Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Tên đề tài: Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam.
- Nội dung nghiên cứu:
Luận văn tốt nghiệp được thực hiện nhằm phân tích một cách toàn diện ảnh hưởng của Đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro có thể phá sản của các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam, trên cơ sở nền tảng dữ liệu được thu thập trong giai đoạn 2013–2024. Luận văn đã thu thập và hệ thống hóa nền tảng lý luận đã được xây dựng trước đây liên quan đến rủi ro phá sản, đa dạng hóa thu nhập trong lĩnh vực ngân hàng, cũng như mối quan hệ lý thuyết giữa hai yếu tố này. Dựa trên nền tảng học thuật và tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trước đây trong và ngoài nước, luận văn vận dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để kiểm định mức độ ảnh hưởng của đa dạng hóa thu nhập đến nguy cơ phá sản tại các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam.
Trong nghiên cứu này, dữ liệu bảng được tổng hợp và xử lý thông qua các phương pháp hồi quy phù hợp, bao gồm: mô hình bình phương nhỏ nhất thông thường (Pooled-OLS), mô hình hiệu ứng cố định (FEM), mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM), bình phương nhỏ nhất tổng quát (FGLS), và phương pháp moment tổng quát (GMM). Các phương pháp này được áp dụng nhằm đảm bảo độ tin cậy và tính nhất quán của kết quả phân tích.
Kết quả nghiên cứu cho thấy đa dạng hóa thu nhập có tác động cùng chiều đến rủi ro phá sản khi tỷ lệ đa dạng hóa thu nhập gia tăng, rủi ro tại các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam có xu hướng giảm, góp phần cải thiện “sức khỏe” tài chính và khả năng chống chịu rủi ro. Trên cơ sở những phát hiện thực nghiệm, luận văn đã đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao hiệu suất hoạt động của các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam, đặc biệt trong việc thiết kế chiến lược Đa dạng hóa thu nhập gắn với kiểm soát rủi ro tài chính trong bối cảnh thay đổi không ngừng của nền kinh tế.
Từ khóa: Đa dạng hóa thu nhập, rủi ro, rủi ro phá sản ổn định tài chính, các ngân hàng TMCP Việt Nam.
- ABSTRACT
Thesis title: The Impact of Income Diversification on Bankruptcy Risk of Vietnamese Joint-Stock Commercial Banks
- Thesis content: Luận văn: Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản.
This study investigates the impact of income diversification on the bankruptcy risk of joint-stock commercial banks in Vietnam, using panel data covering the period from 2013 to 2024. The thesis systematically reviews theoretical foundations related to financial risk and income diversification within the banking sector and explores the theoretical nexus between these two factors. Drawing on prior empirical literature, both domestic and international, the study applies quantitative research methods to assess the extent to which income diversification influences the likelihood of financial distress among banks.
To ensure robustness and accuracy, the research employs a variety of econometric techniques, including Pooled Ordinary Least Squares (Pooled-OLS ), Fixed Effects Model (FEM), Random Effects Model (REM), Feasible Generalized Least Squares (FGLS), and Generalized Method of Moments (GMM). These models are used to process and analyze the panel data effectively.
The empirical results reveal that income diversification has a significant negative correlation with bankruptcy risk. Specifically, higher levels of income diversification are associated with reduced financial fragility, thereby improving the overall resilience and performance of Vietnamese commercial banks. Additionally, several control variables-such as equity to total assets ratio, asset growth, and GDP growth-exhibit positive effects, while credit growth, deposit ratio, and inflation show adverse impacts.
Based on these findings, the study offers policy recommendations and managerial implications to enhance banking performance. It emphasizes the strategic importance of income diversification as a tool for sustainable risk management in an increasingly dynamic economic environment.
Keywords: Income diversification, bankruptcy risk, risk, financial stability, Vietnamese Joint-Stock Commercial Banks.
CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU CHUNG
1.1 Đặt vấn đề
Hiện nay, với bối cảnh môi trường cạnh tranh của nền kinh tế, đa dạng hóa thu nhập (ĐDHTN) được xem là một chiến lược trọng yếu giúp ngân hàng giảm sự phụ thuộc vào nguồn thu từ tín dụng truyền thống, đồng thời phân tán rủi ro và ổn định kết quả kinh doanh. Việc mở rộng sang các hoạt động phi tín dụng như dịch vụ thanh toán, bảo lãnh, môi giới, tư vấn tài chính, quản lý gia sản, hay đầu tư quỹ, đầu tư chứng khoán, không chỉ tạo ra nguồn thu nhập ổn định hơn mà còn tăng khả năng chống chịu trước sự thay đổi không ngừng của nền kinh tế. Tuy nhiên, nếu quá trình đa dạng hóa được thực hiện mà không đi kèm cơ chế quản trị rủi ro và giám sát hiệu quả, ngân hàng có thể đối mặt với rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường và rủi ro phá sản (RRPS) (Acharya và cộng sự, 2006). Do đó, mối quan hệ giữa Đa dạng hóa thu nhập và Rủi ro phá sản là một vấn đề cần được nghiên cứu kỹ lưỡng, đặc biệt trong bối cảnh hệ thống ngân hàng Việt Nam đang trong giai đoạn cơ cấu lại cấu trúc toàn diện.
Tại Việt Nam, các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) đóng vai trò then chốt trong việc huy động vốn, cung ứng tín dụng và hỗ trợ điều hành chính sách tiền tệ, đóng vai trò trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, hệ thống ngân hàng trong những năm gần đây đã chứng kiến nhiều biến động lớn về an toàn tài chính, khi hàng loạt vụ bê bối tín dụng và quản trị yếu kém đã làm tăng mạnh nợ xấu và gây bất ổn hệ thống. Điển hình là vụ việc liên quan đến Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) và Tập đoàn Vạn Thịnh Phát, nơi các hành vi vi phạm quy định cấp tín dụng và quản lý sai phạm đã khiến ngân hàng này phải tiếp nhận sự hỗ trợ đặc biệt từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) để tái cơ cấu và đảm bảo thanh khoản. Những sự kiện này cho thấy rủi ro phá sản tiềm ẩn trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, bắt nguồn từ mô hình thu nhập phụ thuộc quá lớn vào hoạt động tín dụng. Theo Thời báo Tài chính Việt Nam (2025), thu nhập từ tín dụng vẫn chiếm 80,6% tổng thu nhập của các Ngân hàng thương mại, phản ánh sự thiếu đa dạng trong cơ cấu nguồn thu. Trước thực trạng này, Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021–2025” (Quyết định 689/QĐ-TTg, ngày 08/6/2022) đã xác định rõ định hướng tăng tỷ trọng thu nhập phi tín dụng, coi đây là một giải pháp trọng tâm để giảm thiểu rủi ro, nâng cao năng lực cạnh tranh và đảm bảo an toàn hệ thống. Luận văn: Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản.
Trên thế giới, xu hướng đa dạng hóa thu nhập ngân hàng đã được nghiên cứu rộng rãi từ những năm 1970, khi các tổ chức tài chính bắt đầu mở rộng sang các mảng hoạt động phi tín dụng nhằm tìm kiếm nguồn thu ổn định hơn. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu vẫn chưa đạt được sự thống nhất. Acharya và cộng sự (2006) cho rằng đa dạng hóa thu nhập có thể làm gia tăng rủi ro tổng thể, nếu thiếu năng lực quản trị và kiểm soát hiệu quả rủi ro. Ngược lại, Sharma và Anand (2018), cùng với Buyuran và Ekşi (2021), lại khẳng định rằng đa dạng hóa giúp làm giảm rủi ro của ngân hàng. Tại Việt Nam, các công trình như Nguyễn Thị Cành và Hồ Thị Hồng Minh (2015) đã phân tích mối quan hệ giữa đa dạng hóa thu nhập và khả năng sinh lời của Ngân hàng thương mại; hay Xuân Vinh và Phương Mai (2015) tập trung đánh giá hiệu quả lợi nhuận điều chỉnh rủi ro trong hoạt động đa dạng hóa. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa đi sâu vào việc đánh giá tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản (RRPS) – một chỉ báo tiên quyết phản ánh mức độ an toàn tài chính và khả năng tồn tại dài hạn của ngân hàng.
Từ ba cơ sở trên có thể thấy rằng, trong bối cảnh hệ thống ngân hàng Việt Nam đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc và hội nhập mạnh mẽ, việc nghiên cứu tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản của các Ngân hàng thương mại cổ phần là yêu cầu cấp thiết cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn. Trong các nghiên cứu, các đề tài liên quan trước đây chủ yếu chú trọng vào khả năng sinh lời và rủi ro chung Tuy nhiên, còn thiếu sự phân tích sâu sắc về mức độ ảnh hưởng của Đa dạng hóa nguồn thu nhập đến Rủi ro phá sản. Nghiên cứu này nhằm lấp đầy khoảng trống học thuật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam, đồng thời cung cấp bằng chứng thực nghiệm giúp các nhà hoạch định chính sách và lãnh đạo ngân hàng xây dựng chiến lược phát triển nguồn thu hợp lý, nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro và đảm bảo an toàn hệ thống tài chính quốc gia, đề tài nghiên cứu “Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” được lựa chọn để làm rõ mối quan hệ này.
1.2 Mục tiêu của khóa luận Luận văn: Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản.
1.2.1. Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu tổng quát của luận văn là đo lường tác động của Đa dạng hóa thu nhập đến Rủi ro phá sản của những Ngân hàng thương mại tại Việt Nam qua đó gợi ý các hàm ý quản trị hướng tới việc để các Ngân hàng thương mại cân nhắc thực hiện Đa dạng hóa nguồn thu nhập và cách thức thực hiện Đa dạng hóa nguồn thu nhập được triển khai như thế nào vẫn kiểm soát được rủi ro phá sản của ngân hàng TMCP Việt Nam.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
Thứ nhất, đánh giá tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản tại Ngân hàng thương mại Việt Nam.
Thứ hai, đưa ra các hàm ý quản trị để các Ngân hàng thương mại cân nhắc thực hiện Đa dạng hóa nguồn thu nhập và cách thức thực hiện Đa dạng hóa nguồn thu nhập được triển khai như thế nào để kiểm soát rủi ro phá sản của ngân hàng TMCP Việt Nam.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu của đề tài, cần làm rõ các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Thứ nhất, thực hiện Đa dạng hóa nguồn thu nhập tác động đến Rủi ro phá sản tại các NHTMCP ở Việt Nam hay không? Mức độ ảnh hưởng và chiều hướng như thế nào?
- hứ hai, những hàm ý quản trị nào có thể tiến hành thực hiện nhằm góp phần kiểm soát Rủi ro phá sản khi thực hiện Đa dạng hóa nguồn thu nhập tại các Ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
- Tác động của Đa dạng hóa thu nhập đối với Rủi ro phá sản của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài Luận văn: Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản.
Phạm vi không gian: Luận văn tốt nghiệp tập trung tiến hành nghiên cứu dựa trên dữ liệu thứ cấp liên quan đến Rủi ro phá sản của Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam được thu thập từ báo cáo tài chính đã được kiểm toán (do hạn chế về dữ liệu công bố của các Ngân hàng thương mại cổ phần và để đảm bảo tính cân bằng dữ liệu cho mô hình nghiên cứu, 25 ngân hàng được chọn là những ngân hàng công bố thông tin đầy đủ, có tổng tài sản là 16,9 triệu tỷ đồng chiếm tỷ trọng 85,8% trong hệ thống các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, vì vậy có tính phổ biến cao cho tổng thể, các báo cáo tổng kết được Ngân hàng Nhà nước công bố và các chỉ số kinh tế vĩ mô thu thập từ World Bank và Tổng cục thống kê Việt Nam.
Phạm vi thời gian: Dữ liệu luận văn nghiên cứu được lựa chọn tiến hành thu thập trong khoảng thời gian từ năm 2013 đến năm 2024. Tác giả chọn phạm vi thời gian nêu trên vì tính sẵn có của dữ liệu. Và giai đoạn này thuộc giai đoạn tái cấu trúc mạnh mẽ của các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Giai đoạn này là giai đoạn chuyển mình và bứt phá của hệ thống Ngân hàng Việt Nam cùng với sự bắt nhịp nhanh chóng với những xu hướng mới về ngân hàng số. Từ đó, Internet banking, Mobile banking và các dịch vụ ngân hàng số khác cũng đã ra đời và có chỗ đứng nhất định. Điều này dẫn đến “trào lưu” đổi mới trong mô hình chiến lược kinh doanh của các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Theo Ngân hàng Nhà nước, ngành ngân hàng đã từng bước thực hiện “cơ cấu lại căn bản, triệt để và toàn diện” công nghệ hóa – số hóa trong hệ thống tín dụng và tái cơ cấu kèm xử lý nợ xấu sau khi quyết định 254/2012/QĐ-TTg và 1058/2016/QĐ-TTg áp dụng thực hiện tổ chức lại hệ thống một cách mạnh mẽ các Ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam thảo luận góc nhìn mới cụ thể là các Ngân hàng thương mại Việt Nam cần Đa dạng hóa thu nhập.
1.5 Phương pháp nghiên cứu
1.5.1. Phương pháp thu thập dữ liệu
Nguồn dữ liệu được dùng để tiến hành phân tích trong luận văn nghiên cứu dựa trên số liệu lấy từ các Báo cáo tài chính hợp nhất đã được kiểm toán và báo cáo trong giai đoạn 2013-2024 của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam.
Mẫu dữ liệu được dùng để tiến hành phân tích trong luận văn nghiên cứu về Rủi ro phá sản 25 Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 2013 đến năm 2024. Thông tin dữ liệu nghiên được lấy từ các Báo cáo tài chính hợp nhất, báo cáo kiểm toán hợp nhất, Báo cáo tài chính thường niên theo chuẩn mực kế toán thông qua các trang web chính thống của Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Ngoài ra, dữ liệu về mức độ phát triển GDP được thu thập từ World Bank và IMF (Quỹ tiền tệ quốc tế) và tỷ lệ lạm phát được tác giả thu thập từ Tổng cục thống kê (GSO) tại Việt Nam.
1.5.2. Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu Luận văn: Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản.
Để đạt được mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản khóa luận tiến hành đo lường tác động của các biến tới rủi ro phá sản thông qua thực hiện hồi quy theo các mô hình Pooled OLS, REM, FEM, phương pháp ước lượng FGLS, và phương pháp IV-GMM. Dựa trên kết quả từ các mô hình này, tiến hành kiểm định và so sánh để xác định mô hình phù hợp, đồng thời kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến, tự tương quan và phương sai thay đổi. Từ đó, luận văn đưa ra đánh giá về tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản của các Ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam.
1.6 Ý nghĩa nghiên cứu
Về mặt khoa học, kết quả nghiên cứu là bằng chứng thực nghiệm về tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản tại các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, luận văn đã đề xuất các mô hình đánh giá tác động giữ Đa dạng hóa thu nhập với Rủi ro phá sản của các Ngân hàng thương mại nên có ý nghĩa tham khảo về mặt học thuật trong nghiên cứu kinh tế.
Về mặt thực tiễn, dựa trên kết quả nghiên cứu bài nghiên cứu này được thực hiện để đề xuất hàm ý góp phần thể hiện tác động của Đa dạng hóa thu nhập trong việc kiểm soát Rủi ro phá sản của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Bên cạnh đó, luận văn nghiên cứu cũng cho thấy rằng ảnh hưởng của Đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các Ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam trong khoảng thời gian nghiên cứu xác định ở phần trên từ năm 2013 đến năm 2024.
Công trình nghiên cứu bổ sung căn cứ thực nghiệm, cũng cố thêm cho những nghiên cứu cùng lĩnh vực của những nghiên cứu trước đó. Điều này bổ sung thêm nền tảng khoa học để các nhà điều hành và quản lý có thể hoạch định chiến lược, đưa ra các đề xuất và khuyến nghị cho các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam tiến hành áp dụng Đa dạng hóa nguồn thu nhập với mục đích kiểm soát Rủi ro phá sản tại các NHTNM. Thông tin đầu ra của luân văn nghiên cứu sẽ là nền tảng kế thừa cho nghiên cứu sau thuộc lĩnh vực kiểm soát và hạn chế Rủi ro phá sản tại Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam từ nguồn thu nhập ngoài lãi.
1.7 Kết cấu khóa luận Luận văn: Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản.
- Chương 1: Giới thiệu chung
Phác thảo bức tranh tổng thể về vấn đề cốt lõi có mối quan hệ liên quan đến chủ đề luận văn nghiên cứu như căn cứ xác định đề tài của luận văn nghiên cứu, cũng như mục tiêu của luận văn, đưa ra những câu hỏi nghiên cứu, xác định phạm vi quy mô bài nghiên cứu bao gồm phạm vi không gian và thời gian. Cuối cùng và cũng là ý nghĩa của bài nghiên cứu. Ngoài ra, chương I cũng đưa ra kết cấu và nội dung chính của mỗi chương trong bài nghiên cứu.
- Chương 2: Cơ sở lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm
Các định nghĩa và đo lường các biến liên quan đến Rủi ro phá sản và những biến độc lập ảnh hưởng thế nào Rủi ro phá sản tại Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Đồng thời, các lý thuyết nền về các yếu tố tác động đến Rủi ro phá sản cũng được đề cập để làm nền tảng cho các kết luận và giả thuyết ở các chương tiếp theo. Các khảo lược về những nghiên cứu thực nghiệm cũng được xem xét để làm nền tảng nghiên cứu.
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Quy trình thực hiện các bước nghiên cứu và đưa ra mô hình cụ thể trên cơ sở tiền đề tham khảo từ công trình nghiên cứu trước đó. Bên cạnh đó, chương này cũng nêu cách thức nghiên cứu và bộ dữ liệu được thu thập để tiến hành thực hiện nghiên cứu.
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Kết quả phân tích định lượng được thực hiện thông qua phần mềm Python được trình bày trong phần này. Dựa trên các kết quả thu được, nghiên cứu xác định mức độ tác động của các biến độc lập đến biến phụ thuộc, đồng thời đánh giá sự phù hợp và tính nhất quán của các kết quả với các lý thuyết nền được đề cập ở chương trước.
- Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị
Toàn bộ nội dung nghiên cứu được tóm lược và rút ra kết luận, từ đó đề xuất một số khuyến nghị phù hợp. Bên cạnh đó, các hạn chế và thiếu sót của đề tài cũng được chỉ ra nhằm định hướng cho những nghiên cứu trong tương lai.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Luận văn: Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản.
Chương 1 giải thích lý do tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu thông qua việc nêu lên tầm quan trọng của các doanh nghiệp và thực trạng cũng như hậu quả khi một doanh nghiệp phải tuyên bố phá sản. Tác giả cũng đồng thời xác định mục đích của luận văn nghiên cứu để từ đó đề xuất các câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Cuối chương, tác giả đã mô tả kết cấu của toàn khóa luận và nội dung chính của mỗi phần.
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
2.1 Cơ sở lý thuyết. về đa dạng hóa thu nhập tại ngân hàng thương mại.
2.1.1. Khái niệm đa dạng hóa thu nhập tại ngân hàng thương mại
Theo lý thuyết đa dạng hóa danh mục đầu tư trong lý thuyết Danh mục đầu tư hiện đại (Modern Portfolio Theory) do Harry Markowitz (1952) đề xuất cho rằng nhà đầu tư có thể giảm rủi ro tổng thể bằng cách kết hợp các tài sản có mức tương quan không hoàn hảo, thay vì tập trung vào một tài sản đơn lẻ.. Vận dụng vào lĩnh vực ngân hàng, nguyên lý này được thể hiện qua chiến lược đa dạng hóa thu nhập, khi ngân hàng mở rộng sang các nguồn thu ngoài lãi như dịch vụ, bảo hiểm hoặc đầu tư nhằm giảm sự phụ thuộc vào thu nhập tín dụng và ổn định lợi nhuận. Theo Hill và Jones (2001) nhận định rằng đa dạng hóa là chiến lược mở rộng phạm vi hoạt động của cá nhân, doanh nghiệp hoặc nền kinh tế bằng cách tham gia vào nhiều lĩnh vực, ngành nghề hoặc danh mục tài sản khác nhau nhằm giảm thiểu rủi ro và tối ưu hóa hiệu quả hoạt động.
Trong lĩnh vực ngân hàng, theo Rose và Hudgins (2008): “Hoạt động này có thể được hiểu là gia tăng lợi nhuận từ các nguồn thu ngoài lãi, thay thế phần lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh truyền thống, tức hoạt động tín dụng tạo ra thu nhập lãi tại các ngân hàng thương mại”. Cụ thể, để thực hiện đa dạng hóa, các ngân hàng cần tập trung vào việc phát triển kinh doanh phi truyền thống và mở rộng các sản phẩm phi tín dụng nhằm gia tăng nguồn thu ngoài lãi, thông qua các biện pháp sau: (1) Cung cấp đa dạng các sản phẩm và dịch vụ mang lại nguồn thu ngoài lãi; (2) Hiện đại hóa công nghệ và nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ nhằm mang đến trải nghiệm dịch vụ hiện đại, tiện ích, nhanh chóng và chính xác, đồng thời đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng; (3) Đa dạng hóa các hoạt động đầu tư.
Tóm lại, đa dạng hóa thu nhập được thực hiện bằng cách ngân hàng đưa ra và phát triển các sản phẩm tín dụng phi truyền thống có khả năng tăng nguồn thu nhập. Song song với đó là đầu tư vào các thiết bị công nghệ hiện đại và nâng cao trình độ của nguồn nhân lực làm việc để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Đa dạng hóa hoạt động đầu tư: mua cổ phần, kinh doanh ngoại hối, đầu tư chứng khoán, góp vốn,… Luận văn: Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản.
Thông qua mục tiêu nghiên cứu được đề cập từ trước, tác giả lựa chọn Đa dạng hóa nguồn thu nhập tại các Ngân hàng thương mại là việc mở rộng, áp dụng nhiều loại dịch vụ khác nhau nhằm khai thác một cách hiệu quả nhất được nguồn lực cho việc cung ứng dịch vụ cho khách hàng. Nghiên cứu của Mercieca và đồng tác giả (2007) đã chỉ ra rằng có ba xu hướng trong việc đa dạng hóa thu nhập ở ngân hàng: đa dạng về địa lý, đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ tài chính, chiến lược kết hợp giữa đa dạng hóa không gian và nghiệp vụ kinh doanh. Dựa trên tiền đề trước đó của các Ngân hàng thương mại cổ phần áp dụng Đa dạng hóa thu nhập bằng cách chuyển đổi dần các mô hình hoạt động kinh doanh truyền thốngsang các hoạt động phi truyền thống với mục đích gia tăng tỷ trọng thu nhập ngoài lãi trong tổng thu nhập.
2.1.2. Đo lường đa dạng hóa thu nhập tại ngân hàng thương mại
Đo lường mức độ Đa dạng hóa nguồn thu nhập của các ngân hàng, được ước tính bằng chỉ số HHI. Chỉ số này được xác định ở từng ngân hàng riêng biệt, ở trong những giai đoạn khác nhau do Merieca & ctg (2007) đã xây dựng như sau:
Trong đó:
- NET: thu nhập lãi thuần;
- NON: thu nhập ngoài lãi.
Với chỉ số này, HHI có giá trị vượt quá hoặc tương đương 0,5. Đa dạng hóa sẽ hỗ trợ tăng lợi nhuận cao nhất nếu chỉ số HHI bằng 0.5. Ngược lại, giá trị HHI vượt quá hơn 0,5 cho thấy sự đa dạng hóa thu nhập thấp hơn. Chỉ số HHI đánh giá mức độ quan trọng tương đối của mỗi thành phần trong thu nhập hoạt động ròng (cả lãi và phi lãi). Công thức cho thấy nếu ngân hàng ưu tiên việc tăng lợi nhuận thì khả năng đa dạng hóa sẽ giảm. Stiroh và cộng sự (2006) cho rằng các nguồn thu nhập phi lãi gia tăng sẽ được bù đắp khi có đa dạng hóa, nhưng nó lại khiến rủi ro gia tăng.
Mức độ đa dạng hóa (DIV) là một chỉ số cần thiết để xác định hiệu quả hoạt động kinh doanh. Theo Stiroh và cộng sự (2006), đa dạng hóa thu nhập có khả năng giúp nâng cao hiệu quả hoạt động và giảm rủi ro, nhưng cũng có thể làm gia tăng sự phức tạp trong quản lý và chi phí vận hành. Theo Chiorazzo và các cộng sự (2008), chỉ số đa dạng hóa (Diversification -DIV) được tính như sau: DIV = 1 – HHI
Chỉ số đa dạng hóa (DIV) lấy một giá trị từ 0 đến 0,5. Giá trị bằng 0,5 thể hiện sự đa dạng hóa hoàn toàn về thu nhập.Giá trị là 0, nghĩa là mức độ đa dạng hóa thu nhập thấp nhất. Nói cách khác, chỉ số DIV cao có nghĩa là mức độ đa dạng hóa thu nhập cao, ngược lại mức độ đa dạng hóa thu nhập giảm khi giá trị của DIV càng xa 0.5.
2.2 Cơ sở lý thuyết. về rủi ro phá sản tại ngân hàng thương mại. Luận văn: Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản.
2.2.1. Cơ sở lý thuyết về rủi ro phá sản tại ngân hàng thương mại
Rủi ro là một khái niệm phổ biến tuy nhiên lại chưa có một định nghĩa đồng nhất về rủi ro. Dựa trên những khía cạnh trường phái khác nhau thì ta có thể cho rằng khái niệm về rủi ro với những định nghĩa không đồng nhất, nhưng có thể tổng hợp lại được các nội dung thành tố nên khái niệm rủi ro cụ thể là: Rủi ro là hiện tượng thể hiện sự thiếu ổn định, là một tình huống bất định với nhiều xác suất xảy ra. Trong số các xác suất có thể sẽ xảy ra có ít nhất một xác suất sẽ dẫn đến kết quả không mong muốn. Khi kết quả không mong muốn tồn tại, nó mang đến những thiệt hại hoặc hao hụt giá trị đến cho cá nhân hoặc tổ chức gặp phải rủi ro.
Rủi ro phá sản phản ánh khả năng doanh nghiệp rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, tức là khi giá trị tài sản của doanh nghiệp thấp hơn tổng nghĩa vụ nợ phải trả. Khi đó, doanh nghiệp có thể không còn khả năng tiếp tục hoạt động mà phải tiến hành tái cấu trúc hoặc nộp đơn xin phá sản (Berk và cộng sự, 2020).
Trong hệ thống ngành tài chính ngân hàng hiện nay, rủi ro có thể hiểu như là khả năng tồn tại tổn thất do những biến cố không mong muốn và có thể ước tính được, thiệt hại này được xem như là sự thiên lệch giữa thực tế và kỳ vọng khi xét về khía cạnh lợi nhuận thu được. Rủi ro của Ngân hàng thương mại cổ phần rất phong phú và được chia làm 4 loại chính bao gồm: rủi ro về tỷ giá, rủi ro về tín dụng, rủi ro về thanh khoản và rủi ro về lãi suất.
Ngân hàng thực hiện hoạt động kinh doanh lĩnh vực tài chính tiền tệ và hoạt động này ảnh hưởng sâu rộng đến toàn bộ nền kinh tế. Các hoạt động kinh doanh thuộc lĩnh ngân hàng vốn tiềm ẩn nhiều rủi ro và những rủi ro này có thể ảnh hưởng lẫn nhau, nếu một Ngân hàng thương mại cổ phần mất khả năng thanh toán sẽ liên đới đến những ngân hàng khác nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung. Theo Ghosh (2012) cho rằng: “Rủi ro trong ngân hàng là khả năng gây tổn thất mà ngân hàng phải đối mặt khi một hoặc nhiều sự kiện không lường trước xảy ra. Những rủi ro này phát sinh từ sự không chắc chắn của các sự kiện có thể gây thiệt hại cho ngân hàng”.
2.2.2. Đo lường rủi ro phá sản tại ngân hàng thương mại Luận văn: Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản.
Đo lường mức độ Rủi ro phá sản của các ngân hàng TMCP là biến thể hiện khả năng có thể phát sinh rủi ro có thể phá sản tại ngân hàng, được định lượng qua chỉ tiêu Z-Score với:
Trong đó:
- ROA: tỷ suất lợi nhuận trên tài sản;
- Equity: tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản;
- 𝜎ROA: độ lệch chuẩn của tỷ suất lợi nhuận trên tài sản.
Chỉ tiêu hệ số Z-Score được nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam cũng như trên thế giới vận dụng để đánh giá rủi ro phá sản ngân hàng. Trong hệ thống ngành Tài chính ngân hàng, theo công trình khoa học của Boyd và Graham (1986) đã thực hiện vận dụng chỉ số này để phân tích Rủi ro phá sản trong các tập đoàn tài chính, thông qua đó phản ánh mối liên quan giữa rủi ro của ngân hàng và nguồn vốn chủ sở hữu, thâm hụt vào vốn xuất hiện từ việc thu nhập giảm. Với nghiên cứu của Maudos (2017) cũng đã cho thấy giá trị
của chỉ số Z-Score có tác động nghịch chiều với Rủi ro phá sản của ngân hàng, nghĩa là chỉ số này càng cao thì Rủi ro phá sản của ngân hàng càng giảm thiểu và ngược lại Rủi ro phá sản sẽ gia tăng nếu chỉ số Z-Score càng thấp . Tại Việt Nam các bài nghiên cứu trước đó, cũng thực hiện trên cơ sở hệ số này thì kết luận của các nghiên cứu nhận được do Nguyễn Đăng Trung và Bùi Thị Len (2014) các ngân hàng duy trì chỉ số rủi ro phá sản ở mức ổn định thường là những ngân hàng có quy mô trung bình trong khi đó các ngân hàng có nguy cơ phá sản đạt mức cao thường là ngân hàng có quy mô nhỏ.
2.3 Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản tại các Ngân hàng thương mại Luận văn: Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản.
Lý thuyết tính kinh tế theo quy mô (Economies of scope, 1776) được khởi xướng bởi Adam Smith đề xuất cho rằng chi phí bình quân của vốn có xu hướng giảm khi doanh nghiệp mở rộng phạm vi sản phẩm và dịch vụ cung ứng. Bên cạnh đó, khi đa dạng hóa, doanh nghiệp có thể tái phân bổ và khai thác hiệu quả nguồn lực chung, từ đó doanh nghiệp hình thành lợi thế cạnh tranh thông qua việc khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực (Markides & Williamson, 1994). Khi hai hay nhiều mảng hoạt động cùng sử dụng chung một số yếu tố đầu vào, tổng chi phí vốn có thể được cắt giảm, qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động (Panzar & Willig, 1977).
Lý thuyết đa dạng hóa danh mục đầu tư hiện đại (Modern Portfolio Theory) do Harry Markowitz (1952) khởi xướng cho rằng việc kết hợp các tài sản có mức độ tương quan thấp trong cùng một danh mục có thể làm giảm rủi ro tổng thể mà không làm giảm lợi suất kỳ vọng. Áp dụng vào lĩnh vực ngân hàng, khi các ngân hàng đa dạng hóa dịch vụ cũng như nguồn thu, họ không chỉ tận dụng hiệu quả nguồn lực chung như công nghệ, nhân sự và cơ sở hạ tầng nhằm tiết kiệm chi phí, mà còn phân tán rủi ro thông qua việc kết hợp các hoạt động có mức độ biến động và tương quan khác nhau. Nhìn chung, đa dạng hóa trong ngân hàng vừa có thể tạo ra lợi ích chi phí theo phạm vi, vừa góp phần tối ưu hóa cấu trúc rủi ro và lợi nhuận.
- Thứ nhất, đa dạng hóa thu nhập tác động ngược chiều rủi ro tại ngân hàng
Tổng kết các bài nghiên cứu cho thấy các nghiên cứu chủ yếu đi tìm tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản của ngân hàng. Những nghiên cứu về đa dạng hóa thu nhập được rất nhiều các nhà nghiên cứu quan tâm và đưa ra kết luận về tác động ngược chiều của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản. Các nghiên cứu về đa dạng hóa thu nhập chủ yếu tập trung xác định tác động của đa dạng hóa đến lợi nhuận như: theo nghiên cứu của Stiroh (2004), nghiên cứu dữ liệu của các ngân hàng tại Hoa Kỳ trong những năm 1970 –2001 kết quả chỉ ra rằng việc đa dạng hóa mang lại nguồn thu nhập ổn định hơn, bên cạnh đó sự gia tăng nguồn thu từ sản phẩm dịch vụ và phí mà hoàn toàn không liên quan gì đến thu nhập từ lãi ròng. Lee và cộng sự (2014), Kimani, Sang và Kinyanjui (2025) cũng đồng thời cho rằng đa dạng hóa thu nhập giúp giảm thiểu rui ro của ngân hàng. Các nghiên cứu của Williams and Prather (2010) xác định việc việc chuyển hướng đầu tư sang hoạt động thu nhập ngoài lãi giúp giảm thiểu rủi ro ngân hàng. Tương tự khi nghiên cứu tại khu vực Châu Á về ảnh hưởng của thu nhập ngoài lãi lên khả năng sinh lời và rủi ro của các ngân hàng theo Lee và cộng sự (2014), kết luận rằng đầu tư vào các hoạt động phi lãi giúp giảm rủi ro cho các ngân hàng ở Châu Á nói chung nhưng không làm tăng lợi nhuận. Tại Việt Nam, Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2015) nghiên cứu trên 32 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2005 -2012 đã tìm thấy kết quả là những ngân hàng có nhiều hoạt động mang lại thu nhập ngoài lãi sẽ giảm thiểu được rủi ro. Nghiên cứu của Thành Tâm Lê và cộng sự (2022) nghiên cứu trên 29 ngân hàng thương mại Việt Nam cũng chỉ ra rằng đa dạng hóa thu nhập góp phần giảm thiểu rủi ro.
Bên cạnh kết quả nhận định rằng đa dạng hóa thu nhập tác động ngược chiều với rủi ro phá sản thì nhiều nghiên cứu đã nhận thấy được rằng đa dạng hóa thu nhập cũng có thể tác động cùng chiều đến rủi ro phá sản.
- Thứ hai, đa dạng hóa thu nhập tác động cùng chiều rủi ro phá sản tại ngân hàng Luận văn: Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản.
Khi so sánh kết quả giữa các quốc gia, các nghiên cứu thực nghiệm gần đây tiếp tục cho thấy kết quả không thống nhất về tác động của đa dạng hóa thu nhập (non-interest income) đối với khả năng sinh lời và rủi ro ngân hàng. Ví dụ, nghiên cứu của Li và cộng sự (2021) tại các ngân hàng thế giới trong dịch COVID-19 cho thấy việc tăng thu nhập ngoài lãi làm tăng rủi ro nếu ngân hàng mở rộng quá mức hoạt động phi tín dụng. Tương tự, Stiroh và Rumble (2006) nghiên cứu ở các thị trường khác nhau vào các khoảng thời gian không giống nhau nhưng đều có kết luận, khi ngân hàng mở rộng thêm các hoạt động phi truyền thống, gia tăng thu nhập ngoài lãi thì khả năng sinh lời trong ngân hàng giảm hoặc rủi ro gia tăng hoặc thay đổi đồng thời cả hai. Theo nghiên cứu của Brunnermeier, Dong và Palia (2020) cho thấy kết quả của việc thực hiện đa dạng hoá thu nhập tác động nghịch chiều với rủi ro hệ thống vì họ cho rằng các hoạt động mang lại ít lợi ít hơn nhưng được được cập vốn quá mức khi giá trị tài sản cao sẽ mang đến rủi ro. Tại Việt Nam, theo nghiên cứu Nguyễn Khánh Ngọc (2019) nhận định rằng khi ngân hàng thực hiện đa dạng hóa thu nhập càng cao đồng nghĩa với việc rủi ro hệ thống càng tăng, tương tự với nghiên cứu của Lê Đình Luân và cộng sự (2021) cũng chỉ ra rằng ngân hàng có mức độ Đa dạng hóa thu nhập càng lớn, rủi ro của ngân hàng càng gia tăng, nghĩa là Đa dạng hóa thu nhập không phải là yếu tố giúp các Ngân hàng thương mại Việt Nam gia tăng sự ổn định. Gần đây, nhiều Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam thực hiện đa dạng hóa thu nhập thông qua việc thực hiện hoạt động đầu tư tiềm ẩn nhiều rủ ro chẳng hạn như đầu tư vào bất động sản, đầu tư vào cổ phiếu và thông qua việc thành lập một loạt các công ty con, công ty liên kết. Việc bành trướng hoạt động kinh doanh sang những lĩnh vực khác tiềm ẩn rủi ro cao trong khi đó kinh nghiệm quản lý
hoạt động còn thiếu kinh nghiệm cho nên rủi ro đối với các ngân hàng càng cao hơn và lợi nhuận nếu tính đến yếu tố rủi ro sẽ sụt giảm. Trong bối cảnh kinh tế đang có dấu hiệu suy thoái và thị trường bất động sản đang ở trong tình trạng đóng băng, điều này cho thấy các ngân hàng đang đầu tư vào những lĩnh vực có rủi ro cao.
2.4 Cơ sở thực nghiệm Luận văn: Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản.
2.4.1. Các nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, thực tiễn cho thấy gần một thập kỷ qua nhiều ngân hàng đã áp dụng chiến lược Đa dạng hóa nguồn thu nhập nhằm gia tăng lợi nhuận và đạt hiệu suất hoạt động kinh doanh hiệu quả hơn. Vì vậy, về mặt học thuật đã tồn tại một số công trình nghiên cứu thực nghiệm trước đó xem xét về lĩnh vực này. Có kể đến các nghiên cứu sau:
Võ Xuân Vinh và Trần Thị Mai Phương (2015) thực hiện hồi quy cho dữ liệu bảng với mẫu gồm 37 Ngân hàng thương mại tại Việt Nam giai đoạn 2006-2013, nghiên cứu đo lường sự tác động của đa dạng hóa thu nhập lên lợi nhuận và rủi ro của các Ngân hàng thương mại bằng phương pháp SGMM. Kết quả bài nghiên cứu chỉ ra rằng các ngân hàng có mức áp dụng Đa dạng hóa thu nhập càng cao thì rủi ro càng giảm so với ngân hàng chỉ áp dụng các hoạt động trung gian truyền thống.
Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2015) nghiên cứu trên 32 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2005-2012 về mối quan hệ giữa đa dạng hóa thu nhập và rủi ro của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam bằng mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) đã tìm thấy kết quả là những ngân hàng có nhiều hoạt động mang lại thu nhập ngoài lãi sẽ giảm thiểu được rủi ro nhưng lại không gia tăng lợi nhuận.
Nguyễn Minh Sáng và Nguyễn Thị Thùy Trang (2018) tiến hành thực hiện nghiên cứu đo lường mối quan hệ tương quan của nguồn thu nhập ngoài lãi với rủi ro và khả năng sinh lời của 26 Ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2016 với bằng mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM). Kết quả nghiên cứu cho ta thấy rằng Tác động của nguồn thu nhập ngoài lãi với rủi ro của những ngân hàng thương mại giúp giảm thiểu rủi ro của ngân hàng.
Lê Đình Luân và cộng sự (2022) phân tích mối quan hệ tương quan của Đa dạng hóa thu nhập đến ổn định tài chính của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam 27 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam giai đoạn 2008–2019 bằng phương pháp ước lượng SGMM, nghiên cứu chỉ ra rằng, ngân hàng có mức độ Đa dạng hóa thu nhập càng lớn, rủi ro của ngân hàng càng gia tăng, nghĩa là Đa dạng hóa thu nhập không phải là yếu tố giúp các Ngân hàng thương mại Việt Nam gia tăng sự ổn định. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy các yếu tố thuộc về nội tại ngân hàng như quy mô, hiệu quả quản trị chi phí và tỷ lệ tổng tiền gửi trên tổng nợ phải trả cũng như các yếu tố thuộc về nền kinh tế vĩ mô có tác động đáng kể đến ổn định tài chính tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Luận văn: Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản.
Nguyễn Văn Hoà và Nguyễn Văn Thép (2022) phân tích mối quan hệ tương quan của DDHTN đến Rủi ro phá sản của các ngân hàng thương mại Việt Nam, sử dụng dữ liệu từ 28 Ngân hàng thương mại trong giai đoạn 2011–2020 và phương pháp SGMM. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng Đa dạng hóa thu nhập không có ảnh hưởng đến Rủi ro phá sản với các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Thay vào đó, Rủi ro phá sản của ngân hàng chủ yếu bị tác động bởi các đặc điểm nội tại như mức Rủi ro phá sản của năm trước, tỷ lệ an toàn vốn, tỷ lệ chi phí hoạt động, quy mô ngân hàng và tốc độ tăng trưởng tài sản, nhấn mạnh vai trò quan trọng của các yếu tố cơ cấu ngân hàng trong quản trị rủi ro.
Lê Thanh Tâm và cộng sự (2022) phân tích tác động của đa dạng hóa thu nhập đối với rủi ro vỡ nợ của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh đại dịch COVID-19 với bộ dữ liệu được thu thập từ 29 Ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2012-2020 với phương pháp nghiên cứu bằng mô hình FGLS cho thấy tác động ngược chiều của việc đa dạng hóa thu nhập đối với rủi ro của ngân hàng. Khi thực hiện chiến lược đa dạng hóa thu nhập, ngân hàng sẽ giảm thiểu rủi ro từ các hoạt động tín dụng.
Nguyễn Quốc Anh (2023) phân tích Lợi nhuận và rủi ro từ đa dạng hóa thu nhập của hệ thống ngân hàng thương mại nhìn từ góc độ quy mô và chất lượng tài sản với bộ dữ liệu trong giai đoạn 2014–2021 của 31 Ngân hàng thương mại Việt Nam bằng phương pháp SGMM nhận thấy rằng, với các ngân hàng có chất lượng tài sản thấp, đa dạng hóa thu nhập mang lại hiệu quả hơn trong việc gia tăng lợi nhuận và giảm rủi ro tổng thể hơn nhóm ngân hàng có chất lượng tài sản cao.
Lê Phương Anh và cộng sự (2025) nghiên cứu ảnh hưởng của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam với bộ dữ liệu được thu thập từ 27 Ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2016-2024 bằng phương pháp SGMM. Kết quả phân tích cho thấy mối quan hệ cùng chiều có ý nghĩa thống kê giữa đa dạng hóa thu nhập và mức độ rủi ro.
2.4.2. Các nghiên cứu nước ngoài Luận văn: Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản.
Brunnermeier, Dong và Palia (2020) tiến hành nghiên cứu tại Hoa Kỳ với bộ dữ liệu của các ngân hàng thương mại trong giai đoạn 2002–2018 nhằm phân tích mối quan hệ giữa thu nhập ngoài lãi và rủi ro hệ thống. Kết quả cho thấy rằng việc mở rộng nguồn thu từ các hoạt động phi tín dụng làm gia tăng đáng kể mức độ rủi ro hệ thống của ngân hàng, đặc biệt đối với các ngân hàng có quy mô tài sản lớn và mức độ liên kết tài chính cao. Nghiên cứu cũng kết luận rằng, mặc dù đa dạng hóa thu nhập có thể giúp cải thiện hiệu quả hoạt động trong ngắn hạn, song về dài hạn lại khiến ngân hàng đối mặt với rủi ro thanh khoản và rủi ro thị trường cao hơn.
Sissy và cộng sự (2016) tiến hành nghiên cứu phân tích mức độ gây ảnh hưởng của Đa dạng hóa thu nhập ở ngân hàng đa quốc gia đến rủi ro và điều chỉnh lợi nhuận ở các 320 ngân hàng thuộc 29 quốc gia châu Phi trong khoảng thời gian từ 2002 –2013, thông qua các biến phụ thuộc đo lường rủi ro phá sản là Z-score, lợi nhuận điều chỉnh rủi ro và các biến độc lập như: đa dạng hóa thu nhập, biến giả “ngân hàng đa quốc gia”, chỉ số hiệu quả chi phí, tỷ lệ vốn chủ sở hữu, logarit tự nhiên của tổng tài sản, tỷ lệ lạm phát và tốc độ tăng trưởng kinh tế. Cùng với nhận định được đúc kết từ nghiên cứu cho thấy xu hướng mở rộng các chi nhánh ở nhiều quốc gia là đa dạng hóa thu nhập của ngân hàng đang dần phổ biến. Các ngân hàng tận dụng được lợi ích khi thực hiện đa dạng hóa thu nhập cụ thể tăng trưởng lợi nhuận có kiểm soát hiệu chỉnh rủi ro nhưng không tồn tại ý nghĩa thống kê đối với Rủi ro phá sản được đánh giá bởi biến Z-score.
Gelman, Goldstein và MacKinlay (2023) tiến hành nghiên cứu nhằm phân tích tác động của đa dạng hóa hoạt động ngân hàng đến khả năng duy trì cho vay trong bối cảnh nền kinh tế chịu các cú sốc tiêu cực. Dựa trên bộ dữ liệu của các ngân hàng Hoa Kỳ giai đoạn 2002–2021, nhóm tác giả tập trung xem xét mức độ đa dạng hóa về danh mục tài sản, lĩnh vực và khu vực địa lý đối với khả năng chống chịu của hoạt động tín dụng. Bằng việc áp dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng động (System GMM) kết hợp với các biến kiểm soát đặc trưng ngân hàng và điều kiện kinh tế vĩ mô, kết quả cho thấy đa dạng hóa hoạt động giúp ngân hàng duy trì tăng trưởng tín dụng ổn định hơn trong giai đoạn khủng hoảng, đồng thời làm giảm biến động lợi nhuận và rủi ro thanh khoản. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng lợi ích từ đa dạng hóa chỉ thực sự rõ rệt ở các ngân hàng có năng lực quản trị rủi ro cao và cơ cấu vốn vững mạnh; ngược lại, đối với những ngân hàng nhỏ hoặc có mức độ tập trung danh mục cao, đa dạng hóa có thể làm suy giảm hiệu quả cho vay do chi phí giám sát và quản lý rủi ro tăng lên. Kết quả này nhấn mạnh vai trò của quản trị nội bộ và cơ cấu tổ chức trong việc tận dụng hiệu quả lợi ích từ chiến lược đa dạng hóa hoạt động.
Li và cộng sự (2021) tiến hành nghiên cứu về tác động của đa dạng hóa thu nhập đến khả năng sinh lời và rủi ro của các ngân hàng thương mại tại Trung Quốc trong giai đoạn 2010–2019. Sử dụng dữ liệu của 120 ngân hàng và áp dụng các mô hình hồi quy dữ liệu bảng (Fixed Effects, Random Effects và GMM), nghiên cứu phát hiện rằng việc mở rộng nguồn thu từ các hoạt động phi tín dụng như dịch vụ thanh toán, đầu tư và kinh doanh ngoại hối giúp gia tăng đáng kể lợi nhuận ngân hàng, đặc biệt là trong các ngân hàng quy mô lớn. Tuy nhiên, kết quả cũng chỉ ra rằng mức độ đa dạng hóa cao đi kèm với sự gia tăng rủi ro phá sản do sự biến động lợi nhuận phi truyền thống và thiếu kinh nghiệm quản trị trong các lĩnh vực này. Nghiên cứu nhấn mạnh rằng để tối ưu hóa lợi ích của đa dạng hóa thu nhập, các ngân hàng cần có hệ thống kiểm soát rủi ro phù hợp và chiến lược phân bổ nguồn lực hiệu quả nhằm duy trì sự ổn định tài chính dài hạn. Luận văn: Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản.
Buyuran và Ekşi (2021) đánh giá dựa trên cơ sở bộ dữ liệu nghiên cứu từ 29 Ngân hàng thương mại ở quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ trong những năm từ 2010–2019, một thời kỳ đặc biệt gắn liền với khủng hoảng toàn cầu do đại dịch Covid-19. Bài phân tích với mục tiêu xác định mối liên quan mật thiết giữa Đa dạng hóa nguồn thu nhập, rủi ro và hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Kết quả cho thấy Đa dạng hóa thu nhập có tác động cùng chiều đến hiệu quả hoạt động, đặc biệt khi ngân hàng đẩy mạnh lợi nhuận do hoạt động sản phẩm dịch vụ, sản phẩm đầu tư chứng khoán và sản phẩm bảo hiểm. Nhưng để xác định mức độ ảnh hưởng cần xem xét đến mức phụ thuộc đến những yếu tố quan trọng khác kiểm soát hoạt động kinh doanh ngân hàng có thể nhắc đến như quy mô và mức độ cạnh tranh trong ngành do đó kết quả thu được là khác nhau giữa các ngân hàng. Bài nghiên cứu là bằng chứng thực nghiệm với nhận định chỉ ra rằng Đa dạng hóa nguồn thu nhập được xem như như là giải pháp hiệu quả góp phần hạn chế rủi ro, cải thiện hiệu quả hoạt động và hạn chế mức phụ thuộc vào một nguồn thu nhập hay một sản phẩm cụ thể. Do đó, các ngân hàng cần xem xét thận trọng và đánh giá khách quan dựa trên điều kiện thực tiễn trước khi quyết định triển khai chiến lược này.
- Bảng 2.1: Bảng tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm
2.5 Khe hở các nghiên cứu thực nghiệm Luận văn: Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản.
Trong thời gian qua đã có nhiều nghiên cứu phân tích tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản với dữ liệu nghiên cứu đa dạng khắp các quốc gia vùng lãnh thổ cho ra kết quả đa dạng hóa thu nhập tác động ngược chiều đến rủi ro phá sản như nghiên cứu của Võ Xuân Vinh và Trần Thị Mai Phương (2015), Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2015), Nguyễn Minh Sáng và Nguyễn Thị Thùy Trang (2018), Gelman, Goldstein và MacKinlay (2023), Buyuran và Ekşi (2021),.. Nhưng bên cạnh đó, cũng có nhiều nghiên cứu nhận định rằng đa dạng hóa sẽ góp phần gia tăng rủi ro tại các ngân hàng thương mại như nghiên cứu của Li và cộng sự (2021), Brunnermeier, Dong và Palia (2020), Lê Phương Anh và cộng sự (2025), Lê Đình Luân và cộng sự (2022),.. Qua đó có thể thấy rằng các nghiên cứu thực nghiệm chưa có sự thống nhất cao về chiều hướng tác động của Đa dạng hóa thu nhập đối với rủi ro phá sản tạo ra khe hở nghiên cứu.
Mặt khác, các công trình nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam được tiến hành trên bộ dữ liệu thời gian từ năm 2023 trở về trước chưa cập nhật dữ liệu của các Ngân hàng thương mại Việt Nam đến năm 2024 do đó tạo nên khe hở nghiên cứu về dữ liệu.
Cuối cùng, hầu hết các nghiên cứu được thực hiện sử dụng chương trình phần mềm Stata và Eview tiến hành xử lý và đánh giá. Trong khi với sự phát triển của khoa học công nghệ cũng xu hướng hội nhập đã xuất hiện nhiều luận văn nghiên cứu áp dụng các chương trình phần mềm hiện đại để tiến hành phân tích. Do đó, tạo nên khoảng trống nghiên cứu cần xem xét một cách tiếp cận khác bằng ngôn ngữ lập trình Python với các nghiên cứu thực nghiệm trước đây tại Việt Nam.
- KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Chương 2 đưa ra một số khái niệm và công thức đo lường liên quan tới Rủi ro phá sản và các nhân tốc tác động tới Rủi ro phá sản. Song song với đó, luận văn nghiên cứu cũng đề cập đến các lý thuyết nền liên quan tới các yếu tố tác động đến Rủi ro phá sản. Chương 2 đồng thời trình bày các khía cạnh cần giải quyết liên quan mật thiết tới những công trình nghiên cứu trước đây ở phạm vi trong nước lẫn nước ngoài qua đó đúc kết các khuyết điểm cần được giải quyết còn bỏ ngỏ trong nghiên cứu đi trước. Luận văn: Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: PPNC của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản

Pingback: Luận văn: KQNC của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro phá sản