Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: PPNC Rủi ro thanh khoản và lợi nhuận ngân hàng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Rủi ro thanh khoản và lợi nhuận ngân hàng: Vai trò của sở hữu nhà nước dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
3.1 Quy trình nghiên cứu
Nghiên cứu này được triển khai theo quy trình như sau: Trước tiên, tác giả xác định vấn đề nghiên cứu dựa trên việc phân tích số liệu đã thu thập và tham khảo các nghiên cứu trước đó, từ đó làm rõ mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu cũng như phạm vi và đối tượng nghiên cứu. Tiếp đó, tác giả tổng hợp các lý thuyết liên quan và lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm nhằm xây dựng cơ sở lập luận, đề xuất giả thuyết và chỉ ra khoảng trống nghiên cứu. Sau khi hình thành các giả thuyết, tác giả trình bày mô hình nghiên cứu cũng như đồng thời nêu rõ cách thức đo lường các biến và lựa chọn phương pháp thu thập dữ liệu phù hợp. Trên cơ sở dữ liệu thu thập được, các mô hình nghiên cứu được ước lượng để cho ra kết quả, sau đó thảo luận và đối chiếu với các lý thuyết cũng như kết quả thực nghiệm trước đây. Cuối cùng, nghiên cứu đề xuất hàm ý giúp các NHTM nâng cao khả năng sinh lời, đồng thời cung cấp cơ sở cho cơ quan quản lý trong việc ban hành chính sách giám sát phù hợp.
- Sơ đồ 3.1: Quy trình nghiên cứu
3.2. Mô hình nghiên cứu:
Tác giả đề xuất mô hình ước lượng dưới đây để tìm ra cách rủi ro thanh khoản ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng trong sự điều tiết của sở hữu nhà nước từ việc kế thừa mô hình nghiên cứu trước đó của Trầm Thị Xuân Hương, Trần Thị Thanh Nga và Trần Thị Kim Oanh (2021) cùng một số nghiên cứu khác đã lược khảo ở chương 2.
Mô hình 1: Phân tích tác động của các biến độc lập tới biến phụ thuộc:
- ROAit = α + β1FGAPit + β2CIRit + β3LLRit + β4SIZEit + β5CARit + β6DEPit + β7LOANit + β8M2it + β9GDPit + β10INFit + ɛit
- ROEit = α + β1FGAPit + β2CIRit + β3LLRit + β4SIZEit + β5CARit + β6DEPit + β7LOANit + β8M2it + β9GDPit + β10INFit + ɛit
Mô hình 2: Phân tích tác động của biến độc lập tới biến phụ thuộc với sự tương tác của biến sở hữu nhà nước:
- ROAit = α + β1FGAPit + β2CIRit + β3LLRit + β4SIZEit + β5CARit + β6DEPit + β7LOANit + β8M2it + β9GDPit + β10INFit + β11FGAP*SOEit + β12SOEit +ɛit
- ROEit = α + β1FGAPit + β2CIRit + β3LLRit + β4SIZEit + β5CARit + β6DEPit + β7LOANit + β8M2it + β9GDPit + β10INFit + β11FGAP*SOEit + β12SOEit +ɛit
Trong đó: Luận văn: PPNC Rủi ro thanh khoản và lợi nhuận ngân hàng.
- Biến phụ thuộc : Lợi nhuận ngân hàng được lựa chọn để đo lường bằng 2 chỉ số ROA, ROE trong khoảng thời gian (t)
- Biến độc lập: Rủi ro thanh khoản được lựa chọn đo lường bằng chỉ số khe hở tài chính FGAPit trong khoảng thời gian (t)
Biến kiểm soát:
- LLRit: Chi phí dự phòng rủi ro trên dư nợ cho vay trong khoảng thời gian (t).
- CIRit: Chi phí hoạt động trên tổng thu trong khoảng thời gian (t).
- SIZEit: Quy mô của ngân hàng trong khoảng thời gian (t).
- CARit: Hệ số an toàn vốn trong khoảng thời gian (t).
- DEPit: Tỷ lệ tăng trưởng tiền gửi trong khoảng thời gian (t).
- LOANit: Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng trong khoảng thời gian (t).
- INFit: Lạm phát trong khoảng thời gian (t)
- M2it: Cung tiền trong khoảng thời gian (t)
- GDPit: Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong khoảng thời gian (t)
Biến tương tác:
- SOEit: Tính sở hữu nhà nước của NHTM (x) trong khoảng thời gian (t).
- α: Hệ số chặn.
- βi: Hệ số hồi
- ɛit:Sai số của mô hình.
Các mô tả biến nghiên cứu sẽ được tác giả xây dựng cụ thể trong bảng sau:
- Bảng 3.1: Mô tả các biến nghiên cứu
3.3. Giả thuyết nghiên cứu: Luận văn: PPNC Rủi ro thanh khoản và lợi nhuận ngân hàng.
3.3.1. Biến phụ thuộc
3.3.1.1 Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA- Return on Assets)
Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản là một chỉ số đo lường mức độ hiệu quả của ngân hàng trong việc sử dụng tổng tài sản để tạo ra lợi nhuận sau thuế. Nói cách khác, ROA cho biết, cứ mỗi 1 đồng tài sản, ngân hàng tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Đây là một trong các chỉ tiêu then chốt đánh giá khả năng tạo ra lợi nhuận cũng như hiệu quả hoạt động của ngân hàng. ROA càng cao phản ánh ngân hàng sử dụng tài sản một cách hiệu quả và thể hiện hoạt động kinh doanh đạt sinh lợi tốt. Chỉ tiêu này đã được nhiều nghiên cứu sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lời của NHTM, điển hình như: T.T Xuân Hương, Trần Thị Thanh Nga và Trần Thị Kim Oanh (2021), Ahmed Eltweri, Nedal Sawan, Krayyem Al-Hajaya, Zineb Badri (2024).
3.3.1.2. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ROE (Return on Equity)
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu là một chỉ số đo lường và phản ánh khả năng sinh lời của ngân hàng đối với nguồn vốn tự có. Nói cách khác, ROE cho biết, cứ mỗi 1 đồng vốn chủ sở hữu, ngân hàng tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Với ngân hàng, ROE quan trọng vì chỉ số này còn phản ánh khả năng hoàn vốn cho cổ đông, ROE càng cao cho thấy ngân hàng sử dụng vốn đầu tư của cổ đông hiệu quả và đạt được tính sinh lợi tốt. Chỉ tiêu này đã được nhiều nghiên cứu sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lời của NHTM, điển hình như: T.T Xuân Hương, Trần Thị Thanh Nga và Trần Thị Kim Oanh (2021), Ahmed Eltweri, Nedal Sawan, Krayyem Al-Hajaya, Zineb Badri (2024).
Trong nghiên cứu này, hai chỉ tiêu đo lường lợi nhuận ngân hàng gồm ROA (Return on Assets), ROE (Return on Equity) được tác giả lựa chọn sử dụng nhằm đánh giá đa khía cạnh của khả năng sinh lời. Cụ thể, ROA phản ánh hiệu quả sử dụng tổng tài sản của ngân hàng trong việc tạo ra lợi nhuận, cho thấy ngân hàng khai thác nguồn lực như thế nào để sinh lời. ROE đo lường khả năng sinh lợi trên vốn chủ sở hữu, phản ánh hiệu quả hoạt động từ góc nhìn của các cổ đông. Việc kết hợp hai chỉ tiêu này cho phép nghiên cứu đánh giá tròn vẹn hơn về khả năng sinh lời của ngân hàng, tránh thiên lệch khi chỉ xem xét một thước đo duy nhất. Điều này đặc biệt quan trọng bởi các ngân hàng có thể tối ưu lợi nhuận theo các cách khác nhau. Do đó, việc sử dụng đồng thời ROA, ROE giúp nghiên cứu có cái nhìn đa chiều, cung cấp bằng chứng thực nghiệm chính xác và đáng tin cậy hơn về mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản, sở hữu nhà nước và lợi nhuận ngân hàng.
3.3.2. Biến độc lập Luận văn: PPNC Rủi ro thanh khoản và lợi nhuận ngân hàng.
Khe hở tài trợ (Funding Gap – FGAP) là một chỉ tiêu đo lường rủi ro thanh khoản tổng thể của ngân hàng, phản ánh mức độ chênh lệch giữa nhu cầu vốn cho vay và khả năng huy động vốn từ tiền gửi khách hàng. FGAP > 0 cho biết ngân hàng cho vay nhiều hơn hay ít hơn so với số tiền huy động được từ khách hàng. Nếu ngân hàng cho vay nhiều hơn tiền gửi, cho thấy ngân hàng thiếu vốn tự nhiên dẫn đến phải huy động thêm từ thị trường liên ngân hàng hoặc phát hành giấy tờ có giá, điều này có thể tạo ra rủi ro thanh khoản cao. Nếu FGAP < 0 ngân hàng cho vay ít hơn tiền gửi có nghĩa là ngân hàng dư vốn, vì vậy rủi ro thanh khoản thấp hơn.
Giả thuyết H1: Khe hở tài trợ cùng chiều với lợi nhuận ngân hàng
3.3.3. Biến kiểm soát
Nghiên cứu sử dụng 09 biến kiểm soát cho mô hình, trong đó bao gồm: 6 biến đặc thù ngân hàng: LLR, CIR, SIZE, CAR, DEP, LOAN và 3 biến vĩ mô: GDP, INF, M2. Bộ biến này sẽ mang lại kết quả nghiên cứu mang tính cân đối, và chuẩn học thuật, kế thừa và chọn lọc từ các nghiên cứu khác đã sử dụng để nghiên cứu mà tác giả đã trình bày ở chương 2.
3.3.3.1. Dự phòng rủi ro tín dụng (LLR-Loan Loss Reserves)
Dự phòng rủi ro tín dụng là khoản dự phòng rủi ro mà ngân hàng trích lập để dự trù cho các khoản cho vay có khả năng mất vốn trong tương lai. Định nghĩa theo Basel II/III: LLR là khoản quỹ mà ngân hàng phải duy trì để bù đắp tổn thất dự kiến từ các khoản cho vay và tài sản tài chính. LLR được tính bằng tỷ lệ giữa khoản trích lập dự phòng rủi ro tín dụng và tổng dư nợ cho vay. Biến này phản ánh mức độ thận trọng của ngân hàng trong quản lý rủi ro tín dụng. LLR giúp mô hình chính xác hơn vì nó loại bỏ tác động gây nhiễu từ rủi ro tín dụng, để đo lường mối quan hệ thuần giữa rủi ro thanh khoản và lợi nhuận ngân hàng. Chỉ số LLR được dùng như một biến đo lường rủi ro tín dụng có tác động tới lợi nhuận trong các kết quả nghiên cứu, điển hình như: Zheng & Sinamenye (2022), T.T Xuân Hương, Trần Thị Thanh Nga và Trần Thị Kim Oanh (2021).
Giả thuyết H2: Dự phòng rủi ro tín dụng ngược chiều với lợi nhuận ngân hàng
3.3.3.2. Tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR-Cost to Income Ratio) Luận văn: PPNC Rủi ro thanh khoản và lợi nhuận ngân hàng.
Tỷ lệ chi phí trên thu nhập là chỉ số phản ánh hiệu quả hoạt động của ngân hàng, cho biết ngân hàng cần bỏ ra bao nhiêu chi phí để tạo ra một đồng thu nhập. Chỉ số CIR càng thấp phản ánh hoạt động ngân hàng càng hiệu quả. Ngược lại, chỉ số CIR càng cao phản ánh hiệu quả hoạt động của ngân hàng kém do chi phí cao hoặc thu nhập thấp. Trong nghiên cứu mối quan hệ rủi ro thanh khoản và lợi nhuận ngân hàng, CIR đóng vai trò là biến kiểm soát để kiểm soát sự không đồng nhất về hiệu quả hoạt động giữa các ngân hàng. Hạn chế hiện tượng thiên lệch ước lượng do các ngân hàng có chi phí vận hành khác nhau, đồng thời giúp mô hình chính xác hơn khi đánh giá tác động riêng của rủi ro thanh khoản lên lợi nhuận. Một số nghiên cứu sử dụng chỉ số CIR: Antwi (2019) tại Ghana và Marasini (2024) tại Nepal, T.S Nguyễn Quốc Anh (2023).
Giả thuyết H3: Tỷ lệ chi phí trên thu nhập ngược chiều với lợi nhuận ngân hàng
3.3.3.3. Quy mô ngân hàng (SIZE)
Quy mô ngân hàng là biến đại diện cho quy mô hoạt động của ngân hàng thương mại. Nó phản ánh mức độ lớn nhỏ về tổng tài sản mà ngân hàng đang quản lý. Trong hầu hết các nghiên cứu, SIZE được đo lường bằng logarit tự nhiên của tổng tài sản của ngân hàng tại thời điểm t. SIZE được sử dụng phổ biến làm biến kiểm soát trong các mô hình hồi quy về lợi nhuận ngân hàng, rủi ro thanh khoản, ổn định tài chính. Khi quy mô ngân hàng càng lớn, nguồn lực tài chính càng nhiều sẽ làm gia tăng khả năng huy động vốn, mở rộng tín dụng, đa dạng hóa sản phẩm và đồng thời quản trị rủi ro tốt hơn. Bên cạnh đó, các ngân hàng lớn thường có chi phí trung bình thấp hơn nhờ hiệu quả quy mô. Đặc biệt là ngân hàng lớn dễ tiếp cận nguồn vốn giá rẻ do có vị thế thị trường cao. Vì vậy, trong nghiên cứu này, SIZE đóng vai trò biến kiểm soát quan trọng như một số nghiên cứu khác đã sử dụng như: Mesut Dogan, Feyyaz Yildiz (2023), Meliza (Indonesia), Norraidah Abu Hasan (Malaysia), và Hermilasari Saputri (Indonesia) (2024).
Giả thuyết H4: Quy mô ngân hàng cùng chiều với lợi nhuận ngân hàng
3.3.3.4. Hệ số an toàn vốn (CAR) Luận văn: PPNC Rủi ro thanh khoản và lợi nhuận ngân hàng.
Hệ số an toàn vốn là một chỉ số quan trọng để đo lường mức độ an toàn vốn của một ngân hàng, tức là khả năng chống chịu trước các rủi ro. Đây là một yêu cầu bắt buộc theo tiêu chuẩn của Bộ Quy tắc Basel (Basel I, II, III) nhằm đảm bảo ngân hàng duy trì đủ vốn để bảo vệ người gửi tiền và ổn định hệ thống tài chính. CAR được tính bằng tỷ lệ giữa vốn tự có của ngân hàng và tổng tài sản có trọng số rủi ro. CAR phản ánh khả năng hấp thụ lỗ của ngân hàng mà không làm mất vốn chủ sở hữu, là thước đo an toàn tài chính cho ngân hàng, giúp ngân hàng trung ương giám sát và can thiệp kịp thời. CAR càng cao thì ngân hàng càng an toàn về vốn, có khả năng chịu đựng rủi ro tốt. CAR thấp thì ngân hàng dễ bị rủi ro phá sản nếu xảy ra tổn thất lớn. Một số nghiên cứu sử dụng chỉ số CAR: S. L. G. M. M. Samarasinghe và W. A. I. Lakmal (2024), Meliza (Indonesia), Norraidah Abu Hasan (Malaysia), và Hermilasari Saputri (Indonesia) (2024), Asmaa Hamdy Abdelaziz Mohamed El Mahdy (2023).
Giả thuyết H5: Hệ số an toàn vốn ngược chiều với lợi nhuận ngân hàng
3.3.3.5. Tỷ lệ tăng trưởng tiền gửi (DEP)
Tỷ lệ tăng trưởng tiền gửi (Deposit Growth Rate) là mức độ tăng hay giảm của tổng số tiền gửi của khách hàng vào ngân hàng trong một khoảng thời gian nhất định, thường tính theo năm. Đây là một chỉ số quan trọng phản ánh khả năng huy động vốn từ khách hàng và sức hấp dẫn của ngân hàng trên thị trường. Tỷ lệ tăng trưởng tiền gửi phản ánh sức khỏe ngân hàng, tăng trưởng tiền gửi cao thì ngân hàng huy động vốn tốt. Đồng thời cũng là nguồn vốn cho cho vay giúp mở rộng tín dụng tăng lợi nhuận. Một số nghiên cứu sử dụng chỉ số DEP: Eissa A. Al-Homaidi, Mosab I. Tabash, Najib HS Farhan và Faozi A. Almaqtari (2018), Đỗ Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Hồng Thu, Lê Trúc Quỳnh (2025), S. L. G. M. M. Samarasinghe và W. A. Lakmal (2024), Asmaa Hamdy Abdelaziz Mohamed El Mahdy (2023).
Giả thuyết H6: Tăng trưởng tiền gửi ngược chiều với lợi nhuận ngân hàng
3.3.3.6. Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng (LOAN)
Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng (Credit Growth Rate) là chỉ số đo lường mức độ tăng hay giảm tổng dư nợ cho vay của ngân hàng trong một khoảng thời gian nhất định, thường tính theo năm. Chỉ số này phản ánh khả năng mở rộng hoạt động tín dụng của ngân hàng, khi tăng trưởng tín dụng cao phản ánh ngân hàng mở rộng tín dụng, tạo ra lợi nhuận từ lãi cho vay. Tuy nhiên, nếu tăng trưởng tín dụng quá nhanh, điều đó có thể tiềm ẩn rủi ro tín dụng cao, nợ xấu tăng. Nghiên cứu sử dụng tăng trưởng tín dụng LOAN: Nguyễn Thị Đạt, Lê Đức Tú (2022). Luận văn: PPNC Rủi ro thanh khoản và lợi nhuận ngân hàng.
Giả thuyết H7: Tăng trưởng tín dụng cùng chiều với lợi nhuận ngân hàng
3.3.3.7. Tỷ lệ lạm phát (INF-Inflation)
Tỷ lệ lạm phát thường được tính bằng tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) theo năm. Chỉ số này phản ánh mức tăng trung bình của giá hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế, qua đó cho thấy sự thay đổi sức mua của đồng tiền. Trong nghiên cứu lợi nhuận ngân hàng, INF là một biến vĩ mô rất phổ biến. Nó giúp mô hình loại bỏ tác động nhiễu từ nền kinh tế lên lợi nhuận ngân hàng. Cụ thể, khi lạm phát tăng thì các ngân hàng có xu hướng điều chỉnh lãi suất vay vốn, làm thay đổi NIM và ROA. Lạm phát cao cũng làm rủi ro tín dụng tăng, ảnh hưởng gián tiếp đến ROE. Nếu không kiểm soát INF, những thay đổi của nền kinh tế có thể bị “nhầm” thành là do sự tác động của rủi ro thanh khoản tới lợi nhuận ngân hàng. Do đó, INF sẽ góp phần cho bộ biến kiểm soát của mô hình nghiên cứu đầy đủ và kết quả của nghiên cứu có sự tin cậy hơn. Một số nghiên cứu về rủi ro thanh khoản và lợi nhuận ngân hàng đã sử dụng như: Đoàn Thị Thu Trang, Bùi Ngọc Toàn (2020), Meliza (Indonesia), Norraidah Abu Hasan (Malaysia), và Hermilasari Saputri (Indonesia) (2024), T.T Xuân Hương, Trần Thị Thanh Nga và Trần Thị Kim Oanh (2021).
Giả thuyết H8: Lạm phát ngược chiều với lợi nhuận ngân hàng
3.3.3.8. Cung tiền trong nền kinh tế M2
Cung tiền M2 là một chỉ tiêu đo lường, phản ánh tổng lượng tiền sẵn có để chi tiêu và đầu tư, bao gồm: tiền mặt trong lưu thông (M1): tiền giấy, tiền xu và tiền gửi thanh toán tại ngân hàng và tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn ngắn hạn tại các ngân hàng: các loại tài khoản tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn dưới 2 năm (tùy quy định của từng quốc gia). M2 đo lường thanh khoản trong nền kinh tế, khi M2 tăng phản ánh nhiều tiền trong lưu thông dẫn đến ngân hàng dễ huy động vốn từ khách hàng, giảm rủi ro thanh khoản và tác động tích cực đến lợi nhuận, do đó thanh khoản của các ngân hàng phụ thuộc một phần vào cung tiền M2. Vì vậy, M2 được xem là một biến vĩ mô quan trọng trong các nghiên cứu gần đây tại Việt Nam về rủi ro thanh khoản, điển hình như: T.T Xuân Hương, Trần Thị Thanh Nga và Trần Thị Kim Oanh (2021), Đỗ Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Hồng Thu, Lê Trúc Quỳnh (2025).
Giả thuyết H9: Cung tiền M2 cùng chiều với lợi nhuận ngân hàng
3.3.3.9. Tăng trưởng kinh tế GDP Luận văn: PPNC Rủi ro thanh khoản và lợi nhuận ngân hàng.
GDP (Gross Domestic Product – Tổng sản phẩm quốc nội) là tổng giá trị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm hoặc một quý. Đây là chỉ số quan trọng nhất để đo lường quy mô và sức khỏe của nền kinh tế, là chỉ báo kinh tế vĩ mô chính trong các mô hình nghiên cứu ngân hàng, giúp hiểu rõ mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động ngân hàng và nền kinh tế. GDP cung cấp bối cảnh vĩ mô để phân tích sức khỏe ngân hàng. GDP giúp kiểm soát tác động của môi trường kinh tế chung khi nghiên cứu các yếu tố nội bộ của ngân hàng. Nhờ đó, mô hình hồi quy có thể tách biệt được ảnh hưởng của ngân hàng riêng lẻ và của nền kinh tế.
Giả thuyết H10: GDP cùng chiều với lợi nhuận ngân hàng
3.3.4. Biến tương tác
SOE ( State-Owned Enterprise): là hình thức mà Nhà nước (Chính phủ hoặc các cơ quan đại diện vốn nhà nước) nắm giữ một phần hay toàn bộ quyền sở hữu trong doanh nghiệp, thông qua vốn góp, cổ phần hoặc toàn quyền sở hữu.Trong lĩnh vực ngân hàng: Sở hữu nhà nước được hiểu là tỷ lệ vốn cổ phần hoặc phần vốn điều lệ do Nhà nước nắm giữ tại ngân hàng thương mại. Nhà nước có thể nắm quyền chi phối (trên 50% vốn) hoặc chỉ tham gia với tư cách cổ đông lớn. Tỷ lệ sở hữu nhà nước có thể ảnh hưởng đến mức độ rủi ro, quản trị thanh khoản, khả năng huy động vốn, cũng như lợi nhuận, do Chính phủ và định hướng hoạt động thiên về ổn định hệ thống thay vì tối đa hóa lợi nhuận. Các nghiên cứu thường đo lường sở hữu nhà nước bằng biến giả (dummy variable): giá trị 1 nếu ngân hàng có vốn nhà nước chi phối, giá trị là 0 nếu không.
3.5. Dữ liệu nghiên cứu:
Tác giả tổng hợp dữ liệu từ BCTC, báo cáo thường niên đã được kiểm toán trên trang web của 27 NHTM Việt Nam và từ các nguồn tham khảo Vietstock và CafeF. Các dữ liệu vĩ mô khác được thu thập từ các nguồn dữ liệu từ FiinPro, tradingeconomics, Tổng cục Thống kê (trang web chính thống). Đây là những trang thông tin điện tử cập nhất nhiều tin tức về thị trường, tình hình kinh tế vi mô – vĩ mô, thường xuyên cập nhật và tổng hợp chính xác BCTC của các ngân hàng.
3.6. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn: PPNC Rủi ro thanh khoản và lợi nhuận ngân hàng.
Bước 1: Chuẩn bị dữ liệu: Thu thập dữ liệu ngân hàng: Tính các chỉ số tài chính (ROA, ROE, FGAP, CIR, LLR, CAR, SIZE, DEP, LOAN), dữ liệu vĩ mô (lạm phát, cung tiền, tốc độ tăng trưởng), thông tin sở hữu nhà nước (SOE dummy = 1 nếu có sở hữu nhà nước).
Bước 2: Thông qua phần mềm STATA 17.0, tác giả thống kê mô tả nhằm tổng hợp các đặc điểm số liệu của các biến trong mô hình bao gồm giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất, giá trị trung bình và độ lệch chuẩn.
Bước 3: Phân tích mối tương quan các biến độc lập của mô hình. Bên cạnh đó tác giả sử dụng hệ số phóng đại phương sai VIF để kiểm tra mức độ đa cộng tuyến.
Bước 4: Thực hiện hồi quy theo ba phương pháp: Pooled OLS, FEM, và REM.
Bước 5: Lựa chọn mô hình phù hợp Pooled OLS, FEM, hoặc REM thông qua các phép thử Breusch and Pagan Lagrangian multiplier, F-Test và Hausman.
Bước 6: Kiểm tra và khắc phục các khuyết tật có trong mô hình như hiện tượng tự tương quan, phương sai thay đổi và biến nội sinh thông qua phương pháp GMM.
Bước 7: Chạy mô hình đo lường kết quả tương tác của sở hữu nhà nước tới tác động của các cặp biến độc lập và biến phụ thuộc bằng phương pháp GMM.
Bước 8: Thảo luận kết quả và trình bày các kết luận chính, đánh giá mức độ tác động của rủi ro thanh khoản tới lợi nhuận ngân hàng và đưa ra các gợi ý về hàm ý chính sách liên quan đến rủi ro thanh khoản cho các NHTM Việt Nam.
- KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
Trong chương 3, tác giả xây dựng mô hình bao gồm 2 biến phụ thuộc là: ROA, ROE, 1 biến độc lập là: FGAP và 09 biến kiểm soát là: CIR, LLR, SIZE, CAR, DEP, LOAN, INF, GDP, M2. Đồng thời, tác giả khái quát các phương pháp kiểm định và đưa ra một trình tự xử lý dữ liệu. Dựa trên các công thức tính các biến đã trình bày ở chương này cùng các phương pháp kiểm định đã lựa chọn, tác giả sẽ đi vào trình bày phân tích ở chương 4. Luận văn: PPNC Rủi ro thanh khoản và lợi nhuận ngân hàng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: KQNC Rủi ro thanh khoản và lợi nhuận ngân hàng

Pingback: Luận văn: Rủi ro thanh khoản và lợi nhuận ngân hàng