Luận văn: Thực trạng công tác quản lý thuế hộ kinh doanh

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng công tác quản lý thuế hộ kinh doanh hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng công tác quản lý thuế hộ kinh doanh tại địa bàn huyện Hóc Môn giai đoạn 2021–2024 dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1 Khái quát về hộ kinh doanh trên địa bàn huyện Hóc Môn

Huyện Hóc Môn là một trong những địa bàn có tốc độ đô thị hóa nhanh của khu vực Tây Bắc TP. Hồ Chí Minh, với dân số đông, mật độ dân cư cao tại các xã Bà Điểm, Xuân Thới Thượng, Xuân Thới Sơn, Thới Tam Thôn và thị trấn Hóc Môn. Sự phát triển mạnh của các khu dân cư, chợ truyền thống, cụm thương mại – dịch vụ đã thúc đẩy khu vực hộ kinh doanh (HKD) phát triển cả về số lượng và ngành nghề. Theo số liệu của Đội Thuế liên huyện Quận 12 – Hóc Môn, tính đến năm 2024, toàn huyện có 20.425 hộ kinh doanh đang hoạt động, chiếm gần một nửa tổng số hộ kinh doanh do Đội Thuế quản lý. Trong đó, 16.498 hộ nộp thuế theo phương pháp khoán, chiếm tỷ lệ 80,7%; 334 hộ thực hiện kê khai thuế, chiếm 1,6%; 1.739 hộ cho thuê tài sản chiếm 8,5%; và 1.854 hộ kinh doanh thương mại điện tử, chiếm 9,1%. Cơ cấu này phản ánh đặc điểm kinh doanh nhỏ lẻ, tự phát vẫn chiếm ưu thế trên địa bàn huyện.

Trong giai đoạn 2021–2024, số lượng Hộ kinh doanh trên địa bàn có sự biến động đáng kể do ảnh hưởng của dịch COVID-19 và sự phục hồi kinh tế sau dịch. Năm 2021, số hộ kinh doanh đang hoạt động chỉ đạt khoảng 17.800 hộ, do nhiều hộ phải tạm ngừng hoặc ngưng hẳn kinh doanh vì giãn cách xã hội kéo dài. Bước sang năm 2022, khi hoạt động kinh tế – xã hội trở lại trạng thái bình thường mới, số Hộ kinh doanh tăng nhanh lên hơn 19.500 hộ, tăng 9,5% so với năm 2021. Đến năm 2023, số lượng Hộ kinh doanh tiếp tục tăng thêm khoảng 4,2%, tương ứng đạt 20.320 hộ. Năm 2024, tổng số hộ kinh doanh ổn định ở mức 20.425 hộ, cho thấy sự phát triển tương đối ổn định của khu vực này. Sự gia tăng trở lại của số hộ kinh doanh cho thấy mức độ phục hồi kinh tế mạnh mẽ tại huyện Hóc Môn, đặc biệt trong các ngành: ăn uống, vận tải nhỏ, dịch vụ gia đình, sửa chữa – bảo trì và bán lẻ tạp hóa.

Xét theo đặc điểm phân bố địa lý, hộ kinh doanh tập trung nhiều tại các xã, thị trấn có hoạt động thương mại truyền thống phát triển như Bà Điểm (khoảng 2.800 hộ), thị trấn Hóc Môn (hơn 2.600 hộ), Xuân Thới Thượng (2.300 hộ) và Thới Tam Thôn (2.100 hộ). Trong khi đó, các xã vùng ven như Nhị Bình, Đông Thạnh, Tân Hiệp có số lượng Hộ kinh doanh ít hơn, dao động từ 800–1.200 hộ, chủ yếu liên quan đến ngành nghề nông sản, vật liệu xây dựng, dịch vụ nhỏ lẻ. Đáng chú ý, xã Xuân Thới Đông, nơi có Chợ đầu mối Nông sản Hóc Môn, là địa bàn có mức biến động lớn nhất về số lượng Hộ kinh doanh do hoạt động kinh doanh tại chợ phụ thuộc nhiều vào dòng lưu thông hàng hóa và tình hình thương mại liên vùng.

Về cơ cấu ngành nghề, Hộ kinh doanh tại huyện Hóc Môn hoạt động đa dạng, trong đó 55–60% hoạt động trong lĩnh vực thương mại, chủ yếu là bán lẻ tạp hóa, thực phẩm, quần áo, vật liệu xây dựng và kinh doanh tại chợ truyền thống. Khoảng 25% hộ kinh doanh thuộc lĩnh vực dịch vụ, gồm ăn uống, sửa chữa xe máy – điện lạnh, làm đẹp, vận tải nhỏ, dịch vụ lưu trú. Lĩnh vực sản xuất chiếm khoảng 10%, chủ yếu là sản xuất nhỏ lẻ các mặt hàng thủ công, bánh kẹo truyền thống. Tỷ trọng hộ kinh doanh thương mại điện tử tăng nhanh từ khoảng 900 hộ năm 2021 lên 1.854 hộ năm 2024, tương ứng mức tăng 106%, cho thấy xu hướng chuyển đổi phương thức kinh doanh lên các nền tảng số như Shopee, TikTok Shop, Facebook Marketplace,… đang ngày càng phổ biến trong cộng đồng Hộ kinh doanh tại huyện.

Ngoài ra, một đặc điểm nổi bật của Hộ kinh doanh trên địa bàn huyện Hóc Môn là tính biến động cao, thể hiện qua số lượng lớn các hộ tạm ngừng hoặc ngưng kinh doanh hằng năm. Bình quân mỗi năm huyện có từ 2.000–2.500 lượt hộ ngừng kinh doanh, chiếm 10–12% tổng số Hộ kinh doanh; trong khi số hộ phát sinh mới dao động 2.300–2.800 hộ/năm. Điều này gây khó khăn cho công tác lập bộ, quản lý thuế khoán và kiểm tra thực địa của cơ quan Thuế.

Nhìn chung, hệ thống hộ kinh doanh trên địa bàn huyện Hóc Môn giai đoạn 2021–2024 có sự phát triển mạnh về quy mô, cơ cấu ngành nghề đa dạng và đan xen giữa mô hình truyền thống và thương mại điện tử. Tuy nhiên, đặc điểm phân tán, quy mô nhỏ, biến động lớn và việc áp dụng công nghệ thông tin chưa đồng đều khiến khu vực này trở thành nhóm đối tượng đòi hỏi nhiều giải pháp quản lý đặc thù từ cơ quan Thuế. Đây là cơ sở quan trọng cho việc đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế Hộ kinh doanh được trình bày ở các mục tiếp theo.

2.2 Khái quát về Đội Thuế liên huyện Quận 12 – Hóc Môn Luận văn: Thực trạng công tác quản lý thuế hộ kinh doanh.

Đội Thuế liên huyện Quận 12 – Hóc Môn là đơn vị trực thuộc Chi cục Thuế khu vực quản lý địa bàn Quận 12 và huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Đơn vị được tổ chức theo mô hình tinh gọn bộ máy ngành Thuế theo chủ trương cải cách hành chính và sắp xếp lại hệ thống tổ chức ngành Thuế theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp và hiệu quả. Với phạm vi quản lý rộng, bao gồm một quận nội thành đang đô thị hóa nhanh và một huyện ngoại thành có tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ, Đội Thuế liên huyện giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức thực hiện chính sách thuế và quản lý thu ngân sách nhà nước trên địa bàn.

Về chức năng, Đội Thuế liên huyện Quận 12 – Hóc Môn có nhiệm vụ tổ chức thực hiện quản lý thuế đối với người nộp thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành. Hoạt động quản lý bao gồm đăng ký thuế, kê khai, nộp thuế, hoàn thuế, quản lý nợ thuế, thanh tra – kiểm tra và cưỡng chế thuế. Bên cạnh đó, đơn vị còn thực hiện công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế, tiếp nhận và giải quyết vướng mắc liên quan đến chính sách thuế. Trong bối cảnh ngành Thuế đẩy mạnh chuyển đổi số, Đội Thuế liên huyện cũng là đầu mối triển khai các hệ thống quản lý thuế điện tử, hóa đơn điện tử và các nền tảng dịch vụ công trực tuyến trên địa bàn.

Về cơ cấu tổ chức, Đội Thuế liên huyện được phân công thành các bộ phận chuyên môn như: bộ phận quản lý hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh; bộ phận quản lý doanh nghiệp; bộ phận kê khai – kế toán thuế; bộ phận quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế; bộ phận kiểm tra thuế; và bộ phận tuyên truyền – hỗ trợ người nộp thuế. Trong đó, bộ phận quản lý hộ kinh doanh chiếm tỷ trọng công việc lớn do số lượng hộ kinh doanh trên địa bàn đông và phân bố rộng khắp các xã, phường. Công tác quản lý hộ kinh doanh đòi hỏi sự kết hợp giữa kiểm tra thực địa, cập nhật thông tin biến động và phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương.

Địa bàn quản lý của Đội Thuế liên huyện Quận 12 – Hóc Môn có đặc điểm kinh tế – xã hội đa dạng. Quận 12 là khu vực đang phát triển mạnh về thương mại – dịch vụ và dân cư đô thị, trong khi huyện Hóc Môn vừa mang đặc trưng của vùng ven đô vừa có hoạt động thương mại truyền thống sôi động, đặc biệt tại khu vực Chợ đầu mối nông sản Hóc Môn. Sự đa dạng này tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức cho công tác quản lý thuế, nhất là đối với khu vực hộ kinh doanh nhỏ lẻ, phân tán và biến động thường xuyên.

Trong giai đoạn 2021–2024, Đội Thuế liên huyện đã triển khai đồng bộ các giải pháp cải cách hành chính thuế, thực hiện kế hoạch chuyển đổi số theo chỉ đạo của Tổng cục Thuế. Việc áp dụng hóa đơn điện tử, tăng cường kê khai và nộp thuế điện tử, cập nhật cơ sở dữ liệu người nộp thuế đã góp phần nâng cao tính minh bạch và hiệu quả quản lý. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy khu vực hộ kinh doanh vẫn là nhóm đối tượng khó quản lý do đặc điểm quy mô nhỏ, hoạt động chủ yếu bằng tiền mặt và khả năng tiếp cận công nghệ không đồng đều. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý thuế hộ kinh doanh.

Bên cạnh những kết quả tích cực trong công tác thu ngân sách, Đội Thuế liên huyện Quận 12 – Hóc Môn cũng phải đối mặt với một số khó khăn như: số lượng người nộp thuế lớn so với biên chế cán bộ; tình trạng hộ kinh doanh tạm ngừng, ngưng hoạt động nhưng không thông báo kịp thời; biến động doanh thu khó kiểm soát; và sự gia tăng nhanh của hộ kinh doanh thương mại điện tử. Những yếu tố này đòi hỏi đơn vị phải liên tục điều chỉnh phương thức quản lý, tăng cường quản lý rủi ro và phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương để nâng cao hiệu quả thu thuế. Nhìn chung, Đội Thuế liên huyện Quận 12 – Hóc Môn giữ vai trò trung tâm trong việc tổ chức thực hiện chính sách thuế và quản lý thu ngân sách trên địa bàn. Với đặc thù quản lý số lượng lớn hộ kinh doanh tại huyện Hóc Môn, việc nghiên cứu và đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế hộ kinh doanh tại đơn vị này có ý nghĩa thực tiễn quan trọng.

2.3 Thực trạng hộ kinh doanh trên địa bàn huyện Hóc Môn giai đoạn 2021–2024

2.3.1 Số lượng hộ kinh doanh qua các năm

Số lượng hộ kinh doanh trên địa bàn huyện Hóc Môn trong giai đoạn 2021–2024 có xu hướng tăng trưởng trở lại sau đại dịch COVID-19. Cụ thể như sau:

  • Bảng 2.1. Số lượng hộ kinh doanh trên địa bàn huyện Hóc Môn giai đoạn 2021–2024

Qua số liệu tại Bảng 2.1 cho thấy số lượng hộ kinh doanh trên địa bàn huyện Hóc Môn trong giai đoạn 2021–2024 có xu hướng tăng trưởng liên tục nhưng tốc độ tăng không đồng đều giữa các năm. Năm 2021 ghi nhận mức thấp nhất với 17.802 hộ đang hoạt động, nguyên nhân chủ yếu do ảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịch COVID-19 khiến nhiều hộ kinh doanh phải tạm ngừng hoặc chấm dứt hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc giãn cách xã hội kéo dài đã làm suy giảm nhu cầu tiêu dùng, gián đoạn chuỗi cung ứng hàng hóa và gây khó khăn về dòng tiền đối với các hộ kinh doanh nhỏ lẻ. Sang năm 2022, khi các hoạt động kinh tế – xã hội từng bước được khôi phục, số lượng hộ kinh doanh tăng mạnh lên 19.489 hộ, tương ứng tăng 1.687 hộ so với năm 2021, đạt mức tăng trưởng 9,48%. Đây là mức tăng cao nhất trong giai đoạn nghiên cứu, phản ánh xu hướng người lao động chuyển sang mô hình kinh doanh cá thể nhằm tạo thu nhập sau thời gian mất việc hoặc giảm thu nhập do dịch bệnh. Sự gia tăng nhanh số lượng hộ kinh doanh trong giai đoạn này đồng thời làm mở rộng đáng kể phạm vi quản lý của cơ quan thuế.

Đến năm 2023, số hộ kinh doanh tiếp tục tăng thêm 831 hộ, tương ứng 4,26%, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng đã chậm lại so với năm trước. Điều này cho thấy thị trường kinh doanh cá thể bắt đầu đi vào giai đoạn ổn định sau phục hồi kinh tế. Năm 2024, tổng số hộ kinh doanh đạt 20.425 hộ, chỉ tăng nhẹ 105 hộ (0,52%), phản ánh xu hướng bão hòa tương đối về số lượng hộ kinh doanh trên địa bàn. Nhìn tổng thể, trong vòng 4 năm, số lượng hộ kinh doanh tăng thêm 2.623 hộ, tương ứng mức tăng 14,7% so với năm 2021. Sự gia tăng này góp phần mở rộng nguồn thu ngân sách nhà nước nhưng đồng thời cũng tạo áp lực lớn đối với công tác quản lý thuế, đặc biệt trong việc cập nhật biến động hộ kinh doanh, quản lý doanh thu khoán và kiểm soát nghĩa vụ thuế đối với các hộ mới phát sinh.

2.3.2 Cơ cấu hộ kinh doanh theo phương pháp tính thuế Luận văn: Thực trạng công tác quản lý thuế hộ kinh doanh.

  • Bảng 2.2. Cơ cấu hộ kinh doanh theo phương pháp quản lý thuế năm 2024

Dựa trên số liệu tại Bảng 2.2 cho thấy cơ cấu hộ kinh doanh theo phương pháp quản lý thuế trên địa bàn huyện Hóc Môn vẫn mang đặc trưng điển hình của khu vực kinh tế cá thể với tỷ lệ hộ nộp thuế theo phương pháp khoán chiếm ưu thế tuyệt đối. Cụ thể, trong tổng số 20.425 hộ kinh doanh năm 2024, có 16.498 hộ nộp thuế khoán, chiếm 80,7%. Điều này phản ánh phần lớn hộ kinh doanh có quy mô nhỏ, doanh thu không ổn định và chưa đáp ứng điều kiện thực hiện chế độ kế toán đầy đủ để chuyển sang phương pháp kê khai thuế. Trong khi đó, số hộ thực hiện kê khai thuế chỉ chiếm 1,6% tổng số hộ kinh doanh. Tỷ lệ thấp này cho thấy việc chuyển đổi từ mô hình kinh doanh cá thể truyền thống sang mô hình quản lý minh bạch hơn vẫn còn hạn chế. Đây cũng là một trong những khó khăn lớn đối với cơ quan thuế trong việc xác định chính xác doanh thu thực tế, bởi phương pháp thuế khoán chủ yếu dựa trên khảo sát và ước tính.

Đáng chú ý, nhóm hộ cho thuê tài sản chiếm 8,5%, phản ánh xu hướng khai thác nhà ở, mặt bằng kinh doanh ngày càng phổ biến trong quá trình đô thị hóa của huyện Hóc Môn. Bên cạnh đó, hộ kinh doanh thương mại điện tử đạt 1.854 hộ, chiếm 9,1% tổng số hộ kinh doanh và có tốc độ tăng trưởng nhanh trong những năm gần đây. Sự gia tăng của nhóm hộ này cho thấy xu hướng chuyển đổi phương thức kinh doanh sang môi trường số, tuy nhiên cũng đặt ra nhiều thách thức cho cơ quan thuế trong việc kiểm soát doanh thu do giao dịch chủ yếu diễn ra trên nền tảng trực tuyến. Từ góc độ quản lý thuế, cơ cấu hộ kinh doanh hiện nay cho thấy phương thức quản lý thuế khoán vẫn đóng vai trò chủ đạo, trong khi việc mở rộng quản lý theo phương pháp kê khai và ứng dụng dữ liệu điện tử còn hạn chế. Điều này đòi hỏi cơ quan thuế cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý rủi ro, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và từng bước nâng cao tính minh bạch trong hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh nhằm hạn chế thất thu ngân sách nhà nước.

2.3.3 Cơ cấu hộ kinh doanh theo ngành nghề

  • Bảng 2.3. Cơ cấu hộ kinh doanh theo ngành nghề tại huyện Hóc Môn năm 2024

Qua số liệu tại Bảng 2.3 cho thấy cơ cấu hộ kinh doanh trên địa bàn huyện Hóc Môn năm 2024 có sự phân bố không đồng đều giữa các nhóm ngành nghề, trong đó lĩnh vực thương mại – bán lẻ chiếm tỷ trọng cao nhất với 11.850 hộ, tương ứng 58% tổng số hộ kinh doanh đang hoạt động. Điều này phản ánh đặc điểm kinh tế địa phương mang tính thương mại truyền thống rõ nét, gắn liền với hệ thống chợ dân sinh, cửa hàng bán lẻ và hoạt động trao đổi hàng hóa phục vụ nhu cầu tiêu dùng của dân cư. Sự phát triển mạnh của các khu dân cư mới, tuyến giao thông kết nối với trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh bán lẻ phát triển nhanh chóng. Nhóm ngành dịch vụ đứng thứ hai với 5.320 hộ, chiếm 26% tổng số hộ kinh doanh. Các hoạt động dịch vụ chủ yếu bao gồm kinh doanh ăn uống, sửa chữa phương tiện, làm đẹp, vận tải nhỏ và dịch vụ sinh hoạt gia đình. Đây là nhóm ngành có khả năng phục hồi nhanh sau đại dịch COVID-19 do nhu cầu tiêu dùng trực tiếp của người dân tăng trở lại. Tuy nhiên, đặc điểm doanh thu của nhóm này thường biến động theo thời điểm và phụ thuộc nhiều vào lượng khách hàng thực tế, gây khó khăn cho cơ quan thuế trong việc xác định mức doanh thu khoán sát với thực tế kinh doanh. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý thuế hộ kinh doanh.

Lĩnh vực sản xuất nhỏ chiếm khoảng 10% với 2.050 hộ, chủ yếu là các cơ sở sản xuất thủ công, chế biến thực phẩm, gia công cơ khí hoặc sản xuất tại hộ gia đình. Mặc dù tỷ trọng không lớn nhưng nhóm này thường có tính ổn định cao hơn so với lĩnh vực thương mại và dịch vụ. Tuy nhiên, do quy mô sản xuất nhỏ và việc ghi chép kế toán chưa đầy đủ, công tác kiểm soát chi phí và doanh thu vẫn gặp nhiều hạn chế. Nhóm ngành nghề khác chiếm 6%, bao gồm các hoạt động kinh doanh hỗn hợp hoặc mang tính thời vụ. Tỷ lệ này cho thấy sự đa dạng trong hoạt động kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện. Tổng thể cơ cấu ngành nghề phản ánh khu vực hộ kinh doanh tại huyện Hóc Môn vẫn chủ yếu là kinh doanh nhỏ lẻ, phụ thuộc nhiều vào thị trường tiêu dùng nội địa. Từ góc độ quản lý thuế, cơ cấu này đặt ra yêu cầu phải thường xuyên khảo sát thực tế kinh doanh nhằm xác định mức thuế khoán phù hợp, tránh tình trạng thất thu ngân sách hoặc thiếu công bằng giữa các hộ kinh doanh cùng ngành nghề.

2.3.4 Phân bố hộ kinh doanh theo địa bàn xã, thị trấn

  • Bảng 2.4. Phân bố hộ kinh doanh theo địa bàn huyện Hóc Môn năm 2024

Theo Bảng 2.4, hộ kinh doanh trên địa bàn huyện Hóc Môn phân bố tập trung chủ yếu tại các khu vực có mật độ dân cư cao và hoạt động thương mại phát triển. Xã Bà Điểm có số lượng hộ kinh doanh lớn nhất với 2.820 hộ, tiếp theo là thị trấn Hóc Môn với 2.640 hộ và xã Xuân Thới Thượng với 2.310 hộ. Đây đều là những khu vực có hệ thống chợ truyền thống, tuyến giao thông huyết mạch và hoạt động giao thương diễn ra sôi động. Các địa bàn như Thới Tam Thôn và Xuân Thới Đông cũng ghi nhận số lượng hộ kinh doanh tương đối cao do chịu tác động lan tỏa từ khu vực Chợ đầu mối Nông sản Hóc Môn – trung tâm phân phối hàng hóa lớn của thành phố. Hoạt động kinh doanh tại các khu vực này mang tính linh hoạt và biến động mạnh theo tình hình lưu thông hàng hóa, đặc biệt đối với ngành hàng nông sản và thực phẩm.

Trong khi đó, nhóm “các xã khác” chiếm tới 8.525 hộ, phản ánh sự phân tán rộng của hộ kinh doanh trên toàn địa bàn huyện. Sự phân bố không đồng đều này tạo ra thách thức đáng kể cho cơ quan thuế trong công tác quản lý thực địa, kiểm tra hoạt động kinh doanh và cập nhật biến động hộ kinh doanh. Đối với những địa bàn vùng ven hoặc khu dân cư mới hình thành, việc rà soát hộ kinh doanh phát sinh còn gặp nhiều khó khăn do thay đổi địa điểm kinh doanh thường xuyên. Từ góc độ quản lý thuế, mật độ hộ kinh doanh tập trung cao tại một số địa bàn đòi hỏi cơ quan thuế phải phân bổ nguồn lực quản lý hợp lý, tăng cường phối hợp với chính quyền xã, thị trấn nhằm kịp thời phát hiện hộ kinh doanh mới phát sinh và hạn chế tình trạng kinh doanh không đăng ký thuế.

2.3.5 Mức độ chấp hành nghĩa vụ thuế của hộ kinh doanh Luận văn: Thực trạng công tác quản lý thuế hộ kinh doanh.

  • Bảng 2.5. Tình hình chấp hành nghĩa vụ thuế của hộ kinh doanh giai đoạn 2021–2024

Số liệu tại Bảng 2.5 cho thấy mức độ chấp hành nghĩa vụ thuế của hộ kinh doanh trên địa bàn huyện Hóc Môn có xu hướng cải thiện rõ rệt trong giai đoạn 2021–2024. Tỷ lệ hộ kinh doanh nộp thuế đúng hạn tăng từ 86% năm 2021 lên 94% năm 2024, tương ứng tăng 8 điểm phần trăm sau bốn năm. Kết quả này phản ánh hiệu quả tích cực của công tác tuyên truyền chính sách thuế, cải cách thủ tục hành chính và triển khai các ứng dụng quản lý thuế điện tử của cơ quan thuế. Song song với đó, số hộ nợ thuế giảm dần qua từng năm, từ 2.315 hộ năm 2021 xuống còn 1.722 hộ năm 2024, giảm 593 hộ, tương ứng mức giảm khoảng 25,6%. Tổng số tiền nợ thuế cũng giảm từ 6,8 tỷ đồng xuống còn 4,7 tỷ đồng, cho thấy công tác đôn đốc thu nợ và quản lý nghĩa vụ thuế đã đạt được những kết quả tích cực.

Tuy nhiên, thực tế vẫn tồn tại một bộ phận hộ kinh doanh chậm nộp thuế hoặc phát sinh nợ thuế kéo dài, chủ yếu thuộc nhóm hộ kinh doanh nhỏ lẻ, doanh thu không ổn định hoặc thường xuyên thay đổi địa điểm kinh doanh. Đặc biệt, nhóm hộ kinh doanh thương mại điện tử và kinh doanh lưu động còn gặp khó khăn trong kiểm soát doanh thu do giao dịch trực tuyến và thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng phổ biến. Nhìn chung, mặc dù ý thức tuân thủ thuế của hộ kinh doanh đã được cải thiện đáng kể, nhưng mức độ tuân thủ vẫn chưa đồng đều giữa các ngành nghề và địa bàn. Điều này cho thấy công tác quản lý thuế cần tiếp tục được hoàn thiện theo hướng ứng dụng công nghệ số, tăng cường quản lý rủi ro và nâng cao hiệu quả phối hợp giữa cơ quan thuế với chính quyền địa phương nhằm hạn chế thất thu ngân sách nhà nước

2.4 Thực trạng công tác quản lý thuế hộ kinh doanh

2.4.1 Mức độ tuân thủ pháp luật về thuế của hộ kinh doanh

Mức độ tuân thủ pháp luật thuế của hộ kinh doanh trên địa bàn huyện Hóc Môn trong giai đoạn 2021–2024 có sự cải thiện, song vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế. Những hạn chế này phần lớn xuất phát từ đặc thù hoạt động kinh doanh nhỏ lẻ, trình độ quản lý còn hạn chế và nhận thức về pháp luật thuế chưa đồng đều. Theo số liệu tổng hợp của Đội Thuế liên huyện Quận 12 – Hóc Môn, trong tổng số 16.498 hộ kinh doanh nộp thuế khoán, khoảng 82–85% hộ thực hiện nộp thuế đúng hạn tùy theo từng năm. Mặc dù tỷ lệ này đã đạt mức tương đối cao so với các huyện ngoại thành, song nhóm hộ còn lại – khoảng 2.400 đến 3.000 hộ – vẫn có tình trạng chậm nộp thuế hoặc nợ thuế kéo dài nhiều tháng, gây khó khăn cho công tác quản lý thuế của cơ quan chức năng.

Trong việc kê khai thuế, mức độ tuân thủ của nhóm hộ kinh doanh theo phương pháp khoán vẫn chưa đạt được kết quả cao. Khoảng 28–32% hộ kinh doanh điều chỉnh tăng doanh thu sau khi cơ quan thuế tiến hành khảo sát thực tế vào năm 2023–2024.

Điều này cho thấy tình trạng kê khai doanh thu thấp hơn thực tế vẫn còn phổ biến, đặc biệt ở các ngành nghề như ăn uống, tạp hóa, dịch vụ sửa chữa, và kinh doanh tại chợ. Việc nhiều hộ kinh doanh kê khai theo “mặt bằng chung” hoặc mức thuế của năm trước, thay vì phản ánh chính xác tình hình kinh doanh, tạo ra những khó khăn cho cơ quan thuế trong việc xác định đúng doanh thu thực tế của các hộ kinh doanh. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý thuế hộ kinh doanh.

  • Bảng 2.6. Số liệu về tỷ lệ nộp thuế đúng hạn (Từ 2021 đến 2024)

Qua bảng số liệu trên, có thể thấy sự thay đổi về tỷ lệ nộp thuế đúng hạn của hộ kinh doanh từ năm 2021 đến 2024, mặc dù số hộ kinh doanh nộp thuế có sự biến động qua các năm. Năm 2021, tổng số hộ kinh doanh nộp thuế khoán là 15,654 hộ, với tỷ lệ nộp thuế đúng hạn đạt 81%. Tỷ lệ này có sự cải thiện trong năm 2022, khi tổng số hộ kinh doanh nộp thuế tăng lên 16,230 hộ và tỷ lệ nộp thuế đúng hạn đạt 83%.

Tuy nhiên, năm 2023, tỷ lệ nộp thuế đúng hạn lại giảm xuống còn 79%, dù số hộ kinh doanh nộp thuế vẫn ổn định ở mức 16,145 hộ. Điều này có thể phản ánh sự gặp khó khăn của một số hộ kinh doanh trong việc duy trì ổn định trong việc kê khai và nộp thuế đúng hạn, hoặc là sự biến động trong các ngành nghề có đặc thù như ăn uống hay bán lẻ. Bước sang năm 2024, với số lượng hộ nộp thuế tăng lên 16,768 hộ, tỷ lệ nộp thuế đúng hạn đã đạt mức cao nhất trong giai đoạn này, lên tới 85%. Đây là một dấu hiệu tích cực cho thấy các chính sách tuyên truyền, hỗ trợ và giám sát của cơ quan thuế đang phát huy hiệu quả, giúp hộ kinh doanh ngày càng nâng cao ý thức và tuân thủ nghĩa vụ thuế của mình.

2.4.2 Kết quả thu ngân sách

  • Bảng 2.7: Kết quả thu Ngân sách nhà nước từ hộ kinh doanh trên địa bàn huyện Hóc Môn giai đoạn 2021–2025

Kết quả thu ngân sách nhà nước (NSNN) từ hộ kinh doanh trên địa bàn huyện Hóc Môn giai đoạn 2021–2024 và Quý I/2025 thể hiện sự biến động rõ rệt theo từng năm, phản ánh tác động của bối cảnh kinh tế – xã hội cũng như hiệu quả quản lý thuế tại địa phương. Nhìn tổng thể, số liệu tại Bảng 2.1 cho thấy giai đoạn 2021–2024 là giai đoạn phục hồi mạnh mẽ về thu ngân sách từ khu vực hộ kinh doanh, trong khi Quý I/2025 có xu hướng chậm lại do đặc thù mùa vụ và sự chuyển đổi mô hình tổ chức ngành thuế.

Năm 2021 là năm đầu tiên trong chu kỳ nghiên cứu, đồng thời cũng là giai đoạn kinh tế địa phương chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch COVID-19. Tổng số thu Ngân sách nhà nước đạt 75.070 triệu đồng, tương đương 75% dự toán, mức thấp nhất trong các năm. Đáng chú ý, nhiều xã không đạt mức tối thiểu 80% dự toán, điển hình như Tân Thới Nhì (58%), Xuân Thới Đông (61%), Xuân Thới Thượng (77%) hay Trung Chánh (77%). Điều này phản ánh tình trạng ngưng nghỉ kinh doanh kéo dài, thu nhập giảm mạnh và nhiều hộ kinh doanh chưa thể phục hồi ngay sau đại dịch. Ngoài ra, công tác quản lý thuế không thể triển khai đầy đủ do giãn cách xã hội, dẫn đến việc lập bộ thuế khoán chưa sát thực tế.

Sang năm 2022, hoạt động kinh doanh phục hồi mạnh mẽ. Tổng thu đạt 103.427 triệu đồng, tương đương 115% dự toán, tăng thêm 28.357 triệu đồng so với năm 2021. Hầu hết các xã đều vượt chỉ tiêu giao, đặc biệt là Trung Chánh (150%), Đông Thạnh (136%), Thới Tam Thôn (123%) và Tân Xuân (112%). Kết quả này không chỉ phản ánh sự trở lại của các hoạt động thương mại – dịch vụ mà còn cho thấy hiệu quả của việc tăng cường công khai, minh bạch doanh thu khoán, cũng như việc rà soát bộ thuế được thực hiện nghiêm túc hơn sau đại dịch. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý thuế hộ kinh doanh.

Xu hướng tăng trưởng tiếp tục được duy trì mạnh trong năm 2023. Tổng thu đạt 131.243 triệu đồng, tương đương 128% dự toán, mức tăng cao nhất trong ba năm đầu giai đoạn nghiên cứu. Đặc biệt, xã Tân Thới Nhì đạt 223% dự toán, tăng đột biến so với năm trước do sự tăng trưởng của các hàng quán ăn uống, dịch vụ ven tuyến đường Tân Thới Nhì – Xuân Thới Sơn, cùng với việc quản lý hộ kinh doanh mới được đưa vào bộ thuế. Các xã khác như Xuân Thới Sơn (138%), Đông Thạnh (135%) và Thới Tam Thôn (144%) cũng có mức tăng vượt trội nhờ số lượng hộ đăng ký kinh doanh mới cao và mức độ tuân thủ thuế được cải thiện đáng kể.

Năm 2024 tiếp tục ghi nhận đà tăng trưởng bứt phá. Tổng thu đạt 162.546 triệu đồng, tương đương 141% dự toán, là mức cao nhất trong toàn bộ giai đoạn. Trong đó, xã Đông Thạnh là đơn vị nổi bật nhất, đạt tới 224% dự toán, phản ánh sự phát triển mạnh của các chợ đầu mối, dịch vụ ăn uống và logistics trong khu vực. Tương tự, Xuân Thới Thượng đạt 147%, Thới Tam Thôn 161% và Tân Xuân 144%. Sự tăng trưởng này còn đến từ việc ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong quản lý doanh thu hộ khoán, như bản đồ số hộ kinh doanh và ứng dụng eTax Mobile, góp phần thu đúng, thu đủ và hạn chế thất thu.

Tuy nhiên, bước sang Quý I/2025, kết quả thu mới đạt 59.338 triệu đồng, tương đương 37% dự toán cả năm, thấp hơn mức dự tính theo tiến độ. Đây là xu hướng phổ biến vì quý đầu năm thường là thời điểm hoạt động kinh doanh chậm sau Tết, nhiều hộ tạm nghỉ hoặc giảm quy mô kinh doanh. Bên cạnh đó, năm 2025 là năm chuyển đổi mô hình ngành thuế sang mô hình 3 cấp, làm phát sinh sự điều chỉnh trong công tác phân bổ nhiệm vụ và lập bộ thuế, khiến tiến độ thu bị chậm hơn các quý cuối năm. Nhìn chung, kết quả thu Ngân sách nhà nước giai đoạn 2021–2024 cho thấy sự phục hồi và phát triển rõ rệt của khu vực hộ kinh doanh tại huyện Hóc Môn sau đại dịch, đồng thời phản ánh hiệu quả của việc tăng cường quản lý thuế, đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng Công nghệ thông tin và cải cách thủ tục hành chính thuế. Tuy Quý I/2025 chưa đạt tiến độ kỳ vọng, nhưng với xu hướng tăng trưởng của các năm trước và các giải pháp được triển khai từ đầu năm, dự báo kết quả thu cả năm 2025 vẫn có nhiều khả năng đạt và vượt kế hoạch nếu các biện pháp quản lý tiếp tục được thực hiện quyết liệt và đồng bộ.

2.4.3 Tình hình nợ thuế Luận văn: Thực trạng công tác quản lý thuế hộ kinh doanh.

  • Bảng 2.8: Tình hình nợ thuế hộ kinh doanh trên địa bàn huyện Hóc Môn giai đoạn 2021–2024

Dữ liệu tại Bảng 2.2 cho thấy tình hình nợ thuế hộ kinh doanh trên địa bàn huyện Hóc Môn có xu hướng tăng mạnh và liên tục trong giai đoạn 2021–2024. Tổng nợ thuế năm 2021 là 362.135 triệu đồng, tăng lên 396.592 triệu đồng vào năm 2022 (tăng 9,5%), tiếp tục tăng đáng kể lên 479.721 triệu đồng năm 2023 (tăng 20,9%) và đạt mức rất cao 580.982 triệu đồng vào năm 2024 (tăng 21,1%). Điều này phản ánh áp lực ngày càng lớn đối với công tác thu nợ của cơ quan thuế, đồng thời cho thấy tình trạng chây ì nợ thuế chưa được kiểm soát hiệu quả.

Xét theo cơ cấu nợ, nợ khả thu có dấu hiệu biến động theo hướng tăng dần qua các năm. Năm 2021, nợ khả thu là 135.347 triệu đồng, giảm nhẹ xuống 134.878 triệu đồng vào năm 2022, nhưng đến năm 2023 tăng mạnh lên 217.909 triệu đồng (tăng 61,5%) và tiếp tục tăng lên 238.019 triệu đồng trong năm 2024. Việc nợ khả thu tăng nhanh cho thấy nhiều khoản nợ lẽ ra có thể thu hồi nhưng chưa được xử lý kịp thời, dẫn đến tồn đọng kéo dài. Đây cũng là chỉ báo quan trọng phản ánh hiệu quả chưa cao của công tác theo dõi, đôn đốc và cưỡng chế nợ thuế đối với hộ kinh doanh trên địa bàn.

Bên cạnh đó, nợ khó thu luôn chiếm tỷ trọng lớn và có xu hướng tăng đáng kể. Từ mức 226.550 triệu đồng năm 2021, nợ khó thu tăng lên 261.619 triệu đồng năm 2022, gần như giữ nguyên mức 261.717 triệu đồng năm 2023 nhưng đến năm 2024 đã tăng vọt lên 342.943 triệu đồng (tăng 31,1%). Đây chủ yếu là các khoản nợ phát sinh từ hộ kinh doanh bỏ địa điểm kinh doanh, ngừng nghỉ không thông báo, hoặc không còn đủ điều kiện thu hồi. Tỷ lệ nợ khó thu cao và tăng mạnh phản ánh thực tế công tác quản lý thông tin hộ kinh doanh còn hạn chế; việc giám sát, cập nhật biến động địa bàn chưa kịp thời; đồng thời cho thấy sự thiếu đồng bộ giữa cơ quan thuế và chính quyền địa phương trong quản lý đối tượng.

Đáng chú ý, nợ xử lý (bao gồm xóa nợ, khoanh nợ, miễn giảm theo quy định) lại có xu hướng giảm nhanh. Nếu năm 2021 con số này là 238 triệu đồng, đến năm 2022 và 2023 chỉ còn 95 triệu đồng, và giảm rất mạnh xuống 20 triệu đồng trong năm 2024. Việc nợ xử lý giảm không phản ánh tín hiệu tích cực mà ngược lại cho thấy quá trình xem xét, phân loại và xử lý nợ khó thu chưa được thực hiện thường xuyên, dẫn đến khối lượng nợ khó thu dồn tích qua các năm. Điều này tạo sức ép lớn lên chỉ tiêu giảm nợ của cơ quan thuế trong giai đoạn sau. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý thuế hộ kinh doanh.

Tổng hợp các số liệu trên cho thấy công tác quản lý nợ thuế hộ kinh doanh trên địa bàn huyện Hóc Môn trong giai đoạn 2021–2024 vẫn còn nhiều hạn chế. Tổng nợ và nợ khó thu tăng liên tục với tốc độ cao cho thấy việc giám sát nghĩa vụ thuế, cập nhật biến động hộ kinh doanh và thực hiện biện pháp cưỡng chế chưa thực sự hiệu quả. Đồng thời, nợ khả thu tăng nhanh thể hiện sự chậm trễ trong công tác thu hồi, có nguy cơ chuyển thành nợ khó thu trong tương lai. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tăng cường quản lý rủi ro, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương và áp dụng kịp thời các biện pháp cưỡng chế theo quy định nhằm hạn chế nợ thuế phát sinh và cải thiện hiệu quả thu ngân sách.

  • Bảng 2.9: Nợ thuế khả thu của hộ kinh doanh theo từng đội quản lý thuế giai đoạn 2021–2024

Bảng 2.3 cho thấy tình hình nợ thuế khả thu của hộ kinh doanh trên địa bàn huyện Hóc Môn có sự biến động đáng kể giữa các năm và giữa các đội quản lý thuế. Tổng nợ khả thu giảm mạnh từ 45.915 triệu đồng năm 2021 xuống 26.847 triệu đồng năm 2022 (giảm 41,5%), sau đó tăng trở lại lên 35.636 triệu đồng năm 2023 (tăng 32,7%) và tăng mạnh hơn nữa lên 53.410 triệu đồng vào cuối năm 2024 (tăng 49,8%). Diễn biến này cho thấy xu hướng nợ khả thu đang có dấu hiệu tăng nhanh trở lại, phản ánh áp lực lớn đối với công tác thu nợ và đôn đốc đối tượng nộp thuế trong giai đoạn gần đây.

Xét theo từng đội quản lý, Đội LPX–TT số 3 và số 4 luôn là hai đơn vị có số nợ khả thu cao nhất. Cụ thể, Đội số 3 ghi nhận mức nợ khả thu từ 15.390 triệu đồng năm 2021, giảm còn 9.675 triệu đồng năm 2022, nhưng tăng mạnh lên 20.138 triệu đồng năm 2024, cao nhất trong toàn huyện. Tương tự, Đội số 4 từ mức 17.485 triệu đồng năm 2021 giảm xuống còn 8.692 triệu đồng năm 2022, nhưng sau đó tăng mạnh lên 16.089 triệu đồng năm 2024. Điều này cho thấy dù hai đội này đã nỗ lực giảm nợ trong năm 2022, nhưng từ năm 2023 trở đi, sự gia tăng nhanh của số lượng hộ kinh doanh mới cùng mức độ tuân thủ không đồng đều khiến nợ phát sinh trở lại và tăng nhanh.

Ở cấp xã, các đơn vị có số nợ khả thu lớn trong nhiều năm gồm: Thới Tam Thôn, Xuân Thới Đông, Tân Xuân và Bà Điểm. Đáng chú ý, xã Thới Tam Thôn giảm mạnh từ 10.810 triệu đồng năm 2021 xuống 4.716 triệu đồng năm 2022, nhưng đến 2024 lại tăng lên 6.472 triệu đồng, cho thấy công tác thu nợ chưa bền vững. Xã Xuân Thới Đông có mức tăng đáng kể từ 1.945 triệu đồng năm 2022 lên 5.761 triệu đồng năm 2024-tăng gần ba lần, phản ánh tình trạng nợ tồn đọng gia tăng nhanh ở khu vực này. Xã Tân Xuân cũng tăng liên tục từ 1.477 triệu đồng năm 2022 lên 3.621 triệu đồng năm 2024, cho thấy mức độ chây ì nợ thuế tại đây khá lớn. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý thuế hộ kinh doanh.

Bên cạnh đó, một số đơn vị có mức nợ khả thu thấp và tương đối ổn định hơn như xã Nhị Bình, Xuân Thới Sơn và Tân Thới Nhì. Tuy nhiên, mặc dù giá trị nợ chưa lớn, nhưng nợ lại có xu hướng tăng dần theo từng năm; chẳng hạn xã Xuân Thới Sơn tăng từ 1.197 triệu đồng năm 2021 lên 2.715 triệu đồng năm 2024 (tăng hơn 2,2 lần).

Điều này cho thấy tình trạng nợ thuế đã lan rộng từ các địa bàn kinh doanh đông đúc sang cả các khu vực ít hộ kinh doanh hơn.

Nhìn chung, số liệu từ bảng cho thấy công tác quản lý nợ thuế khả thu còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt trong bối cảnh số hộ kinh doanh tăng nhanh, hoạt động đa dạng và biến động liên tục. Việc nợ khả thu tăng mạnh vào giai đoạn 2023–2024 cho thấy nhiều khoản nợ chưa được xử lý kịp thời, nguy cơ chuyển thành nợ khó thu là rất lớn. Điều này đòi hỏi cơ quan thuế phải tăng cường phối hợp với chính quyền địa phương, ứng dụng công nghệ theo dõi nợ, phân loại đúng đối tượng, và áp dụng biện pháp cưỡng chế phù hợp để hoàn thiện công tác thu nợ trong thời gian tới.

2.4.4 Công tác kiểm tra xử lý vi phạm

Trong giai đoạn 2021–2024, công tác kiểm tra và xử lý vi phạm đối với hộ kinh doanh trên địa bàn huyện Hóc Môn được Đội Thuế liên huyện Quận 12 – Hóc Môn triển khai theo đúng các quy định của Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 và các văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác này còn gặp nhiều khó khăn và kết quả chưa tương xứng với yêu cầu quản lý trong bối cảnh số lượng hộ kinh doanh tăng nhanh, đặc biệt là nhóm kinh doanh thương mại điện tử.

Trước hết, về công tác kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế, số lượng hồ sơ kiểm tra hàng năm còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào các hộ có dấu hiệu rủi ro cao như hộ kinh doanh ăn uống, dịch vụ giải trí, buôn bán vật liệu xây dựng và các ngành nghề có doanh thu biến động mạnh. Tuy nhiên, việc lựa chọn đối tượng kiểm tra còn chưa bao quát hết các nhóm rủi ro, dẫn đến nhiều trường hợp kê khai doanh thu thấp hoặc kê khai không đúng thực tế chưa được phát hiện kịp thời. Một trong những nguyên nhân chính là dữ liệu quản lý chưa đầy đủ, thông tin về doanh thu thực tế của hộ kinh doanh thường thiếu hoặc khó xác minh do phần lớn hộ không sử dụng hóa đơn và sổ sách kế toán đầy đủ.

Đối với công tác kiểm tra thực địa (kiểm tra tại nơi kinh doanh), tuy đã được tăng cường trong các năm 2023–2024, nhưng số lượng kiểm tra vẫn còn ở mức thấp so với tổng số hộ kinh doanh đang hoạt động. Điều này một phần do lực lượng cán bộ thuế còn mỏng, trong khi địa bàn rộng, mật độ hộ kinh doanh tập trung đông tại các tuyến đường lớn như Nguyễn Ảnh Thủ, Song Hành, Dương Công Khi, Lê Văn Khương, khiến cán bộ khó theo dõi sát tình hình biến động của từng hộ. Bên cạnh đó, một số hộ kinh doanh có hành vi che giấu doanh thu, chỉ bán hàng không xuất hóa đơn, hoặc mở cửa kinh doanh không thường xuyên nhằm tránh sự kiểm tra của cơ quan thuế, làm tăng mức độ phức tạp trong quản lý.

Về kết quả xử lý vi phạm, cơ quan thuế đã phát hiện và xử lý nhiều hành vi như: kê khai thuế không đúng doanh thu, chậm nộp hồ sơ khai thuế, trốn thuế, không chấp hành nghĩa vụ nộp thuế đúng hạn hoặc không đăng ký thuế dù đã kinh doanh thực tế. Tuy nhiên, số vụ xử phạt hành chính qua các năm vẫn chưa phản ánh đầy đủ tình trạng vi phạm trong thực tế. Một nguyên nhân quan trọng là tâm lý e ngại của cán bộ trong quá trình kiểm tra, do lo ngại phản ứng từ người kinh doanh hoặc áp lực từ công tác dân vận tại địa phương. Ngoài ra, việc áp dụng hóa đơn điện tử chưa thật sự phổ biến trong nhóm hộ kinh doanh khiến cơ quan thuế khó đối chiếu dữ liệu doanh thu để phát hiện vi phạm chính xác.

Đặc biệt, từ năm 2023 trở đi, khi thương mại điện tử phát triển mạnh, cơ quan thuế đã triển khai kiểm tra các hộ kinh doanh online, hộ bán hàng qua sàn thương mại điện tử, mạng xã hội. Tuy nhiên, kết quả kiểm tra chưa cao do thiếu dữ liệu giao dịch từ các nền tảng, nhiều hộ sử dụng tài khoản ngân hàng cá nhân để nhận tiền bán hàng, dẫn đến khó xác định doanh thu tính thuế. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với việc phối hợp giữa cơ quan thuế và các nền tảng thương mại điện tử cũng như hệ thống ngân hàng để tăng cường minh bạch hóa giao dịch.

Mặc dù còn nhiều hạn chế, công tác kiểm tra, xử lý vi phạm cũng đã đạt được một số kết quả tích cực, như góp phần tăng thu ngân sách, giảm bớt tình trạng kê khai thấp doanh thu và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật thuế của một bộ phận hộ kinh doanh. Ngoài ra, việc áp dụng phần mềm quản lý thuế tập trung (TMS) và hệ thống quản lý rủi ro (RMS) đã hỗ trợ đáng kể trong việc sàng lọc, phân loại đối tượng kiểm tra theo mức độ rủi ro, giúp hoàn thiện công tác công tác kiểm tra trong thời gian gần đây. Tổng thể, công tác kiểm tra và xử lý vi phạm tại huyện Hóc Môn đã được thực hiện thường xuyên và góp phần quan trọng trong việc hạn chế thất thu thuế. Tuy nhiên, để hoàn thiện công tác hơn, cần tăng cường áp dụng công nghệ thông tin, đẩy mạnh liên thông dữ liệu, hoàn thiện cơ chế phối hợp với các lực lượng chức năng và nâng cao năng lực của cán bộ kiểm tra thuế-những yếu tố mang tính quyết định trong bối cảnh kinh doanh ngày càng đa dạng và phức tạp.

2.4.5 Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý Luận văn: Thực trạng công tác quản lý thuế hộ kinh doanh.

Trong giai đoạn 2021–2024, ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong quản lý thuế đối với hộ kinh doanh tại Đội Thuế liên huyện Quận 12 – Hóc Môn đã có nhiều bước chuyển biến tích cực, phù hợp với định hướng chuyển đổi số ngành Thuế theo Quyết định 749/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (2020) và Kế hoạch chuyển đổi số của Tổng cục Thuế tại Quyết định 804/QĐ-TCT (2024). Việc áp dụng Công nghệ thông tin đóng vai trò then chốt trong việc hoàn thiện công tác quản lý, giảm thiểu thủ tục hành chính và hướng tới sự minh bạch, công khai trong hoạt động thu thuế.

Trước hết, việc sử dụng các hệ thống phần mềm quản lý thuế tập trung như TMS (Tax Management System), eTax và eTax Mobile đã hỗ trợ đáng kể cho công tác cập nhật, theo dõi và quản lý thông tin hộ kinh doanh. Thay vì quản lý thủ công như trước đây, toàn bộ dữ liệu cơ bản của hộ kinh doanh như doanh thu, mức thuế khoán, tình trạng nộp thuế, hồ sơ khai thuế và nợ thuế đều được cập nhật lên hệ thống, giúp cán bộ thuế dễ dàng tra cứu, đối chiếu và phân tích. Điều này làm giảm tình trạng sai sót trong quá trình quản lý và rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ của người nộp thuế. Bên cạnh đó, chức năng thông báo tự động trên hệ thống giúp hộ kinh doanh nhận được các thông tin về kỳ hạn nộp thuế, thông báo thuế, thông báo nợ thuế, hạn chế tình trạng chậm trễ do không nắm rõ quy định.

Thứ hai, triển khai hóa đơn điện tử theo Nghị định 123/2020/NĐ-CP và Thông tư 78/2021/TT-BTC đã mang đến sự thay đổi lớn trong công tác quản lý thuế. Đối với hộ kinh doanh quy mô lớn hoặc hộ kinh doanh có yêu cầu xuất hóa đơn, việc áp dụng hóa đơn điện tử giúp cơ quan thuế có thể theo dõi doanh thu ngay khi phát sinh, hạn chế tình trạng gian lận, bỏ ngoài sổ sách hoặc kê khai doanh thu thấp. Tuy nhiên, tỷ lệ hộ kinh doanh áp dụng hóa đơn điện tử trên địa bàn Hóc Môn vẫn còn hạn chế, chủ yếu tập trung ở các hộ kinh doanh dịch vụ ăn uống, tạp hóa, vật liệu xây dựng, vận tải…; còn các hộ kinh doanh nhỏ vẫn chưa có thói quen sử dụng Công nghệ thông tin, dẫn đến việc theo dõi doanh thu gặp nhiều trở ngại.

Một bước đột phá quan trọng trong năm 2023–2024 là việc triển khai Cổng thông tin điện tử dành cho hộ, cá nhân kinh doanh trên nền tảng số theo Công văn 311/TCT-DNNCN (2025), cho phép các hộ kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh qua Facebook, YouTube, Google… đăng ký mã số thuế, khai thuế và nộp thuế trực tuyến. Mặc dù đây là nhóm kinh doanh có rủi ro thất thu cao, nhưng trước đây cơ quan thuế gần như không thể kiểm soát được do thiếu dữ liệu giao dịch. Việc áp dụng cổng Thương mại điện tử đã góp phần tăng cường minh bạch, giúp hộ kinh doanh tự kê khai doanh thu từ các nền tảng số. Tuy vậy, số lượng hộ thực tế đăng ký vẫn chưa nhiều so với tổng số người bán hàng online trên địa bàn, cho thấy công tác tuyên truyền và phối hợp thu thập dữ liệu từ các nền tảng còn hạn chế. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý thuế hộ kinh doanh.

Ngoài ra, ứng dụng Công nghệ thông tin trong quản lý nợ thuế cũng được tăng cường thông qua phần mềm quản lý nợ (QLN). Hệ thống tự động phân loại nợ theo thời gian, theo nhóm rủi ro và theo loại hình nợ (nợ khả thu, nợ khó thu, nợ chờ xử lý), giúp cán bộ thuế xây dựng kế hoạch đôn đốc nợ một cách khoa học. Việc gửi thông báo nợ qua email và SMS đã giảm bớt đáng kể tình trạng hộ kinh doanh không nhận thông báo giấy, đồng thời tăng tính kịp thời trong công tác đôn đốc thu nợ.

Mặc dù đã có nhiều chuyển biến tích cực, nhưng việc ứng dụng Công nghệ thông tin trong quản lý thuế hộ kinh doanh vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế. Phần lớn hộ kinh doanh nhỏ chưa quen với công nghệ, không sử dụng phần mềm bán hàng, không có hệ thống quản lý doanh thu khiến cơ quan thuế khó đối chiếu thông tin. Bên cạnh đó, hệ thống dữ liệu của ngành Thuế chưa được liên thông đầy đủ với dữ liệu ngành công an, ngân hàng, sàn Thương mại điện tử, gây khó khăn trong việc xác minh giao dịch và doanh thu thực tế. Cán bộ thuế, đặc biệt ở cấp đội, cũng chưa được đào tạo đầy đủ về kỹ năng phân tích dữ liệu và sử dụng các công cụ số hiện đại. Tóm lại, ứng dụng công nghệ thông tin đã đóng vai trò ngày càng quan trọng trong công tác quản lý thuế hộ kinh doanh tại huyện Hóc Môn, góp phần giảm tải công việc thủ công, tăng tính minh bạch và hỗ trợ đắc lực trong quản lý rủi ro. Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả tối ưu, cần tiếp tục đầu tư hạ tầng công nghệ, đào tạo nhân lực, hoàn thiện cơ sở dữ liệu và đẩy mạnh tuyên truyền để hộ kinh doanh sẵn sàng tham gia vào hệ thống quản lý thuế điện tử.

2.4.6 Công tác đăng ký thuế, cấp mã số thuế và quản lý biến động hộ kinh doanh

Công tác đăng ký thuế và cấp mã số thuế (MST) là khâu đầu tiên trong quy trình quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, nhằm đưa người nộp thuế vào hệ thống quản lý và xác lập nghĩa vụ thuế theo quy định. Trên địa bàn huyện Hóc Môn, số lượng hộ kinh doanh phát sinh mới hằng năm tương đối lớn và biến động mạnh theo tình hình kinh tế – xã hội, do đó khâu đăng ký thuế và quản lý biến động đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Về cơ bản, việc đăng ký thuế của hộ kinh doanh được thực hiện gắn với thủ tục đăng ký kinh doanh tại cơ quan có thẩm quyền và được cập nhật vào cơ sở dữ liệu quản lý của cơ quan thuế, từ đó làm căn cứ lập bộ thuế khoán hoặc quản lý kê khai đối với từng hộ.

Trong giai đoạn 2021–2024, Đội Thuế liên huyện Quận 12 – Hóc Môn đã thực hiện tiếp nhận, xử lý hồ sơ đăng ký thuế, cấp MST và cập nhật thông tin thay đổi (địa điểm kinh doanh, ngành nghề, tạm ngừng/hoạt động trở lại). Tuy nhiên, công tác này vẫn gặp khó khăn do đặc thù hộ kinh doanh thường xuyên biến động, nhiều hộ tạm ngừng hoặc ngưng hoạt động nhưng không thực hiện thủ tục thông báo đúng quy định, dẫn đến tình trạng “hộ treo mã số thuế”, gây sai lệch dữ liệu quản lý và ảnh hưởng đến công tác lập bộ. Bên cạnh đó, một bộ phận hộ kinh doanh hoạt động thực tế nhưng chưa đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ thông tin, làm phát sinh nguy cơ bỏ sót nguồn thu và giảm hiệu quả quản lý thuế trên địa bàn. Từ thực tế trên, có thể thấy công tác đăng ký thuế và quản lý biến động hộ kinh doanh là nền tảng của toàn bộ quy trình quản lý thuế. Nếu dữ liệu đăng ký không đầy đủ, không kịp thời cập nhật biến động, thì các khâu tiếp theo như xác định doanh thu khoán, theo dõi nộp thuế, kiểm tra và xử lý nợ thuế đều gặp khó khăn và giảm hiệu quả. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý thuế hộ kinh doanh.

2.4.7 Công tác quản lý doanh thu, xác định mức thuế khoán và điều chỉnh khoán

Quản lý doanh thu và xác định mức thuế khoán là nội dung trọng tâm trong quản lý thuế hộ kinh doanh, bởi phần lớn hộ kinh doanh trên địa bàn huyện Hóc Môn đang thuộc diện nộp thuế theo phương pháp khoán. Việc xác định doanh thu khoán được thực hiện dựa trên khảo sát thực tế hoạt động kinh doanh, tham chiếu mức doanh thu theo ngành nghề, quy mô, vị trí kinh doanh và các yếu tố liên quan, từ đó xác lập mức thuế khoán phù hợp. Nội dung này có ý nghĩa trực tiếp đến tính đúng – đủ của số thu ngân sách và bảo đảm công bằng giữa các hộ kinh doanh cùng ngành nghề, cùng địa bàn.

Thực tế giai đoạn 2021–2024 cho thấy việc xác định doanh thu khoán vẫn gặp nhiều khó khăn do đặc điểm kinh doanh nhỏ lẻ, ghi chép sổ sách chưa đầy đủ và thanh toán tiền mặt còn phổ biến. Nhiều hộ kinh doanh có doanh thu biến động theo mùa vụ hoặc thay đổi phương thức kinh doanh (kết hợp bán trực tiếp và bán online), dẫn đến việc cơ quan thuế khó xác định doanh thu sát thực tế nếu chỉ dựa vào khảo sát theo thời điểm. Tình trạng kê khai doanh thu thấp hơn thực tế vẫn xuất hiện ở một số ngành có doanh thu khó kiểm soát như ăn uống, bán lẻ tại chợ, dịch vụ sửa chữa, làm đẹp… Điều này cũng phù hợp với thực tế bạn đã nêu rằng có tỷ lệ đáng kể hộ kinh doanh phải điều chỉnh tăng doanh thu sau khảo sát (đặc biệt giai đoạn 2023–2024). Nhìn chung, quản lý doanh thu và mức khoán là khâu dễ phát sinh rủi ro thất thu nhất trong quản lý thuế hộ kinh doanh. Do đó, việc tăng cường khảo sát theo nhóm ngành rủi ro, đối chiếu thông tin từ nhiều nguồn và ứng dụng dữ liệu số sẽ là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng xác định doanh thu khoán trong thời gian tới.

2.4.8 Công tác quản lý hóa đơn, chứng từ Luận văn: Thực trạng công tác quản lý thuế hộ kinh doanh.

Quản lý hóa đơn, chứng từ là nội dung quan trọng nhằm minh bạch hóa doanh thu và tạo căn cứ đối chiếu khi xác định nghĩa vụ thuế của hộ kinh doanh. Trong bối cảnh ngành Thuế đẩy mạnh hiện đại hóa, việc triển khai hóa đơn điện tử theo quy định đã tạo nền tảng để cơ quan thuế tăng cường quản lý doanh thu theo hướng dữ liệu hóa, hạn chế tình trạng ghi nhận doanh thu không đầy đủ hoặc bỏ ngoài sổ sách. Trên địa bàn huyện Hóc Môn, việc sử dụng hóa đơn điện tử tập trung chủ yếu ở nhóm hộ kinh doanh có nhu cầu xuất hóa đơn thường xuyên hoặc nhóm hộ có quy mô doanh thu lớn, trong khi phần lớn hộ khoán vẫn chưa phát sinh nhu cầu sử dụng hóa đơn điện tử một cách phổ biến.

Thực tiễn quản lý cho thấy khó khăn lớn nhất trong quản lý hóa đơn của hộ kinh doanh là thói quen giao dịch tiền mặt và phương thức bán hàng truyền thống, dẫn đến nhiều giao dịch không có chứng từ, gây hạn chế trong việc kiểm soát doanh thu thực tế. Bên cạnh đó, một số hộ kinh doanh còn tâm lý e ngại khi sử dụng hóa đơn điện tử do hạn chế kỹ năng công nghệ, chi phí thiết bị, hoặc lo ngại phát sinh thủ tục. Với nhóm hộ kinh doanh thương mại điện tử, việc quản lý hóa đơn và chứng từ còn phức tạp hơn do đơn hàng phát sinh trên nền tảng số, doanh thu biến động nhanh và có thể liên quan nhiều kênh bán hàng khác nhau. Do đó, quản lý hóa đơn – chứng từ đối với hộ kinh doanh tại huyện Hóc Môn cần tiếp tục được tăng cường theo hướng: mở rộng hướng dẫn sử dụng hóa đơn điện tử cho các nhóm hộ phù hợp; phối hợp đồng bộ giữa quản lý hóa đơn và quản lý doanh thu khoán; đồng thời lồng ghép tuyên truyền để hộ kinh doanh nhận thức rõ lợi ích của hóa đơn điện tử trong minh bạch hóa kinh doanh và giảm rủi ro pháp lý.

2.5 Đánh giá chung về công tác quản lý thuế hộ kinh doanh giai đoạn 2021 – 2024 Luận văn: Thực trạng công tác quản lý thuế hộ kinh doanh.

2.5.1. Kết quả đạt được

Giai đoạn 2021–2024 ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực trong công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh tại huyện Hóc Môn, thể hiện rõ sự thay đổi về tư duy, phương pháp quản lý của cơ quan thuế, đồng thời phản ánh sự thích ứng dần của người nộp thuế trước yêu cầu chuyển đổi số. Trước hết, mức độ tuân thủ pháp luật thuế của hộ kinh doanh đã được cải thiện đáng kể thông qua các hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ được tổ chức thường xuyên, đa dạng về hình thức. Các buổi tập huấn trực tiếp tại Ủy ban nhân dân xã/thị trấn, hướng dẫn trực tuyến, phát tờ rơi, hỗ trợ qua đường dây nóng,… đã giúp người nộp thuế tiếp cận chính sách một cách đầy đủ và kịp thời hơn. Nhiều hộ kinh doanh đã chủ động tìm hiểu và thực hiện nghĩa vụ thuế đúng quy định, giảm tình trạng khai sai, khai thiếu hoặc chậm nộp thuế.

Cùng với đó, kết quả thu ngân sách từ khu vực hộ kinh doanh tăng trưởng ổn định và bền vững. Số thu thực hiện hàng năm đều vượt dự toán được giao với mức vượt khá cao trong các năm 2022, 2023 và 2024. Điều này cho thấy sự nỗ lực rất lớn của các tổ quản lý thuế trong việc rà soát, lập bộ thuế, điều chỉnh doanh thu khoán sát với thực tế kinh doanh. Đồng thời, sự phục hồi hoạt động thương mại – dịch vụ sau đại dịch cũng góp phần mở rộng nguồn thu và hoàn thiện công tác quản lý thuế.

Một kết quả quan trọng khác là công tác kiểm tra, xử lý vi phạm được tăng cường theo hướng có trọng tâm, trọng điểm. Việc áp dụng phương pháp kiểm tra theo rủi ro giúp xác định chính xác các đối tượng có nguy cơ cao về gian lận thuế để tập trung kiểm tra, từ đó phát hiện kịp thời nhiều trường hợp kê khai doanh thu không đúng thực tế, sử dụng hóa đơn không hợp lệ hoặc cố tình không đăng ký thuế. Số vụ việc được xử lý tăng lên, số tiền truy thu và xử phạt đều tăng, góp phần nâng cao tính răn đe và công bằng trong nghĩa vụ thuế giữa các hộ kinh doanh.

Bên cạnh đó, ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý thuế đã đạt nhiều kết quả đáng khích lệ. Các phần mềm quản lý thuế, hệ thống dữ liệu tập trung, bản đồ số hộ kinh doanh, hóa đơn điện tử và ứng dụng eTax Mobile đã hỗ trợ cơ quan thuế trong việc theo dõi, giám sát nghĩa vụ thuế một cách minh bạch, giảm đáng kể thời gian xử lý thủ tục và tỷ lệ sai sót so với phương pháp thủ công trước đây. Huyện Hóc Môn là một trong những địa bàn có tốc độ triển khai eTax Mobile khá nhanh, tỷ lệ cài đặt ứng dụng tăng mạnh qua từng năm, đặc biệt tại các xã có hoạt động kinh doanh sôi động.

Ngoài ra, công tác phối hợp giữa cơ quan thuế với chính quyền xã/thị trấn và các ngành liên quan từng bước hiệu quả hơn. Sự phối hợp trong việc xác minh thông tin, cập nhật biến động hộ kinh doanh, kiểm tra thực tế giúp hạn chế tình trạng bỏ sót hoặc trùng lặp hộ kinh doanh, đồng thời hỗ trợ cộng đồng kinh doanh hiểu rõ chính sách và chấp hành tốt hơn. Tổng thể, các kết quả đạt được ghi nhận sự thay đổi mạnh mẽ trong công tác quản lý thuế hộ kinh doanh, hướng tới hiện đại, minh bạch và hiệu quả, phù hợp với mục tiêu cải cách hệ thống thuế trong giai đoạn chuyển đổi số.

2.5.2. Hạn chế, tồn tại Luận văn: Thực trạng công tác quản lý thuế hộ kinh doanh.

Mặc dù đạt được nhiều thành tựu quan trọng, công tác quản lý thuế hộ kinh doanh trên địa bàn huyện Hóc Môn trong giai đoạn 2021–2024 vẫn còn những hạn chế, tồn tại ảnh hưởng đến hiệu quả thu ngân sách và mục tiêu hiện đại hóa ngành thuế.

Hạn chế lớn nhất là mức độ tuân thủ thuế của một bộ phận hộ kinh doanh vẫn chưa cao, đặc biệt trong nhóm hộ kinh doanh nhỏ lẻ, kinh doanh lưu động hoặc có thu nhập không ổn định. Tình trạng kê khai doanh thu thấp hơn thực tế, không xuất hóa đơn, không đăng ký kinh doanh hoặc chậm nộp thuế vẫn diễn ra phổ biến. Ý thức tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế còn hạn chế, nhiều trường hợp chỉ hợp tác khi bị nhắc nhở hoặc kiểm tra. Bên cạnh đó, công tác quản lý doanh thu khoán còn chưa thật sự sát thực tế. Dù đã nỗ lực khảo sát, cập nhật mức khoán hằng năm, nhưng do số lượng hộ quá lớn và lực lượng cán bộ hạn chế nên vẫn còn trường hợp doanh thu khoán chưa phản ánh đúng hoạt động kinh doanh. Điều này dễ dẫn đến thất thu thuế hoặc gây bức xúc cho hộ kinh doanh nếu mức khoán quá cao so với thực tế.

Một tồn tại đáng chú ý là tình hình nợ thuế tăng nhanh qua các năm, đặc biệt là nợ khó thu. Nhiều hộ kinh doanh ngừng, nghỉ, bỏ địa chỉ kinh doanh hoặc không còn khả năng tài chính dẫn đến nợ đọng kéo dài. Công tác thu hồi nợ gặp nhiều khó khăn do thiếu công cụ cưỡng chế phù hợp đối với nhóm hộ nhỏ lẻ và thiếu thông tin kịp thời từ chính quyền địa phương. Ngoài ra, công tác kiểm tra, giám sát vẫn chưa bao quát hết. Do nguồn lực hạn chế, tỷ lệ kiểm tra trực tiếp tại hộ kinh doanh còn thấp so với tổng số phải quản lý. Một số hộ kinh doanh lợi dụng kẽ hở này để trốn thuế hoặc lách thuế. Việc kiểm tra chéo dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước chưa được triển khai đồng bộ, dẫn đến hạn chế trong việc đối chiếu thông tin doanh thu, nguồn hàng, hóa đơn…

Mặt khác, mức độ ứng dụng Công nghệ thông tin của hộ kinh doanh còn thấp. Nhiều hộ chưa quen với việc sử dụng eTax Mobile, hóa đơn điện tử, thanh toán điện tử hay phần mềm quản lý bán hàng. Việc chuyển đổi từ thói quen kinh doanh tiền mặt sang giao dịch điện tử diễn ra chậm, nhất là ở nhóm hộ kinh doanh lớn tuổi hoặc tại các xã vùng ven. Điều này ảnh hưởng đến hiệu quả triển khai các ứng dụng số của ngành thuế. Nhìn chung, các hạn chế nêu trên là rào cản đáng kể trong việc hoàn thiện công tác quản lý thuế, cần được nhận diện đầy đủ và có giải pháp phù hợp trong giai đoạn tới.

2.5.3. Nguyên nhân của những hạn chế

Những tồn tại trong công tác quản lý thuế hộ kinh doanh xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, bao gồm cả yếu tố khách quan và chủ quan. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý thuế hộ kinh doanh.

Về khách quan, đặc thù của mô hình hộ kinh doanh là nhỏ lẻ, phân tán, biến động thường xuyên. Nhiều hộ kinh doanh không có địa điểm cố định, hoạt động theo mùa vụ hoặc phụ thuộc vào thời tiết. Doanh thu không ổn định, không ghi chép sổ sách khiến việc xác định căn cứ thuế gặp nhiều khó khăn. Tâm lý né tránh nghĩa vụ thuế vẫn tồn tại ở một bộ phận người kinh doanh, dẫn đến việc không hợp tác trong cung cấp thông tin hoặc cố tình khai báo sai.

Ngoài ra, sự phát triển nhanh của kinh doanh trực tuyến cũng là một nguyên nhân khách quan đáng kể. Nhiều hoạt động phát sinh trên các nền tảng mạng xã hội, sàn thương mại điện tử nhưng chưa đăng ký thuế, khó kiểm soát. Hệ thống pháp lý và công cụ quản lý đối với hoạt động này vẫn đang hoàn thiện, dẫn đến những khoảng trống trong quản lý thuế.

Về chủ quan, nguồn nhân lực của cơ quan thuế còn hạn chế, số lượng công chức phụ trách hộ kinh doanh ít so với phạm vi quản lý rộng và đối tượng lớn. Nhiều cán bộ thuế phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ, trong khi yêu cầu chuyển đổi số đòi hỏi năng lực cao hơn về công nghệ thông tin, phân tích dữ liệu và tương tác số.

Thêm vào đó, cơ sở dữ liệu về hộ kinh doanh chưa thực sự đồng bộ giữa thuế – công an – quản lý thị trường – Ủy ban nhân dân xã/phường. Điều này khiến việc xác minh tình trạng hoạt động, xác định doanh thu, theo dõi hộ ngừng/nghỉ kinh doanh gặp khó khăn, làm chậm tiến độ lập bộ và xử lý vi phạm. Một nguyên nhân khác là thói quen kinh doanh tiền mặt của hộ kinh doanh. Việc không sử dụng hóa đơn điện tử hoặc phần mềm bán hàng khiến cơ quan thuế không thể ghi nhận dữ liệu theo thời gian thực. Do đó, công tác giám sát chủ yếu dựa vào khảo sát, ước tính, dẫn đến thiếu tính chính xác.

  • KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Chương 2 đã phân tích toàn diện thực trạng quản lý thuế hộ kinh doanh tại huyện Hóc Môn giai đoạn 2021–2024, cho thấy cơ quan thuế đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong việc nâng cao mức độ tuân thủ thuế, tăng thu ngân sách, đẩy mạnh ứng dụng Công nghệ thông tin và cải thiện công tác kiểm tra, xử lý vi phạm. Tuy nhiên, những hạn chế như nợ thuế tăng, doanh thu khoán chưa sát thực tế, ứng dụng Công nghệ thông tin còn thấp và việc kiểm tra chưa bao quát vẫn là thách thức đáng kể. Việc nhận diện rõ kết quả đạt được và những vấn đề tồn tại là cơ sở quan trọng để xây dựng các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế hộ kinh doanh trong chương tiếp theo. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý thuế hộ kinh doanh.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Giải pháp về công tác quản lý thuế hộ kinh doanh

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *