Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng kiểm soát chi thường xuyên qua kho bạc hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng kiểm soát chi thường xuyên qua kho bạc nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp công lập tại kho bạc nhà nước phòng giao dịch số 5 dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước (NSNN) là một trong những khâu trọng yếu trong quản lý tài chính công, giữ vai trò bảo đảm việc sử dụng ngân sách đúng mục đích, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức và tiết kiệm, hiệu quả. Thông qua hoạt động kiểm soát chi, Nhà nước thực hiện chức năng giám sát, phòng ngừa sai phạm, nâng cao kỷ luật, kỷ cương tài chính và góp phần sử dụng hiệu quả nguồn lực công.
Trong hệ thống Kho bạc Nhà nước, công tác kiểm soát chi thường xuyên đối với các đơn vị sự nghiệp công lập (SNCL) có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi đây là nhóm đơn vị sử dụng ngân sách lớn, đa dạng về lĩnh vực hoạt động và đang từng bước thực hiện cơ chế tự chủ tài chính. Tại Phòng Giao dịch số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu vực II, công tác kiểm soát chi thường xuyên thời gian qua đã được triển khai tương đối chặt chẽ, đúng quy định, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng Ngân sách Nhà nước trên địa bàn.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vẫn còn tồn tại một số hạn chế và vướng mắc như: việc chấp hành chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi của một số đơn vị chưa nghiêm; hồ sơ, thủ tục thanh toán còn sai sót; một số quy định chưa thực sự phù hợp với thực tiễn tự chủ tài chính; sự phối hợp giữa đơn vị sử dụng ngân sách và Kho bạc có thời điểm chưa đồng bộ; yêu cầu xử lý hồ sơ trên môi trường điện tử ngày càng cao trong bối cảnh chuyển đổi số đặt ra áp lực lớn về năng lực chuyên môn và hạ tầng kỹ thuật.
Trong bối cảnh cải cách hành chính, hiện đại hóa và chuyển đổi số toàn diện của Kho bạc Nhà nước, cùng với yêu cầu tăng cường kỷ luật, kỷ cương ngân sách, công tác kiểm soát chi thường xuyên cần tiếp tục được đổi mới theo hướng minh bạch, hiệu quả và phù hợp với cơ chế quản lý tài chính công hiện đại. Thực tiễn tại Phòng Giao dịch số 5 cho thấy cần có một nghiên cứu cụ thể, toàn diện để đánh giá đúng thực trạng, xác định rõ nguyên nhân của những hạn chế, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp, khả thi.
Mặt khác, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung ở cấp hệ thống hoặc cấp Kho bạc tỉnh/thành phố, trong khi các nghiên cứu chuyên sâu ở cấp phòng giao dịch – nơi trực tiếp thực hiện kiểm soát chi và tiếp xúc thường xuyên với đơn vị sử dụng ngân sách – còn hạn chế. Đây chính là khoảng trống nghiên cứu ở cấp đơn vị cơ sở, đòi hỏi cần có sự phân tích cụ thể gắn với điều kiện thực tiễn.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Thực trạng kiểm soát chi thường xuyên qua Kho bạc Nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp công lập tại Phòng Giao dịch số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu vực II” làm đề án cao học của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu: Luận văn: Thực trạng kiểm soát chi thường xuyên qua kho bạc.
2.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá thực trạng công tác kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp công lập tại Phòng Giao dịch số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu vực II, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng kiểm soát chi trong thời gian tới.
2.2 Mục tiêu cụ thể
Hệ thống hóa cơ sở lý luận và quy định pháp lý về kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước đối với đơn vị Sự nghiệp công lập.
Phân tích, đánh giá thực trạng công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Phòng Giao dịch số 5 trong giai đoạn nghiên cứu.
Xác định những kết quả đạt được, những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân của các hạn chế đó.
Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên tại đơn vị trong bối cảnh cải cách hành chính và chuyển đổi số.
2.3. Câu hỏi nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và khung pháp lý hiện hành về kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước đối với đơn vị Sự nghiệp công lập là gì?
- Thực trạng công tác kiểm soát chi thường xuyên tại Phòng Giao dịch số 5 hiện nay như thế nào?
- Những hạn chế, vướng mắc chủ yếu trong quá trình thực hiện là gì và nguyên nhân từ đâu?
- Cần có những giải pháp nào để nâng cao hiệu quả kiểm soát chi thường xuyên trong thời gian tới?
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: công tác kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước đối với đơn vị Sự nghiệp công lập qua Phòng giao dịch số 5- Kho bạc Nhà nước khu vực II. Đề tài tập trung nghiên cứu công tác kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước đối với các đơn vị Sự nghiệp công lập, không bao gồm kiểm soát chi đầu tư xây dựng cơ bản hoặc các khoản chi khác.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian:
Tại Phòng giao dịch số 5- Kho bạc Nhà nước khu vực Việc lựa chọn phạm vi này xuất phát từ tính đặc thù của đơn vị là cấp trực tiếp thực hiện nhiệm vụ kiểm soát chi đối với các đơn vị Sự nghiệp công lập trên địa bàn, phản ánh rõ nét các vấn đề thực tiễn phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện.
- Thời gian:
Nghiên cứu số liệu chi Ngân sách Nhà nước từ năm 2020 đến năm 2024 tại Phòng giao dịch số 5- Kho bạc Nhà nước khu vực II. Đây là giai đoạn có nhiều thay đổi về cơ chế tự chủ tài chính, đẩy mạnh cải cách hành chính và chuyển đổi số trong hệ thống Kho bạc Nhà nước, do đó có ý nghĩa đại diện và cập nhật cho việc đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp.
4. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Thực trạng kiểm soát chi thường xuyên qua kho bạc.
- Phương pháp định tính.
- Xử lý dựa trên cơ sở phân tích, thống kê, tổng hợp, mô tả và so sánh.
5. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Từ những giải pháp cho công tác kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp công lập qua Phòng giao dịch số 5 – Kho bạc Nhà nước Khu vực II, ngoài việc hạn chế các lỗ hỏng ở quá trình kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước, từ đó giúp cho công kiểm tác Kiểm soát chi trở nên tốt hơn.
6. Kết cấu của đề án:
Tên đề tài: Thực trạng kiểm soát chi thường xuyên qua Kho Bạc Nhà Nước đối với đơn vị sự nghiệp công lập tại Phòng giao dịch số 5- Kho bạc Nhà nước khu vực II
- Ngoài phần, kết luận, danh mục tài TLTK, nội dung của Đề án gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về Kiểm soát chi thường xuyên qua Phòng giao dịch số 5- Kho bạc Nhà nước khu vực II đối với đơn vị Sự nghiệp công lập.
Chương này trình bày các khái niệm cơ bản, vai trò của kiểm soát chi thường xuyên, đặc điểm đơn vị Sự nghiệp công lập, nội dung và quy trình kiểm soát chi, cùng khung pháp lý hiện hành.
Chương 2: Tổng quan về Kiểm soát chi thường xuyên qua Phòng giao dịch số 5- Kho bạc Nhà nước khu vực II đối với đơn vị Sự nghiệp công lập.
Chương này phân tích tình hình tổ chức bộ máy, quy trình thực hiện, kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của công tác kiểm soát chi tại đơn vị.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác Kiểm soát chi thường xuyên qua Phòng giao dịch số 5-KBNN khu vực II đối với đơn vị Sự nghiệp công lập trên địa bàn Phường An Lạc.
Chương này đề xuất định hướng, giải pháp cụ thể và các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát chi trong thời gian tới, phù hợp với yêu cầu cải cách hành chính và chuyển đổi số.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN QUA Phòng giao dịch SỐ 5 – KHO BẠC NHÀ NƯỚC KHU VỰC II ĐỐI VỚI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP
1.1 Kiểm soát chi thường xuyên qua Kho bạc nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp công lập
Khái niệm : Kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước là quá trình cơ quan Kho bạc thực hiện việc kiểm tra, đối chiếu và giám sát các khoản chi thường xuyên của đơn vị sử dụng ngân sách trước, trong và sau khi thanh toán, nhằm bảo đảm các khoản chi đúng dự toán được giao, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức và tuân thủ quy định của pháp luật. Luận văn: Thực trạng kiểm soát chi thường xuyên qua kho bạc.
Đối với đơn vị sự nghiệp công lập (SNCL), kiểm soát chi thường xuyên tập trung vào các khoản chi phục vụ hoạt động thường xuyên như tiền lương, phụ cấp, chi nghiệp vụ chuyên môn, chi hành chính và các khoản chi khác theo quy định.
Có thể hiểu, kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước là khâu xem xét các khoản chi mà thủ trưởng đơn vị sử dụng Ngân sách Nhà nước đã quyết định, để bảo đảm mọi khoản chi đều đúng định mức chính sách hiện hành, chế độ, đồng thời ngăn chặn tình trạng chi sai quy định.
- Đặc điểm của chi thường xuyên ngân sách Nhà nước:
Đầu tiên: Hầu hết những khoản chi thường xuyên có tính ổn định khá rõ rệt. Dù thể chế chính trị thay đổi thì chức năng hiện có của NN trấn áp hay tổ chức quản lý các hoạt động KT-XH vẫn diễn ra và phải có nguồn để thực hiện. Mặc khác, tính ổn định của các khoản chi thường xuyên còn bắt đầu từ tính ổn định trong từng hoạt động cụ thể mà mỗi đơn vị trong bộ máy nhà nước phải thực hiện.
Thứ hai cấu trúc chi Ngân sách Nhà nước ở từng kỳ và mục tiêu sử dụng sau cùng thì đại bộ phận những khoản chi thường xuyên của Ngân sách Nhà nước mang tính chất tiêu dùng XH. Bởi lẽ, trong mỗi niên độ, phần lớn chi thường xuyên của NS được sử dụng để đáp ứng những nhu cầu về quản lý An ninh quốc phòng và hành chính.
Thứ ba mức độ và phạm vi chi thường xuyên phụ thuộc nhiều vào cách tổ chức điều hành NN cũng như chọn lựa của NN với việc cung cấp dịch vụ công cộng. Những khoản chi này nhằm để tiếp tục hoạt động hằng ngày của bộ máy. Khi bộ máy tinh gọn, vận hành tốt, chi thường xuyên sẽ giảm; mặt khác, khi bộ máy cồng kềnh, hoạt động không được tốt, chi thường xuyên sẽ tăng. Ngoài ra, phạm vi cung ứng hàng hóa và dịch vụ công mà Nhà nước quyết định cũng là yếu tố ảnh hưởng quan trọng.
- Sơ đồ 1.1 Đặc điểm của chi thường xuyên ngân sách Nhà nước
1.2. Vai trò của Kho bạc Nhà nước trong việc kiểm soát chi thường xuyên ngân sách Nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp công lập. Luận văn: Thực trạng kiểm soát chi thường xuyên qua kho bạc.
Vai trò của chi thường xuyên đối với đơn vị sự nghiệp công lập: Bảo đảm nguồn tài chính để đơn vị sự nghiệp công lập duy trì hoạt động ổn định, chi trả tiền lương và các khoản chi nghiệp vụ, thực hiện nhiệm vụ chuyên môn và cung ứng dịch vụ công. Đồng thời, đây là công cụ quan trọng giúp Nhà nước thực hiện chính sách an sinh xã hội, nâng cao kỷ luật tài chính và từng bước thúc đẩy cơ chế tự chủ của đơn vị.
Thứ nhất, Kho bạc Nhà nước triển khai xem xét những khoản chi nhằm bảo đảm đáp ứng đầy đủ những tiêu chuẩn cấp phát, chi trả theo QĐ của Luật Ngân sách Nhà nước. Cụ thể, khoản chi phải nằm ở dự toán đã được cấp có thẩm quyền giao, phù hợp với chế độ, định mức và tiêu chuẩn hiện hành; có quyết định chi của thủ trưởng đơn vị sử dụng NS hoặc người được ủy quyền; đồng thời kèm theo đầy đủ HS, chứng từ theo QĐ. Ngoài ra, Kho bạc Nhà nước còn so sánh những khoản chi với dự toán và hạn mức kinh phí do bộ phận TC hoặc nơi có thẩm quyền bảo đảm thông báo chỉ thực hiện chi trả đối với những khoản chi có ở dự toán và trong giới hạn hạn mức được phân bổ.
Thứ hai, Kho bạc Nhà nước kiểm tra, rà soát những HS, chứng từ theo QĐ đối với mỗi khoản chi; song song kiểm soát kiểm tra những khoản chi đảm bảo tuân thủ đúng định mức, chế độ chi tiêu tài chính nhà nước. Đối với các khoản chi chưa có định mức, chế độ chi tiêu tài chính nhà nước, Kho bạc Nhà nước kiểm soát chi dựa trên dự toán đã được phê duyệt. Mọi khoản chi phải có trong dự toán, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức và được thủ trưởng hoặc người được ủy quyền quyết định. Thanh toán Ngân sách Nhà nước được thực hiện trực tiếp cho người hưởng lương, trợ cấp hoặc nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ; nếu chưa thể chi trực tiếp, Kho bạc Nhà nước chi trả thông qua đơn vị sử dụng NS.
Như vậy, Kho bạc Nhà nước được NN giao nhiệm vụ trở thành điểm kiểm soát cuối cùng, bảo đảm đồng vốn ngân sách chỉ được xuất ra khi đúng quy định. Vai trò của Kho bạc Nhà nước trong quản lý chi Ngân sách Nhà nước thể hiện ở việc vừa quản lý tài khoản hạn mức của các đơn vị dự toán, vừa trực tiếp thực hiện chức năng cấp phát và thanh toán. Cùng với đó, Kho bạc Nhà nước tiến hành kiểm tra, kiểm soát toàn diện các yếu tố hạch toán nhằm bảo đảm việc sử dụng ngân sách đúng QĐ, phù hợp mục lục Ngân sách Nhà nước; đồng thời xác minh tính hợp pháp của chữ ký, dấu của người quyết định chi và Kế toán trưởng theo mẫu đã đăng ký. Hoạt động kiểm soát này được tổ chức theo quy trình ba bước: trước khi chi, trong khi chi và sau khi chi. Tình hình trong những năm vừa qua, qua kết quả kiểm soát chi trả những khoản chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước cho thấy Kho bạc Nhà nước những năm qua có vai trò vô cùng trọng yếu trong việc Kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước. Mỗi năm hệ thống Kho bạc Nhà nước đã từ chối chi trả hàng chục ngàn khoản chi của hàng ngàn đơn vị do chưa đầy đủ HS, thủ tục theo QĐ với số tiền khoảng 200 tỉ đồng. Thông qua công tác kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước, Kho bạc Nhà nước đã góp phần quan trọng trong việc đảm bảo những khoản chi Ngân sách Nhà nước được kiểm soát nghiêm ngặt, bác bỏ những khoản chi chưa hợp pháp hợp lệ.
1.3. Tiêu chí đánh giá Kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước.
- Yêu cầu:
Thực hiện công tác Kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước phải đáp ứng được những tiêu chuẩn dưới đây: Luận văn: Thực trạng kiểm soát chi thường xuyên qua kho bạc.
Công tác Kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước cần được triển khai theo hướng bảo đảm hiệu quả sử dụng ngân sách, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội và ưu tiên nguồn lực cho các chương trình mục tiêu quốc gia. Vì vậy, Kho bạc Nhà nước phải quy định rõ ràng các tiêu chí cũng như quy trình cấp phát, chi trả. Khi thực hiện cấp phát kinh phí, Kho bạc Nhà nước dựa theo vào dự toán Ngân sách Nhà nước năm đã phê duyệt trước đó, đồng thời xem xét khả năng cân đối ngân sách từng quý để phân bổ mức chi phù hợp cho từng đơn vị sử dụng. Về phương thức thanh toán, nguyên tắc là mọi khoản chi Ngân sách Nhà nước đều phải được chi trả trực tiếp đến đơn vị hoặc đối tượng thụ hưởng trên cơ sở dự toán được phê duyệt. Trong quá trình sử dụng, việc chi tiêu cần có sự chuẩn chi của thủ trưởng đơn vị và phải tuân thủ đầy đủ chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu do Nhà nước ban hành.
Công tác kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước là một quá trình nhiều bước, liên quan đến toàn bộ chu trình ngân sách từ lập dự toán, cấp phát, phân bổ, chi trả đến kế toán, quyết toán, đồng thời có sự tham gia của các bộ, ngành và địa phương. Vì vậy, việc tổ chức thực hiện phải thận trọng, có đánh giá sau mỗi giai đoạn nhằm điều chỉnh, hoàn thiện thủ tục sao cho thích hợp với thực tại. Điều này không chỉ giúp đẩy mạnh hiệu quả quản lý mà còn góp phần duy trì kỷ luật, kỷ cương tài chính. Nhưng, quá trình Kiểm soát chi cũng cần linh hoạt, tránh cứng nhắc, gây phiền hà cho đơn vị sử dụng Ngân sách Nhà nước.
Tổ chức bộ máy Kiểm soát chi cần được xây dựng theo hướng tinh gọn, phù hợp với yêu cầu cải cách HC; giảm thiểu những đầu mối trung gian, đơn giản hóa thủ tục quy trình. Song song đó, phải quy định chi tiết chức năng, quyền hạn và trách nhiệm của từng cơ quan trong quản lý NS, quản lý TC công, nhất là trách nhiệm của thủ trưởng đơn vị sử dụng NS trong khâu lập dự toán, phân bổ và sử dụng kinh phí, báo cáo cũng như quyết toán. Cách làm này không chỉ hạn chế sự chồng chéo, trùng lặp mà còn góp phần tạo điều kiện cho cơ chế giám sát, kiểm tra chéo giữa những bên liên quan tại quá trình Kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước.
Việc Kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước cần được triển khai đồng nhất với quy trình quản lý ngân sách từ dự toán đến quyết toán, đồng thời gắn kết chặt chẽ với những chính sách TC khác như phí, thuế, đầu tư và hình thức quản lý với những đơn vị sự nghiệp có thu hay thực hiện khoán chi.
Quy trình kiểm soát chi: Quy trình kiểm soát chi thường xuyên qua Kho bạc Nhà nước đối với đơn vị Sự nghiệp công lập thường gồm các bước cơ bản:
- Tiếp nhận hồ sơ đề nghị thanh toán từ đơn vị sử dụng ngân sách (trực tiếp hoặc qua dịch vụ công trực tuyến).
- Kiểm tra tính đầy đủ, hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ, bao gồm: dự toán được giao, chứng từ chi tiêu, hợp đồng (nếu có), các văn bản liên quan.
- Đối chiếu với chế độ, tiêu chuẩn, định mức và số dư dự toán để xác định điều kiện thanh toán.
- Thực hiện thanh toán hoặc từ chối thanh toán (nếu hồ sơ không đủ điều kiện), đồng thời thông báo rõ lý do cho đơn vị.
- Lưu trữ, theo dõi và hạch toán kế toán ngân sách theo quy định.
Nguyên tắc:
- Nguyên tắc quản lý theo dự toán
Lập dự toán là khâu mở đầu của một chu trình Ngân sách Nhà nước. Khi các khoản chi thường xuyên đã được xác lập trong dự toán và thông qua bởi cơ quan quyền lực Nhà nước, chúng được xem là nghĩa vụ pháp lệnh. Dưới góc độ quản lý tài chính công, điều này đồng nghĩa với việc Nhà nước bảo đảm thực hiện đầy đủ cho đơn vị thụ hưởng và tạo cơ sở cho nguyên tắc theo dõi chi thường xuyên theo dự toán. Luận văn: Thực trạng kiểm soát chi thường xuyên qua kho bạc.
- Quy tắc quản lý chi theo dự toán được cụ thể hóa qua những phương diện chủ yếu sau đây:
Trong quy trình lập ngân sách, tất cả yêu cầu chi Ngân sách Nhà nước của năm kế hoạch phải được xác lập ở dự toán chi, bắt đầu từ đơn vị cơ sở và tiếp tục qua những vòng thẩm định, chấp nhận của những cơ quan quyền lực NN. Quyền quyết định cuối cùng thuộc về Quốc hội. Chỉ sau khi Quốc hội thông qua, dự toán chi Ngân sách Nhà nước mới trở thành cơ sở pháp lý chính thức để phân bổ kinh phí cho từng lĩnh vực, từng ngành và từng đơn vị. Chính vì thế, có thể khẳng định nghị quyết phê duyệt dự toán Ngân sách Nhà nước của Quốc hội mang tính chất như một đạo luật điều chỉnh hoạt động quản lý, chi tiêu Ngân sách Nhà nước. Mọi khoản chi từ Ngân sách Nhà nước chỉ có thể được thực hiện khi và chỉ khi khoản chi đó đã nằm trong cơ cấu chi theo dự toán Ngân sách Nhà nước đã được cơ quan quyền lực Nhà nước xét duyệt và thông qua.
Trong quá trình tổ chức thực hiện dự toán chi Ngân sách Nhà nước, mỗi ngành, mỗi cấp, mỗi đơn vị phải theo sát với dự toán đã được duyệt mà phân bổ, phân công và sử dụng kinh phí Ngân sách Nhà nước nhằm mang đến HH, các DV công, đáp ứng lợi ích KT-XH cho con người.
Định kỳ theo chế độ quyết toán kinh phí Ngân sách Nhà nước, những ngành, những cấp, những đơn vị khi phân tích, xem xét kết quả triển khai của kỳ báo cáo phải lấy dự toán chi Ngân sách Nhà nước làm cơ sở đối chiếu, so sánh.
- Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả
Nguyên tắc này đòi hỏi Nhà nước phải cung cấp hàng hóa, dịch vụ công với mức chi phí tiết kiệm để đạt được những hiệu quả KT-XH cao nhất.
- Nội dung của nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả được mô tả qua những góc cạnh như sau:
Nhu cầu chi từ Ngân sách Nhà nước luôn gia tăng với tốc độ nhanh trong khi khả năng huy động nguồn thu Ngân sách Nhà nước thì có hạn. Vì thế, khi phân bổ và dùng những nguồn lực hiếm hoi của Ngân sách Nhà nước luôn phải ước tính để với chi phí tiết kiệm tối đa nhưng vẫn có được thành quả KT-XH tốt nhất.
Bên cạnh đó, khi đánh giá tính hữu hiệu của những khoản chi Ngân sách Nhà nước cần phải xét quả về mặt kinh tế (tỉ lệ so sánh giữa giá trị đầu ra và chi phí đầu vào) và cả hiệu quả về mặt chính trị – xã hội (mức độ đạt mục tiêu chính trị – xã hội đã đề ra). Một khoản chi Ngân sách Nhà nước được xem là có hiệu quả nếu cùng một chi phí như nhau nhưng khoản chi Ngân sách Nhà nước tạo ra được nhiều phúc lợi xã hội hơn so với khu vực ngoài Nhà nước có thể mang lại.
- Nguyên tắc chi trực tiếp qua Kho bạc Nhà nước
Nguyên tắc này đòi hỏi việc chi Ngân sách Nhà nước thực hiện thẳng từ Kho bạc Nhà nước cho đối tượng hưởng lương và bên cung ứng HH và dịch vụ. Luận văn: Thực trạng kiểm soát chi thường xuyên qua kho bạc.
Nội dung của nguyên tắc chi Ngân sách Nhà nước trực tiếp thông qua Kho bạc Nhà nước được mô tả qua các mặt sau :
Với nhiệm vụ quản lý quỹ Ngân sách Nhà nước, Kho bạc Nhà nước đảm bảo việc thu được tập trung đầy đủ, kịp thời để phục vụ chi trả ngân sách.
Những bên sử dụng NS và những tổ chức nhận hỗ trợ xuyên suốt từ Ngân sách Nhà nước phải mở TK tại Kho bạc Nhà nước, đồng thời chịu sự theo dõi của cơ quan TC và Kho bạc Nhà nước trong toàn bộ thời gian sử dụng kinh phí.
Trên cơ sở dự toán được phân công, tiến trình thực hiện công việc và các điều kiện chi, đứng đầu đơn vị sử dụng NS quyết định khoản chi và gửi đến Kho bạc Nhà nước kèm theo chứng từ thiết yếu.
KBNN sẽ thẩm định tính hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ và chỉ thực hiện chi trả khi đã đủ điều kiện theo quy định.
Việc chi trả được thực hiện trực diện đến người hưởng lương, trợ cấp, hoặc nhà cung ứng dịch vụ, HH. Đối với các khoản chi chưa thể chi trực tiếp, Kho bạc Nhà nước cho phép tạm ứng kinh phí để đơn vị chủ động thực hiện, sau đó đối chiếu và thanh toán lại theo đúng nội dung chi tiêu.
- Nội dung:
Kiểm soát chi thanh toán cá nhân
Ngoài hồ sơ gửi lần đầu (bao gồm: dự toán năm được cấp có thẩm quyền giao, Tùy theo đặc điểm của mỗi khoản chi, dựa trên QĐ giao quyền tự chủ do cơ quan có thẩm quyền ban hành và Quy chế chi tiêu nội bộ, các loại HS, chứng từ thiết yếu để TT gồm có:
- Với các khoản chi TT cá nhân:
Hồ sơ đối với các khoản chi tiền lương, học bổng, sinh hoạt phí, đóng góp và chi cho cán bộ xã, thôn, bản đương chức gồm: DS người hưởng học bổng, lương, phí sinh hoạt; DS người hưởng tiền công theo HĐ thường xuyên; DS cán bộ xã, thôn, bản đương chức (nộp lần đầu và khi có thay đổi).
Thanh toán thu nhập tăng thêm cho Cán bộ công chức, viên chức của cơ quan hành chính triển khai NĐ số 130/2005/NĐ-CP, đơn vị sự nghiệp triển khai NĐ số 43/2006/NĐ-CP: triển kha theo TT ngày 13/03/2006 số 18/2006/TT-BTC của Bộ Tài chính chỉ dẫn dẫn chế độ Kiểm soát chi đối với cơ quan NN thi hành chế độ tự chịu trách nhiệm tự chủ về sử dụng biên chế và chi phí quản lý HC; TT ngày 06/09/2006 số 81/2006/TT-BTC của BBTC chỉ dẫn chế độ Kiểm soát chi đối với những đơn vị Sự nghiệp công lập triển khai quyền tự chịu trách nhiệm tự chủ về triển khai nhiệm vụ, tổ chức cơ cấu, biên chế và TC.
- Những khoản chi trả khác cho cá nhân: DS theo mỗi lần chi trả.
- Trường hợp chi trả cá nhân thuê ngoài: HĐ thuê khoán, thanh lý HĐ (nếu có);
Kiểm soát chi nghiệp vụ chuyên môn
Chi mua hàng hóa, dịch vụ: Luận văn: Thực trạng kiểm soát chi thường xuyên qua kho bạc.
- Chi thanh toán dịch vụ công cộng; thông tin, tuyên truyền liên lạc: Bảng kê chứng từ TT.
- Chi vật tư văn phòng được kiểm soát trên cơ sở: Không có hợp đồng: bảng kê chứng từ thanh toán; Có hợp đồng: hợp đồng, hóa đơn và biên bản thanh lý. Trường hợp đơn vị thực hiện khoán phương tiện, văn phòng phẩm hoặc điện thoại, cần gửi văn bản quy định mức khoán và danh sách người hưởng (gửi đầu năm, bổ sung khi có thay đổi).
- Chi hội nghị được kiểm soát trên cơ sở: Không có hợp đồng: bảng kê chứng từ thanh toán; Có hợp đồng: hợp đồng, hóa đơn và biên bản thanh lý.
- Chi công tác phí được thanh toán trên cơ sở bảng kê chứng từ.
- Chi phí thuê mướn được thanh toán theo bảng kê chứng từ (nếu không có hợp đồng) hoặc theo hợp đồng, thanh lý hợp đồng và hóa đơn (nếu có hợp đồng).
- Đối với chi đoàn ra, đoàn vào: sử dụng bảng kê chứng từ thanh toán nếu không ký hợp đồng; trường hợp có hợp đồng thì kèm theo hợp đồng, thanh lý hợp đồng và hóa đơn.
KSC mua sắm sửa chữa nhỏ và xây dựng nhỏ:
Đối với chi mua sắm TS: kèm bảng kê chứng từ khi không có hợp đồng; nếu có hợp đồng thì bổ sung hợp đồng, thanh lý hợp đồng và quyết định phê duyệt kết quả thầu.
Khi phát sinh chi phí sửa chữa, duy tu công trình, tài sản chuyên môn hoặc chi nghiệp vụ, đơn vị phải cung cấp hợp đồng, biên bản thanh lý và hóa đơn. Riêng các khoản chi phải qua đấu thầu, hồ sơ bổ sung thêm Quyết định phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu được cấp có thẩm quyền ban hành.
- Kiểm soát chi khác
Các khoản chi khác: kèm Bảng kê chứng từ (nếu không có hợp đồng) hoặc hợp đồng, thanh lý và hóa đơn (nếu có hợp đồng).
Đối với khoản chi mua, đầu tư TS vô hình hoặc mua sắm TS phục vụ chuyên môn, đơn vị cần cung cấp HĐ, biên bản thanh lý và hóa đơn. Trường hợp phải tổ chức lựa chọn nhà thầu thì gửi kèm QĐ phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu của cơ quan có thẩm quyền.
Kiểm soát chi thường xuyên theo nghiệp vụ như:
- Kiểm soát theo hồ sơ thanh toán: Luận văn: Thực trạng kiểm soát chi thường xuyên qua kho bạc.
Kho bạc thực hiện kiểm tra tính đầy đủ, hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ do đơn vị sự nghiệp công lập gửi đến, bao gồm: giấy rút dự toán, chứng từ kế toán, hợp đồng, hóa đơn và các tài liệu liên quan. Nội dung kiểm soát tập trung vào sự phù hợp giữa chứng từ và nội dung chi, bảo đảm đúng quy định hiện hành.
- Kiểm soát theo dự toán:
Thực hiện đối chiếu khoản chi đề nghị thanh toán với dự toán được cấp có thẩm quyền giao; kiểm tra số dư dự toán còn lại, bảo đảm khoản chi nằm trong phạm vi dự toán, đúng mục lục ngân sách và đúng nguồn kinh phí.
- Kiểm soát theo quy trình, thủ tục:
Kho bạc giám sát việc tuân thủ quy trình, thủ tục chi tiêu theo quy định, bao gồm trình tự lập, phê duyệt, ký duyệt chứng từ; thẩm quyền quyết định chi; sự phù hợp với quy chế chi tiêu nội bộ và cơ chế tự chủ của đơn vị.
- Kiểm soát các khoản tạm ứng và thanh toán tạm ứng:
Đối với các khoản tạm ứng, Kho bạc kiểm tra điều kiện tạm ứng, mức tạm ứng theo quy định; theo dõi thời hạn thanh toán, thu hồi tạm ứng; bảo đảm việc thanh toán khối lượng hoàn thành đúng thực tế, tránh tình trạng tồn đọng hoặc sử dụng vốn tạm ứng sai mục đích.
- Kiểm soát theo hồ sơ quyết toán:
Kho bạc phối hợp trong việc đối chiếu số liệu chi tiêu, xác nhận số thực chi qua Kho bạc, làm căn cứ để đơn vị lập báo cáo quyết toán Ngân sách Nhà nước. Nội dung kiểm soát nhằm bảo đảm số liệu quyết toán trung thực, chính xác, đúng chế độ và đúng niên độ ngân sách.
Việc bổ sung nội dung kiểm soát theo nghiệp vụ giúp làm rõ vai trò giám sát toàn diện của Kho bạc Nhà nước trong toàn bộ vòng đời của khoản chi – từ lập dự toán, thực hiện chi, tạm ứng đến quyết toán – qua đó góp phần nâng cao kỷ luật tài chính và hiệu quả sử dụng ngân sách tại các đơn vị sự nghiệp công lập.
1.4. Kinh nghiệm kiểm soát chi của Phòng giao dịch số 6, Phòng giao dịch số 8, Phòng giao dịch số 2 và bài học đối với Phòng giao dịch số 5- Kho bạc Nhà nước khu vực II. Luận văn: Thực trạng kiểm soát chi thường xuyên qua kho bạc.
1.4.1. Kiểm soát chi tại Phòng giao dịch số 6- Kho bạc Nhà nước khu vực II.
Ở nhiệm vụ Kiểm soát chi thì Phòng giao dịch số 6 luôn cải thiện quy trình làm việc để rút bớt những thủ tục hành chính, tránh phí phạm và tiết kiệm nhiều hơn. Điển hình nhất là áp dụng các sáng kiến hàng nằm vào công việc thực tế, do đó công việc được đẩy nhanh, chấm dứt tình trạng ùn tắc chứng từ và quan trọng hơn cả là hạn chế được tối đa những sai sót trong lúc Kiểm soát chi của Ngân sách Nhà nước. Bên cạnh đó, đơn vị đã bố trí, sắp xếp đội ngũ cán bộ, công chức vào những vị trí công tác phù hợp; đồng thời tổ chức các chương trình đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn với nhiều hình thức đa dạng. Hiện nay, Cán bộ công chức trình độ đại học chiếm 80% chỉ tiêu biên chế. Nâng cao chuyên môn của những cán bộ Kiểm soát chi là yếu tố trọng yếu đưa chất lượng của công tác kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước ngày càng tốt hơn.
1.4.2. Kiểm soát chi tại Phòng giao dịch số 8
PGD số 8 là Kho bạc đầu tàu của Kho bạc Nhà nước Thành phố HCM, ngoài việc đóng góp số thu lớn vào Ngân sách Nhà nước thì bên cạnh đó Phòng giao dịch số 8 còn là nơi triển khai đầu tiên những cách làm hay, tạo điều kiện cho các Kho bạc khác học hỏi. Vì đây là quận trung tâm của thành phố, nên số lượng giao dịch cũng như chứng từ cần kiểm soát là rất lớn. Do đó, Phòng giao dịch số 8 đã tiên phong trong việc áp dụng Công nghệ thông tin vào trong Kiểm soát chi của Ngân sách Nhà nước. Ví dụ như hoạt động áp chi trả tự động, đã tiết kiệm được khá nhiều thời gian của cán bộ Kiểm soát chi và cũng tránh được sự cố so với quá trình áp thanh toán thủ công. Ngoài sáng kiến trên, Phòng giao dịch số 8 còn tiến hành scan mẫu dấu chữ ký đơn vị sử dụng ngân sách, tạo ra một kho lưu trữ mẫu dấu chữ ký đơn vị sử dụng ngân sách trên toàn quận. Cách làm này, cán bộ kiểm soát chi chỉ mất chưa đến một phút để có thể kiểm tra tính hợp lý, hợp lệ về mẫu dấu của chứng từ, đồng thời mang lại tính chính xác cao cho việc kiểm tra thông qua mẫu dấu có sẵn lưu trữ. Qua hai sáng kiến trên, cho thấy Phòng giao dịch số 8 đã lần lượt đưa Công nghệ thông tin vào công tác quản lý chi Ngân sách Nhà nước, từng bước đơn giản hóa thao thác kiểm soát và quan trọng hơn cả là đem lại hiệu quả thiết thực.
1.4.3. Kiểm soát chi tại Phòng giao dịch số 2 Luận văn: Thực trạng kiểm soát chi thường xuyên qua kho bạc.
Ở công tác Kiểm soát chi trong Ngân sách Nhà nước, Phòng giao dịch số 2 luôn tuân thủ nghiệm quy định kiểm soát chứng từ của đơn vị sử dụng NS. Trong năm 2023, tổng số chi Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Quận đạt trên 1.500 tỷ đồng. Cùng với đó, Kho bạc Nhà nước Quận đã hỗ trợ, hướng dẫn 700 lượt đơn vị điều chỉnh, bổ sung chứng từ theo đúng quy định hiện hành và từ chối 155 khoản chi không hợp lệ, với giá trị 1,735 tỷ đồng. Nhờ vậy, ý thức và trách nhiệm của các đơn vị sử dụng ngân sách trong việc tuân thủ chế độ, chính sách tài chính ngày càng được củng cố và nâng cao. Ngoài ra, trong việc kiểm soát thanh toán chi tiền mặt cho đơn vị thụ hưởng, Phòng giao dịch số 2 đã kết hợp với NHTM trên địa pbàn mà Phòng giao dịch số 2 mở tài khoản. Theo đó, đơn vị sử dụng ngân sách chỉ cần gửi chứng từ thanh toán đến Kho bạc, và sau đó nhận tiền tại NHTM. Công tác này mang lại ý nghĩa to lớn, một mặt giảm tải quá trình vận chuyển tiền mặt cũng như giảm lưu lượng tiền mặt lưu thông, đặc biệt hơn công tác này còn giúp Phòng giao dịch số 2 tiến đến trở thành Kho bạc Nhà nước không sử dụng tiền mặt, là Kho bạc Nhà nước điện tử.
1.4.4. Bài học kinh nghiệm cho Phòng giao dịch Số 5- Kho bạc Nhà nước khu vực II.
Từ những bài học của kiểm soát thường xuyên ở những Kho bạc Nhà nước trên cùng thành phố, có thể đưa ra một vài kinh nghiệm đối với Phòng giao dịch Số 5- Kho bạc Nhà nước khu vực II như:
Một là, cần hiểu biết rõ rằng công tác Kiểm soát chi ngoài là nhiệm vụ riêng của Kho bạc Nhà nước, thì còn là một quy trình tổng hợp, gắn với nhiều cơ quan, cấp, ngành và đơn vị liên quan. Vì thế, để nâng cao hiệu quả kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước, Kho bạc cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan trên địa bàn, đồng thời tranh thủ sự chỉ đạo, hỗ trợ của cấp ủy và chính quyền địa phương. Trên cơ sở đó, tạo điều kiện để các ngành chức năng khẩn trương ban hành đầy đủ những văn bản thuộc mảng NS, làm căn cứ pháp lý cho việc kiểm soát chi tại địa phương.
Hai là, trong quản lý Ngân sách Nhà nước và kiểm soát chi thường xuyên, yếu tố con người giữ vai trò then chốt. Để chất lượng công tác Kiểm soát chi thường xuyên qua Kho bạc Nhà nước được nâng cao, trước hết cần chú trọng xây dựng và hoàn thiện đội ngũ cán bộ, công chức. Kho bạc Nhà nước phải thực hiện đồng bộ các giải pháp về công tác cán bộ như tuyển dụng, quy hoạch, bố trí, đào tạo và bồi dưỡng. Đặc biệt, việc lựa chọn cán bộ làm công việc Kiểm soát chi không chỉ dựa trên năng lực chuyên môn mà còn phải bảo đảm phẩm chất đạo đức, tính liêm chính và sự công tâm trong thực thi nhiệm vụ.
Ba là, tăng cường ứng dụng Công nghệ thông tin vào quy trình nghiệp vụ của Kho bạc Nhà nước, đặc biệt chú trọng lĩnh vực quản lý và kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả và tính rõ ràng.
Ở chương 1 tác giả đã trình bày những vấn đề cơ bản về Kiểm soát chi thường xuyên qua Kho bạc Nhà nước; những nhân tố chi phối đến Kiểm soát chi trong Ngân sách Nhà nước đối với đơn vị Sự nghiệp công lập. Đó là nền tảng lý luận cho việc đánh giá thực trạng công tác Kiểm soát chi thường xuyên qua Kho bạc Nhà nước đối với đơn vị Sự nghiệp công lập; từ đây nên ra những giải pháp nâng cao công tác Kiểm soát chi thường xuyên đối với đơn vị Sự nghiệp công lập thuộc Phường An Lạc. Kiểm soát chi ngân sách nhà nước (NSNN) nói chung và kiểm soát chi (KSC) thường xuyên qua hệ thống Kho bạc Nhà nước nói riêng đã được tác giả quan tâm nghiên cứu. Luận văn: Thực trạng kiểm soát chi thường xuyên qua kho bạc.
Đề án chủ yếu tập trung vào những nội dung sau: Hoàn thiện cơ chế, quy trình Kiểm soát chi thường xuyên qua Kho bạc Nhà nước. Đánh giá thực trạng Kiểm soát chi tại Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh/huyện.
Nâng cao hiệu quả quản lý chi Ngân sách Nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp công lập (SNCL). Tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước 2015
Kết quả cho thấy Kiểm soát chi thường xuyên giữ vai trò quan trọng trong việc: Đảm bảo các khoản chi đúng dự toán, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức. Hạn chế thất thoát, lãng phí ngân sách. Góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính công. Tuy nhiên đề án nghiên cứu cũng chỉ ra một số hạn chế như: thủ tục hành chính còn phức tạp, hồ sơ chứng từ chưa đồng bộ, việc ứng dụng công nghệ thông tin chưa thực sự tối ưu ở một số địa phương, và chất lượng cán bộ kiểm soát chi chưa đồng đều. Luận văn: Thực trạng kiểm soát chi thường xuyên qua kho bạc.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Tổng quan về kiểm soát chi thường xuyên qua kho bạc

Pingback: Luận văn: Giải pháp về kiểm soát chi thường xuyên qua kho bạc