Chia sẻ đề tài Tiểu Luận: Giá trị văn hoá của người Khmer, đến các bạn sinh viên tham khảo. Và còn rất nhiều đề tài tiểu luận khác được Dịch vụ viết luận văn cập nhập hàng ngày đến các bạn sinh viên đang làm tiểu luận triết học về đề tài Tiểu Luận: Giá trị văn hoá của người Khmer trong định hướng phát triển du lịch tỉnh Trà Vinh, nếu như các bạn muốn tham khảo nhiều bài viết hơn nữa thì tham khảo tại trang website của Dịch vụ viết luận văn nhé.
Ngoài ra, các bạn có gặp khó khăn trong việc làm bài tiểu luận môn học, hay tiểu luận tốt nghiệp thì liên hệ với Dịch vụ viết luận văn để được hỗ trợ làm bài. Hoặc các bạn có thể tham khảo dịch vụ viết thuê tiểu luận tại đây nhé.
PHẦN 1. LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài Tiểu Luận: Giá trị văn hoá của người Khmer
Đồng bào Khmer Nam Bộ có nền văn hóa truyền thống mang đậm màu sắc bản địa và tôn giáo. Trong suốt quá trình phát triển của cộng đồng các dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long nền văn hóa Khmer đã giao hoà, gắn kết với các nền văn hóa khác, góp phần hình thành nền văn hóa Việt Nam phong phú, đa dạng và đậm đà bản sắc dân tộc. Trà Vinh là một trong hai tỉnh ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long có đông đồng bào dân tộc Khmer – sau tỉnh Sóc Trăng. Tuy là vùng đất trẻ nhưng Trà Vinh có kho tàng văn hoá đa dạng, đặc biệt là văn hoá vật thể và phi vật thể của người Khmer nên rất thích hợp để phát triển theo định hướng du lịch văn hoá. Nhận định từ thực tế như vậy, qua đề cương này, tôi chọn đề tài “Giá trị văn hoá của người Khmer trong định hướng phát triển du lịch tỉnh Trà Vinh” nhằm đáp ứng nhu cầu tìm hiểu với mong muốn trang bị thêm kiến thức nghề nghiệp tương lai của sinh viên ngành Văn hoá du lịch, song song với mong muốn đưa bản sắc dân tộc Khmer vào định hướng phát triển du lịch ở tỉnh Trà Vinh cũng như loại hình du lịch văn hoá cho Việt Nam.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nhiên cứu
Qua nghiên cứu, chúng ta có thể phần nào góp công trong hoạt động duy trì và phát huy giá trị văn hoá truyền thống của người Khmer tạo sản phẩm đa dạng để đưa vào phát triển loại hình du lịch văn hoá và từ đó có thể giới thiệu văn hoá Khmer đến người dân trong nước cũng như bạn bè quốc tế. Cụ thể trong đề cương này là khai thác điểm riêng biệt tiềm năng để đưa vào định hướng phát triển du lịch cho tỉnh Trà Vinh. Tiểu Luận: Giá trị văn hoá của người Khmer
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nêu được những giá trị văn hoá tiêu biểu của người Khmer ở tỉnh Trà Vinh.
- Tình hình khai thác các giá trị văn hoá tiêu biểu của người Khmer ở tỉnh Trà Vinh.
- Đưa ra những đề xuất, kiến nghị.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: nét văn hoá của người Khmer ở tỉnh Trà Vinh.
- Phạm vi không gian: tại tỉnh Trà Vinh.
- Phạm vi thời gian: từ năm 2005 đến nay.
4. Phương pháp và quan điểm nghiên cứu
- Phương pháp:
- Phân tích và tổng hợp lý thuyết
- Quan sát, tham dự
- Chụp ảnh
- Phân tích và tổng hợp từ kinh nghiệm, từ thực tế kết hợp lý thuyết
- Quan điểm: phát triển du lịch bền vững
5. Lược sử nghiên cứu vấn đề: Tiểu Luận: Giá trị văn hoá của người Khmer
- Sách “Phong tục và nghi lễ vòng đời người Khmer Nam Bộ” của tác giả Trần Văn Bổn.
- Sách “Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch” của tác giả Dương Văn Sáu (2004), Đại học Văn Hóa Hà Nội
- Bố cục: gồm 3 chương
- CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VÀ VĂN HOÁ
- Chương này tập hợp các khái niệm về du lịch và văn hoá để làm cơ sở lý luận cho bài tiểu luận
- CHƯƠNG 2. GIÁ TRỊ VĂN HOÁ CỦA NGƯỜI KHMER Ở TỈNH TRÀ VINH TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH
- Chương 2 nêu tổng quan về tỉnh Trà Vinh và người Khmer; đề cập đến những giá trị văn hoá của người Khmer ở tỉnh Trà Vinh, những kết quả và hạn chế của các giá trị văn hoá Khmer tiêu biểu đã được khai thác du lịch ở tỉnh.
- CHƯƠNG 3. ĐỊNH HƯỚNG, ĐỀ XUẤT PHÁT TRIỂN
Chương 3 nêu ra những định hướng và những kiến nghị, đề xuất đối với việc đưa giá trị văn hoá của người Khmer vào phát triển du lịch ở tỉnh Trà Vinh.
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VÀ VĂN HOÁ Tiểu Luận: Giá trị văn hoá của người Khmer
1. Các khái niệm Du lịch
Theo IUOTO (International Union of Official Travel Organization): Du lịch là một hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải làm ăn, sinh sống.
Theo Hội Nghị Liên Hiệp Quốc về du lịch tại Ý (21/08 – 05/09/1963): Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình.
Theo kinh tế học: Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác.
Theo Bộ luật Du lịch Việt Nam có hiệu lực từ ngày 01/01/2006: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, tìm hiểu, nghỉ dưỡng trong khoảng thời gian nhất định.
2. Du lịch văn hoá Tiểu Luận: Giá trị văn hoá của người Khmer
Theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 tại Khoản 1, Điều 4, Chương I có ghi: “Du lịch văn hoá là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hoá dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống”.
Du lịch văn hoá là một trong những lại hình du lịch bền vững, hấp dẫn du khách, có nhiều điều kiện, nguồn lực để phát triển, được quan tâm đầu tư phát triển ở nhiều nước cũng như ở Việt Nam.
Du lịch văn hoá là một sản phẩm du lịch sử dụng những giá trị văn hoá dậm đà bản sắc của địa phương, thông qua các vật dẫn hoặc phương thức biểu đạt, cung cấp cho du khách cơ hội để chiêm ngưỡng, thử nghiệm và cảm thụ văn hoá của các địa phương. Vật hấp dẫn bao gồm các công trình kiến trúc mỹ thuật, các di tích lịch sử, hoạt động tôn giáo, nghi thức xã hội đặc thù, đồ ăn, thức uống, biểu diễn âm nhạc kịch, vũ điệu địa phương, nghệ thuật sản xuất thủ công truyền thống và làng nghề, lễ hội, phong tục tập quán. Tiểu Luận: Giá trị văn hoá của người Khmer
Phát triển du lịch bền vững là quá trình điều hành quản lý các hoạt động du lịch với mục đích xác định và tăng cường các nguồn hấp dẫn du khách tới các vùng và các quốc gia du lịch. Quá trình quản lý này luôn hướng tới việc hạn chế lợi ích trước mắt để đạt được lợi ích lâu dài do các hoạt động du lịch đưa lại.
- Phát triển du lịch bền vững phải đảm bảo và thỏa mãn 3 yếu tố sau :
- Mối quan hệ giữa bảo tồn tài nguyên tự nhiên, môi trường và lợi ích kinh tế, xã hội, văn hóa
- Quá trình phát triển diễn ra trong một thời gian lâu dài
- Đáp ứng được nhu cầu hiện tại, song không làm ảnh hưởng đến nhu cầu của các thế hệ tiếp theo.
Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch; là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo sự hấp dẫn du lịch.
Khách du lịch (Tourist) là khách thăm viếng, lưu trú tại một quốc gia hoặc một vùng khác với nơi ở thường xuyên trên 24 tiếng đồng hồ và nghỉ qua đêm tại đó với các mục đích như nghỉ dưỡng, tham quan, thăm viếng gia đình, tham dự hội nghị, tôn giáo, thể thao. Tiểu Luận: Giá trị văn hoá của người Khmer
Khách tham quan (Excursionist), còn gọi là khách thăm viếng 1 ngày (Day visitor), là loại du khách thăm viếng lưu lại ở một nơi nào đó dưới 24 tiếng đồng hồ và không lưu trú qua đêm.
Du khách quốc tế (International Tourist):
- Ở Việt Nam, theo Điều 20 Chương IV pháp lệnh du lịch, những người được thống kê là du khách quốc tế phải có các đặc trưng cơ bản sau đây:
- Là người nước ngoài hoặc cư dân Việt Nam định cư ở nước ngoài vài Việt Nam du lịch.
- Là công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi ra nước ngoài du lịch.
- Mục đích chuyến đi của họ là tham quan, thăm thân nhân, tham dự hội nghị, kháo sát thị trường, đi công tác, chữa bệnh, thể thao, hành hương, nghỉ ngơi.
- Du khách nội địa (Domestic Tourist) là công dân của một nước đi du lịch (dưới bất kỳ hình thức nào) trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia dó.
3. Văn hoá Tiểu Luận: Giá trị văn hoá của người Khmer
Lễ hội: là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng diễn ra trên một địa bàn dân cư trong thời gian và không gian xác định, nhằm nhắc lại sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại, đồng thời là dịp để biểu hiện cách ứng xử văn hóa của con người với thiên nhiên thần thánh và con người trong xã hội .
Lễ hội cổ truyền hay hiện đại, dân tộc hay quốc tế đều gồm có 2 phần: phần lễ và phần hội:
Phần lễ có tính nghiêm trang, bắt buộc với những quy định cụ thể về các nghi lễ; lễ tiết chặt chẽ để mọi người tuân thủ và cũng có thể cách tân làm cho phù hợp theo từng năm được mùa hay mất mùa theo kiểu “tùy biện hiện” (có gì cúng nấy).
Phần hội với các trò vui, trò diễn, ca hát, nhảy múa, thi đấu thể thao, lạc khoán (ăn uống có cộng cảm), có tính khoán đặt tạo sự ngẫu hứng cho người tham gia lễ hội.
Tín ngưỡng là niềm tin, sự ngưỡng mộ vào một sự vật, hiện tượng hoặc một đấng siêu nhiên.
4. Các quan điểm về văn hoá và bảo tồn giá trị văn hoá
Quan điểm của Đảng về văn hóa
Hội nghị Trung ương 10 (Khóa IX) có chỉ rõ cần tiếp tục thực hiện đầy đủ 5 quan điểm chỉ đạo đã được Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa VIII) đề ra đó là: Tiểu Luận: Giá trị văn hoá của người Khmer
Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội.
Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Tiên tiến là yêu nước và tiến bộ (tinh hoa nhân loại), đó chính là lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH theo chủ nghĩa Mác Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm mục tiêu tất cả vì con người, vì hạnh phúc và sự phát triển phong phú, tự do, toàn diện của con người trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng động, giữa xã hội và tự nhiên.
Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử mấy ngàn năm đấu tranh dựng nước giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân – gia đình – làng xã – Tổ quốc; Lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý, đức tính cần cù sáng tạo trong lao động, sự tinh tế ứng xử, tính giản dị trong lối sống… Tiểu Luận: Giá trị văn hoá của người Khmer
Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo , trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.
Văn hóa là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì thận trọng.
CHƯƠNG 2. GIÁ TRỊ VĂN HOÁ CỦA NGƯỜI KHMER Ở TỈNH TRÀ VINH TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH
1 Tổng quan về tỉnh Trà Vinh Tiểu Luận: Giá trị văn hoá của người Khmer
Vị trí địa lý:
Trà Vinh là tỉnh ven biển ở đồng bằng sông Cửu Long, miền Nam Việt Nam; vị trí địa lý giới hạn từ 9°31’46” đến 10°4’5″ vĩ độ Bắc và từ 105°57’16” đến 106°36’04” kinh độ Đông.
Phía bắc Trà Vinh giáp với Bến Tre, phía nam giáp Sóc Trăng, phía tây giáp Vĩnh Long, phía đông giáp biển với chiều dài bờ biển 65 km.
Hành chính:
Hiện nay Trà Vinh có 8 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm thị xã Trà Vinh và 7 huyện với 94 xã, phường và thị trấn. Bảy huyện là:
- Càng Long
- Châu Thành
- Cầu Kè
- Tiểu Cần
- Cầu Ngang
- Trà Cú
- Duyên Hải
- Dân cư:
- Dân số:
- 1971: 411.190
- 2000: 973.065
Điều tra dân dố 01/04/2009: 1.000.933 người
Trên địa bàn Trà Vinh có 29 dân tộc, nhưng đông nhất là người Kinh (69%) và người Khmer (29%).
Dân số Trà Vinh chiếm 5,99% Đồng bằng sông Cửu Long (theo điều tra dân số năm 2000), trong đó hơn 87% sống ở khu nông thôn. Mật độ dân số 414 người/km², tỷ lệ tăng dân số năm 2000 là 1,65.
Theo tài liệu tổng điều tra dân số ngày 1 tháng 4 năm 1999, trên địa bàn Trà Vinh có trên 290,9 nghìn người Khmer, chiếm 30,1% dân số toàn tỉnh và chiếm 27,6% số người Khmer của cả nước.
Đây là địa bàn cư trú lâu đời của cộng đồng dân tộc người Khmer có nền văn hóa dân tộc đặc trưng: tiếng nói, chữ viết, món ăn và đặc biệt là hệ thống chùa rất đặc thù. Tiểu Luận: Giá trị văn hoá của người Khmer
Khí hậu
Nằm trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, tỉnh Trà Vinh cũng có những thuận lợi chung như: có điều kiện ánh sáng bức xạ dồi dào, nhiệt độ cao và ổn định, Tuy nhiên, do đặc thù của vùng khí hậu ven biển tỉnh Trà Vinh có một số hạn chế về mặt khí tượng như: gió chướng mạnh, bốc hơi cao, mưa ít.
Nhiệt độ trung bình toàn tỉnh là 26,6°C, biên độ nhiệt giữa tối cao: 35,8°C, nhiệt độ tối thấp: 18,5°C biên độ nhiệt giữa ngày và đêm thấp: 6,4°C. Nhìn chung nhiệt độ tương đối điều hòa và sự phân chia 4 mùa trong năm không rõ chủ yếu 2 mùa mưa, nắng.
Ẩm độ trung bình cả năm biến thiên từ 80-85%, biến thiên ẩm độ có xu thế biến đổi theo mùa; mùa khô đạt: 79%, mùa mưa đạt 88%.
Tổng lượng mưa từ trung bình đến thấp (1588-1227 mm), phân bố không ổn định và phân hóa mạnh theo thời gian và không gian. Lượng mưa giảm dần từ Bắc xuống Nam, cao nhất ở Càng Long, Trà Vinh; thấp nhất ở Cầu Ngang và Duyên Hải.
Về thời gian mưa, có 90% lượng mưa năm tập trung vào mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11. Càng về phía biển, thời gian mưa càng ngắn dần tức là mùa mưa bắt đầu muộn nhưng kết thúc sớm. Huyện có số ngày mưa cao nhất là Càng Long (118 ngày), Trà Vinh (98 ngày); thấp nhất là Duyên Hải (77 ngày) và Cầu Ngang (79 ngày).
Hạn hàng năm thường xảy ra gây khó khăn cho sản xuất với số ngày không mưa liên tục 10-18 ngày. Cầu Kè, Càng Long, Trà Cú là các huyện ít bị hạn. Huyện Tiểu Cần hạn đầu vụ (tháng 6, 7) là quan trọng trong khi các huyện còn lại: Châu Thành, Cầu Ngang, Duyên Hải hạn giữa vụ (tháng 7, 8) thường nghiêm trọng hơn. Tiểu Luận: Giá trị văn hoá của người Khmer
Đất
Trà Vinh có diện tích tự nhiên 2.215,15 km² (tương đương 221.515,03 ha) – số liệu 2003, chia ra như sau:
- Đất ở: 3.151,36 ha
- Đất nông nghiệp: 180.004,31 ha
- Đất lâm nghiệp: 6.080,20 ha
- Đất chuyên dùng: 9.936,22 ha
- Đất chưa sử dụng: 22.242,94 ha
Địa hình
Trà Vinh nằm ở phần cuối cù lao kẹp giữa sông Tiền và sông Hậu. Địa hình chủ yếu là những khu đất bằng phẳng với độ cao trên dưới 1m so với mặt biển. ở vùng đồng bằng ven biển nên có các giồng cát, chạy liên tục theo bình vòng cung và song song với bờ biển. Càng về phía biển, các giồng này càng cao và rộng lớn.
Do sự chia cắt bởi các giồng và hệ thống trục lộ, kinh rạch chằng chịt, địa hình toàn vùng khá phức tạp. Các vùng trũng xen kẹp với các giồng cao, xu thế độ dốc chỉ thể hiện trên từng cánh đồng. Riêng phần phía nam tỉnh là vùng đất thấp, bị các giống cát hình cánh cung chia cắt thành nhiều vùng trũng cục bộ, nhiều nơi chỉ ở độ cao 0,5-0,8 m nên hàng năm thường bị ngập mặn 0,4-0,8 m trong thời gian 3-5 tháng. Tiểu Luận: Giá trị văn hoá của người Khmer
Giao thông
Như hầu hết các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, giao thông đường thuỷ rất thông dụng và thuận lợi. Tuy nhiên trước đây đường bộ chủ yếu dựa theo trục lộ nối với Vĩnh Long và gần như là độc đạo. Hiện nay với sự phát triển hạ tầng giao thông đường bộ mạnh mẽ của tỉnh cùng với Bến Tre và Tiền Giang hình thành tuyến đường bộ thứ hai để đi Thành phố Hồ Chí Minh qua các phà nối sông Cổ Chiên có thể rút ngắn rất nhiều cự ly (chỉ còn khoảng 120 km thay vì gần 200 km nếu đi ngã Vĩnh Long).
Sau sự huỷ diệt của chiến tranh, ngày nay các con đường và cầu cống đang được khôi phục và làm mới tạo thuận lợi cho sự phát triển kinh tế và văn hoá cho người dân nhiều cơ hội hoà nhập với xu thế của cả nước.
Sông ngòi
Trên địa bàn Trà Vinh có hệ thống sông chính với tổng chiều dài 578 km, trong đó có các sông lớn là sông Hậu, sông Cổ Chiên và sông Măng Thít. Các sông ngòi, kênh rạch trên địa bàn Trà Vinh hợp lưu đổ ra biển chủ yếu qua hai cửa sông chính là cửa Cổ Chiên hay còn gọi là cửa Cung Hầu và cửa Định An. Tiểu Luận: Giá trị văn hoá của người Khmer
Vùng biển
Biển Trà Vinh là một trong những ngư trường lớn của Việt Nam với trữ lượng 1,2 triệu tấn hải sản các loại, cho phép đánh bắt 63 vạn tấn/năm.
Lịch sử
Thời nhà Nguyễn, Trà Vinh là tên 1 huyện (trước đó là phủ) thuộc phủ Lạc Hóa, tỉnh Vĩnh Long (được lập ra năm 1832).
Năm 1876, Pháp chia tỉnh Vĩnh Long cũ thành 3 tiểu khu (hạt tham biện): Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre.
Trà Vinh được thành lập theo Nghị định ngày 20 tháng 12 năm 1899 của Toàn quyền Đông Dương trên cơ sở đổi tên gọi tiểu khu hay hạt tham biện (arrondissement) thành tỉnh (province), kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1900. Như vậy Trà Vinh là 1 trong 20 tỉnh ở Nam Kỳ lúc bấy giờ. Tiểu Luận: Giá trị văn hoá của người Khmer
Dưới thời Pháp thuộc, Trà Vinh gồm 8 quận: Càng Long, Cầu Ngang, Cầu Kè (ban đầu thuộc tỉnh Cần Thơ, sau nhập vào tỉnh Vĩnh Long rồi Trà Vinh), Châu Thành, Long Toàn (nay là huyện Duyên Hải), Tiểu Cần, Trà Cú và Trà Ôn.
Ngày 27/6/1951, Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ (thuộc chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) nhập 2 tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh thành tỉnh Vĩnh Trà. Huyện Tiểu Cần được nhập vào huyện Càng Long. Tỉnh Vĩnh Trà tồn tại đến năm 1954.
Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã đổi tên tỉnh Trà Vinh thành tỉnh Vĩnh Bình theo Sắc lệnh 143-NV của Tổng thống ngày 22 tháng 10 năm 1956.
Tuy nhiên, chính quyền Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam cùng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không công nhận tên gọi này mà vẫn gọi theo tên cũ là tỉnh Trà Vinh.
Tháng 2/1976 Trà Vinh hợp nhất với Vĩnh Long thành tỉnh Cửu Long và cho đến ngày 26-12-1991 mới tách ra như cũ. Khi tách ra, tỉnh Trà Vinh có diện tích 2363,03 km², dân số 961.638 người, gồm thị xã Trà Vinh và 7 huyện như hiện nay.
Văn hóa
Tuy là vùng đất trẻ nhưng Trà Vinh có kho tàng văn hoá đa dạng, đặc biệt là văn hoá vật thể và phi vật thể của người Khmer. Người Khmer có chữ viết riêng, các lễ hội truyền thống như Chol chnam thmay (mừng năm mới), Dolta (lễ cúng ông bà), Ok Om Bok (lễ cúng trăng), Lễ hội nghinh ông (lễ cúng biển), Dâng bông, Dâng phước và các phong tục tập quán có giá trị văn hoá khác. Tiểu Luận: Giá trị văn hoá của người Khmer
Người Khmer còn xây dựng trên địa bàn Trà Vinh nhiều chùa có kiến trúc độc đáo và hoà quyện thiên nhiên, tiêu biểu là chùa Âng, toạ lạc tên khu đất rộng 4 ha, trong thắng cảnh Ao Bà Om.Theo thống kê trên địa bàn Trà Vinh có tới 140 chùa Khmer, vượt xa số lượng của người Kinh, người Hoa và của các dân tộc khác hiện có trên địa bàn Trà Vinh cộng lại.
Ngoài ra có chùa Hang, ở khu đất 10 ha với những cây cổ thụ xum xuê rộn tiếng chim gọi bầy; chùa Nôdol còn gọi là chùa Cò vì trên khuôn viên chùa rộng 3 ha đã hơn 100 năm nay trở thành nơi cư trú của hàng ngàn con cò và nhiều loại con chim quý khác; chùa Samrônge, tương truyền được xây dựng lần đầu vào năm 642 và xây dựng lại năm 1850 với nhiều biểu tượng bằng đá quý và những tấm bia cổ khắc chữ Khmer.
Lễ hội cúng ông (Quan Công, địa phương gọi là “ông bổn”) của người Hoa vào rằm tháng 7 hàng năm tại huyện Cầu Kè.
Vài nơi tập trung khu xóm theo Thiên Chúa Giáo như Bãi San, Đức Mỹ… Nhà thờ tại thị xã Trà vinh có kiến trúc đẹp và cổ điển. Giáo xứ Nhị Long huyện Càng Long có Cha cố rất trẻ thụ phong Linh mục lúc 28 tuổi (Cha Sơn).
Ẩm thực
Trà Vinh có một số đồ ăn thức uống đã trở thành các đặc sản địa phương như cốm dẹp trộn dừa kiểu Khmer; các món đuông như đuông chà là, đuông đất và đuông dừa; mắm rươi; rượu Xuân Thạnh, bánh tét, bánh tráng ba xe, mắm kho, bún nước lèo, lươn um lá cách, cá cháy Cầu Quan, tôm càng nấu lẩu chua cơm mẻ, chuột đồng khìa nước dừa, vọp chong nướng lụi, bánh xèo, bánh ống, bánh canh Bến Có v.v. Tiểu Luận: Giá trị văn hoá của người Khmer
Kinh tế
Kinh tế chủ yếu dựa vào chăn nuôi, và trồng trọt. Thu nhập bình quân rất thấp. 50USD/người/tháng. Hiện tại tỉnh đang đầu tư vào hạ tầng cơ sở ở khu công nghiệp Long Đức nhằm thu hút đầu tư từ các doanh nghiệp. Với mục tiêu giải quyết việc làm cho người lao động. Chủ yếu từ các ngành nghề như: may mặc, giày da, và các mặt hàng thủ công, sản xuất các mặt hàng tiêu dùng.
Tiềm năng du lịch:
Tỉnh Trà Vinh có thực trạng và tiềm năng rất tốt, đặc biệt là tài nguyên du lịch biển và sông nước. Trà Vinh là nơi đất, trời sông, nước, thảm thực vật xanh quanh năm, phong cảnh rất hữu tình.
Các tuyến du lịch sông nước, các cù lao… đều rất có triển vọng: tham quan những cảnh đẹp của làng quê miền Tây dọc hai bờ sông, tham quan những vườn cây ăn trái đưa du khách tiếp xúc với những sinh hoạt văn hoá đặc trưng, giàu bản sắc của dân cư miền Tây nói chung, Trà Vinh nói riêng. Rừng là nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên có giá trị cao, nhất là du lịch sinh thái.
Ngoài ra, du khách có thể đến du lịch Trà Vinh theo loại hình du lịch văn hoá lịch sử thăm viếng Đền thờ Bác Hồ, các ngôi chùa mang đậm tính mỹ thuật điêu khắc của sắc thái văn hoá Khmer cũng như tham gia vào các lễ hội riêng thật đặc sắc của đồng bào Khmer nơi đây. Tiểu Luận: Giá trị văn hoá của người Khmer
*Tuyến giao thông cho Khách du lịch:
Đường bộ: Tỉnh có 2.111,639 km đường bộ, quốc lộ chiếm 10,2%; tỉnh lộ 21,5%; huyện lộ 68,3%. Tỉnh đã và đang đầu tư phát triển mạng lưới đường bộ, đáp ứng nhu cầu đi lại và du lịch. Từ tỉnh lỵ Trà Vinh đi đường bộ đến thành phố Hồ Chí Minh 200km, đến thành phố Cần Thơ 100km, đến khu du lịch Biển Ba Động 60km.
Đường thủy: Hệ thống bao gồm các trục dọc và trục ngang. Trục dọc gồm tuyến sông Cổ Chiên và Bassac. Kênh Trà Ngoa và Ba tháng Hai trục ngang có tuyến: Kênh Nguyễn văn Pho, sông Cần Chông, sông Bến Cát nối từ sông Hậu sang sông Tiền. Đó là những tuyến lưu thông hàng hoá đường thủy chính của Trà Vinh. Từ cửa biển Định An đi đến Côn Đảo mất từ 5 – 7 giờ chạy tàu, đi Cần Thơ mất khoảng 3 giờ chạy tàu.
Với tiềm năng du lịch hiện có của tỉnh Trà Vinh, nếu được khai thác và đầu tư, du lịch Trà vinh sẽ là nơi thu hút và đón tiếp rất tốt cho khách du lịch trong ngòai nước đến Trà Vinh.
2. Tổng quan về người Khmer Tiểu Luận: Giá trị văn hoá của người Khmer
Cộng đồng người Khmer trên địa bàn tỉnh Trà Vinh là một bộ phận dân cư của người Khmer Nam Bộ. Do vậy, họ mang đặc điểm và nét sinh hoạt văn hoá hằng ngày của người Khmer Nam Bộ nói chung. Tiếp cận, tìm hiểu về người Khmer ở Trà Vinh xem như cũng đã tiếp xúc được một phần văn hoá Khmer Nam Bộ.
Điều kiện cư trú và dân cư:
Dân tộc Khmer là 1 trong 54 dân tộc anh em ở Việt Nam. Với dân số khoảng hơn 1 triệu người, đây là tộc người đứng thứ 5 trong các tộc người thiểu số của Việt Nam, có số dân đông nhất trong các dân tộc nói tiếng Môn-Khmer ở Việt Nam và đứng thứ nhất trong các tộc người thiểu số ở đồng bằng sông Cửu Long. Riêng ở tỉnh Trà Vinh, dân tộc này chiếm khoảng 1/3 dân số của tỉnh, tức khoảng hơn 300.000 người. Dân tộc Khmer Nam bộ nói chung và dân tộc Khmer tỉnh Trà Vinh nói riêng vẫn bảo tồn được bản sắc văn hoá phong phú, đa dạng.
Ngoài tên tự gọi là “Người Khmer” ra, dân tộc này còn được biết đến với những tên gọi khác như: Cur, Cul, Cu, Thổ, Việt gốc Miên và Khmer K’rôm. Trước thế kỷ XII, người Khmer và văn hóa cả họ vẫn không có gì thay đổi. Họ thường sống tập trung các tỉnh An Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, trong đó nhiều nhất là 3 tỉnh: Sóc Trăng, Trà Vinh và Bạc Liêu. Trải qua quá trình phát triển của lịch sử, hệ thống tổ chức xã hội của người Khmer đã có nhiều biến đổi mạnh mẽ. Tuy nhiên một số yếu tố chính vẫn được bảo tồn và phát triển. Tiểu Luận: Giá trị văn hoá của người Khmer
Các đặc điểm kinh tế – xã hội
2.2.1. Hoạt động sản xuất – kinh tế:
Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và biết thâm canh lúa nước từ lâu đời. Đồng bào biết chọn giống lúa, biết làm thủy lợi và lợi dụng thủy triều để thau chua, xổ phèn cải tạo đất, có địa phương trồng nhiều dưa hấu. Bộ công cụ nông nghiệp của họ khá hoàn thiện và hiệu quả, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lý sinh thái Nam Bộ như cái phảng thay cho cái chày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để cơ vỏ, cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa và cây nọc cấy (Sơ chal) chính là chiếc gậy chọc lỗ thời xưa, tạo ra lỗ để cấm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng
Ngoài ra người Khmer còn làm nghề đánh cá, chăn nuôi trâu bò cày cấy, nuôi lợn, gà, vịt đàn, dệt, đan lát, làm đường ăn từ cây thốt nốt và làm gốm để phát triển kinh tế toàn diện. Cày hai trâu là một đặc trưng kỹ thuật nông nghiệp của người dân Khmer. Bên cạnh đó, kỹ thuật làm gốm của họ cũng khá đặc trưng và đơn giản, gồm có công cụ chính là hòn kê (K’leng) và bàn dập (Chơ). Họ chưa dùng bàn xoay, sử dụng gốm mộc, không màu với độ nung thấp và không có lò nung cố định. Sản phẩm gồm chủ yếu là đồ dùng gia đình, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng. Tiểu Luận: Giá trị văn hoá của người Khmer
Nếu trước đây khi nào người ta cần trao đổi mua bán với người Khmer thì phải mang đến tận nơi họ sinh sống. Nhưng hiện nay, phần lớn người Khmer đã tự mang hàng hóa của mình ra chợ bán. Và từ đây, chợ búa của người Khmer đã mọc lên rất nhiều. Đặc điểm chợ cũng khá đặc biệt. Hầu hết người Khmer ngồi dưới đất buôn bán cho nên không phải là điều ngạc nhiên hay suy nghĩ nhiều khi người ta nghe nhắc đến những tên gọi chợ tự gọi dân xã như chợ “Chồm hổm”, chợ “Nhỏ” ở huyện Châu Thành, thị xã Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh chẳng hạn. Và một đặc điểm nữa là chợ của họ mở ra vào mọi lúc, khác với chợ người Việt buổi họp buổi tan và giá sản phẩm của họ rẻ hơn nên rất dễ buôn bán. Người Khmer buôn bán cả vào những lúc người Việt đã tan chợ, có thể ví như “làm việc ngoài giờ hành chánh”. Người Khmer rất đơn giản và do mức sống chưa cao nên họ không chú trọng lắm đến chất lượng mặt hàng mà chỉ chú trọng đến giá thành sản phảm, giá thành thấp thì mua.
2.2.2. Quan hệ gia đình – xã hội: Tiểu Luận: Giá trị văn hoá của người Khmer
Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau bao gồm những họ Khmer thuần túy như Khan, U, Khum cho đến những họ do triều Nguyễn đặt ra trước đây như: Thạch, Kiên, Danh, Sơn, Kim và những họ của người Việt và người Hoa như: Nguyễn, Trần, Trương, Dương, Mã,… Chế độ đa thê, vấn đề ly hôn, loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ hoặc vấn đề ngoại tình ít xảy ra và tuyệt đối nghiêm cấm. Người Khmer còn rất coi trọng số chẵn trong sinh hoạt hằng ngày. Trong lễ cưới, chú rễ không đi đón dâu vào ngày lẻ, lễ vật nhà trai mang sang nhà gái cũng toàn số chẵn, lễ hỏa táng cũng kiêng ngày lẻ.
Người dân Khmer thường sống riêng theo mô hình gia đình nhỏ một vợ một chồng và là đơn vị kinh tế độc lập. Tuy có nơi vẫn có đến 3 – 4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ, như trong hôn nhân chẳng hạn. Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thỏa thuận của con cái. Cưới xin phải trải qua 3 giai đoạn: làm mối, dạm hỏi và tiến hành lễ cưới (Pithi Pea Pipea), được tổ chức bên nhà gái, sau đó nguời con trai phải ở bên nhà vợ một giời gian. Một năm sau hoặc đến khi có con, họ có thể sống riêng nhưng vẫn cư trú bên ngoại. Từ đó dần hình thành các phum, sóc. Theo tiếng Khmer, phum có nghĩa là đất, thổ cư; mỗi phum gồm nhiều hộ gia đình có quan hệ huyết thống và quan hệ hôn nhân cùng cư trú và sóc là đơn vị cư trú gồm nhiều phum.
CHƯƠNG 3. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT, ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
1. Định hướng: Tiểu Luận: Giá trị văn hoá của người Khmer
Ngày 07/10/2009 Sở Kế họach và Đầu tư do Ông Lê Văn Hướng, Phó giám đốc Sở làm trưởng đòan đến làm việc với UBND Thị xã Trà Vinh về việc giám sát tình hình xây dựng kế họach năm 2010 để tổng hợp báo cáo UBND tỉnh đồng thời làm việc Bộ Kế họach và Đầu tư. Đại diện UBND thị xã Trà Vinh báo cáo về thực hiện kế họach năm 2009 và công tác xây dựng kế họach năm 2010. Ông có đưa ra định hướng về phát triển thương mại dịch vụ, trong đó có ngành du lịch. Phát triển ngành thương mại dịch vụ theo hướng đa dạng và nâng cao chất lượng các loại hình dịch vụ, tập trung các ngành dịch vụ có khả năng thu hồi vốn nhanh, có đóng góp cao cho nền kinh tế như du lịch, tài chính, ngân hàng bưu chính, viễn thông…
Xây dựng lực lượng doanh nghiệp mới đủ năng lực về vốn, quản lý, trang thiết bị, tạo điều kiện hỗ trợ cho các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả đối với một số ngành trọng yếu như mua bán vật tư xây dựng, kinh doanh du lịch, xuất khẩu, cung cấp giống cây trồng phục vụ sản xuất nông nghiệp của tỉnh. Tạo động lực cạnh tranh để các doanh nghiệp phải tự vươn lên tìm kiếm thị trường qua các hình thức tham quan, quảng cáo, triển lãm, giới thiệu sản phẩm, tạo điều kiện hỗ trợ cho các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả làm nòng cốt của kinh tế thị xã.
Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, quảng bá du lịch nhằm kêu gọi đầu tư phát triển các loại hình dịch vụ, thương mại, du lịch sinh thái,…Ưu tiên xây kè chống sạt lở các công trình trọng điểm như: sông Long Bình, cầu Long Bình 3, đường đua ghe Ngo,… Tiểu Luận: Giá trị văn hoá của người Khmer
Tiếp tục thực hiện Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ: huy động lực lượng tham gia công tác tuyên truyền, cổ động, triển lãm, huy động sự đóng góp của nhân dân xây dựng nhà văn hóa ấp, xã; tham gia bảo vệ và trùng tu, tôn tạo các di tích hoặc ủng hộ sách báo, tạp chí cho tủ sách các nhà văn hóa xã, ấp, Bưu điện văn hóa xã. Tổ chức các lớp truyền dạy, phổ biến âm nhạc dân gian dân tộc Khmer, nhằm bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc.
2. Kiến nghị, đề xuất
Đẩy mạnh việc xúc tiến quảng bá du lịch lễ hội một cách thường xuyên và có hiệu quả qua việc cập nhật thường xuyên thông tin về hoạt động du lịch, lễ hội của tỉnh nhà nhằm cung cấp kịp thời cho những khách có nhu cầu tham quan chùa chiền, tham gia lễ hội, tìm hiểu văn hoá.
Đầu tư sửa chữa, nâng cấp cơ sở vật chất – kỹ thuật, đường xá, đảm bảo an toàn và cả an ninh trật tự cho du khách khi đến tỉnh.
Tỉnh nên tạo môi trường đầu tư tốt, cung cấp đầy đủ thông tin để các nhà đầu tư trong nước và quốc tế có cơ hội đầu tư cho ngành du lịch của tỉnh nhà. Tiểu Luận: Giá trị văn hoá của người Khmer
Chú trọng hơn vào việc đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ hướng dẫn viên du lịch lễ hội, để họ có đủ kiến thức và kỹ năng truyền tải được nội dung và ý nghĩa của các lễ hội cho du khách đặc biệt là du khách quốc tế.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục để mọi tầng lớp nhân dân (không chỉ riêng cộng đồng người Khmer ở tỉnh mà là mọi người dân ở tỉnh) hiểu được ý nghĩa văn hóa lịch sử của các lễ hội từ đó nâng cao ý thức bảo tồn các di tích, bản sắc văn hóa của dân tộc, góp phần giúp quảng bá lễ hội của tỉnh tốt hơn.
Dựa trên những điểm chung (cụ thể ở đây là lễ hội) mà tạo nên những sản phẩm du lịch mang tính riêng biệt đặc trưng chỉ có ở tỉnh Trà Vinh. Có thể xuất phát từ các vở ca diễn kịch Dù Kê, Rồ Băm, Aday trong các lễ hội chẳng hạn thong qua cách tạo dựng vở diễn, hay nói cách khác là sân khấu hoá lễ hội một cách hợp lý, đặc sắc và độc đáo.
KẾT LUẬN Tiểu Luận: Giá trị văn hoá của người Khmer
Đất nước chúng ta đang trên bước đường công nghiệp hoá – hiện đại hoá và vẫn đang tiếp tục mở rộng cửa chào đón, hợp tác với quốc tế. Chính vì thế đã, đang và sẽ có những biến đổi lớn trong kinh tế, xã hội,…bao gồm đời sống văn hoá của tất cả 54 dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam nói chung và của người Khmer nói riêng. Tuy nhiên, bên cạnh những chuyển biến để phù hợp với thời đại vẫn còn tồn tại những nét truyền thống rất đặc trưng, rất có giá trị, cần được bảo tồn và phát huy. Chính những nét truyền thống ấy là cái hay, cái đẹp để chúng ta tiếp cận, tìm hiểu, phát huy nhằm đưa vào phát tiển du lịch nước nhà. Trà Vinh là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên ưu ái để có thể phát triển nhiều loại hình du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng. Bên cạnh đó, Trà Vinh còn là tỉnh đứng thứ nhì vùng về số lượng người Khmer cư trú với những giá trị văn hoá truyền thống rất đặc trưng và độc đáo. Trà Vinh cần tận dụng và khai thác triệt để các giá trị văn hoá này để đưa vào đẩy mạnh việc phát triển du lịch tỉnh mang lại nguồn lợi và tăng doanh thu cho tỉnh, cho đất nước, nâng cao đời sống nhân dân, đặc biệt là đồng bào Khmer có hoàn cảnh sống khó khăn. Tiểu Luận: Giá trị văn hoá của người Khmer
