Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Tổng quan về kiểm soát chi thường xuyên qua kho bạc hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Tổng quan về kiểm soát chi thường xuyên qua phòng giao dịch số 5 – kho bạc nhà nước khu vực II đối với đơn vị sự nghiệp công lập. dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Giới thiệu về Phòng giao dịch số 5- Kho bạc Nhà nước khu vực II và các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Phường An Lạc.
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Kho bạc Nhà nước Phòng giao dịch Số 5
Tên đơn vị: Kho bạc Nhà nước Phòng giao dịch số 5 thuộc Kho bạc Nhà nước TP Hồ Chí Minh
Địa điểm trụ sở chính: số 549 Kinh Dương Vương, phường An Lạc, quận Phòng giao dịch số 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Quá trình thành lập: Kho bạc Nhà nước Phòng giao dịch Số 5 được thành lập theo Quyết định số 205/2003/QĐ-BTC ngày 12 tháng 12 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính với tên gọi Kho bạc Nhà nước Phòng giao dịch Số 5 trực thuộc Kho bạc Nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01 tháng 01 năm 2004 theo QĐ số 745 KB/QĐ/TCCB ngày 23 tháng 12 năm 2003 do Kho bạc Nhà nước ban hành.
Cơ sở vật chất: Trên khuôn viên khu đất rộng hơn 700 m2, trụ sở Kho bạc Nhà nước Phòng giao dịch số 5 được đưa vào khai thác sử dụng từ năm 1999. Với diện tích xây dựng là 374 m2, tổng diện tích sàn xây dựng là 562 m2.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức Kho bạc Nhà nước Phòng giao dịch Số 5
Thực hiện quy trình theo Quyết định số 2899/QĐ-KBNN ngày 15 tháng 6 năm 2018 về việc đưa ra Quy trình nghiệp vụ thống nhất đầu mối kiểm soát những khoản chi Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước cấp Huyện không có tổ chức phòng; Ban Giám đốc (02 người); Kế toán trưởng và Ủy quyền Kế toán trưởng (03 người); Giao dịch viên (18 người) và 02 Lao động Hợp đồng theo Nghị định 111/NĐ-CP (02 Bảo vệ).
Sơ đồ 1.2: Tổ chức Bộ máy Kho bạc Nhà nước Phòng giao dịch Số 5 hiện tại
- Theo Quyết định số 55/QĐ-KBNN ngày 05/3/2025, Phòng Giao dịch số 5 thuộc Kho bạc Nhà nước Khu vực II quản lý địa bàn Phường An Lạc và huyện Bình Chánh, trụ sở tại Phòng giao dịch số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu vực II .
- Phòng Giao dịch Số 5 trực thuộc Kho bạc Nhà nước Khu vực II (địa bàn quản lý là TP. Hồ Chí Minh), được tổ chức theo mô hình mới từ ngày 1/3/2025 theo Quyết định 925/2025/QĐ-BTC của Bộ Tài chính.
- Phòng Giao dịch Số 5 phụ trách các Phường An Lạc và Bình Chánh tại TP. Hồ Chí Minh.
2.1.3. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Kho bạc Nhà nước Phòng giao dịch Số 5 Luận văn: Tổng quan về kiểm soát chi thường xuyên qua kho bạc.
- Vị trí và chức năng của Kho bạc Nhà nước – Phòng giao dịch Số 5
Theo Quyết định số 925/2025/QĐ-BTC ngày 01/3/2025 về việc tổ chức mô hình mới đối với Phòng giao dịch trực thuộc Kho bạc Nhà nước- Khu vực II tại TP. Hồ Chí Minh. Phòng giao dịch số 5 là Phòng giao dịch thuộc Kho bạc Nhà nước , được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và NH để thực hiện giao dịch, thanh toán theo QĐ của pháp luật; tổ chức làm việc theo chế độ chuyên viên, có tư cách pháp nhân, con dấu riêng.
- Nhiệm vụ của Kho bạc Nhà nước – Phòng giao dịch Số 5
Theo Quyết định số 5919/QĐ-KBNN năm 2025. Phòng giao dịch số 5- Kho bạc Nhà nước khu vực II được giao các nhiệm vụ cụ thể như sau: Tiến hành thu, chi và phụ trách sắp xếp và tổ chức, theo dõi quỹ Ngân sách Nhà nước; thực hiện kiểm soát, thanh toán các khoản chi ngân sách; mở và quản lý tài khoản của các đơn vị sử dụng ngân sách; đồng thời thực hiện công tác kế toán, báo cáo tài chính, bảo đảm an toàn ngân quỹ và phối hợp với các cơ quan liên quan trong quá trình quản lý, điều hành ngân sách.
Quyền hạn của Phòng Giao dịch theo Quyết định 5919/QĐ-KBNN năm 2025: Kho bạc Nhà nước được quyền trích tài khoản tiền gửi của tổ chức, cá nhân để nộp vào ngân sách hoặc thực hiện các biện pháp hành chính khác nhằm thu ngân sách theo đúng quy định pháp luật. Đồng thời, cơ quan này có thể từ chối việc tạm ứng hay thanh toán đối với những khoản chi không đáp ứng đầy đủ điều kiện luật định và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình.
2.2. Thực trạng công tác kiểm soát chi thường xuyên qua Kho bạc Nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn Phường An Lạc giai đoạn 2020 – 2024 Luận văn: Tổng quan về kiểm soát chi thường xuyên qua kho bạc.
Việc Kiểm soát chi hiện nay tại Phòng giao dịch Số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu Vực II được thực hiện theo TT ngày 06/9/2006 số 81/2006/TT-BTC của Bộ Tài chính chỉ dẫn chế độ Kiểm soát chi đối với đơn vị Sự nghiệp công lập thực hiện quyền tự chịu trách nhiệm tự chủ về triển khai tổ chức bộ máy, biên chế và TC, TT ngày 26/8/2009 số 172/2009/TT-BTC của Bộ Tài chính điều chỉnh một số điểm của TT số 81/2006//TT-BTC, TT ngày 02/10/2012 số 161/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định chế độ thanh toán kiểm soát những khoản chi Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước, TT ngày 01/03/2016 số 39/2016/TT-BTC quy định chế độ kiểm soát, thanh toán các khoản chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc nhà nước.
Kết quả Kiểm soát chi qua Phòng giao dịch Số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu Vực II đối với những đơn vị Sự nghiệp công lập giai đoạn 2020 – 2024 được biểu thị qua.
- Bảng 2.1. Báo cáo chi các đơn vị Sự nghiệp công lập giai đoạn 2020 -2024
Năm 2024, tổng chi thường xuyên tăng 224.341,40 triệu đồng (tương ứng 58,66%) so với năm 2023. Mức tăng chủ yếu đến từ chi thanh toán cá nhân (tăng 61,53%), cho thấy cơ cấu chi phụ thuộc lớn vào quỹ lương và các khoản có tính chất tiền lương.
Trong khi đó, chi nghiệp vụ chuyên môn tăng nhẹ (3,02%), còn chi mua sắm và chi khác đều giảm mạnh, phản ánh sự điều chỉnh cơ cấu chi theo hướng ưu tiên chi con người.
Việc trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho đơn vị sự nghiệp nhằm tạo điều kiện để đơn vị linh hoạt hơn trong công tác tổ chức, cơ cấu lại bộ máy, quản lý lao động và khai thác nguồn lực tài chính phục vụ triển khai nhiệm vụ. Qua đó, đơn vị có thể đẩy mạnh tối đa năng lực, nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp cho xã hội, đồng thời tăng cường nguồn thu để cải thiện thu nhập cho đội ngũ người lao động, có thể khẳng định rằng việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị Sự nghiệp công lập là phù hợp và đúng hướng với yêu cầu cải cách.
Các đơn vị sự nghiệp công lập, với sự am hiểu quy định pháp luật về Ngân sách Nhà nước và chỉ dẫn liên quan tới Kiểm soát chi, đã phần lớn tự giác hoàn thành trọn vẹn thủ tục, HS chi qua Kho bạc Nhà nước, bảo đảm đúng QĐ.
2.2.1. Kiểm soát chi thường xuyên các khoản thanh toán cá nhân
Kiểm soát chi thanh toán cá nhân cụ thể các khoản chi tiền lương, tiền công và phụ cấp là khoản chi quan trọng thường chiếm tỷ trọng lớn nhất so với các khoản chi khác. Kết quả được thể hiện qua bảng sau:
- Bảng số 2.2 : Tình hình thanh toán cá nhân của các đơn vị sự nghiệp công lập giai đoạn 2020-2024
Năm 2024, tổng chi thanh toán cá nhân tăng 224.283 triệu đồng so với năm 2023. Mức tăng chủ yếu đến từ: Các khoản thanh toán cá nhân (+46.180). Tiền lương tăng thêm (+41.227). Tiền lương (+20.342). Phúc lợi tập thể (+10.801)
Điều này cho thấy năm 2024 có sự điều chỉnh mạnh về chính sách tiền lương và các khoản thu nhập tăng thêm.
- Đối với HS, chứng từ chi trả cho cá nhân, phần lớn các đơn vị Sự nghiệp công lập đã lập nhìn chung khá đầy đủ, hợp lệ, bao gồm: Luận văn: Tổng quan về kiểm soát chi thường xuyên qua kho bạc.
Đối với các khoản chi tiền lương: Văn bản đồng ý chỉ tiêu biên chế do cấp trên phê duyệt; DS người hưởng lương do cấp trên ký duyệt.
Đối với Những khoản chi tiền công trả cho LĐ thường xuyên theo HĐ, học bổng HSSV phụ cấp lương, phúc lợi tập thể, tiền thưởng, những khoản đóng góp, chi cho lãnh đạo xã thôn, bản đương chức: DS những người hưởng tiền công LĐ thường xuyên theo HĐ, DS thôn bản cán bộ xã đương nhiệm; DS những người được tiền phụ cấp, thưởng, trợ cấp; DS học bổng …
Chi trả thu nhập tăng thêm cho Cán bộ công chức, viên chức của cơ quan HC triển khai và NĐ số 117/2013/NĐ-CP và NĐ số 130/2005/NĐ-CP, DS chi trả thu nhập tăng thêm cho Cán bộ công chức, viên chức; Bảng nhận định kết quả tiết kiệm chi theo năm.
Chi trả thu nhập tăng thêm cho CBVC, viên chức của Sự nghiệp công lập triển khai NĐ số 43/2006/NĐ-CP và số 16/2022/NĐ-CP và các NĐ trong từng ngành; NQ số 77/NQ-CP: DS chi trả thu nhập tăng thêm cho Cán bộ công chức viên chức (gửi từng lần); Bảng nhận định kết quả tiết kiệm chi theo năm.
- Những khoản chi trả khác cho các cá nhân: DS theo từng lần thanh toán.
- Đối với chi trả cá nhân thuê ngoài: Chi trả từng lần và chi trả lần cuối đơn vị gửi Văn bản nghiệm thu (Tình huống phải gửi HĐ)
Qua số liệu trên bảng có thể thấy rằng: Trong giai đoạn từ năm 2020 đến 2024, số chi thanh toán cho cá nhân của các đơn vị Sự nghiệp công lập qua Phòng giao dịch Số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu Vực II đã tăng dần qua các năm, lý do chủ yếu do CS, chế độ tiền lương của NN đã được nâng cao đáng kể cụ thể mức lương tối thiểu đầu năm 2020 là 1.050.000 đ đến tháng 7 năm 2020 tăng lên là 1.150.000 đ và giữ nguyên mức lương tối thiểu đó đến tháng 5 năm 2023 thì tăng lên 1.210.000 đ và đợt tăng lương gần đây nhất là vào tháng 7 năm 2024 với mức lương cơ sở là 1.300.000 đ, cụ thể số tiền chi cho các mục 6000, 6100, 6050 gồm có tiền công, tiền lương và trợ cấp tăng dần theo năm.
Trong giai đoạn 2020 – 2024, chi ngân sách cho tiền lương, tiền công và phụ cấp tại các đơn vị Sự nghiệp công lập trên địa bàn Phường An Lạc trong tổng chi thanh toán cá nhân luôn chiếm tỷ trọng lớn. Hiện rõ, năm 2020 đạt 156,435 tỷ đồng (chiếm 64,5%), năm 2021 là 180,283 tỷ đồng (62%), năm 2022 là 208,810 tỷ đồng (62,71%), năm 2023 là 230,095 tỷ đồng (63,13%) và đến năm 2024 là 259,712 tỷ đồng (44%). Những số liệu này cho thấy NN đã dành một phần đáng kể nguồn lực ngân sách để đảm bảo thu nhập cho đội ngũ Cán bộ công chức, viên chức. Đây là minh chứng cho sự quan tâm và nỗ lực của Đảng, NN trong công tác quản lý, điều hành Ngân sách Nhà nước, góp phần cải thiện đời sống người lao động, ngay cả trong bối cảnh kinh tế còn nhiều khó khăn. Luận văn: Tổng quan về kiểm soát chi thường xuyên qua kho bạc.
Thực tế cho thấy, dù đã hầu hết thực hiện đúng QĐ về chế độ tiền lương, nhưng vài đơn vị Sự nghiệp công lập vẫn chưa nhanh chóng trong việc áp dụng mức lương mới theo các đợt điều chỉnh của Nhà nước. Hậu quả là phải truy lĩnh nhiều tháng liền, hoặc gửi bảng tăng, giảm biên chế quỹ lương ra Kho bạc Nhà nước chưa kịp thời. Trong quá trình chuyển lương định kỳ hàng tháng, vẫn còn tình trạng vài đơn vị chỉ cung cấp chứng từ thanh toán mà chưa gửi kèm Bảng TT lương để Kho bạc Nhà nước đối chiếu, xác minh số liệu. Đồng thời, đối với khoản chi làm thêm giờ, hiện chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể yêu cầu phải thể hiện số giờ làm thêm lũy kế trong bảng thanh toán. Do đó, Phòng giao dịch Số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu Vực II thiếu căn cứ pháp lý để kiểm soát và từ chối thanh toán phần nhiều hơn mức 200h làm thêm/năm theo quy định.
Theo Mục 6300, các khoản đóng góp (BHXH, BHYT, kinh phí công đoàn) được Ngân sách Nhà nước chi trả cho cán bộ, công chức có hưởng lương và phụ cấp từ ngân sách. Số liệu chi qua các năm cho thấy xu hướng tăng dần: năm 2020 đạt 20.446 triệu đồng, năm 2021 đạt 27.180 triệu đồng, năm 2022 đạt 30.029 triệu đồng, năm 2023 đạt 35.034 triệu đồng và năm 2024 đạt 41.973 triệu đồng.
Mục 6400 ghi nhận các khoản thanh toán khác cho cá nhân, với số chi có xu hướng tăng mạnh: năm 2020 là 43.069 triệu đồng; 2021 là 52.493 triệu đồng; 2022 là 60.267 triệu đồng; 2023 là 63.925 triệu đồng; và 2024 đạt 110.105 triệu đồng. Việc chi trả được thực hiện theo hình thức khoán của NN, qua đó cổ vũ các đơn vị Sự nghiệp công lập đẩy mạnh nguồn thu, thực hành tiết kiệm, biên chế tinh gọn và sử dụng nguồn kinh phí tiết kiệm để bổ sung thu nhập cho cán bộ, viên chức. Kết quả khảo sát tại Phòng giao dịch Số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu Vực II cho thấy các đơn vị sự nghiệp công lập đã tích cực triển khai, góp phần nâng cao đời sống cho người lao động.
Việc thanh toán thu nhập tăng thêm cho các đơn vị được Phòng giao dịch Số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu Vực II thực hiện trên cơ sở: quyết định phân loại đơn vị sự nghiệp, chênh lệch trong thu và chi mỗi quý, kết quả tài chính năm, quy chế chi tiêu nội bộ và biên bản xét duyệt tiền lương tăng thêm từ nguồn kinh phí tiết kiệm. Qua khảo sát tại Phòng giao dịch số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu vực II, quy chế chi tiêu nội bộ của các đơn vị sự nghiệp công lập đã được xây dựng khá chi tiết, bao quát ND chi, nhiệm vụ chi hằng năm, nguồn thu qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho Phòng giao dịch Số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu Vực II trong việc kiểm soát các khoản chi chính. Nhưng bên cạnh đó vẫn có vài nơi lập quy tắc chi tiêu trong nội bộ thiếu hợp lý với thực tại, chưa có sự chỉnh chu, những khoản chi thu nhập tăng thêm chưa rõ ràng, mức trần hay sàn vẫn chưa nắm rõ để hưởng theo QĐ của NN, đôi khi một số quyết định phân loại đơn vị sự nghiệp công lập đã hết thời hạn nhưng đơn vị chưa được bổ sung kịp thời nên không có căn cứ để chi thu nhập tăng thêm cho cán bộ công nhân viên chức.
Chi cho con người hiện đứng phần lớn ở nguồn chi thường xuyên, trong đó tiểu mục 6404 – chi cho thu nhập tăng thêm trung bình 5 năm qua đạt khoảng 43,8% quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập. Kết quả này chứng tỏ các đơn vị đã có ý thức tiết kiệm chi, tạo nguồn để cải thiện thu nhập cho Cán bộ công chức, qua đó nâng cao đời sống. Như vậy, tiềm năng để tăng cường tiết kiệm chi vẫn còn, cần được tiếp tục nghiên cứu và khai thác trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay.
2.2.2. Kiểm soát chi thường xuyên các khoản chi nghiệp vụ, chuyên môn Luận văn: Tổng quan về kiểm soát chi thường xuyên qua kho bạc.
Theo mục lục NS hiện hành, nhóm mục chi nghiệp vụ chuyên môn trong dự toán chi thường xuyên được giao của bên sử dụng NS gồm có: Mục 6500 thanh toán dịch vụ công cộng; mục 6550 Vật tư văn phòng; mục 6600 thông tin tuyên truyền liên lạc; 6650 Hội nghị; mục 6700: công tác phí ; mục 6750 Chi phí thuê mướn; 6900 sửa chữa tài sản; 7000 chi nghiệp vụ chuyên môn.
Căn cứ vào dự toán chi Ngân sách Nhà nước; Quy chế chi tiêu nội bộ, định mức tiêu chuẩn, do đơn vị xây dựng, trong tình huống quy chế chi tiêu nội bộ không QĐ rõ hoặc không QĐ về những khoản chi này thì Phòng giao dịch Số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu Vực II sẽ thực hiện kiểm soát theo tiêu chuẩn định mức của NN và những HS chứng từ tương quan, Phòng giao dịch Số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu Vực II thực thi kiểm soát, chi trả cho đơn vị.
- Bảng số 2.3 : Tình hình chi nghiệp vụ chuyên môn của các đơn vị sự nghiệp công lập giai đoạn 2020-2024
Nhìn chung, các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn đặc thù như chi phí thuê mướn, công tác phí, chi hội nghị, chi đoàn ra đoàn vào đều được thực hiện trên cơ sở tuân thủ đúng các tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước. Dù Nghị định cho phép thủ trưởng các đơn vị Sự nghiệp công lập tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động có thể quyết định mức chi cao hơn quy định, nhưng tại Bình Tân, mức chi vẫn chỉ dừng lại ở giới hạn tối đa bằng mức quy định của cơ quan có thẩm quyền.
Qua công tác Kiểm soát chi cho thấy, cơ chế hiện hành áp dụng đối với các khoản chi hội nghị, công tác phí còn biểu lộ một vài hạn chế. Mức định mức chi được ban hành còn thấp, chưa phù hợp với tình hình thực tế, gây khó khăn cho các đơn vị trong quá trình thanh toán và quyết toán. Đồng thời, một số đơn vị sự nghiệp công lập chưa chấp hành đầy đủ quy định, vẫn xảy ra tình trạng chi tiền cho đại biểu ăn hội nghị hưởng lương từ Ngân sách Nhà nước, hoặc đại biểu không hưởng lương được chi vượt định mức từ Ngân sách Nhà nước. Các trường hợp này đều bị cán bộ Kiểm soát chi từ chối thanh toán, dẫn đến tình trạng hợp lý hóa chứng từ, khiến số liệu quyết toán chưa phản ánh đúng bản chất hoạt động chi tiêu của đơn vị. Phân tích cụ thể từng mục chi được Kiểm soát chi:
Mục 6500: Thanh toán dịch vụ công cộng gồm các khoản chi thanh toán tiền điện, tiền nước, tiền nhiên liệu, vệ sinh môi trường,… Số tiền chi trả năm 2020 là 4 tỷ 053 triệu đồng, năm 2021 là 4 tỷ 425 triệu đồng, năm 2022 là: 4 tỷ 631 tỷ đồng, năm 2023 là: 4 tỷ 403 tỷ đồng, năm 2024 là: 4 tỷ 625 tỷ đồng. Hiện tại, cần phát động phong trào tiết kiệm điện, nước trong từng đơn vị nhưng vẫn đảm bảo hệ thống chiếu sáng, điện nước. Trong những năm gần đây các khoản chi này đã được lập cũng như thực hiện khá sát với tình hình thực tiễn tại các đơn vị. Luận văn: Tổng quan về kiểm soát chi thường xuyên qua kho bạc.
Mục 6550: Vật tư văn phòng bao gồm các khoản chi để mua sắm văn phòng phẩm, sách báo, tài liệu, sổ sách, công cụ, vật rẻ tiền mau hỏng phục vụ cho hoạt động của các đơn vị. Số tiền thanh toán năm 2020 Kho bạc đã kiểm soát là 1 tỷ 861 triệu đồng, năm 2021 là: 2 tỷ 555 triệu đồng, năm 2022 là 2 tỷ 596 triệu đồng, năm 2023 là 2 tỷ 789 triệu đồng, năm 2024 là 2 tỷ 898 triệu đồng mức tăng tương đối thấp qua các năm.
Mục 6600: Thông tin, tuyên truyền, liên lạc bao gồm các khoản chi để thanh toán cước phí bưu điện, điện thoại, các khoản chi liên quan đến công tác thông tin tuyên truyền, quảng cáo, mua báo, tạp trí … Số chi năm 2020 là: 893,81 triệu đồng, năm 2021 là: 812,24 triệu đồng, năm 2022 là: 870,26 triệu đồng, năm 2023 là: 927,96 triệu đồng, năm 2024 là: 886,94 triệu đồng.
Mục 6650: chi hội nghị chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng chi nghiệp vụ chuyên môn, phát sinh không thường xuyên nên có sự tăng giảm phụ thuộc vào yếu tố thị trường. Dễ dàng thấy nhu cầu chi của khoản mục này không giảm mà cần quản lý chặt chẽ hơn, chi có tập trung nhằm tiết kiệm chi nhưng vẫn đảm bảo hiệu quả chất lượng được đẩy mạnh.
Mục 6700: Chi công tác phí và mục 6750: Chi phí thuê mướn nhìn chung đã triển khai đúng QĐ mà nhà nước đưa ra.
Mục 6900: Sửa chữa thường xuyên tài sản cố định phục vụ chuyên môn và duy tu, bảo dưỡng các công trình cơ sở hạ tầng. Khoản chi nêu trên được sử dụng để thực hiện công tác bảo dưỡng sửa chữa, đối với các công trình HT và TS đến kỳ duy tu, hỏng hóc tại các đơn vị sử dụng Ngân sách Nhà nước, qua đó bảo đảm điều kiện CSVC phục vụ việc hoàn thành công việc được phân. Theo số liệu tổng hợp, mức chi cho sửa chữa tài sản phục vụ công tác chuyên môn năm 2020 là 2 tỷ 695 triệu đồng; năm 2021 tăng nhẹ lên 2 tỷ 702 triệu đồng; năm 2022 đạt 2 tỷ 719 triệu đồng; năm 2023 tăng đột biến với 3 tỷ 464 triệu đồng; và đến năm 2024 giảm còn 2 tỷ 445 triệu đồng.
Mục 7000 là chi phí nghiệp vụ chuyên môn của từng ngành, bao gồm các khoản chi để mua hàng hóa, vật tư trang thiết bị kỹ thuật chuyên dụng không phải là tài sản cố định, chi mua ấn chỉ dùng cho chuyên môn, đồng phục, trang phục, bảo hộ lao động, sách, tài liệu, chế độ dùng cho công tác chuyên môn của ngành và các khoản chi phí khác phục vụ hoạt động chuyên môn của từng ngành. Nhìn chung các đơn vị Sự nghiệp công lập đã chấp hành tương đối đầy đủ những quy định về hồ sơ, chứng từ trong chi nghiệp vụ chuyên môn, tuy nhiên do quy định chưa thực sự rõ về hồ sơ KSC, hồ sơ lưu trữ đối với từng khoản chi cụ thể nên cán bộ Phòng giao dịch Số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu Vực II cũng có đôi chút bỡ ngỡ khi kiểm soát những khoản chi mới, những khoản chi ít phát sinh, còn phải đôn đốc đơn vị bổ sung hồ sơ, thủ tục nhiều lần. Bên cạnh đó, hoạt động Kiểm soát chi vẫn gặp vướng mắc do nhiều khoản chi chưa được xác định ranh giới cụ thể giữa nội dung chuyên môn và các mục chi khác; hơn nữa, hồ sơ chứng từ đôi khi chưa đáp ứng đúng chế độ, gây trở ngại cho Phòng giao dịch số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu vực II trong quá trình kiểm soát. Năm 2020 KB đã kiểm soát và chi trả cho những đơn vị số tiền là: 3 tỷ 313 triệu đồng, năm 2021 là: 3 tỷ 162 triệu đồng, năm 2022 đã chi trả là: 2 tỷ 809 triệu đồng, năm 2023 là: 3 tỷ 336 triệu đồng, năm 2024 là: 2 tỷ 956 triệu đồng.
Năm 2024, tổng chi nghiệp vụ chuyên môn tăng 505,94 triệu đồng so với năm 2023 (mức tăng không lớn). Biến động chủ yếu do: Chi phí thuê mướn tăng mạnh (+380,94). Công tác phí tăng (+287). DV công cộng và vật tư văn phòng tăng nhẹ. Trong khi đó: Chi hội nghị giảm mạnh (-52,98). Chi phí CMNV giảm đáng kể (-380). Thông tin liên lạc và sửa chữa tài sản giảm nhẹ.
Điều này cho thấy cơ cấu chi nghiệp vụ có sự điều chỉnh, nhưng tổng thể vẫn duy trì ổn định.
2.2.3. Thực trạng chi và kiểm soát chi mua sắm tài sản Luận văn: Tổng quan về kiểm soát chi thường xuyên qua kho bạc.
Các khoản chi mua sắm tài sản, bao gồm cả hữu hình và vô hình, là nhiệm vụ thường xuyên nhằm trang bị đầy đủ phương tiện làm việc, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của đơn vị. Trong giai đoạn 2020-2024, tình hình mua sắm tài sản tại các đơn vị Sự nghiệp công lập thực hiện cơ chế tự chủ tài chính được phản ánh như sau:
- Bảng số 2.4: Tình hình chi mua sắm tài sản của các đơn vị sự nghiệp công lập giai đoạn 2020-2024
Nhóm mục chi mua sắm trong dự toán thường xuyên được giao của đơn vị sử dụng ngân sách bao gồm mục 9050 mua sắm tài sản hữu hình, mục 9000 mua tài sản vô hình của Mục lục Ngân sách nhà nước hiện hành. Trên cơ sở đề nghị của đơn vị sử dụng ngân sách, Kho bạc Nhà nước thực hiện chi trả trực tiếp (tiền mặt hoặc chuyển khoản) cho đơn vị nhằm thanh toán cho các nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Trong trường hợp khoản chi chưa đủ điều kiện thanh toán trực tiếp, Phòng giao dịch Số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu vực II sẽ cấp tạm ứng cho đơn vị. Sau khi phát sinh chi tiêu, đơn vị sử dụng ngân sách phải thực hiện thanh toán lại số tạm ứng đã nhận theo đúng quy định hiện hành.
Qua bảng số liệu có thể thấy cơ cấu khoản chi cho mua tài sản vô hình ( mục 9000) chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng số mua sắm của các đơn vị sự nghiệp công lập. Năm 2020, số chi cho mua sắm tài sản vô hình là 2.86 triệu đồng, chiếm 1.2% tổng số chi mua sắm, năm 2021 là 3,94 triệu đồng, năm 2022 tăng lên là 76,58 triệu đồng, năm 2023 là 61,71 triệu đồng, năm 2024 giảm chỉ còn 13,26 triệu đồng chiếm 2.08% tổng chi mua sắm. Khoản chi này rất thiết yếu nhằm ứng dụng Công nghệ thông tin vào việc quản lý NN , tuy nhiên việc dùng nguồn kinh phí này từ 2020 đến năm 2024 còn rất hạn hẹp nên cũng là việc đáng phải quan tâm và điều chỉnh chi hợp lý hơn trong thời gian tới.
Mục 9050 là mục mua sắm TS dùng cho công tác chuyên môn như: trang thiết bị kỹ thuật chuyên dụng; thiết bị phòng cháy chữa cháy;… tài sản khác. Nhưng tài sản trên đáp ứng việc triển khai các công việc của những cư quan NN. Từ kết qủa thực tế có thể thấy trong tổng số chi mua sắm của những bên Sự nghiệp công lập thì khoản chi cho mua sắm chiếm tỷ trọng khá lớn. Năm 2020 số chi mua sắm là 231,16 triệu đồng, năm 2021 số chi: 692,12 triệu đồng, số chi năm 2022 là: 814,18 triệu đồng, năm 2023 là: 889,32 triệu đồng, năm 2024 là: 623,75 triệu đồng.
Năm 2024, chi mua sắm tài sản giảm 314,02 triệu đồng so với năm 2023. Chi tài sản hữu hình giảm mạnh (-265,57), chiếm phần lớn mức giảm chung. Chi tài sản vô hình cũng giảm đáng kể (-48,45). Điều này cho thấy năm 2024 đơn vị không phát sinh nhu cầu mua sắm lớn như các năm trước, có thể do đã hoàn tất đầu tư trang thiết bị trong giai đoạn 2021–2023.
- Biểu đồ 2.1: Tình hình chi mua sắm tài sản của các ĐVSNCL giai đoạn 2020-2024
HS mua sắm, sửa chữa TS nhìn chung được thi hành theo đúng QĐ của NN gồm có:
- QĐ phê duyệt chỉ định thầu hoặc đấu thầu của cấp trên, hoặc chào hàng cạnh tranh hoặc phải đấu thầu với những khoản mua sắm và sửa chữa lớn TS. Luận văn: Tổng quan về kiểm soát chi thường xuyên qua kho bạc.
- HĐ, thanh lý HĐ trao đổi hàng hóa,
- Phiếu báo giá của bên cung cấp hàng hóa, DV (với tình huống không có HĐ mua bán), hóa đơn thanh toán, vật tư, thiết bị.
- Những chứng từ, hồ sơ khác có liên
Nhìn chung, công tác kiểm soát các khoản chi mua sắm qua Phòng giao dịch Số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu Vực II được triển khai khá nghiêm ngặt. Phòng giao dịch Số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu vực II luôn chú trọng triển khai kịp thời các văn bản mới về kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước đến toàn thể cán bộ thực hiện nghiệp vụ, bảo đảm đúng QĐ hiện hành. Song song đó, đội ngũ cán bộ của Phòng giao dịch đã tích cực hướng dẫn các đơn vị sự nghiệp công lập trong việc thực hiện các quy định của NN về Kiểm soát chi thường xuyên, tạo điều kiện để các đơn vị chủ động trong công tác HS, chứng từ và góp phần nâng cao hiệu quả Kiểm soát chi qua Kho bạc Nhà nước.
Qua kiểm tra vẫn còn hồ sơ thanh toán chưa logic về thời gian, chẳng hạn QĐ phê duyệt mua sắm được ban hành sau hợp đồng mua bán, thời gian trên biên bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng không đảm bảo đúng theo quyết định phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu. Trong quá trình Kiểm soát chi, ngoài việc phát hiện hồ sơ thanh toán còn thiếu yếu tố trong hợp đồng hoặc chưa đầy đủ thủ tục, Phòng giao dịch Số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu vực II cũng ghi nhận tình trạng thông đồng giữa đơn vị sử dụng ngân sách và nhà cung cấp. Cụ thể, giá ghi trên hóa đơn có thể bị nâng cao hơn giá thực tế, thậm chí chưa phản ánh đúng giá thị trường. Điều này dẫn đến tình trạng cùng một loại tài sản, cùng hãng và nhà sản xuất, nhưng giá trị thanh toán giữa các đơn vị lại khác nhau. Đây chính là kẽ hở lớn trong công tác quản lý giá, thể hiện nguy cơ bắt tay giữa bên mua và bên cung ứng. Mặc dù đã phát hiện hiện tượng này, Phòng giao dịch Số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu vực II chưa có biện pháp xử lý triệt để, cho thấy hạn chế trong kiểm soát và quản lý Ngân sách Nhà nước. Do đó, NN cần xây dựng cơ chế quản lý mua sắm hiệu quả hơn.
Trong quá trình Kiểm soát chi những khoản mua sắm TS, Phòng giao dịch Số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu vực II nhận thấy có hiện tượng một số đơn vị sử dụng ngân sách tiến hành mua sắm, sửa chữa tài sản từ năm trước, song do chưa được bố trí dự toán nên đến năm sau mới thực hiện thanh toán. Cùng với đó, nhiều khoản chi bị từ chối vì không đảm bảo tiêu chuẩn, định mức hoặc thiếu hồ sơ theo quy định. Hệ quả là những khoản nợ đọng này gây tổn thất cho nhà cung cấp, làm họ thiếu vốn sản xuất, gián đoạn lưu thông hàng hóa và thậm chí dẫn đến nguy cơ phá sản. Thực tế này đặt ra yêu cầu cần sớm hoàn thiện chính sách quản lý và kiểm soát việc mua sắm tài sản công để hạn chế bất cập, bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả.
2.2.4. Thực trạng chi và kiểm soát các khoản chi khác Luận văn: Tổng quan về kiểm soát chi thường xuyên qua kho bạc.
Chi khác bao gồm các khoản không thuộc thanh toán cá nhân, mua sắm, sửa chữa và nghiệp vụ chuyên môn. Với nhóm chi này, Phòng giao dịch Số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu vực II tiến hành kiểm soát như quy trình sau:
Trong trường hợp đơn vị yêu cầu chi trả trực tiếp, Phòng giao dịch Số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu vực II sẽ tiến hành kiểm tra đầy đủ HS, chứng từ và điều kiện chi theo quy định hiện hành, đồng thời chi trả trực tiếp cho nhà cung cấp HH cũng như DV.
Trường hợp khoản chi chưa thực hiện được chi trả trực tiếp, Phòng giao dịch Số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu vực II dựa theo dự toán được giao kèm giấy rút dự toán Ngân sách Nhà nước để cấp tạm ứng cho đơn vị. Sang đầu tháng kế tiếp, đơn vị sử dụng NS phải lập bảng kê chứng từ thanh toán gửi đến Phòng giao dịch số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu vực Sau khi đối chiếu bảng kê với những điều kiện chi theo QĐ, nếu bảo đảm đầy đủ, Phòng giao dịch Số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu vực II sẽ tiến hành thủ tục chuyển đổi từ tạm ứng sang thực chi.
Đối với những khoản chi khác, tình hình thực hiện tại những đơn vị Sự nghiệp công lập theo cơ chế tự chủ tài chính trong khoảng thời gian 2020-2024 được phản ánh cụ thể như dưới:
- Bảng số 2.5 Tình hình chi khác của các đơn vị sự nghiệp công lập giai đoạn 2020-2024
Qua số liệu trên cho thấy, tổng chi năm 2024 giảm 133,52 triệu đồng, tương ứng giảm 59,69% so với năm 2023. Mức giảm chủ yếu tập trung ở khoản “Chi hỗ trợ khác” với tỷ lệ giảm rất mạnh 94,91%, cho thấy đơn vị đã hạn chế đáng kể các khoản chi hỗ trợ phát sinh, góp phần thực hiện chủ trương tiết kiệm và kiểm soát chặt chẽ chi thường xuyên.
Khoản “Chi tiếp khách” giảm nhẹ 4,89%, phản ánh việc duy trì hoạt động hành chính ở mức hợp lý, không phát sinh tăng đột biến. Ngược lại, “Chi các khoản khác” tăng 277,94%, cho thấy có sự phát sinh nhiệm vụ hoặc điều chỉnh nội dung chi trong năm 2024. Luận văn: Tổng quan về kiểm soát chi thường xuyên qua kho bạc.
Nhìn chung, cơ cấu chi năm 2024 có xu hướng tinh gọn hơn so với năm 2023, thể hiện sự nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước theo đúng quy định.ân sách 2020 đến năm 2024)
Kết quả tìm hiểu thực tiễn cho thấy 3 nội dung chi trong nhóm chi khác của đơn vị Sự nghiệp công lập, gồm: chi tiếp khách phục vụ công tác giao dịch; chi hỗ trợ cho hoạt động của các tổ chức đoàn thể trong đơn vị (đoàn thanh niên, công đoàn, phụ nữ,…); và những khoản chi khác không nằm trong hai nhóm trên. Ta thấy tổng các mục chi khác qua mỗi năm biến động tăng không điều, cụ thể năm 2020 tổng chi khác của các đơn vị Sự nghiệp công lập là 237,31 triệu đồng, năm 2021 giảm còn 145,77 triệu đồng, năm 2022 chi là: 89,36 triệu đồng, năm 2023 tăng lên 223,7 triệu đồng, năm 2024 giảm xuống còn 90,18 triệu đồng. Trong quá trình Kiểm soát chi, Phòng giao dịch Số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu Vực II kiểm soát những khoản chi này khá gian nan nguyên nhân là vì chưa có cơ chế nghiêm ngặt rõ ràng về khoản chi này, những đơn vị sử dụng NS có khả năng hợp thức hóa chứng từ đối với hai khoản chi này, sau đó dùng vào việc nâng cao đời sống Cán bộ công chức. Điều này phản ánh hạn chế trong vấn đề quản lý Ngân sách Nhà nước, đặt ra đòi hỏi cần thiết phải xây dựng một cơ chế quản lý nghiêm ngặt, minh bạch hơn, từ đó góp phần sử dụng ngân sách tiết kiệm và hiệu quả.
2.2.5. Thực trạng kiểm soát chứng từ chi thường xuyên qua Kho bạc Nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn Phường An Lạc
- Bảng 2.6: Tình hình tiếp nhận và phân loại hồ sơ, chứng từ
Theo quy trình Kiểm soát chi, hồ sơ đơn vị gửi đến Kho bạc Nhà nước chưa đầy đủ hoặc cần phải bổ sung thì Kế toán viên sẽ lập hai phiếu giao nhận HS khách hàng, trong này ghi rõ các biểu mẫu, chứng từ nào đã nhận và chứng từ nào cần bổ sung sữa chữa, sau đó một liên lưu hồ sơ theo dõi một, một liên trả khách hàng. Đây là bước kiểm soát quan trọng trong quá trình Kiểm soát chi, kế toán viên tiến hành phân loại những hồ sơ không đạt yêu cầu sẽ giúp cho những khâu kiểm soát sau sẽ trở nên nhanh chóng.
Theo kết quả thực tế cho thấy, số lượng chứng từ tiếp nhận từ năm 2020 đến năm 2024 tăng đáng kể. Với khối lượng công việc như vậy, đòi hỏi kế toán viên phải xử lý nhanh, tránh tình trạng ùn tắc chứng từ, làm tiền đề đẩy nhanh quá trình kiểm soát. Cụ thể, năm 2020 số lượng tiếp nhận là 19.375 chứng từ, đến năm 2024 số lượng chứng từ mà Phòng giao dịch Số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu Vực IIđã phải tiếp nhận là 35.245 chứng từ, tăng gần như gấp đôi sau 5 năm.
Năm 2024, số chứng từ tiếp nhận tăng 5.673 món (19,18%) so với năm 2023, cho thấy khối lượng công việc kiểm soát chi ngày càng gia tăng. Tuy nhiên, số chứng từ phải bổ sung, sửa chữa lại giảm 17,29%, phản ánh chất lượng lập hồ sơ của đơn vị sử dụng ngân sách được cải thiện, đồng thời công tác hướng dẫn và kiểm soát chi của đơn vị ngày càng hiệu quả.
Mặc dù số lượng chứng từ kiểm soát ngày càng lớn, nhưng với số lượng chứng từ cần bổ sung, sữa chữa giảm thì đây là tín hiệu tốt, tuy nhiên mức giảm còn thấp chưa thật sự tốt. Điều này đòi hỏi đơn vị sử dụng ngân sách phải ý thức hơn nữa trong quá trình triển khai chi Ngân sách Nhà nước. Luận văn: Tổng quan về kiểm soát chi thường xuyên qua kho bạc.
- Bảng 2.7: Tình hình kiểm soát chi thường xuyên chứng từ chi Ngân sách Nhà nước của đơn vị Sự nghiệp công lập
Năm 2024, số chứng từ kiểm soát chi tăng 20,31% so với năm 2023, cho thấy khối lượng công việc tại đơn vị ngày càng lớn. Tuy nhiên, số chứng từ bị từ chối thanh toán giảm 24,51% và số tiền bị từ chối giảm 5,24%, phản ánh chất lượng hồ sơ thanh toán của các đơn vị sử dụng ngân sách được nâng cao.
Điều này cho thấy công tác hướng dẫn, kiểm soát chi và tuân thủ quy định về chi ngân sách nhà nước ngày càng hiệu quả, góp phần hạn chế sai sót và nâng cao tính minh bạch trong quản lý ngân sách. Những khoản chi chưa đủ cơ sở chi Ngân sách Nhà nước theo QĐ thì Kế toán trưởng hoặc kế toán viên hoặc giám đốc Kho bạc Nhà nước sẽ từ chối thanh toán, và kế toán viên sẽ lập thông báo từ chối thanh toán đến đơn vị sử dụng ngân sách.
KBNN từ chối thanh toán các khoản chi bởi những nguyên do chính sau:
- Thanh toán những khoản chi không nằm trong dự toán được giao
- Thanh toán vượt mức so với dự toán được giao
- Thanh toán sai định mức chế độ
- Chứng từ còn tẩy xóa, số tiền bằng chữ chưa khớp đúng với số tiền bằng số, chứng từ ký bằng bút mực đen.
- Chứng từ chưa đầy đủ tính pháp lý, hợp lý về mặt thời gian
- Thủ trưởng đơn vị sử dụng NS thay đổi mẫu chữ ký so với mẫu chữ ký đã đăng ký với Kho bạc Nhà nước.
- Chứng từ sai kết hợp giữa mã tài khoản và mã nguồn ngân sách.
Từ dữ liệu bảng 2.9 cho ta thấy rằng, năm 2020 Kho bạc từ chối thanh toán 985 món với số tiền là 1 tỷ 078 triệu đồng, số món từ chối thanh toán chiếm khoảng 5.4% so với toàn món chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước của bên Sự nghiệp công lập. Năm 2022 từ chối thanh toán 792 món với tổng số tiền không được đồng ý chi trả là 873,54 triệu đồng, khoản bị từ chối chi trả chiếm khoảng 3% so với số món chi thường xuyên của đơn vị Sự nghiệp công lập trong năm. Năm 2024 từ chối chi trả 459 món với tổng số tiền là 769,81 triệu đồng, chiếm khoảng 1.3% so với tổng số món chi thường xuyên là 34.513 món.
Như vậy số món bị từ chối chi trả tại Phòng giao dịch Số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu Vực IItừ năm 2020 đến năm 2024 đã có khuynh hướng giảm dần, từ 5.4% xuống còn 1.3% so với tổng số món chi thường xuyên của đơn vị Sự nghiệp công lập. Điều đó cho thấy công tác Kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước đối với đơn vị Sự nghiệp công lập trên khu vực Phường An Lạc đã ngày càng hoàn thiện hơn, nhận thức và trách nhiệm của cán bộ kế toán trong việc thi hành đúng các CS, chế độ và thủ tục chi trả cấp phát theo QĐ của NN và Bộ Tài chính đã được nâng cao, qua đó hình thành môi trường làm việc lành mạnh và nâng cao trình độ nắm rõ pháp luật.
Biểu đồ dưới đây thể hiện đồng thời 3 chỉ tiêu: Số chứng từ kiểm soát chi, số chứng từ bị từ chối và số tiền bị từ chối qua các năm 2020–2024.
- Biểu đồ 2.2: Các khoản từ chối CTX Ngân sách Nhà nước giai đoạn 2020-2024.
Công tác Kiểm soát chi đã giúp cơ quan TC nâng cao tính chủ động trong quản lý KSNN, bảo đảm nguồn quỹ ngân sách luôn trong trạng thái an toàn. Nhờ đó, các đơn vị buộc phải chấp hành dự toán chi tiêu hàng năm, từng bước khắc phục tình trạng dồn kinh phí vào cuối năm. Đặc biệt, việc áp dụng phương thức thanh toán không dùng tiền mặt, chuyển khoản trực tiếp cho nhà cung ứng HH, dịch vụ đã góp phần quan trọng trong việc hạn chế tình trạng rút kinh phí vào cuối năm, đồng thời tăng cường tính minh bạch, lành mạnh hóa các hoạt động thanh toán ngân sách.
2.3. Đánh giá chung về công tác kiểm soát chi thường xuyên qua Kho Bạc Nhà Nước đối với đơn vị sự nghiệp công lập giai đoạn 2020-2024 Luận văn: Tổng quan về kiểm soát chi thường xuyên qua kho bạc.
2.3.1. Những kết quả đạt được
Thực hiện NĐ ngày 25 tháng 4 năm 2006 số 43/2006/NĐ-CP của CP quy định quyền tự chịu trách nhiệm tự chủ về triển khai nhiệm vụ, tổ chức cơ cấu, biên chế và TC đối với đơn vị Sự nghiệp công lập và NĐ ngày 14 tháng 02 năm 2022 số 16/2022/NĐ-CP của Chính phủ QĐ cơ chế tự chủ của đơn vị Sự nghiệp công lập (Thay cho NĐ số 43/2006/NĐ-CP), công tác KST qua Kho bạc Nhà nước đối với các đơn vị Sự nghiệp công lập đã mang lại nhiều thành quả:
Một là, thông qua cơ chế Kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước, một bên tạo cơ hội cho những đơn vị sử dụng ngân sách thực thi theo đúng dự toán được duyệt, đúng định mức, tiêu chuẩn, chế độ nhà nước quy định; đồng thời đã thực hiện chi tiêu hợp lý, đúng mục đích, đối tượng chi, hiệu quả. Phòng giao dịch Số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu Vực II còn tìm ra hàng trăm khoản chi chưa thực thi đúng thủ tục, nội dung, định mức chế độ quy định; Nhờ áp dụng cơ chế Kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước, vì thế Kho bạc Nhà nước đã kịp thời ngăn chặn và nhất quyết từ chối những khoản chi không đúng mục đích sử dụng, không hợp lý với nội dung chi hoặc nằm ngoài phạm vi dự toán được phê chuẩn. Chất lượng công tác Kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước đã được nâng lên, chất lượng phục vụ khách hàng được nâng cao, tạo được sự tin cậy đối với khách hàng.
Thứ hai, một điểm tích cực là hệ thống VB đã đề cập rõ trách nhiệm của những cơ quan liên quan trong Kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước, bao gồm: cơ quan TC, cơ quan chủ quản, Kho bạc Nhà nước, và đơn vị sử dụng NS. Sự chủ động của bộ phận TC trong vấn đề dự toán và quyết toán không chỉ góp phần gia tăng trách nhiệm, tính tự chủ của đơn vị trong sử dụng NS mà còn giúp tăng hiệu quả sử dụng vốn Ngân sách Nhà nước. Trên cơ sở đó, Phòng giao dịch Số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu vực II có nền tảng để quản lý điều hành NS một cách chặt chẽ và có hiệu suất hơn.
Thứ ba, ngoài việc bảo đảm sử dụng vốn Ngân sách Nhà nước đúng mục đích và đối tượng, cơ chế kiểm soát chi thường xuyên qua Phòng giao dịch Số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu vực II còn giúp hạn chế giao dịch tiền mặt bằng cách thực hiện chi trả, chi lương qua chuyển khoản.
Bên cạnh đó, việc Kiểm soát chi còn giúp các đơn vị phát huy tinh thần chủ động, nâng cao ý thức tiết kiệm trong quản lý và sử dụng nguồn kinh phí. Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả sử dụng Ngân sách Nhà nước mà còn tạo điều kiện để cải thiện đời sống, thu nhập của cán bộ, viên chức công chức trên khu vực.
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân Luận văn: Tổng quan về kiểm soát chi thường xuyên qua kho bạc.
Hạn chế: Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước trong thời gian qua còn bộc lộ những hạn chế sau:
Thứ nhất, về cán bộ Kiểm soát chi tại Phòng giao dịch số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu vực II, trong quá trình thao tác nghiệp vụ, kế toán viên vô tình để xảy ra sai sót hoặc do trình độ chuyên môn còn yếu kém. Chưa tổ chức nghiên cứu văn bản sâu kỹ, đa số kế toán viên dành phần lớn thời gian xử lý vụ việc hơn là nghiên cứu văn bản hướng dẫn, dẫn đến thực hiện nhiệm vụ chưa đúng quy định.
Thứ hai, Phòng giao dịch Số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu Vực II với đơn vị phục vụ, vì vậy phân bố việc làm trong năm không được chủ động về mặt thời gian. nhiều khách hàng có xu hướng dồn HS sửa chữa mua sắm lớn vào những tháng cuối năm gây căng thẳng rất lớn về sức lực và cả thời gian của cán bộ Phòng giao dịch số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu vực II. Khối lượng việc làm lớn trong khoảng thời gian có hạn nên mặc dù cán bộ Kiểm soát chi Phòng giao dịch Số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu Vực II đã phải tăng cường làm đêm, làm thêm giờ nhưng vẫn không tránh khỏi xảy ra các sai sót, như sai về Mục lục Ngân sách, về thông tin thanh toán của nhà cung cấp và cả những sai sót về HS của Kiểm soát chi. Bên cạnh đó, dự toán các đơn vị được cơ quan tài chính bổ sung vào cuối năm cũng là áp lực cho Kho bạc Nhà nước cùng các đơn vị. Trong công tác Kiểm soát chi cho nhóm mục sửa chữa mua sắm TS, Phòng giao dịch Số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu vực II nhận thấy tồn tại tình trạng bất hợp lý: nhiều đơn vị cùng mua sắm một loại TS với hãng gia công, thông số kỹ thuật và xuất xứ giống nhau, song giá trị chi trả giữa các HS lại có sự chênh lệch đáng kể, lên tới 20%. Dù hồ sơ mua sắm đầy đủ, điều này vẫn phản ánh nguy cơ thất thoát ngân sách và tiềm ẩn hành vi tham nhũng. Ngoài ra, có đơn vị còn lựa chọn tài sản chất lượng thấp, nguồn gốc chưa tường tận, tuy nhiên giá mua ngang bằng với sản phẩm cùng loại chất lượng cao, làm lãng phí Ngân sách Nhà nước và hiệu quả sử dụng tài sản thấp. Trước tình hình đó, việc xây dựng một cách thức quản lý mua sắm mới là hết sức cần thiết nhằm nâng cao tính minh bạch, phòng ngừa tham nhũng và bảo đảm hiệu suất sử dụng vốn Ngân sách Nhà nước.
Thứ ba, theo quy định, việc giao quyền tự chủ về tài chính thường ổn định trong 3 năm. Thực tiễn tại Phòng giao dịch số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu vực II, có những đơn vị Sự nghiệp công lập quyết định giao quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm về TC được cấp có thẩm quyền giao đã hết thời hạn quy định nhưng cơ quan có thẩm quyền chưa giao quyết định tự chủ tài chính cho đơn vị ở giai đoạn tiếp theo, tuy nhiên quy định tại TT ngày 6/9/2006 số 81/2006/TT-BTC, những đơn vị Sự nghiệp công lập phải nộp cho Kho bạc Nhà nước làm cơ sở Kiểm soát chi Quyết định giao quyền tự chịu trách nhiệm tự chủ về triển khai nhiệm vụ, cơ cấu bộ máy, tài chính và biên chế; mức Ngân sách Nhà nước đảm bảo thường xuyên của bộ phận có thẩm quyền cho đơn vị sự nghiệp thi hành chế độ tự chủ; QĐ phân chia đơn vị sự nghiệp. Do không nhận được quyết định này nên Phòng giao dịch Số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu Vực II chưa có cơ sở để kiểm soát các đơn vị Sự nghiệp công lập theo những đặc trưng riêng của từng loại hình đơn vị, do đó Phòng giao dịch Số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu Vực IIchỉ thực hiện Kiểm soát chi đối với các đơn vị Sự nghiệp công lập theo các chế độ chi tiêu hiện hành do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành. Đơn vị chưa phát huy được tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo khả năng của mình.
Thứ tư, công tác Kiểm soát chi căn cứ vào quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị vẫn còn một số hạn chế, vẫn còn một số đơn vị ban hành và thực hiện quy chế chi tiêu nội bộ chưa đúng với quy định cụ thể: QĐ cước phí điện thoại di động, hoặc không QĐ mức cước điện thoại mà chi trả theo thực tiễn phát sinh; điện thoại nhà riêng cao hơn mức QĐ của nhà nước, Chưa quy định mức trích lập quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ dự phòng ổn định thu nhập và quỹ phát triển triển hoạt động sự nghiệp, chưa quy định cụ thể về đối tượng chi và mức chi từ các quỹ. Một số khoản chi thường xuyên xuất hiện nhưng vẫn chưa có QĐ rõ ràng trong quy chế chi tiêu nội bộ mà thi hành theo QĐ của thủ trưởng đơn vị, gây ra hạn chế về tính công khai, dân chủ ở hoạt động quản lý tài chính. Luận văn: Tổng quan về kiểm soát chi thường xuyên qua kho bạc.
Thứ năm, ứng dụng Công nghệ thông tin vào công tác Kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước chưa thật sự được quan tâm, thực tế thao tác thủ công còn chủ yếu.
Nguyên nhân:
- Nguyên nhân chủ quan:
Một là, năng lực, trình độ cán bộ Phòng giao dịch Số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu Vực IInói chung, cán bộ trực tiếp làm công tác kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước nói riêng tuy đã được chú trọng nâng cao chất lượng, song còn bộ phận nhỏ cán bộ đã lớn tuổi nhưng chưa được qua lớp đào tạo chính thức về TC công và cả tin học cơ bản, một số cán bộ mới tuyển dụng còn hạn chế về chuyên môn nghiệp vụ cũng như bài học thực tiễn, nên phần nào ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động Kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước, đặc biệt là đối với những đơn vị Sự nghiệp công lập triển khai cơ chế tự chủ. Bên cạnh đó, khối lượng việc làm ngày một nhiều với đặc tính ngày càng rắc rối cũng là yếu tố tác động đáng kể đến hiệu quả Kiểm soát chi tại Phòng giao dịch số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu vực II.
Hai là, cơ chế điều phối trong Kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước chưa đồng nhất, sự kết hợp giữa Phòng TC trên khu vực Phường An Lạc và Phòng giao dịch Số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu Vực II chưa thực sự nhất quán, bên cạnh đó chưa có sự liên kết kịp thời khăng khít để phụ trợ được cho nhau trong hoạt động quản lý chi Ngân sách Nhà nước trên khu vực. Hiện tại, cách thức lập, giao, nhập dự toán những đơn vị Sự nghiệp công lập sẽ thuộc bổn phận của những cơ quan TC, nhưng vì có nhiều nguyên do khác biệt mà dự toán được nhập vào chương trình còn trì trệ và thiếu sót với QĐ sự toán.
Ba là, việc ứng dụng tin học trong công tác quản lý Ngân sách Nhà nước nói chung và kiểm soát chi nói riêng chưa bắt kịp với Luật Ngân sách Nhà nước. Tiến độ kết xuất các dữ liệu tổng hợp còn lâu; hệ thống mạng thỉnh thoảng bị gián đoạn kết nối với máy chủ, gây ảnh hưởng đến quá trình tác nghiệp của Cán bộ công chức. Ngoài ra, việc chưa tạo ra được phần mềm về tin học phục vụ tra cứu thông tin KH và quản lý giao nhận HS cũng đang làm giảm hiệu quả công tác Kiểm soát chi của cán bộ kho bạc.
- Nguyên nhân khách quan:
Cơ chế chính sách liên quan đến Ngân sách Nhà nước và kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước còn thiếu đồng bộ và chưa chặt chẽ. Luận văn: Tổng quan về kiểm soát chi thường xuyên qua kho bạc.
Các văn bản quy định chế độ kiểm soát đối với các khoản chi thường xuyên mặc dù đã được bổ sung, sửa đổi nhiều lần nhưng vẫn chưa đầy đủ, không bắt kịp với những thay đổi trong thực tế.
-Cơ chế chính sách của Nhà nước trong lĩnh vực chi thường xuyên còn lỏng lẻo, thiếu đồng bộ. Nội dung quy định chưa cụ thể, nên dẫn đến mỗi người nhận thức một cách riêng biệt dẫn tới khi triển khai cũng chưa đồng nhất. Văn bản chưa có sự bao hàm toàn bộ những vấn đề nên vẫn còn khoảng hở để những đơn vị sử dụng Ngân sách Nhà nước có cơ hội mưu lợi.
Đáng chú ý là hệ thống định mức, tiêu chuẩn chi còn chưa đầy đủ và còn những khoản chi chưa thật sự thích đáng. Điều này khiến cho chế độ định mức hiện tại tác động không tốt đến quá trình lập phương án tự chịu trách nhiệm tự chủ về tài chính và việc tạo dựng quy chế chi tiêu nội bộ tại các đơn vị Sự nghiệp công lập. Vì vậy, khi Kho bạc Nhà nước thực hiện kiểm soát chi theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị thì căn cứ này chưa thực sự đảm bảo độ tin cậy, dẫn đến hiệu quả Kiểm soát chi ngân sách tại Phòng giao dịch số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu vực II chưa cao.
- Ý thức chấp hành dự toán của đơn vị sử dụng Ngân sách Nhà nước chưa cao
Thực tế cho thấy, tại một số đơn vị vẫn tồn tại thực trạng chi tiêu vượt ngoài chế độ, tiêu chuẩn và định mức do NN ban hành; quy chế chi tiêu nội bộ còn thiếu chặt chẽ, thậm chí trái với quy định. Hơn nữa, hệ thống căn cứ pháp lý và cơ chế quy định trách nhiệm xử lý những sai phạm chưa đầy đủ, chưa cụ thể. Do đó, khi kết quả Kiểm soát chi phát hiện sai sót, biện pháp áp dụng đa phần là nhắc nhở hoặc đề nghị bổ sung HS chứng từ mà chưa có cơ chế xử phạt xử lý rõ ràng để răn đe và nâng cao tính tuân thủ, dẫn tới trưởng của đơn vị sử dụng Ngân sách Nhà nước chưa có trách nhiệm khi ra QĐ chi. Bên cạch đó, những khoản của Kho bạc bỏ qua đối với các khoản chi chưa đúng chế độ chỉ mang tính bên ngoài, đơn vị thuận lợi hợp thức hóa những khoản chi sai thông qua ND chi khác, hóa đơn khác hợp lý hơn, nên hiệu quả Kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước còn thấp.
Một trong những tồn tại đáng chú ý là trình độ cán bộ tại các đơn vị sử dụng Ngân sách Nhà nước còn thấp. Năng lực quản lý và chuyên môn tài chính chưa được nâng cao, trong khi mức độ hiểu biết và khả năng vận dụng pháp luật, các QĐ, chế độ của Nhà nước còn hạn chế. Đáng lưu ý, tình trạng thay đổi thường xuyên của cán bộ kế toán tại các đơn vị sự nghiệp công lập đã gây ra những tác động tiêu cực đến sự ổn định và hiệu quả của công tác kế toán. Đây cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến Kiểm soát chi của Phòng giao dịch Số 5- Kho bạc Nhà nước Khu Vực II.
Kết luận chương 2 Luận văn: Tổng quan về kiểm soát chi thường xuyên qua kho bạc.
Nhìn chung, các bảng số liệu đã phản ánh rõ xu hướng: Khối lượng công việc tăng nhưng sai sót giảm – thể hiện hiệu quả kiểm soát chi được nâng cao. Khối lượng chứng từ tiếp nhận và kiểm soát chi tăng qua các năm, đặc biệt năm 2024 tăng trên 20% so với 2023. Điều này phản ánh quy mô hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập ngày càng mở rộng.
Số chứng từ phải bổ sung, sửa chữa và số chứng từ bị từ chối thanh toán có xu hướng giảm, thể hiện: Chất lượng lập hồ sơ của đơn vị sử dụng Ngân sách Nhà nước được cải thiện. Công tác hướng dẫn, kiểm soát của Kho bạc ngày càng hiệu quả.Tổng chi thường xuyên năm 2024 giảm mạnh so với 2023, chủ yếu do cắt giảm các khoản chi hỗ trợ khác, phù hợp với chủ trương tiết kiệm, chống lãng phí. Cơ cấu chi có sự điều chỉnh theo hướng tập trung vào nhiệm vụ chuyên môn, hạn chế chi hành chính không cần thiết.
Quy trình được thực hiện công khai, minh bạch, đảm bảo đúng trình tự và thời gian xử lý. Tiếp nhận hồ sơ. Kiểm tra tính đầy đủ, hợp pháp, hợp lệ. Kiểm soát dự toán và nguồn kinh phí. Thực hiện thanh toán.Lưu trữ hồ sơ
Công tác kiểm tra ngày càng chủ động, hạn chế rủi ro thất thoát Ngân sách Nhà nước.
- Hồ sơ được kiểm tra về tính pháp lý, chữ ký, con dấu, căn cứ pháp lý.
- Đối chiếu nội dung chi với chế độ, tiêu chuẩn, định mức hiện hành.
- Trường hợp sai sót được hướng dẫn bổ sung kịp thời.
Kiểm soát dự toán, nguồn kinh phí góp phần: Ngăn ngừa chi sai chế độ và đảm bảo kỷ luật tài chính. Kiểm soát thanh toán, chi trả. Thanh toán trực tiếp cho người thụ hưởng.Hạn chế thanh toán tiền mặt.Thực hiện đối chiếu số liệu thường xuyên.
- Số chứng từ bị từ chối và số tiền từ chối giảm qua các năm phản ánh:
Chất lượng hồ sơ và mức độ tuân thủ pháp luật của đơn vị sử dụng ngân sách ngày càng được nâng cao.
Kiểm soát tạm ứng và thanh toán tạm ứng. Theo dõi chặt chẽ thời hạn thanh toán tạm ứng. Không giải quyết tạm ứng mới khi chưa hoàn ứng đúng quy định.
Thực hiện đối chiếu, đôn đốc quyết toán. Qua đó hạn chế tình trạng tồn đọng tạm ứng kéo dài. Ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm soát chi Công tác kiểm soát chi được thực hiện trên hệ thống TABMIS và các phần mềm nghiệp vụ nội bộ của Kho bạc Nhà nước, giúp: Kiểm soát tự động số dư dự toán.Rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ.Tăng tính chính xác và minh bạch.Lưu trữ, tra cứu chứng từ thuận tiện.Ứng dụng Công nghệ thông tin góp phần nâng cao: Tính kịp thời, chính xác, minh bạch. Hiệu quả sử dụng ngân sách.
Đánh giá chung về hiệu quả kiểm soát chi: Qua phân tích số liệu và thực tiễn tại Kho bạc Nhà nước Phòng giao dịch số 5 có thể nhận định:
Mức độ tuân thủ pháp luật được đảm bảo.Thời gian giải quyết hồ sơ đúng quy định.Sai sót hồ sơ giảm qua từng năm. Ứng dụng Công nghệ thông tin phát huy hiệu quả. Góp phần sử dụng Ngân sách Nhà nước tiết kiệm, hiệu quả.
Tuy nhiên vẫn còn một số hồ sơ phải bổ sung do đơn vị chưa nắm vững chế độ. Áp lực công việc tăng khi số lượng chứng từ tăng nhanh. Luận văn: Tổng quan về kiểm soát chi thường xuyên qua kho bạc.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Giải pháp về kiểm soát chi thường xuyên qua kho bạc

Pingback: Luận văn: Thực trạng kiểm soát chi thường xuyên qua kho bạc