểm c Khoản 2 Điều 241 của Luật Thương mại theo đề nghị của Chính phủ năm 2005
- Giải thích khoản 6 Điều 19 của Luật Kiểm toán Nhà nước theo đề nghị của Ủy ban Kiểm tra và Ngân sách của Quốc hội năm 2006
- Hướng dẫn, giải thích các giao dịch dân sự về nhà ở xác lập trước ngày 1.7.1991 năm 1998
- Giải thích, hướng dẫn liên quan đến giải quyết một số trường hợp cụ thể về nhà đất trước 1.1.1991 năm 2005.Hướng dẫn, giải thích về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01.7.1991 có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia năm 2006
2.1.2. Hoạt động giải thích pháp luật của cơ quan hành pháp
Việc giải thích pháp luật nhiều nhất ở Việt Nam không phải bởi Tòa án hay cơ quan lập pháp mà là cơ quan hành pháp. Theo TS Nguyễn Sỹ Dũng, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc Hội Việt Nam, trong bài phát biểu khai mạc Hội thảo quốc tế về giải thích pháp luật nhận định: cơ quan hành pháp đã giải thích pháp luật khi chưa có quy định về thẩm quyền và dường như sản phần giải thích pháp luật này đã “ngầm” thay thế vào chỗ trống của giải thích pháp luật hiện nay.
2.1.3. Hoạt động giải thích pháp luật của Tòa án Việt Nam
2.1.3.1. Toà án giải thích pháp luật thông qua việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền
Toà án giải thích pháp luật được thể hiện rõ nét nhất qua các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối Cao, Thông tư liên tịch của Toà án nhân dân Tối Cao với các chủ thể khác theo thẩm quyền.
Mặc dù theo quy định của pháp luật, thì TANDTC không trực tiếp được giao quyền giải thích pháp luật, tuy nhiên, nếu theo dõi nội dung các văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền mà TANDTC ban hành, sẽ thấy trong các văn bản đó có nhiều nội dung nhằm diễn giải, “làm cho hiểu rõ pháp luật”. Nếu thừa nhận các “yếu tố” đó là giải thích pháp luật theo nghĩa rộng nhất của hoạt động này, thì có thể thấy, các nội dung giải thích pháp luật trong những văn bản trên của TANDTC là những nội dung hướng dẫn, quy định chi tiết tuy không phải là giải thích pháp luật chính thức (vì không có thẩm quyền) nhưng lại rất gần với giải thích pháp luật chính thức, cụ thể là giải thích pháp luật mang tính quy phạm, bởi Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán TANDTC, Thông tư của TANDTC chính là các văn bản quy phạm pháp luật, có hiệu lực bắt buộc chung, có giá trị pháp lý ràng buộc đối với các chủ thể pháp luật khác theo quy định của pháp luật hiện hành.
2.1.3.2. Toà án giải thích pháp luật thông qua các văn bản khác của Toà án trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. Luận văn: Vai trò của Tòa án trong giải thích pháp luật.
Một trong những loại văn bản hay chứa đựng các nội dung “giải thích pháp luật” của tòa án trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình là Quyết định Giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán TANDTC.
Trong loại văn bản áp dụng pháp luật này, TANDTC đã tiến hành giải thích pháp luật qua việc nhận định, lập luận về các quy phạm pháp luật liên quan để phục vụ cho việc ra phán quyết của tòa án.
Giải thích pháp luật của Tòa án còn thể hiện trong các Báo cáo tổng kết công tác xét xử hàng năm của Tòa án nhân dân Tối cao.
Ví dụ: báo cáo tổng kết kinh nghiệm xét xử hàng năm của Tòa án thường nêu ra những vụ án có nhiều vướng mắc, cần phải có sự hướng dẫn của Tòa án cấp trên mới giải quyết được, hoặc nêu ra những sai sót của tòa án cấp dưới cần phải rút kinh nghiệm. Chỉ là báo cáo tổng kết hàng năm song nó cũng có những giá trị pháp lý nhất định, cũng có phần định hướng cho việc áp dụng pháp luật được thống nhất.
2.1.3.3. Tòa án giải thích pháp luật trong quá trình xét xử
Trong thực tế, giải thích pháp luật luôn diễn ra trong quá trình xét xử của Tòa án. Để ra được một bản án, tòa án đã phải thực hiện hàng loạt công đoạn từ xác định tính chất pháp lý của vụ việc, lựa chọn các quy phạm pháp luật áp dụng, cho đến ra các bản án, quyết định cá biệt cụ thể.
Chủ thể trực tiếp giải thích pháp luật trong gia đoạn này là Thẩm phán, người thẩm phán không thể chỉ áp dụng pháp luật một cách máy móc, cơ học mà phải có sự phân tích, giải thích tại sao trong trường hợp này lại phải áp dụng quy phạm này mà không áp dụng quy phạm khác, tại sao quy phạm này lại được hiểu thê này mà không hiểu thế khác, tại sao quy phạm này lại được áp dụng cho tình huống này, vụ việc này, và khi áp dụng có bị cản trở bới các quy định khác hay không… Như vậy là, mặc dù không được thừa nhận vai trò chính thức trong giải thích pháp luật, thì để xét xử được và xét xử có hiệu quả, người thẩm phán vẫn phải và luôn tiến hành công việc giải thích pháp luật một cách “thầm lặng” trong quá trình hoạt động chuyên môn của mình. Đây đích thực là giải thích pháp luật mang tính vụ việc, tình huống cụ thể. Và dù muốn hay không, TANDTC cũng trải qua hàng trăm lần giải thích điển hình, trong đó có cả những lần qua việc xét xử của tòa án, tòa án đã đưa ra một cách giải quyết và tìm được giải pháp cụ thể cho vấn đề, mà trước đó chưa có hướng dẫn, chưa có sự thống nhất.
Thông qua các vụ việc cụ thể trong quá trình xét xử thì có nhiều giải pháp đã được công nhận, ghi nhận trong các văn bản pháp luật. Điều này có thể nói rằng giải thích pháp luật của Tòa án có những giá trị nhất định mà không ai có thể phủ nhận được.
2.1.3.4. Án lệ Luận văn: Vai trò của Tòa án trong giải thích pháp luật.
- Khái niệm
Trong tiếng Anh, án lệ là “precedent”, thuật ngữ này phát sinh từ hệ thống thông luật (common law) với hệ thống quan điểm lý luận pháp lý khác biệt hẳn với hệ thống dân luật (civil law). Vì vậy, án lệ sẽ không dễ dàng để được tiếp nhận đối với các luật gia, nhà nghiên cứu ở các nước thuộc hệ thống dân luật.
Theo từ điển Black’s Law thì án lệ được hiểu như sau: “ Án lệ là việc làm luật của tòa án khi công nhận và áp dụng các quy tắc mới trong quá trình xét xử; Vụ việc đã được giải quyết làm cơ sở để đưa ra phán quyết cho những trường hợp có tình tiết hoặc vấn đề tương tự sau này ”.
Từ đó, có thể chỉ ra một số đặc điểm cơ bản của án lệ như sau:
Thứ nhất, án lệ do tòa án tạo ra trong qua trình xét xử nên nguồn luật án lệ còn được gọi là luật được hình thành từ vụ việc (“case law”) hay luật do thẩm phán ban hành (“judge make law”). Trong khi đó, nguồn luật văn bản chủ yếu được tạo ra bằng con đường nghị viện ban hành. Những lập luận cho việc lý giải tại sao lại trao thẩm quyền làm luật cho tòa án hay nghị viện đều có những lý lẽ hợp lý riêng. Các luật gia của hệ thống dân luật cho rằng, pháp luật không nên tạo ra từ các phán quyết của các thẩm phán bởi họ không đủ thời gian để đưa ra các quy định chung mang tính công minh. Các quy phạm pháp luật phải là sản phẩm của tư duy trên cơ sở tổng kết thực tiễn, phù hợp với các điều kinh tế, chính trị, đạo đức chứ không phải là các quyết định nhất thời của các thẩm phán. Pháp luật nên được tạo ra bằng trí tuệ tập thể, cần phải có sự thận trọng và công việc này thích hợp cho nghị viện. Như vậy, vai trò của tòa án ở các quốc gia này chỉ là người áp dụng pháp luật chứ không phải là người sáng tạo pháp luật. Trong khi đó, các luật gia của hệ thống thông luật cho rằng luật được tạo ra bằng con đường nghị viện sẽ không mang tính thức tiễn cao, khó thay đổi, mang tính khái quát cao và trừu tượng.
Thứ hai, án lệ được hình thành phải mang tính mới. Nghĩa là, đây là quy tắc (ratio) chưa có trước đó. Một số người nghĩ rằng, vì án lệ được tạo ra bằng con đường tòa án thông qua các vụ việc nên sẽ rất nhiều và mang tính hỗn độn. Thật ra, không phải khi tòa án xét xử bất kỳ vụ việc nào cũng đều tạo ra án lệ. Thông thường, khi có một việc tranh chấp tại tòa thì các thẩm phán cũng như các luật sư sẽ quan tâm đến hai vấn đề: (i) Vấn đề sự kiện (question of fact); (ii) Vấn đề pháp lý (question of law). Đối với các vụ việc đơn thuần chỉ liên quan đến việc xác định chất pháp lý của sự kiện (question of fact) và đã có quy định trong văn bản pháp luật hay tiền lệ trước đó để áp dụng, tòa án không tạo ra án lệ khi giải quyết các vụ việc này. Rất ít các vụ việc liên quan đến vấn đề pháp lý (question of law) cần giải quyết bằng pháp luật mà chưa có quy tắc tiền lệ. Khi này tòa án mới tạo ra án lệ khi giải quyết những vụ việc này.
- Việc sử dụng án lệ ở Việt Nam Luận văn: Vai trò của Tòa án trong giải thích pháp luật.
Việt Nam, việc sử dụng khái niệm “án lệ” có từ trước năm 1960. Khái niệm “án lệ” đã tồn tại và được sử dụng trong các văn bản pháp luật chính thức, công khai trên các tạp chí chuyên ngành, đường lối xét xử của Tòa án về những vụ việc cùng loại được tập hợp, phân tích, bình luận. Tuy nhiên, từ sau năm 1975 đến trước năm 2006 thì khái niệm án lệ hầu như không được sử dụng chính thức, trong các sách báo pháp lý, khái niệm án lệ vẫn được bàn luận nhưng chỉ mang tính chất nghiên cứu học thuật.
Mặc dù án lệ chưa có “địa vị pháp lý”trong hệ thống văn bản pháp luật, nhưng án lệ có vai trò rất quan trọng trong thực tiễn xét xử, giúp các thẩm phan áp dụng tương tự trong tương lai các vụ việc khi thiếu luật điều chỉnh. Thấy được tầm quan trọng của án lệ nên khái niệm án lệ tiếp tục được sử dụng chính thức tại Nghị quyết số 49-NQ/TW: “TANDTC có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm”. Như vậy, “án lệ” đang dần được khẳng định vai trò của mình, biểu hiện cụ thể cho việc này chính là việc TAND các cấp tham khảo Quyết định của các Tòa chuyên trách, Quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC và thông qua việc tổng kết, rút kinh nghiệm, phát hành Quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC đến Tòa án các cấp.
Theo Phó Chanh án TANDTC Nguyễn Sơn: “Với việc phát triển án lệ tại Việt Nam sẽ nâng cao chất lượng bản án, quyết định của ngành Tòa án, đặc biệt là Quyết định Giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán TANDTC và các Tòa chuyên trách TANDTC. Phát triển án lệ sẽ góp phần đảm bảo việc áp dụng pháp luật đúng, thống nhất, từ đó đảm bảo sự bình đẳng của mọi tổ chức và công dân trước pháp luật”
Ngày 31 tháng 10 năm 2012, Tòa án nhân dân Tối Cao đã có Quyết định số 74/QĐ-TANDTC về việc phê duyệt đề án “ Phát triển án lệ của Tòa án nhân dân Tối cao”, và nêu rõ tiêu tổng quát; mục tiêu cụ thể; định hướng phát triển án lệ, mối quan hệ giữa án lệ và giải thích pháp luật…
Như vậy, án lệ từ chỗ không có địa vị pháp lý thì nay đã được thừa nhận và phát triển (Đề án phát triền án lệ). Điều này thể hiện chức năng của hệ thống tư pháp được mở rộng “ hệ thống tư pháp không có quyền từ chối giải quyết các khiếu kiện của người dân bởi lý do chưa có luật. Án lệ sẽ bổ khuyết kịp thời những lỗ hổng pháp luật này để bảo vệ quyền lợi của người dân tốt hơn” (TS NGuyễn Văn Cường, Phó Viện trưởng Viện Khoa học xét xử TAND)
2.2. Quan điểm về đảm bảo vai trò của Tòa án trong giải thích pháp luật ở Việt Nam hiện nay Luận văn: Vai trò của Tòa án trong giải thích pháp luật.
- 2.2.1. Thực hiện giải thích pháp luật của Tòa án nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và chiến lược phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam
- 2.2.2. Giải thích pháp luật của Tòa án nhằm thực hiện vai trò của tòa án trong việc bảo vệ công lý, quyền, lợi ích của con người
- 2.2.3. Giải thích pháp luật của Tòa án phải gắn với đặc điểm chính trị, xã hội của đất nước và phải có lộ trình hợp lý, tiếp thu chọn lọc kinh nghiệm GTPL trên thế giới.
2.3. Một số giải pháp đảm bảo vai trò của Tòa án trong giải thích pháp luật ở Việt Nam hiện nay
- 2.3.1 . Cần trao quyền giải thích pháp luật cho Tòa án
- 2.3.2. Phát triển án lệ, đăng tải công khai các bản án, quyết định của Tòa án
- 2.3.3. Nâng cao trình độ, năng lực và đạo đức của Thẩm phán.
- 2.3.4. Xây dựng, ban hành Luật về giải thích pháp luật.
- 2.3.5. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giải thích pháp luật
- 2.3.6. Nâng cao chất lượng lập pháp.
KẾT LUẬN CHUNG
Giải thích pháp luật là một trong những hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc thực hiện pháp luật. Hiến pháp, luật, pháp lênh và các văn bản pháp luật khác đều thể hiện ý chí của nhà làm luật thông qua ngôn ngữ, chuyển tải ý chí này đến các chủ thể và chủ thể tiếp nhận phải hành động, xử sự phù hợp với mong muốn của nhà làm luật. Khi thực hiện các hành vi xử sự được mô tả trong Hiến pháp, luật, pháp lệnh và các văn bản dưới luật khác, các chủ thể thường gặp phải những mâu thuẫn hay sự mơ hồ do sử dụng ngôn ngữ không chính xác, do mâu thuẫn giữa các quy định của pháp luật. Ai là chủ thể có quyền giải thích sự mơ hồ hay mâu thuẫn này?
Giải thích pháp luật là một nhu cầu khách quan. Mỗi một nhà nước đều chủ động trao quyền giải thích pháp luật chính thức cho chủ thể nhất định. Chủ thể nào có quyền giải thích pháp luật chính thức xuất phát từ cách thức tổ chức quyền lực và từ những quan điểm nhất định. Bên cạnh những chủ thể được trao quyền giải thích pháp luật chính thức thì còn có những chủ thể chưa được trao quyền chính thức nhưng do chức năng, nhiệm vụ của mình thì chủ thể đó vẫn thường xuyên giải thích pháp luật. Thậm chí chủ thể chưa được trao quyền giải thích pháp luật còn giải thích pháp luật nhiều hơn chủ thể được trao quyền chính thức.
Giải thích pháp luật là một hoạt động độc lập, bản chất của hoạt động này là nhận thức pháp luật. Giải thích pháp luật với mục đích xác định đúng quy tắc xử sự trong văn bản pháp luật để nhận thức, thực hiện, áp dụng pháp luật đúng đắn, thống nhất, hoặc tập trung hơn, giải thích pháp luật là đưa ra cách giải quyết đúng quy tắc xử sự cho những mâu thuẫn hay mơ hồ từ văn bản pháp luật để áp dụng pháp luật đúng đắn, thống nhất.
Giải thích pháp luật chính thức có hai hình thức cơ bản là giải thích mang tính quy phạm và giải thích mang tính vụ việc. Giải thích mang tính quy phạm trong thực tế thường do nhóm chủ thể có thẩm quyền xây dựng pháp luật giải thích, còn giải thích mang tính vụ việc thường do nhóm chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật giải thích. Giải thích trong quá trình xây dựng pháp luật là cần thiết, song giải thích mang tính vụ việc, giải thích trong quá trình thực hiện, áp dụng pháp luật mới là loại giải thích pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng, là hình thức đặc thù của hoạt động giải thích pháp luật, phản ánh tính tất yếu của hoạt động này, và cũng là đối tượng nghiên cứu cơ bản của giải thích pháp luật.
Giải thích pháp luật là hoạt động phải tuân thủ theo những nguyên tắc và phương pháp nhất định, trong đó các nguyên tắc và phương pháp liên quan đến ý chí của lập pháp – ý chí nhà nước và ngôn ngữ của văn bản pháp luật có vị trí đặc biệt quan trọng. Việc sử dụng và mức độ sử dụng các nguyên tắc, phương pháp giải thích pháp luật nào phụ thuộc vào truyền thống pháp lý, vào pháp luật của mỗi quốc gia.
Hiện nay, theo xu thế chung, chủ thể giải thích pháp luật là Tòa án. Vì Tòa án là nơi thường xuyên diễn ra những tranh chấp, những sự vụ cụ thể phát sinh trong đời sống xã hội. Xã hội càng phát triển thì những vụ tranh chấp càng phức tạp khiến cho các quy định của pháp luật trở nên lạc hậu, không theo kịp. Và những tranh chấp này không thể không giải quyết cho dù quy định pháp luật chưa cụ thể, rõ ràng hoặc chưa có quy định. Việc trao quyên giải thích pháp luật cho Tòa án là một quy luật tất yếu, khách quan.
Giải thích pháp luật ở Việt Nam đã được trao cho Cơ quan Lập pháp (cụ thể là UBTVQH) giải thích pháp luật. Cơ sở pháp lý của hoạt động này được ghi nhận trong Hiến pháp (năm 1959, năm 1980, năm 1992) và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (năm 1996, năm 2002, năm 2008). Từ năm 1959 đến năm 2006, UBTVQH mới thực hiện quyền hạn giải thích pháp luật vài lần, thể hiện điển hình nhất tại Nghị quyết số 746/2005/NQ-UBTVQH 11 và Nghị quyết số 1053/2006/NQ-UBTVQH 11. Lý do chính là UBTVQH không có điều kiện tiếp cận được nhu cầu giải thích pháp luật khi áp dụng pháp luật.
Giải thích pháp luật ở Việt Nam, trên thực tế, ngoài UBTVQH được pháp luật quy định chính thức còn có các cơ quan khác của nhà nước là Chính phủ, các Bộ, … và Tòa án “tham gia” giải thích pháp luật. Chính phủ, các Bộ,… đã giải thích pháp luật thông qua hoạt động ban hành văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết, sản phẩm giải thích lẫn trong các loại văn bản do những cơ quan này ban hành, giá trị sử dụng và giá trị pháp lý của sản phẩm giải thích này đang gây nhiều tranh cãi. Tòa án các cấp, ngoài việc giải thích pháp luật khi ban hành các văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền để hướng dẫn thi hành pháp luật như Nghị Quyết của Hội đồng thẩm phán TANDTC, thì khi xét xử, để đáp ứng nhu cầu của việc áp dụng pháp luật, tòa án đã thường xuyên tiến hành giải thích pháp luật theo hình thức giải thích mang tính vụ việc. Giá trị sản phẩm giải thích pháp luật của tòa án trong quá trình áp dụng pháp luật không được thừa nhận và cũng không bị kiểm soát.
Quy định về chủ thể chính thức giải thích pháp luật như hiện nay là chưa hợp lý, không có cơ chế kiểm soát nội dung giải thích pháp luật trong văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành pháp luật. Chủ thể giải thích pháp luật mang tính vụ việc cụ thể là Tòa án chưa được quan tâm, đặt đúng vị trí. Nảy sinh tình trạng “bất công”, chủ thể hoạt động giải thích pháp luật thường xuyên, hiệu quả thì không đươc chính thức thừa nhận. Để khắc phục tình trạng này cần trao quyền giải thích pháp luật chính thức cho Tòa án. Luận văn: Vai trò của Tòa án trong giải thích pháp luật.
Để nâng cao chất lượng hoạt động giải thích pháp luật ở Việt Nam hiện nay nói chung và nâng cao chất lượng giải thích pháp luật của Tòa án hiện nay, cần phải tiến hành các giải pháp sau:
Trao quyền giải thích pháp luật chính thức pháp luật cho Tòa án. Hiến pháp 2013 quy định “Tòa án nhân dân Tối cao thực hiện việc tổng kết thực tiễn xét xử, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử”. Như vậy, từ sự qui định trên có thể hiểu phần nào đó Tòa án đã được giải thích pháp luật tuy nhiên chỉ trong phạm vi nhất định tức là giải thích pháp luật trong phạm vi xét xử, bảo đảm cho việc áp dụng pháp luật thống nhất trong xét xử. Ngoài ra, Hiến pháp 2013 còn quy đinh.. “Tòa án thực hiện quyền tư pháp”. Quyền tư pháp bao gồm cả quyền giải thích pháp luật. Với những quy định nâng cao vị trí của Tòa án mang tính hiến định thì cần phải sửa đổi Luật Tổ chức Tòa án nhân dân cho phù hợp với Hiến pháp mới, cần phải xác định rõ nội hàm “quyền tư pháp” bao gồm những nội dung gì.
Phát triển án lệ, đăng tải công khai bán án, quyết đinh của Tòa án. Việc phát triển án lệ, đăng tải công khai các bản án giúp cho việc tìm hiểu áp dụng thống nhất pháp luật, việc đưa ra các phán quyết của Thẩm phán đòi hỏi phải cẩn trọng hơn, chính xác hơn và nhờ đó chất lượng các phán quyết được nâng lên rõ rệt.
Nâng cao trình độ, năng lực và đạo đức của Thẩm phán. Chủ thể hoạt động giải thích pháp luật là Tòa án hay nói cách khác là Thẩm phán. Nếu Thẩm phán là người có trình độ, năng lực và đạo đức thì nhất thiết sản phẩm giải thích pháp luật sẽ có chất lượng, đây là điều tất yếu. Sự thông thạo về ngoại ngữ, về pháp luật quốc tế của Thẩm phán là một điều kiện quan trọng để hoạt động giải thích pháp luật của chúng ta được phát triển, có tính quốc tế.
Ban hành Luật để điều chỉnh, kiểm soát chất lượng Giải thích pháp luật. Hoạt động giải thích pháp luật không thể vô hạn, không thể tùy tiện. Do vậy, để hoạt động giải thích pháp luật có trật tự, có chất lượng cần phải ban hành luật để điều chỉnh trong đó quy định chủ thể, đối tượng, phạm vi… để giải thích. Đồng thời cũng cần ban hành cơ chế kiểm soát chất lượng giải thích pháp luật.
Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giải thích pháp luật. Cần phải tìm hiểu các quốc gia khác hoạt động giải thích pháp luật như thế nào? Quốc gia nào có hoạt động giải thích pháp luật hiệu quả nhất, chất lượng nhất. Chúng ta sẽ tiếp thu những thành tựu và rút kinh nghiệm từ những hạn chế để phát triển hoạt động giải thích pháp luật của chính bản thân mình. Tuy nhiên, cũng cần phải trân trọng, biết kết hợp với những thành quả mà chúng ta có sẵn. Ngoài việc tham khảo ý kiến của các chuyên gia nước ngoài cũng cần phải kết hợp với các ý kiến của các nhà khoa học pháp lý hàng đầu mà chúng ta đang có.
Nâng cao chất lượng lập pháp. Chất lượng lập pháp được nâng cao, ngôn ngữ trong các văn bản pháp luật được trong sáng, dễ hiểu, nhà làm luật có khả năng tiên đoán, dự báo các tình huống phát sinh trong thực tế sẽ dẫn đến tình trạng không cần đến hoạt động giải thích pháp luật hoặc hạn chế thấp nhất tình huống phải giải thích pháp luật.
Tóm lại, Xây dựng Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân Dân, do Nhân Dân và vì Nhân Dân là nhiệm vụ quan trọng của Đảng, Nhà nước ta hiện nay. Để thực hiện được nhiệm vụ trên thì Đảng và Nhà nước cũng đang chú trọng đến tầm quan trọng của tư pháp nên có chủ trương về cải cách tư pháp, để công tác tư pháp ngang tầm với những đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền. Tư pháp (Tòa án) được nâng tầm, được mở rộng thì mới có thể thực hiện “Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Luận văn: Vai trò của Tòa án trong giải thích pháp luật.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Quy trình thủ tục xem xét thông qua dự án luật
