Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: KQNC của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
4.1 Kết quả nghiên cứu
4.1.1. Thống kê mô tả dữ liệu các biến trong mô hình
Giai đoạn 2013–2024, các ngân hàng thương mại Việt Nam đẩy mạnh đa dạng hóa thu nhập nhằm giảm phụ thuộc vào tín dụng truyền thống và nâng cao khả năng sinh lời. Tỷ trọng thu nhập ngoài lãi trong tổng thu nhập tăng từ khoảng 8–10% năm 2013 lên trên 20% vào năm 2023, chủ yếu đến từ dịch vụ thanh toán, bảo hiểm và đầu tư chứng khoán (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2024). Tuy nhiên, cùng với quá trình này, rủi ro phá sản (đo bằng chỉ số Z-score) có xu hướng biến động, đặc biệt tại nhóm ngân hàng quy mô nhỏ và có mức độ cạnh tranh cao. Điều này cho thấy, Đa dạng hóa thu nhập góp phần cải thiện lợi nhuận, nhưng nếu thiếu kiểm soát rủi ro, có thể gia tăng rủi ro tài chính và thanh khoản của hệ thống ngân hàng.
Sau khi thực hiện thu thập bộ dữ liệu nghiên cứu thuộc 25 Ngân hàng thương mại Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 2013 đến năm 2024, bộ dữ liệu nghiên cứu đại diện mẫu cho tổng số 31 Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong toàn hệ thống, kết quả thống kê các biến dữ liệu được thể hiện thông qua bảng dưới đây:
- Bảng 4.1. Kết quả phân tích thống kê mô tả mẫu nghiên cứu
Dựa trên kết quả bảng 4.1 chỉ ra rằng logarit hệ số Z-SCORE được thể hiện thông qua biến RISK với giá trị trung bình ghi nhận là 3,16. Cụ thể, giá trị nhỏ nhất ghi nhận là 2,118 thuộc ngân hàng SSB tại năm 2017 và giá trị lớn nhất ghi nhận là 4,57 thuộc ngân hàng BAB tại năm 2015. Chỉ số Đa dạng hóa thu nhập (DIV) với giá trị trung bình ghi nhận là 29,05%. Cụ thể, giá trị nhỏ nhất ghi nhận là -67,37% của ngân hàng VAB tại năm 2015 và giá trị lớn nhất ghi nhận là 50% của ngân hàng MSB tại 2017. Chỉ số An toàn vốn (CAR) với giá trị trung bình ghi nhận là 15,17%. Cụ thể, giá trị nhỏ nhất ghi nhận là 0,9% của ngân hàng BAB tại năm 2015 và giá trị lớn nhất ghi nhận là 46,98% của ngân hàng TCB tại 2021. Tốc độ tăng trưởng tín dụng (LG) với giá trị trung bình ghi nhận là 19,4%. Với giá trị nhỏ nhất ghi nhận là -13,9% của ngân hàng MSB tại năm 2014 và giá trị lớn nhất là 106,8% của ngân hàng HDB tại năm 2013. Quy mô ngân hàng (SIZE) thể hiện qua hàm Logarit (giá trị Tổng tài sản) với giá trị trung bình ghi nhận là 14,25. Cụ thể, giá trị nhỏ nhất ghi nhận là 13,17 của ngân hàng SGB tại năm 2013 và giá trị lớn nhất ghi nhận là 15,44 của ngân hàng BID tại năm 2024. Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) với giá trị trung bình ghi nhận 3,19%. Trong đó, giá trị nhỏ nhất ghi nhận là 0,59% của ngân hàng HDB tại năm 2013 và giá trị lớn nhất ghi nhận là 9,33% của ngân hàng VPB tại năm 2019. Tốc độ tăng trưởng tài sản (AG) với giá trị trung bình ghi nhận là 16,23%. Cụ thể, giá trị nhỏ nhất ghi nhận là -22,04% của ngân hàng EIB tại năm 2015 và giá trị lớn nhất ghi nhận đạt 112,22% của ngân hàng TPB tại năm 2013. Tỷ lệ dự phòng RRTD (LLP) với giá trị trung bình ghi nhận là -0,71%. Cụ thể, giá trị nhỏ nhất ghi nhận là -3,63% của ngân hàng VPB tại năm 2019 và giá trị lớn nhất ghi nhận là 0,34% của ngân hàng SHB tại năm 2013. Tỷ lệ nợ xấu (NPL) với giá trị trung bình ghi nhận là 2%. Cụ thể, giá trị nhỏ nhất ghi nhận là 0% của ngân hàng SSB tại năm 2013 và giá trị lớn nhất ghi nhận là 7,63% của ngân hàng ABB tại năm 2013. Luận văn: KQNC của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản.
Tốc độ phát triển kinh tế (GDP) với giá trị trung bình ghi nhận ghi nhận là 5,9%, giá trị nhỏ nhất ghi nhận là 2,6% tại năm 2021 đối sánh với thời gian dịch bệnh Covid_19 bùng phát mạnh mẽ nhất khiến cho nền kinh tế quốc nội lao dốc, hoạt động sản xuất đình trệ và hoạt động mua bán tiêu thụ hàng hóa chậm lại mang lại kết quả khiến GDP thời điểm này đạt mốc thấp nhất lịch sử trong giai đoạn 10 năm trở lại đây và giá trị lớn nhất ghi nhận ghi nhận là 8,12% tại thời điểm năm 2022. Tỷ lệ lạm phát (CPI) với giá trị trung bình ghi nhận là 3%, chỉ số tỷ lệ lạm phát luôn sở hữu độ lệch chuẩn ở mức thấp vì Chính phủ luôn cố gắng đảm bảo duy trì tỷ lệ lạm phát ở mức bình ổn để lưu thông tốt rổ hàng hóa. Giá trị nhỏ nhất ghi nhận là 0,19% tại thời điểm năm 2020 và giá trị lớn nhất ghi nhận là 6,04% tại thời điểm năm 2013.
4.1.2. Phân tích tương quan dữ liệu các biến trong mô hình
Kết quả hệ số tương quan tuyến tính Pearson được xem như một trong những chỉ tiêu cần quan tâm nhằm đánh giá mối quan hệ hai chiều giữa biến phụ thuộc cũng với biến độc lập hay giữ các biến phụ thuộc với nhau. Bên cạnh đó, hệ số tương quan dương cho thấy mối quan hệ tương quan cùng chiều giữa hai biến, ngược lại hệ số tương quan âm chỉ ra rằng quan hệ tương quan ngược chiều giữa cặp biến. Phân tích tương quan tuyến tính giữa tập hợp các biến trong mô hình ước lượng là cần thiết để xem xét hiện tượng đa cộng tuyến có xảy ra trong mô hình hay không.
- Bảng 4.2 Kết quả phân tích ma trận tương quan
Hầu hết tập hợp những biến độc lập theo cặp có mối liên quan tuyến tính tương quan ở mức thấp dưới 0.5. Chỉ riêng cặp biến LG-AG là 0.68, cặp biến LLP-NIM có tương quan tuyến tính là -0.65. Nhưng tỷ lệ tương quan này vẫn nhỏ hơn 0.8 là hệ quy chiếu so sánh theo kết luận từ nghiên cứu của Farrar và Glauber (1967) vì vậy không tồn tại hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng.
4.1.3. Kết quả kiểm định lựa chọn mô hình Luận văn: KQNC của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản.
Nhằm phân tích mức độ ảnh hưởng của đa dạng hóa thu nhập (ĐDHTN) đến mức độ rủi ro của các ngân hàng thương mại (NHTM) tại Việt Nam trong giai đoạn 2013–2024, tác giả tiến hành áp dụng phương pháp đánh giá bằng các mô hình ước lượng hồi quy gồm Pooled-OLS, FEM và REM. Các kết quả hồi quy từ những mô hình này được trình bày trong bảng dưới đây:
- Bảng 4.3. Tổng hợp kết quả mô hình hồi quy Pooled-OLS , FEM, REM
Kết quả ba mô hình đều đạt hơn 23% mức ý nghĩa thống kê về mặc ước lượng, chỉ ra rằng thấy hơn 23% sự biến động của biến phụ thuộc RISK có thể được giải thích bởi các biến độc lập và có ý nghĩa về mặc thống kê. Bên cạnh đó, kết quả hồi quy từ ba mô hình ước lượng chỉ ra rằng mức độ đồng nhất cao về ảnh hưởng của các biến: INF có ảnh hưởng dương đến RISK, trong khi các biến SIZE và GDP lại có tác động âm đến RISK. Tuy nhiên, các biến DIV, CAR, LG, AG, NIM, LLP và NPL chỉ có ý nghĩa thống kê trong hai mô hình FEM và REM, nhưng lại không có ý nghĩa trong mô hình Pooled-OLS. Dù vậy, xét về chiều hướng tác động thì các biến này vẫn thể hiện sự nhất quán. Do đó, mô hình ước lượng vẫn được xem là có phù hợp về dữ liệu. Để xác định dữ liệu đầu ra của mô hình ước lượng có tính chính xác, hiệu quả và có tính vững cao, tác giả tiến hành các kiểm định lựa chọn mô hình.
- Bảng 4.4. Kết quả kiểm định thực hiện lựa chọn mô hình
Tiến hành kiểm định F-test để xem xét tính phù hợp giữa hai mô hình FEM và Pooled OLS với cặp giả thuyết như sau: H0 là không có hiệu ứng cá thể; H1 là có hiệu ứng cá thể với p_value nhỏ hơn mức ý nghĩa 5% tác giả bác bỏ H0 mô hình FEM phù hợp. Tiến hành kiểm định Breusch and Pagan test để xem xét tính phù hợp giữa hai mô hình REM và Pooled OLS với cặp giả thuyết như sau: H0 là không có hiệu ứng cá thể; H1 là Có hiệu ứng cá thể với p_value nhỏ hơn mức ý nghĩa 5% tác giả bác bỏ H0 mô hình REM phù hợp. Khi tiến hành phương pháp Hausman để kiểm định xem xét tính phù hợp giữa hai mô hình FEM và REM với cặp giả thuyết như sau: H0 là không có sự tồn tại giữa các biến số độc lập với phần dư tương quan nên mô hình REM phù hợp; H1 là có sự tồn tại giữa các biến số độc lập với phần dư tương quan nên mô hình FEM. Kết quả chỉ ra rằng giá trị p_value bằng 1 lớn hơn mức ý nghĩa 5% nên chấp nhận H1, hay nói cách khác thì mô hình REM phù hợp hơn. Kết luận rằng mô hình REM sẽ là mô hình hồi quy phù hợp nhất cho mô hình nghiên cứu. Với kết quả hồi quy nhận được, tác giả nhận định rằng mô hình REM là mô hình hồi quy phù hợp nhất. Tác giả tiến hành kiểm định Durbin-Watson (Beck cũng các cộng sự, 2013), nhằm kiểm tra hiện tượng tự tương quan trong mô hình, với hai giả thuyết được đặt ra là H0: không xuất hiện hiện tượng tự tương quan và H1: xuất hiện hiện tượng tự tương quan ở mô hình nghiên cứu. Kết quả chỉ số Durbin-Watson đạt giá trị 0,71 thuộc khoảng từ 0 đến 4, bác bỏ giả thuyết H0. Điều này đồng nghĩa với việc mô hình xuất hiện hiện tượng tự tương quan dương ở mức tương đối rõ rệt. Luận văn: KQNC của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản.
Để xử lý vấn đề này, tác giả áp dụng phương pháp ước lượng FGLS với mục đích để đánh giá kết quả sau cũng tạo tiền đề cho việc thảo luận cũng như xác minh các giả thuyết liên quan. Với biến số RISK là biến phụ thuộc, tiến hành kiểm định các hiện tượng khuyết tật trong mô hình và tiến hành điều chỉnh tương ứng, kết quả cho thấy giá trị p_value của mô hình nghiên cứu theo phương pháp ước lượng FGLS là 0,000 nhỏ hơn mức ý nghĩa thống kê 5%, ngoại trừ biến GDP và INF. Điều này chỉ ra rằng mô hình cuối cùng là phù hợp với tổng thể dữ liệu và có mức ý nghĩa để tiếp tục sử dụng để phân tích. Bảng dưới đây cũng phản ánh mức độ đồng nhất cao về dấu của tập hợp các biến kiểm soát được đưa vào mô hình đối với RISK.
- Bảng 4.5. Kết quả nghiên cứu phương pháp FGLS
Với mục tiêu nghiên cứu được đề ra, biến đa dạng hóa thu nhập (DIV) là biến quan trọng trong bài luận. Dựa vào bảng 4.5 về kết quả hồi quy FGLS, ta nhận thấy rằng hai biến này đều có tác động đến biến RISK là biến đo lường cho rủi ro phá sản của các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Các biến như đa dạng hóa thu nhập (DIV), tốc độ tăng trưởng tín dụng (LG), quy mô ngân hàng (SIZE), tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM), tốc độ tăng trưởng tài sản (AG), tỷ lệ dự phòng RRTD (LLP), tỷ lệ nợ xấu (NPL) đều có mức ý nghĩa nhỏ hơn 5%. Theo kết quả phân tích từ mô hình FGLS, ta thấy rằng các biến như DIV, CAR, LG, SIZE, NIM, AG, LLP, NPL, GDP có có tác động cùng chiều với biến rủi ro phá sản của 25 Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong khi các biến AG, INF lại có tác động ngược chiều với rủi ro.
Tuy nhiên, phần lớn các biến tài chính trong nghiên cứu ngân hàng hiện nay thường được thể hiện dưới dạng dữ liệu bảng động, trong đó các giá trị trễ của biến RISK có thể tác động đến mức độ rủi ro hiện tại của các ngân hàng thương mại (Nguyen và Pham, 2022; Rahman, Chowdhury và Masum, 2023). Tình huống này làm gia tăng khả năng xuất hiện hiện tượng nội sinh trong mô hình, gây sai lệch trong ước lượng nếu không được xử lý thích hợp. Để khắc phục vấn đề này, các nghiên cứu gần đây đã sử dụng phương pháp IV-GMM với các biến công cụ là giá trị trễ của biến RISK và biến hiệu quả hoạt động điều chỉnh rủi ro, nhằm đảm bảo tính nhất quán của ước lượng. Dữ liệu ước lượng từ mô hình GMM được trình bày trong bảng dưới đây.
- Bảng 4.6. Kết quả phân tích theo mô hình IV-GMM Luận văn: KQNC của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản.
Kết quả thu được từ mô hình ước lượng hồi quy IV-GMM được sử dụng xây dựng cơ sở phân tích và đánh giá về tác động của Đa dạng hóa thu nhập cùng với hệ số RISK của Ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong khoản thời gian từ năm 2013 đến năm 2024. Sau khi khắc phục biến nội sinh có 7 biến có ý nghĩa thống kê nhỏ hơn 5% biến DIV, RISK(t-1), CAR, SIZE, AG, NIM, LLP. Còn lại các biến LG, NPL, GDP, INF không có ý nghĩa thống kê trong mô hình, tác giả đã xem xét đến việc loại ra khỏi mô hình nghiên cứu.
Tác giả tiến hành kiểm định Hansen-test để để kiểm định tính over –identifying để xem xét mức độ tin cậy của kết quả từ mô hình IV-GMM với cặp giả thuyết như sau: H0 là các biến công cụ là hợp lệ; H1 là ít nhất một biến công cụ không hợp lệ với p_value lớn hơn mức ý nghĩa 5% tác giả bác bỏ H0 bộ công cụ mô hình phù hợp. Như vậy các kiểm định đối với giả thuyết bằng GMM đều thỏa các điều kiện nên các kết quả tìm được trong mô hình là vững và hoàn toàn có thể phân tích được.
Khi so sánh kết quả hồi quy thu được từ hai phương pháp FGLS và IV-GMM, có thể nhận thấy rằng các biến DIV, LG, SIZE, NIM, AG và LLP có ý nghĩa thống kê trong cả hai mô hình FGLS và mô hình IV-GMM. Với phương pháp IV-GMM, chỉ có 7 biến độc lập cho thấy ý nghĩa thống kê trong mô hình. Mặc dù phương pháp FGLS cho kết quả với gần như tất cả các biến đều có ý nghĩa thống kê, nhưng IV-GMM lại có ưu thế trong việc xử lý vấn đề nội sinh, một khuyết tật có thể phát sinh trong quá trình nghiên cứu. Do đó, tác giả quyết định điều chỉnh và trình bày lại mô hình ước lượng sử dụng phương pháp IV-GMM như sau:
RISKit = 3,5790 + 0,0521 RISK(t-1) + 0,2891 DIV – 0,4421 LG – 0,1199 SIZE + 8,9065 NIM – 0,5285 AG – 5,9967 LLP + μit
- Bảng 4.7. Tóm tắt kết quả của nghiên cứu
4.2 Thảo luận kết quả nghiên cứu Luận văn: KQNC của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản.
Dựa trên kết quả ước lượng từ mô hình IV-GMM nhằm mục đích xử lý các khuyết tật và hiện tiện biến nội sinh trong mô hình nghiên cứu. Tác giả đưa ra thảo luận của các biến:
Thứ nhất, Hệ số hồi quy của biến tỷ lệ đa dạng hóa thu nhập (DIV) với hệ số rủi ro phá sản (RISK) đạt giá trị 0,2891 và có ý nghĩa thống kê ở mức 5%, phản ánh mối quan hệ đồng biến giữa hai biến này. Nói cách khác, khi tỷ lệ Đa dạng hóa thu nhập gia tăng lên một đơn vị, thì chỉ số Z-score sẽ tăng lên 0,2891 đơn vị, đồng nghĩa rủi ro tại các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam có chiều hướng suy giảm và ngược lại. Kết quả rút ra được củng cố những lập luận cốt lõi trong mô hình trung gian tài chính của Diamond (1984) đề xuất, trong đó nhấn mạnh vai trò của Ngân hàng thương mại trong việc giảm thiểu sự không cân xứng về thông tin và phát sinh chi phí giám sát thông qua hoạt động trung gian. Theo lý thuyết đa dạng hóa danh mục đầu tư, việc ngân hàng mở rộng các nguồn thu nhập được xem là một chiến lược quan trọng nhằm giảm thiểu rủi ro phá sản (RRPS) và nâng cao khả năng chống chịu trước biến động kinh tế. Trong bối cảnh thị trường tài chính ngày càng cạnh tranh và chịu ảnh hưởng mạnh từ các yếu tố vĩ mô, chiến lược đa dạng hóa thu nhập (ĐDHTN) không chỉ giúp các ngân hàng ổn định nguồn thu mà còn góp phần cải thiện hiệu quả hoạt động tổng thể. Các nghiên cứu gần đây như Buyuran và Ekşi (2021) khi nghiên cứu các ngân hàng ở Thổ Nhĩ Kỳ cũng khẳng định rằng sự gia tăng tỷ trọng thu nhập phi tín dụng giúp giảm rủi ro tài chính, nhờ phân tán rủi ro giữa các mảng kinh doanh khác nhau. Tại Việt Nam, những kết quả từ nghiên cứu hiện tại cho thấy mối quan hệ cùng chiều giữa đa dạng hóa thu nhập và rủi ro phá sản của các ngân hàng thương mại (NHTM), nhất quán với các bằng chứng thực nghiệm gần đây. Cụ thể, Phạm Hoàng Uyên và Trần Thị Lãnh (2024) chỉ ra rằng việc mở rộng nguồn thu nhập phi tín dụng giúp các ngân hàng Việt Nam giảm thiểu rủi ro. Tương tự, nghiên cứu của Lê Thanh Tâm và cộng sự (2022) với phương pháp nghiên cứu bằng mô hình FGLS cho thấy tác động ngược chiều của việc đa dạng hóa thu nhập đối với rủi ro của ngân hàng. Khi thực hiện chiến lược đa dạng hóa thu nhập, ngân hàng sẽ giảm thiểu rủi ro từ các hoạt động tín dụng. Bên cạnh đó, khi được triển khai phù hợp với năng lực quản trị và điều kiện thị trường, chiến lược đa dạng hóa giúp tăng tính ổn định tài chính và giảm thiểu khả năng phá sản của ngân hàng. Do đó, kết quả nghiên cứu này củng cố giả thuyết H1 rằng đa dạng hóa nguồn thu nhập góp phần làm giảm rủi ro phá sản của các Ngân hàng thương mại. Luận văn: KQNC của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản.
Thứ hai, Hệ số hồi quy của biến tốc độ tăng trưởng tín dụng (LG) đối với hệ số rủi ro (RISK) đạt giá trị -0,4421 và có ý nghĩa thống kê ở mức 5%, phản ánh mối quan hệ nghịch biến giữa hai biến này. Kết quả có thể lý giải việc tác động cùng chiều khi quy mô ngân hàng tăng 1 đơn vị, thì chỉ số Z-score giảm tương ứng 0,4421 đơn vị đồng nghĩa làm gia tăng rủi ro phá sản (RRPS) và ngược lại. Nhiều nghiên cứu cho thấy tốc độ tăng trưởng tín dụng cao có thể làm gia tăng rủi ro phá sản (RRPS) nếu không được kiểm soát hợp lý. Một số nghiên cứu thực nghiệm cũng cung cấp bằng chứng hỗ trợ quan điểm này như Zhou và cộng sự (2020) chỉ ra rằng tăng trưởng tín dụng quá mức làm suy giảm chất lượng tài sản và tăng khả năng phát sinh nợ xấu. Trong bối cảnh Việt Nam, nghiên cứu “ Abnormal loan growth and bank risk-taking in Vietnam” của Tin H Ho và cộng sự (2021) đã chỉ ra rằng việc tăng trưởng tín dụng vượt mức không chỉ giúp ngân hàng mở rộng hoạt động mà còn có thể gia tăng rủi ro phá sản khi quá trình mở rộng này chuyển sang giai đoạn rủi ro cao hơn.
Thứ ba, Hệ số hồi quy của biến quy mô ngân hàng (SIZE) đối với hệ số rủi ro (RISK) đạt giá trị -0,1199 và có ý nghĩa thống kê ở mức 5%, phản ánh mối quan hệ nghịch biến giữa hai biến này. Kết quả có thể lý giải việc tác động cùng chiều khi quy mô ngân hàng tăng 1 đơn vị, thì chỉ số Z-score giảm tương ứng 0,1199 đơn vị đồng nghĩa làm gia tăng rủi ro phá sản (RRPS) và ngược lại. Trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay có thể thấy rằng quy mô lớn không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với mức độ an toàn cao hơn tại các ngân hàng Theo Laeven và Levine (2009), khi ngân hàng mở rộng quy mô, họ thường theo đuổi các chiến lược tăng trưởng mạo hiểm, đầu tư vào các lĩnh vực rủi ro cao để tối đa hóa lợi nhuận, từ đó làm gia tăng khả năng đối mặt với rủi ro phá sản. Tương tự, Stiroh và Rumble (2006) cho rằng các ngân hàng quy mô lớn có xu hướng đa dạng hóa hoạt động quá mức, khiến việc giám sát nội bộ trở nên kém hiệu quả và làm gia tăng rủi ro hệ thống. Qua đó kết quả này cũng cố cho giả thuyết H2: Quy mô ngân hàng có tác động cùng chiếu với Rủi ro phá sản của các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
Thứ tư, Hệ số hồi quy của biến tỷ lệ đa thu nhập lãi cận biên (NIM) đối với hệ số rủi ro (RISK) đạt giá trị 8,9065 và có ý nghĩa thống kê ở mức 5%, phản ánh mối quan hệ đồng biến giữa hai biến này. Kết quả có thể lý giải việc tác động cùng chiều khi tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tăng 1 đơn vị, thì chỉ số Z-score tăng tương ứng 8,9065 đơn vị đồng nghĩa giúp giảm rủi ro phá sản (RRPS) và ngược lại. Các nghiên cứu thực nghiệm cũng cung cấp bằng chứng hỗ trợ quan điểm này theo Demirgüç-Kunt và Huizinga (2010) chỉ ra rằng ngân hàng có NIM cao thường duy trì mức độ rủi ro thấp hơn nhờ khả năng sinh lời ổn định từ hoạt động tín dụng. Tương tự, Khalil Alnabulsi và cộng sự (2020) ghi nhận rằng NIM có tác động ngược chiều với rủi ro phá sản tại các ngân hàng thương mại Việt Nam, tức là khi NIM tăng, khả năng gặp rủi ro phá sản giảm.Qua đó cũng cố giả thuyết H3: Tỷ lệ NIM có tác động ngược chiều với Rủi ro phá sản của các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
Thứ năm, Hệ số hồi quy của biến tốc độ tăng trưởng tài sản (AG) đối với hệ số rủi ro (RISK) đạt giá trị -0,5285 và có ý nghĩa thống kê ở mức 5%, điều này thể hiện khi tốc độ tăng trưởng tài sản tăng lên 1 đơn vị thì chỉ số Z-score giảm tương ứng 0,5285 đơn vị qua đó làm gia tăng rủi ro phá sản của ngân hàng và ngược lại. Nhiều nghiên cứu thực nghiệm cũng đã cung cấp bằng chứng cho quan điểm trên như Theo Stiroh (2004), tốc độ tăng trưởng tài sản cao thường gắn liền với việc ngân hàng chấp nhận rủi ro lớn hơn để theo đuổi mục tiêu lợi nhuận cao, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt và áp lực gia tăng thị phần. Tương tự, Fahlenbrach và cộng sự (2016) cho rằng tốc độ tăng trưởng tài sản nhanh có thể làm suy giảm chất lượng danh mục tín dụng, gia tăng rủi ro thanh khoản và rủi ro hoạt động , từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến sự ổn định tài chính dài hạn của ngân hàng làm gia tăng rủi ro. Luận văn: KQNC của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản.
Thứ sáu, Hệ số hồi quy của biến tỷ lệ dự phòng RRTD (LLP) đối với hệ số rủi ro (RISK) đạt giá trị 5,9967 và có ý nghĩa thống kê ở mức 5%, điều này thể hiện khi tỷ lệ nợ xấu tăng lên 1 đơn vị thì chỉ số Z-score tăng tương ứng 5,9967 đơn vị qua đó là giảm rủi ro phá sản của ngân hàng và ngược lại. Theo Phan Thị Hương và Nguyễn Trung Đông (2020), các ngân hàng có mức dự phòng cao thường duy trì được khả năng ổn định và mức độ rủi ro phá sản thấp hơn. Tương tự, Ozili (2019) cũng chỉ ra rằng chính sách trích lập dự phòng hợp lý đóng vai trò như một công cụ quản lý rủi ro hiệu quả, giúp giảm thiểu tổn thất tiềm ẩn và củng cố chất lượng tài sản của ngân hàng qua đó cũng cố cho kết luận nêu trên.
Thứ bảy, Hệ số hồi quy của biến trễ rủi ro phá sản (RISK(t-1)) đối với hệ số rủi ro (RISK) đạt giá trị 0,0521 và có ý nghĩa thống kê ở mức 5%, điều này thể hiện Rủi ro phá sản của năm nay có phụ thuộc vào Rủi ro phá sản của năm liền kề trước đó. Với các điều kiện khác không thay đổi thì khi Z-score năm trước tăng lên 1 đơn vị thì chỉ số Z-score năm nay tăng tương ứng lên 0,0521 nghĩa là ngân hàng ít gặp rủi ro phá sản hơn. Kết luận được cũng cố bới các nghiên cứu như Sanya và cộng sự (2011) cũng nghiên cứu Công Gia Hoàng và công sự (2015) khi rủi ro ngân hàng luôn mang tính chất tiếp nối qua thời gian.
- TÓM TẮT CHƯƠNG 4
Trong chương này, tác giả đã tiến hành ước lượng các mô hình ước lượng hồi quy bao gồm Pooled-OLS, REM, FEM, FGLS và IV-GMM, xây dựng dựa trên bộ dữ liệu được tiến hành tổng hợp từ 25 Ngân hàng thương mại Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 2013 đến năm 2024. Trước tiên, tác giả tiến hành phân tích mô tả để tổng quát hóa các đặc điểm chính của mẫu nghiên cứu, đồng thời tiến hành đánh giá mối quan hệ tương quan tuyến tính giữa các biến độc lập trong mô hình. Tiếp theo, các mô hình ước lượng hồi quy được triển khai và đi kèm với các kiểm định cần thiết để đánh giá độ phù hợp và độ tin cậy của dữ liệu đầu ra. Theo đó, phương pháp IV-GMM được xác định là lựa chọn tối ưu để ước lượng mô hình, đồng thời đảm bảo độ hiệu quả và độ vững đáng tin cậy trong việc phân tích.
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH Luận văn: KQNC của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản.
5.1 Kết luận
Dưới tác động của tiến trình phát triển thay đổi liên tục của xã hội và công nghệ, hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại (NHTM) đang dần chuyển dịch theo hướng số hóa và tự động hóa các nghiệp vụ hiện đại, nhằm thúc đẩy quá trình đa dạng hóa thu nhập (ĐDHTN). Căn cứ theo Quyết định số 689/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021–2025”, Chính phủ đã nhấn mạnh yêu cầu tăng tỷ trọng thu nhập từ hoạt động dịch vụ và phi tín dụng thông qua Đa dạng hóa thu nhập, nhằm đảm bảo sự ổn định, an toàn và tăng cường kiểm soát rủi ro trong hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam. Xuất phát từ bối cảnh đó, tác giả lựa chọn thực hiện đề tài luận văn này. Những phát hiện trong nghiên cứu phù hợp với định hướng mục tiêu chung của đề tài cũng như các định hướng nghiên cứu được xác lập từ Chương 1 của luận văn.
Nghiên cứu được thực hiện trên mẫu gồm 25 ngân hàng thương mại (NHTM) tại Việt Nam trong giai đoạn 2013–2024, và đã đạt được các mục tiêu nghiên cứu được xác định ban đầu, cụ thể là làm rõ xu hướng tác động của đa dạng hóa thu nhập (ĐDHTN) đến mức độ rủi ro của các Ngân hàng thương mại Việt Nam, đồng thời đề xuất một số kiến nghị mang tính chính sách phù hợp. Kết quả đầu ra của mô hình định lượng được sử dụng để phân tích mối quan hệ giữa đa dạng hóa nguồn thu nhập và rủi ro cho thấy biến DIV có ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến biến RISK. Phát hiện này cho thấy đa dạng hóa thu nhập có mối tương quan tích cực với khả năng kiểm soát rủi ro, hay nói cách khác, việc mở rộng các nguồn thu nhập góp phần làm giảm mức độ rủi ro trong hoạt động của các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
5.2 Hàm ý Luận văn: KQNC của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản.
5.2.1. Liên quan đến hoạt động đa dạng hóa thu nhập
Tăng cường đa dạng hóa thu nhập: Các nhà điều hành cần hạn chế sự phụ thuộc vào nguồn thu từ lãi – hay còn gọi là thu nhập truyền thống, đồng thời thúc đẩy việc mở rộng các nguồn thu ngoài lãi thông qua đa dạng hóa danh mục sản phẩm và dịch vụ. Mạng lưới các Ngân hàng thương mại Việt Nam cần nâng cấp đồng thời đẩy mạnh chất lượng sản phẩm dịch vụ phi tín dụng, các sản phẩm công nghệ số của ngân hàng trong bối cảnh thói quen tiêu dùng liên tục thay đổi và mức độ chấp nhận công nghệ ngày càng cao.
Việc cơ cấu lại nguồn thu từ hoạt động tín dụng và phi tín dụng cần được thực hiện một cách hiệu quả, phù hợp với năng lực tài chính, định hướng phát triển và chiến lược kinh doanh của từng ngân hàng, qua đó khai thác tối đa các chính sách hỗ trợ do Ngân hàng Nhà nước và Chính phủ ban hành.
Đẩy mạnh thực hiện các giải pháp tổng thể, đột phá nhằm điều hành tăng trưởng tín dụng ổn định, hiệu quả, giảm thiểu rủi ro, bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng. Bên cạnh đó các nhà quản trị cần phải xem xét đến yếu tố rủi ro từ nguồn thu nhập ngoài lãi mang lại để có thể có những chiến lược kinh doanh phù hợp trong từng thời kỳ. Bổ sung thông tin làm rõ tầm quan trọng của đa dạng hóa thu nhập ngân hàng –thu nhập ngoài lãi hay thu nhập phi tín dụng. Từ việc nhận thức được sự cần thiết của nguồn thu nhập ngoài lãi sẽ là động lực đẩy mạnh việc đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ phi tín dụng.Các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam cần phải xây dựng một tỷ trọng hợp lý của nguồn thu nhập ngoài lãi trong cơ cấu thu nhập của ngân hàng theo hưởng giảm sự phụ thuộc vào thu nhập từ lãi. Để thúc đẩy quá trình đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ, cũng như thu hút khách hàng sử dụng các tiện ích ngân hàng, các ngân hàng thương mại cần không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm – dịch vụ, cải tiến quy trình và thủ tục giao dịch, đồng thời đẩy mạnh công nghệ thông tin số hóa hoạt động. Việc này không chỉ góp phần thu hẹp thời gian thực hiện giao dịch mà còn nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng một cách hiệu quả hơn. Luận văn: KQNC của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản.
Cần đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ và thu phí, bao gồm việc gia tăng số lượng thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng, mở rộng việc sử dụng các dịch vụ ngân hàng điện tử; đồng thời phát triển các dịch vụ trung gian như thanh toán bất động sản, thanh toán quốc tế, tư vấn tài chính, lập kế hoạch tài chính cá nhân và các dịch vụ tài trợ tín dụng.
Song song với việc mở rộng hoạt động phi tín dụng, các ngân hàng cần chú trọng nâng cao hiệu quả hệ thống vận hành thông qua việc ứng dụng công nghệ số, đẩy mạnh quá trình số hóa ngân hàng, mở rộng mạng lưới hoạt động, cải thiện cơ sở hạ tầng vật chất, cũng như phát triển đội ngũ nhân sự chuyên nghiệp, có trình độ chuyên môn cao. Những yếu tố này sẽ góp phần gia tăng doanh thu từ phí dịch vụ, qua đó thúc đẩy lợi nhuận và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Thiết lập quan hệ hợp tác với các công ty bảo hiểm nhằm gia tăng nguồn thu từ hoa hồng bảo hiểm. Thúc đẩy mạnh mẽ việc hợp tác với các tổ chức công nghệ tài chính để cung ứng sản phẩm dịch vụ đến khách hàng. Fintech có những lợi thế về tốc độ, đơn giản, hiệu quả và tiềm năng đã cho phép họ quyền kiểm soát và quyết định giao dịch và các quyết định đầu tư. Các công ty Fintech cũng cung cấp các dịch vụ tài chính bổ sung cho nhóm khách hàng đặc thù và nhóm khách hàng chưa sử dụng sản phẩm của gân hàng. Do đó, khi hợp tác với các công ty Fintech thì ngân hàng có thể cung ứng dịch vụ đa dạng đến các phân khúc khách hàng riêng biệt, giúp mọi khách hàng có thể tiếp cận các dịch vụ ngân hàng một cách thuận tiện nhất với chi phí thấp nhất.
Phổ biến rộng rãi kế hoạch xây dựng lòng tin và quảng bá thương hiệu ngân hàng từ đó tiếp thị sản phẩm – dịch vụ khiến chúng trở nên đơn giản và cần thiết với khách hàng. Các ngân hàng cần xác định rõ nhóm khách hàng mục tiêu, từ đó tiến hành phân khúc thị trường một cách hợp lý và lựa chọn phương thức cung cấp thông tin sản phẩm hiệu quả với từng nhóm đối tượng khách hàng riêng biệt. Điều này nhằm đảm bảo thông tin quảng bá được truyền tải đến khách hàng Theo cách nhanh nhất và đạt hiệu quả cao. Đặc biệt, các chiến dịch quảng cáo thông qua nền tảng mạng xã hội đang được nhiều ngân hàng triển khai như một phương thức tiếp cận hiện đại và đem lại hiệu quả vượt trội trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.
Thúc đẩy nghiên cứu nhu cầu và thị hiếu của khách hàng đóng vai trò quan trọng trong quá trình đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ ngân hàng. Quá trình này không chỉ dựa trên phân tích dữ liệu nội bộ của ngân hàng, mà quan trọng hơn, cần xuất phát từ sự hiểu biết sâu sắc về mong đợi và xu hướng tiêu dùng của khách hàng. Nhằm thực hiện mục tiêu này một cách hiệu quả, các ngân hàng thương mại cần thường xuyên tổ chức các cuộc khảo sát, thăm dò ý kiến khách hàng. Thông qua đó, ngân hàng có thể xây dựng kế hoạch cải tiến sản phẩm – dịch vụ hiện có, hoặc phát triển các sản phẩm mới phù hợp và đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng trên thị trường. Luận văn: KQNC của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản.
5.2.2. Liên quan đến các biến kiểm soát
Thông qua mô hình hồi quy tuyến tính kết quả chỉ ra rằng quy mô và sự gia tăng tổng tài sản dẫn đến việc mức độ rủi ro gia tăng tại các Ngân hàng thương mại. Quy mô về tổng tài sản của Ngân hàng thương mại được cấu thành từ những hạng mục như tiền mặt và tương đương tiền, tài sản cố định, chứng khoán đầu tư, dư nợ cho vay cùng những hạn mục tài sản khác, trong đó dư nợ cho vay thường đóng vai trò chủ yếu. Việc nâng cao quy mô tổng tài sản phản ánh quá trình tăng trưởng và duy trì ổn định của ngân hàng; tuy nhiên, điều này cũng đồng nghĩa với việc gia tăng rủi ro tiềm ẩn do mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính quá mức khi gia tăng dư nợ cho vay, mở rộng đầu tư hoặc mua sắm thêm tài sản cố định.
Vì vậy, các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam cần thúc đẩy quá trình tăng trưởng quy mô thông qua việc nâng cao năng lực huy động vốn và tăng cường vốn chủ sở hữu. Quan trọng hơn, cần xây dựng một lộ trình phát triển phù hợp, xác định cơ cấu tài sản hợp lý, đồng thời kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng đòn bẩy tài chính nhằm đảm bảo rằng rủi ro phát sinh từ việc mở rộng quy mô luôn nằm trong giới hạn kiểm soát. Ngoài ra, cần giám sát nghiêm ngặt hiệu quả khai thác và sử dụng nguồn vốn huy động, tránh tình trạng tăng trưởng nóng trong các hoạt động cho vay, đầu tư hoặc mở rộng tài sản cố định, điều này có thể dẫn đến rủi ro hệ thống và ảnh hưởng tiêu cực đến sự an toàn tài chính của các Ngân hàng thương mại.
Đối với biên lãi ròng hiện nay ở những Ngân hàng thương mại được nhìn nhận như một vấn đề cần lưu tâm. Hầu hết Ngân hàng thương mại hiện nay cần phải có chính sách kiểm soát chi phí hoạt động một cách hiệu quả để tăng cường biên lãi ròng. Ngân hàng thương mại có thể tận dụng ưu thế về mạng lưới chi nhánh của mình để đưa ra các hoạt động phù hợp với nhu cầu khách hàng, hoặc đóng cửa sáp nhập những chi nhánh không hiệu quả nhằm tối đa sự thu hút khách hàng, giảm thiểu các chi phí đầu ra, thu về nguồn lợi nhuận cao hơn. Áp dụng và vận dụng hiệu công nghệ số, tối ưu hóa khâu quản lý và tiếp nhận thông tin, tài nguyên ngân hàng, xóa bỏ có lộ trình các việc thủ công tốn nhiều phí thay thế bằng tự động hóa.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tăng trưởng tín dụng có tác động đáng kể đến rủi ro phá sản của ngân hàng, qua đó hàm ý việc mở rộng tín dụng cần được đặt trong khuôn khổ thận trọng và có kiểm soát. Cụ thể, cơ quan quản lý nên điều hành hạn mức tăng trưởng tín dụng dựa trên năng lực tài chính, hệ số an toàn vốn, chất lượng tài sản và mức độ tuân thủ các chuẩn mực quản trị rủi ro của từng ngân hàng, thay vì áp dụng cơ chế phân bổ đồng loạt. Cách tiếp cận này vừa tạo động lực cạnh tranh lành mạnh, hạn chế tăng trưởng nóng nhằm chạy theo mục tiêu lợi nhuận ngắn hạn.
Bên cạnh đó, các ngân hàng cần nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng, kiểm soát mức độ tập trung cho vay vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao và thường xuyên đánh giá lại khả năng trả nợ của khách hàng. Một hàm ý chính sách quan trọng là việc chủ động gia tăng trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo hướng mang tính chu kỳ, hình thành bộ đệm tài chính đủ lớn để hấp thụ tổn thất khi nợ xấu phát sinh. Đồng thời, tăng cường giám sát và công bố thông tin minh bạch về chất lượng tài sản sẽ góp phần củng cố kỷ luật thị trường. Nhìn chung, chính sách quản lý tín dụng cần hướng tới mục tiêu tăng trưởng bền vững, bảo đảm cân bằng giữa hiệu quả kinh doanh và an toàn hệ thống ngân hàng..
5.3 Hạn chế tồn tại của nghiên cứu và các hướng phát triển nghiên cứu tiếp theo Luận văn: KQNC của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản.
5.3.1. Hạn chế của nghiên cứu
- Mặc dù đã đạt được một số kết quả nhất định, song bài nghiên cứu vẫn còn tồn tại một số vấn đề hạn chế:
Thứ nhất, liên quan đến dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu lấy từ giai đoạn 2013-2024 từ những báo cáo thường niên và báo cáo tài chính đã được kiểm toán của ngân hàng nên việc bộ dữ liệu bị thiếu nên khó có thể tránh khỏi sai sót trong quá trình thực hiện tổng hợp dữ liệu. Hiện nay, tại Việt Nam có đến 35 Ngân hàng thương mại nhưng thực tế cho thấy luận văn chỉ tiến hành nghiên cứu trên cơ sở tiền đề dữ liệu tại 25 Ngân hàng thương mại nên chưa khái quát cụ thể nhất về chỉ tiêu đa dạng hóa thu nhập cũng như rủi ro phá sản tại tất cả Ngân hàng thương mại ở Việt Nam.
Thứ hai, nghiên cứu này chỉ tập trung đánh giá tác động của đa dạng hóa thu nhập (ĐDHTN) đến rủi ro của các ngân hàng thương mại (NHTM) trong một khoảng thời gian nghiên cứu cụ thể, do đó chưa phản ánh được đầy đủ tính chất động và sự biến đổi theo chu kỳ của mối quan hệ này trong các giai đoạn khác nhau. Ngoài ra, những thành tố kinh tế tổng thể, chi tiết và những yếu tố khác đến từ phía khách hàng, nhân viên ngân hàng trình độ chuyên môn, khoa học công nghệ, … Vì thế, biến độc lập trong bài cũng chưa thể phản ánh hoàn toàn những nguyên nhân gây ảnh hưởng đến mức độ rủi ro phá sản ở các Ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam.
Thứ ba, mặc dù hiện nay đã xuất hiện nhiều phương pháp phân tích dữ liệu định lượng hiện đại và tiên tiến hơn, tuy nhiên do hạn chế về năng lực và điều kiện nghiên cứu, tác giả chưa có khả năng thực hiện và tiếp cận những phương pháp nghiên cứu này trong khuôn khổ của bài nghiên cứu.
5.3.2. Hướng phát triển nghiên cứu tiếp theo
Thứ nhất, những nghiên cứu kế thừa trong tương lai có thể thực hiện mở rộng phạm vi bộ dữ liệu theo hướng chi tiết hơn, chẳng hạn như phân tích theo từng giai đoạn cụ thể trong năm, nhằm đánh giá rõ hơn ảnh hưởng của Đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản của ngân hàng trong các khoảng thời gian khác nhau.
Thứ hai, các nghiên cứu kế thừa tiếp theo trong thời gian tới có thể sử dụng các phương pháp phân tích định lượng hiện đại và tiên tiến hơn nhằm nâng cao độ chính xác trong ước lượng cũng như tăng cường khả năng giải thích kết quả quả rút ra được từ nghiên cứu.
- TÓM TẮT CHƯƠNG 5
Chương 5 đã giải đáp các vấn đề nghiên cứu được nêu ra trong luận văn nghiên cứu. Xem xét dựa trên các kết quả nghiên cứu thu được, luận văn đã thiết lập cơ sở thực tiễn để đề xuất các hàm ý chính sách phù hợp nhằm thúc đẩy quá trình đa dạng hóa thu nhập (ĐDHTN), qua đó góp phần tăng khả năng chống chịu với rủi ro phá sản trong hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam. Đồng thời ở luận văn nghiên cứu này còn cho thấy rằng những hạn chế mà nghiên cứu còn gặp phải liên quan đến tính đồng nhất của bộ dữ liệu nghiên cứu, thời gian tiến hành nghiên cứu, mở rộng nghiên cứu theo quy mô mở ra gợi ý cho những hướng nghiên cứu mới tiếp theo. Luận văn: KQNC của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản

Pingback: Luận văn: PPNC của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản