Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: KQNC Nghiên cứu mối quan hệ trách nhiệm xã hội DN hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Nghiên cứu mối quan hệ trách nhiệm xã hội với hình ảnh doanh nghiệp đến lòng trung thành của khách hàng tại các công ty sản xuất bao bì giấy Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
4.1. Tổng quan ngành sản xuất bao bì giấy tại Việt Nam
4.1.1. Hiện trạng, quy mô và vai trò kinh tế
Ngành sản xuất bao bì giấy tại Việt Nam đã trở thành một trong những phân ngành có tốc độ phát triển nhanh, đóng vai trò then chốt trong chuỗi cung ứng cho các ngành hàng tiêu dùng nhanh (FMCG), thực phẩm – đồ uống, dược phẩm và thương mại điện tử. Quy mô thị trường bao bì giấy gia tăng rõ rệt trong vài năm gần đây, cả về doanh thu lẫn công suất sản xuất; một số báo cáo thị trường ước tính quy mô doanh thu ngành đạt mức hàng tỷ USD vào năm 2023–2024, và có dự báo tăng trưởng liên tục đến 2030 vào khoảng 3,8–4,0 tỷ USD. (Grand View Research, 2014)
Số lượng doanh nghiệp hoạt động trong ngành bao bì nói chung (bao gồm cả giấy, nhựa và kim loại) là rất lớn; một số báo cáo ngành ước tính có hơn 14.000 doanh nghiệp liên quan đến ngành bao bì, phản ánh quy mô phân mảnh nhưng cũng tiềm năng lớn cho hợp tác, sáp nhập và chuyên môn hóa (ví dụ: đóng gói cho xuất khẩu). Mạng lưới nhà máy, nhà cung ứng nguyên liệu và dịch vụ hỗ trợ (in ấn, thiết kế, xử lý bề mặt, tái chế) đang mở rộng do nhu cầu trong nước và xuất khẩu tăng cao. (Vietnam Briefing, 2024)
4.1.2. Các hoạt động thể hiện trách nhiệm xã hội trong ngành
Do tính chất sản xuất có tác động môi trường (sử dụng nguyên liệu, nước, năng lượng, xả thải), nhiều doanh nghiệp bao bì giấy tại Việt Nam đã bắt đầu triển khai các hoạt động Trách nhiệm xã hội mang tính chiến lược, tiêu biểu như:
- Quản lý nguyên liệu bền vững: sử dụng giấy tái chế (recycled fiber) hoặc nguồn nguyên liệu được chứng nhận bền vững để giảm tác động khai thác rừng và nâng cao giá trị sinh thái của sản phẩm.
- Tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải: đầu tư thiết bị hiệu suất cao, tối ưu hóa quá trình sản xuất để giảm tiêu thụ điện, hơi và nước.
- Xử lý nước thải và quản lý chất thải rắn: xây dựng hệ thống xử lý nước thải, lắp đặt dây chuyền xử lý CO2 hoặc thu hồi nhiệt; triển khai chương trình thu gom phế liệu giấy tại nguồn, hợp tác với hệ thống tái chế địa phương.
- Chương trình cộng đồng & tài trợ: thực hiện các hoạt động tài trợ giáo dục, y tế cho cộng đồng địa phương, xây dựng chương trình đào tạo nghề cho lao động địa phương. Đây là các hoạt động thể hiện trách nhiệm XH thiện nguyện (CSR.P) điển hình).
- Minh bạch báo cáo & tuân thủ: nhiều công ty lớn công bố báo cáo bền vững/CSR theo chuẩn quốc tế (ESG disclosure), tuân thủ các yêu cầu pháp lý ngày càng khắt khe về môi trường và an toàn lao động.
Những hoạt động nêu trên vừa là phản ứng trước yêu cầu pháp lý lẫn kỳ vọng thị trường (khách hàng lớn, nhãn hàng quốc tế), vừa là công cụ xây dựng hình ảnh doanh nghiệp và tạo lợi thế cạnh tranh bền vững trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
4.1.3. Thuận lợi và cơ hội phát triển uận văn: KQNC Nghiên cứu mối quan hệ trách nhiệm xã hội DN.
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển với những chủ trương, định hướng phát triển sáng tạo của Chính phủ, đã mở ra nhiều cơ hội đến năm 2030 cho các công ty sản xuất bao bì giấy như sau:
Thứ nhất, nhu cầu nội địa và xuất khẩu tăng: sự phát triển của thương mại điện tử, tiêu dùng nội địa và hoạt động xuất khẩu (đặc biệt cho hàng tiêu dùng) tạo nhu cầu lớn cho bao bì giấy, từ bao bì vận chuyển đến bao bì cấp thương hiệu. Đây là cơ hội để doanh nghiệp mở rộng sản xuất và nâng cao giá trị gia tăng. (Vietnam Briefing, 2024)
Thứ hai, chính sách hướng tới kinh tế tuần hoàn: Việt Nam đã và đang ban hành các chính sách liên quan tới trách nhiệm mở rộng nhà sản xuất (EPR), tiêu chuẩn tái chế và hạn chế nhựa dùng một lần, điều này khuyến khích chuyển sang bao bì giấy, thúc đẩy đầu tư vào công nghệ tái chế và nguồn nguyên liệu bền vững.
Thứ ba, ưu thế chi phí và vị trí địa lý, chi phí sản xuất cạnh tranh và vị trí gần các thị trường xuất khẩu lớn (ASEAN, Trung Quốc, Nhật, EU) giúp doanh nghiệp Việt Nam trở thành nhà cung cấp hấp dẫn cho các nhãn hàng đa quốc gia.
Thứ tư, áp lực từ khách hàng lớn (brand owners): yêu cầu về tiêu chuẩn bền vững từ doanh nghiệp bán lẻ và thương hiệu toàn cầu buộc nhà cung cấp bao bì phải cải thiện tiêu chuẩn môi trường, tạo cơ hội cho những doanh nghiệp đầu tư sớm vào Trách nhiệm xã hội để chiếm thị phần.
4.1.4. Khó khăn và thách thức hiện tại
Tuy đã xác định từ nay đến năm 2030 có nhiều cơ hội để phát triển nhưng hiện nay các công ty sản xuất bao bì vẫn giấy phải đối mặt với những khó khăn, thách thức như sau
Thứ nhất, nguồn cung nguyên liệu và chi phí đầu vào: Việt Nam phụ thuộc một phần vào nhập khẩu bột giấy/giấy tráng từ Trung Quốc và các nguồn khác; biến động giá nguyên liệu quốc tế có thể ảnh hưởng mạnh đến chi phí sản xuất và lợi nhuận. (Vietnam Report, 2023)
Thứ hai, hệ thống thu gom và tái chế chưa hoàn chỉnh: thiếu cơ sở hạ tầng thu gom, phân loại và tái chế giấy quy mô lớn làm giảm khả năng dùng vật liệu tái chế ổn định; chi phí tái chế và logistics còn cao.
Thứ ba, áp lực đầu tư công nghệ: chuyển sang bao bì thân thiện môi trường yêu cầu đầu tư lớn vào máy móc, dây chuyền sản xuất và hệ thống xử lý nước/thải — điều này là thách thức cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Thứ tư, chuỗi cung ứng phân mảnh: nhiều doanh nghiệp nhỏ, trình độ quản trị và năng lực báo cáo ESG còn hạn chế, dẫn đến sự không đồng nhất trong thực thi Trách nhiệm xã hội trên toàn ngành.
Thứ năm, yêu cầu tuân thủ pháp lý và tiêu chuẩn quốc tế: các nhà cung cấp cần thích ứng nhanh với tiêu chuẩn khắt khe về EPR, nhãn sinh thái, và tiêu chuẩn nhập khẩu của thị trường xuất khẩu.
4.1.5. Hướng phát triển đến 2030 uận văn: KQNC Nghiên cứu mối quan hệ trách nhiệm xã hội DN.
Dựa trên xu hướng thị trường, chính sách và áp lực toàn cầu về bền vững, có thể dự báo một số đường hướng chính cho ngành đến năm 2030:
Thứ nhất, chuyển dịch mạnh sang vật liệu tái chế và nguyên liệu bền vững: tỷ lệ sử dụng giấy tái chế và nguyên liệu có chứng nhận sẽ gia tăng, do EPR và tiêu chuẩn xanh từ khách hàng; doanh nghiệp lớn sẽ dẫn dắt đầu tư vào nguồn nguyên liệu thay thế. (Hướng này vừa giảm phát thải vừa đáp ứng kỳ vọng thị trường. (Grand View Research, 2024)
Thứ hai, mở rộng năng lực tái chế trong nước: để giảm phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu, sẽ có xu hướng xây dựng chuỗi tái chế khu vực, hợp tác công-tư để đầu tư nhà máy xử lý phế liệu giấy và hệ thống logistics thu gom.
Thứ ba, số hóa và tự động hóa sản xuất: áp dụng công nghệ Industry 4.0 để tối ưu chi phí, giảm chất thải, theo dõi dấu chân carbon (carbon footprint) và thực hiện báo cáo ESG minh bạch.
Thứ tư, tăng cường hợp tác theo chuỗi giá trị (co-creation): các nhà sản xuất bao bì sẽ phối hợp chặt với brand-owners để thiết kế bao bì tối ưu (vừa bảo vệ sản phẩm vừa giảm vật liệu), từ đó gia tăng giá trị cho cả hai phía.
Thứ năm chuyển đổi mô hình kinh doanh theo kinh tế tuần hoàn: mô hình thuê bao bì (packaging as a service), thu hồi bao bì sau sử dụng, và hệ thống deposit-return có thể phát triển ở các phân khúc phù hợp.
Thứ sáu, nâng cao chuẩn mực Trách nhiệm xã hội/ESG: doanh nghiệp sẽ chuyển từ hoạt động CSR mang tính từ thiện đơn lẻ sang chiến lược ESG liên tục, tích hợp vào quản trị rủi ro và báo cáo tài chính/phi tài chính.
Như vậy, ngành sản xuất bao bì giấy tại Việt Nam đứng trước cơ hội phát triển lớn nhờ nhu cầu nội địa tăng và yêu cầu thay thế nhựa; đồng thời phải đối mặt với thách thức về nguyên liệu, hạ tầng tái chế và nhu cầu đầu tư công nghệ. Việc đẩy mạnh Trách nhiệm xã hội (CSR/ESG), minh bạch báo cáo và đầu tư vào nền tảng tái chế cùng với chính sách hỗ trợ của Nhà nước (EPR, tiêu chuẩn tái chế) sẽ là nhân tố quyết định để ngành chuyển mình thành ngành công nghiệp xanh, có khả năng cạnh tranh trên thị trường khu vực và toàn cầu đến năm 2030.
4.2 Kết quả nghiên cứu uận văn: KQNC Nghiên cứu mối quan hệ trách nhiệm xã hội DN.
4.2.1 Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu
Kết quả thống kê mẫu nghiên cứu phân chia theo giới tính, ngành nghề kinh doanh, lọai hình doanh nghệp, thâm niên kinh doanh được trình bày trong bảng 4.1.
Số liệu cho thấy khách hàng nam đến giao dịch đặt bao bì ít hơn 50 khách hàng. Khách hàng nữ chiếm tỉ lệ 56,20% còn nam chiếm 43,80%. Điều này cho thấy, nữ giới chiếm tỉ lệ nhiều hơn là vì nữ giới có cái nhìn màu sắc, thẩm mỹ hơn nam giới.
Về ngành nghề sản xuất kinh doanh của khách hàng thì đối tượng chủ yếu là trong lĩnh vực điện máy gia dụng, có 137 khách hàng, chiếm tỉ lệ 33,70%; Thứ hai là lĩnh vực văn hóa phẩm, có 125 khách hàng, chiếm tỉ lệ 30,80%; Thứ ba là lĩnh vực thực phẩm, có 101 khách hàng, chiếm tỉ lệ 24,90% và một số khách hàng thược lĩnh vực ngành nghề kinh doanh khác như dược phẩm, y tế có 43 khách hàng, chiếm tỉ lệ 10,60%. Căn cứu vào kết quả thu thập khảo sát trên, theo học viên cũng thấy cũng khá phù hợp với thực tế.
- Bảng 4.1 Thống kê mẫu nghiên cứu
4.2.2 Hệ số tải ngoài
- Hình 4.1 Mô hình cấu trúc (PLS)
Kết quả hệ số tải ngoài dùng để đánh giá độ tin cậy của từng chỉ báo, tức là xem các biến quan sát có thực sự đo lường tốt cho các khái niệm hay biến tiềm ẩn mà nó đại diện hay không. Ví dụ như đo lường các chỉ báo của CI1, CI2, CI3 là 3 biến quan sát của thang đo Hình ảnh doanh nghiệp (CI) có đáng tin cậy và phù hợp hay không.
Theo các chuyên gia hàng đầu về mô hình SEM-PLS, một chỉ báo được xem là đáng tin cậy khi có hệ số tải lớn hơn 0,7. Mức này đảm bảo rằng biến tiềm ẩn giải thích được ít nhất 50% phương sai của chỉ báo đó. Các chỉ báo có hệ số tải từ 0.4 đến 0.7 có thể được xem xét giữ lại nếu việc loại bỏ chúng không làm tăng độ tin cậy tổng hợp (Composite Reliability) hoặc phương sai trích trung bình (AVE) của biến tiềm ẩn đó. Tuy nhiên, các chỉ báo có hệ số tải dưới 0.4 nên được loại bỏ khỏi mô hình (Hair, Hult, Ringle, & Sarstedt, 2017). Kết quả kiểm định hệ số tải ngoài Lòng trung thành (CL): Cả 3 chỉ báo đều có hệ số tải rất cao (0.879, 0.857, 0.942). TN Kinh tế (CSR.Ec): Cả 5 chỉ báo đều tốt (từ 0.761 đến 0.814).
- TN Đạo đức (CSR.Et): Cả 3 chỉ báo đều rất cao (từ 0.848 đến 0.905).
- TN Pháp lý (CSR.L): Cả 5 chỉ báo đều tốt (từ 0.797 đến 0.859).
- TN Thiện nguyện (CSR.P): Cả 5 chỉ báo đều rất cao (từ 0.819 đến 0.935).
Các thang đo cho lòng trung thành và cả 4 khía cạnh của CSR đều có độ tin cậy rất cao. Như vậy, các câu hỏi dùng để đo lường các khái niệm này là phù hợp và đảm bảo chất lượng. (Phụ lục 5.1)
4.2.3 Hệ số đường dẫn uận văn: KQNC Nghiên cứu mối quan hệ trách nhiệm xã hội DN.
Kết quả hệ số đường dẫn thể hiện qua giá trị Beta, (β) cho thấy mức độ và chiều hướng tác động giữa các biến trong mô hình nghiên cứu. Đây chính là phần kiểm định các giả thuyết của mô hình nghiên cứu.
- Bảng 4.2: Kết quả kiểm định hệ số dường dẫn
Kết quả kiểm định hệ số đường dẫn cho thấy các mối quan hệ trong mô hình nghiên cứu như sau:
- Thứ nhất, tác động của các thành phần Trách nhiệm xã hội (CSR) đến Hình ảnh DN (CI)
TN Pháp lý (CSR.L → CI): β = 0,279. Đây là tác động mạnh nhất đến Hình ảnh Doanh nghiệp. Điều này cho thấy trong ngành bao bì giấy, việc doanh nghiệp tuân thủ pháp luật, hoạt động trong khuôn khổ luật định là yếu tố quan trọng hàng đầu tạo nên hình ảnh tốt trong mắt các bên liên quan.
TN Thiện nguyện (CSR.P → CI): β = 0,183. Đây là tác động tích cực và có độ lớn vừa phải. Cho thấy các hoạt động đóng góp cho cộng đồng giúp cải thiện đáng kể hình ảnh của công ty.
TN Đạo đức (CSR.Et → CI): β = 0,18. Đây cũng là một tác động tích cực. Cho thấy việc hành xử một cách công bằng, đúng đắn và có đạo đức cũng góp phần xây dựng hình ảnh doanh nghiệp.
TN Kinh tế (CSR.Ec → CI): β = 0,178. Đây là tác động tích cực nhưng yếu nhất trong 4 thành phần CSR đến hình ảnh DN. Có thể khách hàng xem việc doanh nghiệp hoạt động có lợi nhuận là điều hiển nhiên, nên nó ít có tác động nổi bật đến việc xây dựng hình ảnh hơn là các yếu tố pháp lý hay thiện nguyện.
Như vậy, để xây dựng hình ảnh, doanh nghiệp ngành bao bì giấy cần ưu tiên hàng đầu việc thượng tôn pháp luật, sau đó là các hoạt động thiện nguyện có chiến lược.
- Thứ hai, tác động đến Lòng trung thành của khách hàng (CL)
TN Kinh tế (CSR.Ec → CL): β = 0,296. Đây là tác động tích cực trực tiếp rất mạnh. Kết quả này cho thấy khách hàng trong ngành này rất quan tâm đến kinh tế của doanh nghiệp thể hiện qua hoạt động kinh doanh cụ thể. Họ trung thành với những công ty làmăn hiệu quả, cung cấp sản phẩm chất lượng ổn định với giá cả hợp lý.
TN Pháp lý (CSR.L → CL): β = 0,30. Đây là tác động tích cực trực tiếp rất mạnh, gần như tương đương với TN Kinh tế. Điều này cho thấy khách hàng cảm thấy an tâm và tin tưởng khi hợp tác với một doanh nghiệp tuân thủ pháp luật, đảm bảo các tiêu chuẩn về sản phẩm và lao động. uận văn: KQNC Nghiên cứu mối quan hệ trách nhiệm xã hội DN.
TN Đạo đức (CSR.Et → CL): β = 0,110. Vẫn là tác động tích cực, trực tiếp đến lòng trung thành của khách hàng nhưng khá yếu. Bởi lẻ khách hàng quan tâm nhiều nhất đến TNKT và TNPL của DN
TN Thiện nguyện (CSR.P → CL): β = -0.038. Đây là tác động âm và không đáng kể (rất gần 0). Kết quả này gần như chắc chắn không có ý nghĩa thống kê (p > 0.05). Điều này có nghĩa là các hoạt động từ thiện của doanh nghiệp không có tác động trực tiếp đến việc giữ chân khách hàng. Khách hàng không mua hàng nhiều hơn chỉ vì công ty đó đi làm từ thiện.
Hình ảnh DN (CI → CL): β = 0,146. Đây là một kết quả đáng chú ý. Tác động trực tiếp của Hình ảnh doanh nghiệp lên Lòng trung thành tương đối là yếu. Điều này cho thấy vai trò trung gian của CI có thể không mạnh như kỳ vọng. Khách hàng có thể trung thành vì các lý do thực tế (kinh tế, pháp lý) hơn là vì một hình ảnh trừu tượng.
Như vậy, doanh nghiệp ngành bao bì giấy muốn giữ chân khách hàng thì cần tập trung vào nền tảng cốt lõi là kinh doanh hiệu quả và tuân thủ nghiêm ngặt pháp luật. Các hoạt động thiện nguyện và đạo đức tuy giúp xây dựng hình ảnh đẹp nhưng không phải là yếu tố quyết định trực tiếp đến lòng trung thành của khách hàng.
4.2.4 Kết quả Độ tin cậy và tính hợp lệ của cấu trúc (Construct Reliability and Validity)
- Để một cấu trúc thang đo được xem là tốt, nó cần thỏa mãn các tiêu chí sau:
Thứ nhất, độ tin cậy (Reliability), Cronbach’s Alpha phải lớn hơn 0.7 và độ tin cậy tổng hợp (Composite Reliability – CR / rho_c) cũng phải lớn hơn 0.7. Chỉ số này thường được ưu tiên hơn Cronbach’s Alpha trong mô hình PLS-SEM (Hair, Hult, Ringle, & Sarstedt, 2017).
Thứ hai, tính hợp lệ hội tụ (Convergent Validity) được thể hiện qua Phương sai trích trung bình (Average Variance Extracted – AVE) phải lớn hơn 0.5. Điều này có nghĩa là biến tiềm ẩn giải thích được trung bình trên 50% sự biến thiên của các chỉ báo của nó (Fornell & Larcker, 1981).
- Bảng 4.3: Kết quả độ tin cậy tổng hợp và tính hợp lệ
Bảng 4.3 cho kết quả độ tin cậy, độ tin cậy tổng hợp (rho_c) và phương sai trích trung bình (AVE) như sau:
- Hình ảnh DN (CI): Cronbach’s Alpha = 0,719 > 0,7; CR = 819 > 0,7; AVE = 0,57 > 0.5.
- Lòng trung thành (CL): Cronbach’s Alpha = 0,873 > 0,7; CR = 0.922 > 0,7; AVE = 0,798 > 0,5.
- TN Kinh tế (CSR.Ec): Cronbach’s Alpha = 0,856 >0,7; CR = 896 > 0,7; AVE = 0,634 > 0,5.
- TN Đạo đức (CSR.Et): Cronbach’s Alpha = 0.835 > 0,7; CR = 0,901 > 0,7; AVE = 0,753 > 0,5.
- TN Pháp lý (CSR.L): Cronbach’s Alpha = 0,887 > 0,7; CR = 0,917 > 0,7; AVE = 0.688 > 0,5.
- TN Thiện nguyện (CSR.P): Cronbach’s Alpha = 0.942 > 0,7; CR = 0.956 > 0,7; AVE = 0,813 > 0,5.
Tất cả các khái niệm trong mô hình đều có chỉ số Độ tin cậy tổng hợp và Phương sai trích trung bình vượt xa ngưỡng yêu cầu. Điều này cũng chứng tỏ các thang đo có tính hợp lệ hội tụ rất tốt, khẳng định chất lượng cao của mô hình đo lường.
4.2.5 Tính hợp lệ phân biệt (Discriminant Validity) uận văn: KQNC Nghiên cứu mối quan hệ trách nhiệm xã hội DN.
Tính hợp lệ phân biệt đảm bảo rằng một khái niệm trong mô hình thực sự khác biệt với các khái niệm khác. Tính hợp lệ phân biệt sẽ được đánh giá qua hai tiêu chí hiện đại và truyền thống.
4.2.5.1 Tiêu chí HTMT (Heterotrait-Monotrait Ratio)
Đây là tiêu chí quan trọng và được tin cậy nhất hiện nay để đánh giá tính hợp lệ phân biệt (Henseler, Ringle, & Sarstedt, 2015).
- Bảng 4.4: Kiểm định tính phân biệt theo tiêu chí HTMT
Căn cứ vào kết quả Bảng 4.4, tất cả các giá trị trong ma trận HTMT cho thấy giá trị cao nhất là 0.656 (giữa CSR.Et và CSR.P). Như vậy, các giá trị nhỏ hơn 0,9 rất nhiều, tính hợp lệ phân biệt được khẳng định một cách mạnh mẽ. Các khái niệm trong mô hình nghiên cứu hoàn toàn tách biệt với nhau (Henseler, Ringle, & Sarstedt, 2015).
4.2.5.2 Tiêu chí Fornell-Larcker
Kiểm định theo tiêu chí của Fornell-Larcker là phương pháp truyền thống để đánh giá, giúp củng cố thêm kết quả kiểm định tính phân biệt.
- Bảng 4.5: Kiểm định tính phân biệt theo Fornell-Larcker
Theo tiêu chí Fornell-Larcker thì căn bậc hai của AVE (các giá trị nằm trên đường chéo, số đậm) của một khái niệm phải lớn hơn tương quan của nó với tất cả các khái niệm khác trong mô hình (các giá trị trong cùng cột và cùng hàng).
Kết quả Bảng 4.5 cho thấy:
- CI: 0,8 lớn hơn tất cả các giá trị trong cột (cao nhất là 0,546) và hàng của nó.
- CL: 0,894 lớn hơn tất cả các giá trị trong cột (cao nhất là 0,567) và hàng của nó.
- CSR.Ec: 0,796 lớn hơn tất cả các giá trị trong cột (cao nhất là 0,558) và hàng của nó.
- CSR.Et: 0,868 lớn hơn tất cả các giá trị trong cột (cao nhất là 0,581) và hàng của nó.
- CSR.L: 0,83 lớn hơn tất cả các giá trị trong cột (cao nhất là 0,511) và hàng của nó.
- CSR.P: 0,92 lớn hơn tất cả các giá trị trong cột và hàng của nó.
Như vậy, tất cả các giá trị trên đường chéo đều lớn hơn các giá trị tương quan tương ứng. Do đó, tiêu chí Fornell-Larcker cũng hoàn toàn được đáp ứng.
Kết quả thông qua 2 kiểm định cho thấy tính hợp lệ hội tụ và phân biệt đáp ứng rất tốt yêu cầu cho thấy mô hình đo lường có chất lượng cao. Cả tính hợp lệ hội tụ và tính hợp lệ phân biệt đều được đảm bảo một cách xuất sắc qua các tiêu chí đánh giá tin cậy. uận văn: KQNC Nghiên cứu mối quan hệ trách nhiệm xã hội DN.
4.2.6 Kiểm định đa cộng tuyến (VIF)
Kiểm định chỉ số VIF (Variance Inflation Factor) nhằm kiểm tra xem có hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng giữa các chỉ báo trong cùng một thang đo hay không. Nếu VIF quá cao, điều đó có nghĩa là một số câu hỏi đo lường của bạn có nội dung quá giống nhau, gây ra sự dư thừa trong mô hình.
- Thông thường giá trị VIF của mỗi chỉ báo phải nhỏ hơn 5.
Căn cứ vào kết quả kiểm định VIF (Phụ lục 6.1) cho thấy hầu hết các chỉ báo đều có chỉ số VIF nằm trong khoảng 1.357 đến 3,614, hoàn toàn đáp ứng tiêu chuẩn. Tuy nhiên có 3 chỉ báo TN thiện nguyện có VIF > 0,5 là CSR.P1 (5,811), CSR.P2 (5,972), CSR.P3 (5,371). Như vậy, hiện tượng đa cộng tuyến đã xảy ra ở mức độ nhẹ đối với 3 chỉ báo này. Điều này cho thấy câu hỏi CSR.P1, CSR.P2 và CSR.P3 có thể quá giống nhau về mặt ý nghĩa đối với người trả lời. Tuy nhiên, đối với chỉ báo có 0,50 < VIF < 0,6 có thể chấp nhận được thay vì phải loại bỏ 3 chỉ báo này để chạy lại với điều kiện p values của 3 chỉ báo < 0,05 (Hair, Hult, Ringle, & Sarstedt, 2017). Kết quả Bootstrap 3 chỉ báo nằm trong biến CSR.P có p value = 0,00 < 0,05. (Phụ lục 6.8)
4.2.7 Mức độ phù hợp của mô hình (Model Fit)
Chỉ số Model Fit đánh giá xem mô hình lý thuyết tổng thể có phù hợp với dữ liệu thực tế thu thập được hay không. Trong PLS-SEM, việc đánh giá Model Fit không quá khắt khe như trong CB-SEM. Tuy nhiên, việc báo cáo các chỉ số này ngày càng trở nên phổ biến để tăng tính thuyết phục. Chỉ số quan trọng và được sử dụng rộng rãi nhất là SRMR và NFI. Trong đó, chỉ số SRMR là chỉ số quan trọng nhất để đánh giá mức độ phù hợp của mô hình (Henseler et al., 2014; Hair et al., 2017).
- SRMR (Standardized Root Mean Square Residual): Giá trị SRMR dưới 0.08 được xem là một sự phù hợp tốt (Henseler et al., 2014; Hair et al., 2017).
- NFI (Normed Fit Index): Giá trị NFI thường được mong đợi là lớn hơn 9.
Bảng 4.6: Độ phù hợp của mô hình
Kết quả Bảng 4.6 cho thấy:
- SRMR = 0,062: Giá trị này nhỏ hơn ngưỡng 0,08. Đây là một dấu hiệu rất tốt, cho thấy mô hình của bạn phù hợp tốt với dữ liệu thị trường.
- NFI = 0,842: Giá trị này thấp hơn ngưỡng đề xuất là 9.
Kết quả cho thấy giá trị SRMR = 0.066, thấp hơn ngưỡng đề xuất 0.08, cho thấy mô hình phù hợp tốt với dữ liệu thực tế (Henseler et al., 2014). Mặc dù chỉ số NFI (0,849) chưa đạt mức 0,9, nhưng dựa trên chỉ số SRMR đáng tin cậy hơn, có thể kết luận mô hình nghiên cứu có độ phù hợp chấp nhận được (Henseler et al., 2014; Hair et al., 2017).
4.2.8 Đánh giá kết quả R-square (R2 – Hệ số xác định) uận văn: KQNC Nghiên cứu mối quan hệ trách nhiệm xã hội DN.
Chỉ số R-square cho biết mức độ mà các biến độc lập trong mô hình có thể giải thích được sự thay đổi (phương sai) của biến phụ thuộc. Nó là thước đo năng lực dự báo hay sức mạnh giải thích của mô hình.
- Bảng 4.7: Kết quả R bình phương (R – square
Căn cứ và kết quả của Bảng 4.7:
- Đối với biến Hình ảnh Doanh nghiệp (CI): R2 = 0,421
Điều này có nghĩa là 4 biến CSR (Kinh tế, Pháp lý, Đạo đức, Thiện nguyện) cùng nhau giải thích được 42,1% sự thay đổi của biến Hình ảnh Doanh nghiệp. Theo các tiêu chuẩn trên, đây là mức giải thích ở mức độ trung bình (moderate).
- Đối với biến Lòng trung thành (CL): R2= 0,432
Điều này có nghĩa là cả 4 biến CSR và biến Hình ảnh Doanh nghiệp cùng nhau giải thích được 43,24% sự thay đổi của biến Lòng trung thành. Đây cũng là một mức giải thích ở mức độ trung bình (moderate). (Theo Hair, Hult, Ringle, & Sarstedt, 2017; Chin, 1998).
Như vậy, mô hình nghiên cứu có năng lực giải thích ở mức chấp nhận được. Việc giải thích được hơn 40% sự biến thiên của cả Hình ảnh Doanh nghiệp và Lòng trung thành là một kết quả tốt trong nghiên cứu này. Điều này cho thấy các biến lựa chọn của Trách nhiệm xã hội (4 thành phần CSR) thực sự là những yếu tố dự báo quan trọng cho hình ảnh và lòng trung thành của khách hàng trong ngành sản xuất bao bì giấy.
4.2.9 Kết quả Boostrapping
4.2.9.1 Hệ số tải ngoài
Kết quả Bootstrapping với mẫu = 5.000 phiếu khảo sát lặp lại cho kết quả các mẫu gốc đều > 0,7 và các biến quan sát trong thang đo đều có p values = 0.000 < 0.05 và T statistics > 22,00. Như vấy các biến quan sát này đạt yêu cầu, có ý nghĩa thống kê (Hair và công sự, 2017). (Phụ lục 6.8)
4.2.9.2 Tác động gián tiếp sau Bootstrapping
Tiến hành Bootstrap với mẫu 5.000 phiếu cho ra kết quả kiểm định vai trò trung gian của Hình ảnh Doanh nghiệp (CI). Cụ thể, nó lượng hóa tác động của 4 thành phần CSR lên Lòng trung thành (CL) thông qua biến trung gian CI.
Bảng 4.8: Kết quả tác động gián tiếp sau Bootstrapping
Kết quả Bảng 4.8 uận văn: KQNC Nghiên cứu mối quan hệ trách nhiệm xã hội DN.
- TN Kinh tế (CSR.Ec) → CI → CL: β = 0.026 với p values = 0,087 > 0,05 Theo kết quả này thì đây là tác động tích cực gián tiếp, không có ý nghĩa thống kê.
- TN Đạo đức (CSR.Et) → CI → CL: β = 0,026 với p values = 0,071 > 0,05 Tương tự, kết quả này là tác động tích cực gián tiếp nhưng không có ý nghĩa thống kê.
- TN Pháp lý (CSR.L) → CI → CL: β = 0,041 với p values = 0,015 < 0,05 Kết quả này cho thấy đây là tác động tích cực gián tiếp có ý nghĩa thống kê.
- Thiện nguyện (CSR.P) → CI → CL: β = 018 với p values = 0,043 < 0,05
Kết quả này cho thấy đây là tác động tích cực gián tiếp có ý nghĩa thống kê (Preacher & Hayes, 2008).
4.2.9.3 Tác động trực tiếp qua Bootstrapping
- Bảng 4.9: Kết quả tác động trực tiếp
Căn cứ vào Bảng 4.9, các tác động đến Lòng trung thành khách hàng (CL):
- L → CL có β = 0,341 với p = 0.000. Đây là tác động mạnh nhất đến Lòng trung thành. Giả thuyết được chấp nhận.
- Ec → CL có β = 0,322 với p = 0.000. Đây là tác động mạnh thứ hai. Giả thuyết được chấp nhận.
- CI → CL có β = 0,146 với p = 0,015 < 0,05. Tác động này có ý nghĩa thống kê. Giả thuyết được chấp nhận.
- Et → CL có β = 0,126 với p = 0,019 < 0,05. Tác động này có ý nghĩa thống kê nhưng là yếu nhất trong số các tác động có ý nghĩa. Giả thuyết được chấp nhận.
- P → CL có β = – 0.011 với p = 0,846 > 0,05. Tác động này KHÔNG có ý nghĩa thống kê (vì p > 0.05). Giả thuyết bị bác bỏ.
Các tác động đến Hình ảnh Doanh nghiệp (CI)
- L → CI có β = 0,279 với p = 0,000 < 0,05. Tác động mạnh nhất đến Hình ảnh Doanh nghiệp.
- P → CI có β = 0,183 với p = 0,001 < 0,05. Tác động tích cực, có ý nghĩa.
- Et → CI có β = 0,180 với p = 0,000 < 0,05. Tác động tích cực, có ý nghĩa.
- Ec → CI có β = 0,178 với p = 0,001 < 0,05. Tác động tích cực, có ý nghĩa.
Như vậy theo kết quả trên thì cả bốn thành phần CSR đều là những yếu tố dự báo quan trọng, góp phần xây dựng nên Hình ảnh Doanh nghiệp. Trong đó, việc Tuân thủ Pháp luật (CSR.L) một lần nữa được khẳng định là yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất
Kết quả Bootstrapping với mẫu = 5.000 cho kết quả 4 yếu tố thể hiện Trách nhiệm xã hội đều có tác động tích cực đến Hình ảnh DN (CI) nhưng đối với lòng trung thành thì chỉ có TN thiện nguyện là tác động không có ý nghĩa thống kê, 3 yếu tố thuộc Trách nhiệm xã hội còn lại đều tác động tích cực có ý nghĩa thống kê. Điều này cũng cho thấy biến Hình ảnh DN (CI) là biến trung gian một phần của CSR.Ec, CSR.L, CSR.Et và Hình ảnh DN (CI) là biến trung gian toàn phần của CSR.P vì CSR.P → CL: có p values = 0,846 > 0,05 không có ý nghĩa thống kê.
4.3 Thảo luận kết quả nghiên cứu uận văn: KQNC Nghiên cứu mối quan hệ trách nhiệm xã hội DN.
- Bảng 4.10 Kiểm định giả thuyết nghiên cứu
Kết quả kiểm định mô hình SEM cho thấy tám giả thuyết được chấp nhận và một giả thuyết (H8 – trách nhiệm thiện nguyện → lòng trung thành) bị bác bỏ (p = 0,846 > 0,05).
Điều này cho thấy trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR) thực sự ảnh hưởng đến hình ảnh doanh nghiệp (CI) và lòng trung thành khách hàng (CL), nhưng mức độ và hướng tác động phụ thuộc vào bản chất mối quan hệ khách hàng trong ngành.
Kết quả này phản ánh rõ nét đặc trưng của ngành sản xuất bao bì giấy Việt Nam, vốn hoạt động chủ yếu theo mô hình B2B, trong đó uy tín, tuân thủ và tính ổn định là các tiêu chí quyết định lòng trung thành.
- Tác động của các thành phần CSR đến hình ảnh doanh nghiệp
Bốn thành phần CSR (kinh tế, pháp lý, đạo đức, thiện nguyện) đều ảnh hưởng tích cực đến hình ảnh doanh nghiệp (β từ 0,178–0,279; p < 0,01). Trong đó, trách nhiệm pháp lý (β = 0,279) có tác động mạnh nhất. Điều này phản ánh nhận thức của khách hàng trong ngành bao bì, nơi các đối tác mua hàng (đa số là nhà máy, công ty sản xuất hoặc chuỗi bán lẻ lớn) đánh giá rất cao mức độ tuân thủ quy định môi trường, tiêu chuẩn chất lượng và an toàn sản xuất, việc doanh nghiệp bao bì thực thi đúng pháp lý trở thành yếu tố tạo dựng hình ảnh “đối tác tin cậy và bền vững”.
Trách nhiệm đạo đức (β = 0,180) cũng góp phần quan trọng trong việc củng cố hình ảnh. Trong bối cảnh các đơn hàng B2B thường được duy trì dài hạn, khách hàng không chỉ đánh giá sản phẩm mà còn đánh giá cách doanh nghiệp ứng xử: minh bạch trong báo giá, đúng hạn giao hàng, và trung thực trong kiểm soát chất lượng. Điều này phù hợp với Carroll (1991) và Pérez & del Bosque (2015), khi cả hai đều khẳng định chuẩn mực đạo đức là tầng giá trị cốt lõi duy trì sự tôn trọng và lòng tin trong mối quan hệ kinh doanh.
Trong khi đó, trách nhiệm thiện nguyện (β = 0,183) vẫn có tác động tích cực đến hình ảnh doanh nghiệp, nhưng mang tính biểu trưng, giúp doanh nghiệp thể hiện trách nhiệm với cộng đồng, song không phải là yếu tố trọng tâm định hình niềm tin. Điều này cho thấy hình ảnh doanh nghiệp trong ngành bao bì giấy Việt Nam không được tạo nên từ những hoạt động CSR phô trương, mà từ sự bền bỉ, minh bạch và chuẩn mực trong thực hành kinh doanh hằng ngày.
- Tác động của CSR đến lòng trung thành khách hàng uận văn: KQNC Nghiên cứu mối quan hệ trách nhiệm xã hội DN.
Ba thành phần kinh tế (β = 0,322), pháp lý (β = 0,341) và đạo đức (β = 0,126) đều có tác động tích cực đến lòng trung thành khách hàng, trong khi thiện nguyện (β = –0,011; p = 0,846) không có ý nghĩa thống kê. Kết quả này thể hiện rất rõ bản chất B2B của ngành bao bì giấy Việt Nam: Khách hàng là doanh nghiệp sản xuất, thường duy trì hợp tác nhiều năm nếu đối tác đảm bảo chất lượng ổn định, giao hàng đúng tiến độ, và cam kết trách nhiệm pháp lý rõ ràng. Họ đánh giá sự trung thành dựa trên tín nhiệm và năng lực vận hành, chứ không dựa vào các hoạt động thiện nguyện hay truyền thông hình ảnh.
Sự khác biệt này đối lập với các nghiên cứu trong bối cảnh B2C (như Ali & Ndubisi, 2017; Cha et al., 2016), nơi CSR thiện nguyện tạo ra thiện cảm cảm xúc mạnh mẽ và thúc đẩy hành vi mua lặp lại. Trong B2B, yếu tố “cảm xúc” được thay thế bằng “niềm tin vận hành”, khách hàng trung thành vì doanh nghiệp giữ chữ tín và tuân thủ chuẩn mực, chứ không vì thiện cảm xã hội.
Do đó, việc CSR thiện nguyện không có ý nghĩa thống kê trong nghiên cứu này là kết quả hợp lý, phản ánh đúng hành vi thực tế của các khách hàng doanh nghiệp tại Việt Nam, vốn đang chịu áp lực cạnh tranh và tối ưu chi phí.
- Vai trò trung gian của hình ảnh doanh nghiệp
Kết quả cho thấy hình ảnh doanh nghiệp có tác động tích cực đến lòng trung thành (β = 0,146; p = 0,015) và đóng vai trò trung gian một phần trong mối quan hệ giữa CSR và lòng trung thành. Điều này có nghĩa rằng CSR không chỉ tạo ảnh hưởng trực tiếp, mà còn thông qua hình ảnh tích cực mà khách hàng cảm nhận được.
Trong bối cảnh ngành bao bì, hình ảnh doanh nghiệp trở thành tín hiệu chất lượng và cam kết dài hạn. Khi khách hàng tin rằng doanh nghiệp thực hiện CSR một cách thực chất, ví dụ, xử lý nước thải đạt chuẩn, sử dụng nguyên liệu tái chế, bảo đảm an toàn lao động, họ coi đó là biểu hiện của năng lực quản trị tốt, từ đó củng cố lòng trung thành. Điều này phù hợp với Martínez et al. (2019), khi khẳng định hình ảnh doanh nghiệp chính là “cầu nối cảm xúc” giúp CSR chuyển hóa thành niềm tin và hành vi trung thành.
Kết quả của nghiên cứu tương đồng với nhiều công trình trước đây (như Pérez & del Bosque, 2015; Nguyễn & Lê, 2020), khi khẳng định CSR có tác động tích cực đến hình ảnh và lòng trung thành khách hàng. Tuy nhiên, nghiên cứu này mang hai điểm khác biệt nổi bật:
- Trong khi các nghiên cứu B2C cho rằng CSR thiện nguyện tác động mạnh mẽ đến lòng trung thành, đề tài này chứng minh rằng trong môi trường hợp tác doanh nghiệp – doanh nghiệp, yếu tố này không có ý nghĩa thống kê. Kết quả này góp phần làm rõ rằng CSR cần được thiết kế phù hợp với bản chất quan hệ khách hàng, không thể áp dụng chung giữa hai bối cảnh.
- Kết quả cho thấy các doanh nghiệp bao bì Việt Nam nếu muốn duy trì lòng trung thành cần tập trung vào CSR pháp lý, đạo đức và kinh tế, những yếu tố trực tiếp phản ánh năng lực và uy tín trong chuỗi cung ứng.
Qua đó, nghiên cứu lấp đầy khoảng trống lý thuyết trước đây, ít nghiên cứu đánh giá cơ chế tác động không đồng nhất của từng thành phần CSR trong môi trường B2B. uận văn: KQNC Nghiên cứu mối quan hệ trách nhiệm xã hội DN.
Kết quả của đề tài mở rộng mô hình kim tự tháp CSR của Carroll (1991), khẳng định rằng trong các ngành công nghiệp sản xuất, các tầng trách nhiệm kinh tế – pháp lý – đạo đức là nền tảng tạo giá trị bền vững, còn thiện nguyện chỉ đóng vai trò hỗ trợ hình ảnh.
Nghiên cứu đã chứng minh rằng CSR là nền tảng chiến lược định hình hình ảnh doanh nghiệp và lòng trung thành khách hàng, trong đó hình ảnh doanh nghiệp đóng vai trò trung gian quan trọng. Ngoài ra, kế quả còn mang giá trị thực tiễn sâu sắc đối với ngành bao bì giấy Việt Nam, khi doanh nghiệp phải đối mặt với yêu cầu phát triển bền vững và tiêu chuẩn môi trường ngày càng khắt khe. Điều này khẳng định CSR không phải là hoạt động mang tính hình thức, mà là công cụ quản trị giúp doanh nghiệp xây dựng uy tín, tăng khả năng cạnh tranh và duy trì quan hệ đối tác dài hạn trong chuỗi cung ứng.
- TÓM TẮT CHƯƠNG 4
Chương 4 trình bày kết quả nghiên cứu và thảo luận. Luận văn đã kiểm định, phân tích một số nội dung trọng tâm như Hệ số tải ngoài, Hệ số đường dẫn, Giá trị hội tụ, Tính phân biệt, kiểm định R-square (R2), f-square (f2), độ tin cậy tổng hợp. Cuối cùng thực hiện Boostrapping với cỡ mẫu 5.000 để xác định vai trò trung gian của Hình ảnh DN và kiểm định giả thuyết nghiên cứu. Kết quả giả thuyết H8 không có ý nghĩa thông kê.
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ
5.1 Kết luận
Luận văn Thạc sĩ với đề tài “Nghiên cứu mối quan hệ trách nhiệm xã hội với hình ảnh doanh nghiệp đến lòng trung thành của khách hàng tại các công ty sản xuất bao bì giấy Việt Nam” đã đạt dược một số kết quả như sau:
Thứ nhất, thông qua phương pháp nghiên cứu định tính đã xác định được mô hình nghiên cứu củng với thang đo tương ứng phù hợp với boe61i hiện nay của các Công ty Sản xuất kinh doanh bao bì giấy Việt Nam.
Thứ hai, thông qua phương pháp nghiên cứu định lượng đã tiến hành các bước kiểm định phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM đồng thời xác định rõ vai trò trung gian của Hình ảnh DN đối với 4 biến thể hiện Trách nhiệm xã hội là TN kinh tế, TN pháp luật, TN đạo đức và TN thiện nguyện. Trong đó Hình ảnh DN chỉ giữ vai trò trung gian toàn phần đối với biến TN thiện nguyện.
Thứ ba, Luận văn Thạc sĩ đã thảo luận kết quả nghiên cứu với các nghiên cứu đã lược khảo trong Chương 2 để chỉ ra những sự tương đồng và khác biệt thông qua nhằm chỉ rõ khoảng trống nghiên cứu đã được thực hiện.
Thứ tư, thông qua các kết quả nghiên cứu đạt được, Luận văn đề xuất được một số hàm ý quản trị được thể hiện cụ thể qua nội dung mục 5.2.
5.2 Hàm ý quản trị uận văn: KQNC Nghiên cứu mối quan hệ trách nhiệm xã hội DN.
Từ cơ sở lý thuyết đã phân tích và kết quả kiểm định, phân tích mô hình nghiên cứu và có thể đề xuất các hàm ý quản trị cụ thể cho các doanh nghiệp trong ngành sản xuất bao bì giấy tại Việt Nam, nhằm tăng cường trách nhiệm xã hội, cải thiện hình ảnh doanh nghiệp và củng cố lòng trung thành của khách hàng.
5.2.1 Tối ưu hóa Trách nhiệm kinh tế (TNKT) gắn liền với phát triển bền vững
Nền tảng của mọi doanh nghiệp là phải hoạt động hiệu quả về mặt kinh tế. Tuy nhiên, trong ngành bao bì giấy, trách nhiệm kinh tế không chỉ đơn thuần là tối đa hóa lợi nhuận mà cần được tích hợp với mục tiêu phát triển bền vững. Các nhà quản trị cần nhận thức rằng việc đầu tư vào công nghệ xanh, quy trình sản xuất tiết kiệm năng lượng và nguyên liệu không phải là chi phí mà là một khoản đầu tư chiến lược. Điều này thể hiện qua những hành động cụ thể như sau:
Doanh nghiệp nên chủ động nghiên cứu và áp dụng các công nghệ sản xuất hiện đại, chẳng hạn như hệ thống tái chế nước thải, sử dụng năng lượng mặt trời, và tối ưu hóa quy trình cắt giấy để giảm thiểu phế liệu. Việc sử dụng nguyên liệu giấy tái chế hoặc giấy từ các nguồn rừng được chứng nhận (như FSC – Forest Stewardship Council) không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn là một điểm cộng lớn trong mắt các khách hàng doanh nghiệp (B2B) và người tiêu dùng cuối cùng, những người ngày càng quan tâm đến nguồn gốc sản phẩm.
Doanh nghiệp cần truyền thông một cách minh bạch và hiệu quả về những nỗ lực này. Thay vì chỉ báo cáo lợi nhuận, các báo cáo thường niên nên bao gồm cả “báo cáo bền vững”, trình bày rõ ràng các chỉ số về giảm thiểu tác động môi trường, hiệu quả sử dụng tài nguyên. Điều này giúp xây dựng hình ảnh một doanh nghiệp không chỉ làm ăn có lãi mà còn có trách nhiệm với tương lai, từ đó tạo dựng niềm tin và sự gắn kết lâu dài với khách hàng.
5.2.2 Xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và chủ động vượt trên yêu cầu (TNPL)
Tuân thủ pháp luật là yêu cầu tối thiểu, nhưng một doanh nghiệp thực sự có trách nhiệm sẽ chủ động đi trước các quy định. Trong ngành sản xuất bao bì, các quy định về môi trường, an toàn lao động và chất lượng sản phẩm là cực kỳ quan trọng. Điều này thể hiện qua những hành động cụ thể như sau:
Các nhà quản trị không nên xem việc tuân thủ pháp luật là gánh nặng. Thay vào đó, hãy xây dựng một hệ thống quản lý chủ động. Ví dụ, thay vì chỉ đáp ứng tiêu chuẩn khí thải tối thiểu, doanh nghiệp có thể đầu tư hệ thống xử lý khí thải tiên tiến hơn để giảm thiểu ô nhiễm không khí một cách tối đa.
Về an toàn lao động, doanh nghiệp cần thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn, trang bị đầy đủ bảo hộ lao động và xây dựng một quy trình làm việc an toàn vượt trên cả yêu cầu của luật pháp.
Lợi ích chiến lược: Việc chủ động tuân thủ và vượt trên các quy định pháp luật giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro pháp lý, tránh các khoản phạt và nguy cơ đình chỉ hoạt động. Quan trọng hơn, nó xây dựng hình ảnh một doanh nghiệp uy tín, minh bạch và đáng tin cậy. Khi khách hàng, đặc biệt là các đối tác lớn, lựa chọn nhà cung cấp bao bì, yếu tố tuân thủ pháp luật nghiêm ngặt là một tiêu chí không thể bỏ qua. uận văn: KQNC Nghiên cứu mối quan hệ trách nhiệm xã hội DN.
5.2.3 Đưa Trách nhiệm đạo đức (TNDD) vào lõi văn hóa doanh nghiệp
Trách nhiệm đạo đức là những chuẩn mực và hành vi mà xã hội mong đợi nhưng không được luật hóa. Đây là yếu tố tạo nên sự khác biệt và xây dựng mối quan hệ tình cảm với khách hàng. Điều này thể hiện qua những hành động cụ thể như sau:
Các nhà quản trị cần xây dựng một bộ quy tắc ứng xử đạo đức rõ ràng và áp dụng cho toàn bộ công ty, từ lãnh đạo đến nhân viên. Điều này bao gồm việc cạnh tranh lành mạnh (không nói xấu đối thủ), minh bạch trong quảng cáo (không thổi phồng về tính “xanh” của sản phẩm), tôn trọng quyền lợi của người lao động (chính sách lương thưởng công bằng, cơ hội phát triển, môi trường làm việc không phân biệt đối xử), và đối xử công bằng với nhà cung cấp.
Nên đẩy mạnh tác động của việc thể hiện TNXN đến hình ảnh và lòng trung thành của khách hàng. Khi một doanh nghiệp hành xử có đạo đức, họ sẽ tạo ra một môi trường làm việc tích cực, thu hút và giữ chân nhân tài. Chính những nhân viên này sẽ trở thành đại sứ thương hiệu, lan tỏa những giá trị tốt đẹp của công ty. Đối với khách hàng, việc biết rằng sản phẩm mình đang sử dụng được tạo ra bởi một công ty chính trực sẽ mang lại cho họ cảm giác an tâm và tự hào, từ đó hình thành một sự gắn kết sâu sắc hơn là chỉ dựa trên giá cả hay chất lượng.
5.2.4 Thực hiện Trách nhiệm thiện nguyện (TNTN) một cách chiến lược và chân thành
Các hoạt động thiện nguyện là cơ hội tuyệt vời để doanh nghiệp thể hiện sự quan tâm đến cộng đồng và nâng cao hình ảnh. Tuy nhiên, để thực sự hiệu quả, các hoạt động này cần phải có chiến lược và xuất phát từ sự chân thành. Điều này thể hiện qua những hành động cụ thể như sau:
Thay vì tài trợ dàn trải, các doanh nghiệp bao bì giấy nên tập trung vào các hoạt động có liên quan đến lĩnh vực kinh doanh cốt lõi và giá trị của công ty. Ví dụ, doanh nghiệp có thể khởi xướng các chiến dịch “Thu gom giấy cũ, trồng cây xanh”, tài trợ cho các cuộc thi thiết kế bao bì sáng tạo và thân thiện với môi trường cho sinh viên, hoặc hợp tác với các tổ chức phi chính phủ để thực hiện các dự án giáo dục về tầm quan trọng của tái chế trong trường học.
Cần xây dựng hình ảnh “Công dân doanh nghiệp”. Khi các hoạt động thiện nguyện được thực hiện một cách nhất quán và có ý nghĩa, chúng sẽ giúp xây dựng hình ảnh một “công dân doanh nghiệp” có trách nhiệm. Điều quan trọng là phải cho cộng đồng thấy rằng doanh nghiệp không chỉ “cho đi” tiền bạc, mà còn đóng góp cả thời gian, công sức và chuyên môn. Việc khuyến khích nhân viên tham gia các hoạt động tình nguyện cũng là một cách tuyệt vời để tăng cường sự gắn kết nội bộ và lan tỏa hình ảnh nhân văn của công ty.
5.2.5 Quản trị Hình ảnh doanh nghiệp (HADN) như một tài sản chiến lược
Hình ảnh doanh nghiệp là kết tinh của tất cả những gì doanh nghiệp làm, từ kinh tế, pháp lý, đạo đức đến thiện nguyện. Nó là một tài sản vô hình quý giá, có vai trò quyết định trong việc chuyển hóa các nỗ lực CSR thành lòng trung thành của khách hàng. Điều này thể hiện qua những hành động cụ thể như sau:
Nhà quản trị cần có một chiến lược truyền thông tích hợp để quản trị hình ảnh doanh nghiệp. Mọi thông điệp, từ website, mạng xã hội, báo cáo thường niên đến các sự kiện, đều phải nhất quán và phản ánh chân thực những giá trị và cam kết CSR của công ty. Doanh nghiệp nên chủ động kể những câu chuyện ý nghĩa đằng sau các hoạt động CSR của mình: câu chuyện về một công nhân có điều kiện làm việc tốt hơn, một cánh rừng được trồng mới, hay một dự án cộng đồng thành công.
Tận dụng vai trò trung gian: Nhận thức rõ HADN là cầu nối, nhà quản trị cần thường xuyên đo lường nhận thức của khách hàng về hình ảnh công ty thông qua các cuộc khảo sát, phỏng vấn. Khi có một hình ảnh tích cực, doanh nghiệp sẽ tạo ra một “bộ đệm” tâm lý, giúp khách hàng có xu hướng bỏ qua những sai sót nhỏ và duy trì sự ủng hộ ngay cả khi đối mặt với những thông tin tiêu cực. Một hình ảnh doanh nghiệp mạnh mẽ, được xây dựng trên nền tảng CSR vững chắc, chính là chìa khóa để biến khách hàng từ những người mua hàng đơn thuần trở thành những người ủng hộ trung thành và nhiệt huyết.
5.3 Hạn chế nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo
5.3.1 Hạn chế
Thứ nhất, mô hình nghiên cứu lý thuyết đề xuất chỉ dừng lại việc nghiên cứu các biến độc lập, biến trung gian toàn phần hình ảnh DN chưa nghiên cứu đến sự điều tiết của những yếu tố khác.
Thứ hai, về quy mô thu thập mẫu thì nghiên cứu chỉ có 406 phiếu và chỉ tập trung vào các khách hàng B2B chưa có mở rộng đến những khách hàng tiêu dùng sản phẩm có bao bì giấy nên chưa biết rõ sự nhận thức và đánh giá chung của người sử dụng bao bì giấy cuối cùng.
5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo
Để khắc phục các hạn chế nêu trên của LATS, tác giả đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo phải bổ sung nội dung nghiên cứu như sau:
Thứ nhất, mô hình nghiên cứu lý thuyết sẽ đề xuất thêm các yếu tố về TN môi trường là xu thế hiện nay trong Sản xuất kinh doanh để xem mức độ ảnh hưởng của yếu tố này trong quá trình tạo hình ảnh DN và lòng trung thành của khách hàng như thế nào?
Thứ hai, về quy mô thu thập mẫu sẽ tăng lên trên 600 phiếu khảo sát để nhận diện vấn đề một cách toàn diện hơn.
Thứ ba, cần mở rộng nghiên cứu thêm về các sản phẩm bao bì không chỉ là bao bì giấy như nghiên cứu hiện nay.
- TÓM TẮT CHƯƠNG 5
Căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu, tác giả đưa ra một số kết luận về kết quả thực hiện đề tài nghiên cứu Luận văn Thạc sĩ “Nghiên cứu mối quan hệ trách nhiệm xã hội với hình ảnh doanh nghiệp đến lòng trung thành của khách hàng tại các công ty sản xuất bao bì giấy Việt Nam”. Đồng thời đề xuất 5 hàm ý quản trị từ những kết quả nghiên cứu mang tính khoa học nhằm nâng cao hình ảnh DN qua các hoạt động thể hiện Trách nhiệm xã hội và gia tăng lòng trung thành của khách hàng. Bên cạnh đó, LVTh.S cũng nêu lên những hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo để khắc phục một số hạn chế trong đề tài nghiên cứu của tác giả. Luận văn: KQNC Nghiên cứu mối quan hệ trách nhiệm xã hội DN.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Nghiên cứu mối quan hệ trách nhiệm xã hội với DN

Pingback: Luận văn: PPNC Nghiên cứu mối quan hệ trách nhiệm xã hội DN