Luận văn: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng về chất lượng tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong – Chi Nhánh Bến Thành dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TIÊN PHONG CHI NHÁNH BẾN THÀNH

2.1.1. Quá trình hình thành của ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Tiên Phong (TPBank) chính thức đi vào hoạt động từ ngày 05/05/2009, với định hướng trở thành một tổ chức tài chính hoạt động minh bạch, hiệu quả và bền vững, hướng tới lợi ích tối ưu cho cả cổ đông và khách hàng. Ngân hàng được thành lập với sự kế thừa đáng kể từ các cổ đông lớn trong và ngoài nước, bao gồm Tập đoàn Vàng bạc Đá quý DOJI, Tập đoàn Công nghệ FPT, Công ty Tài chính Quốc tế (IFC), Tổng công ty Tái bảo hiểm Việt Nam (Vinare) và Tập đoàn Tài chính SBI Ven Holding Pte. Ltd., Singapore. Sự góp mặt của các đối tác này mang lại cho TPBank lợi thế về công nghệ hiện đại, kinh nghiệm thị trường và tiềm lực tài chính vững mạnh. TPBank tập trung phát triển các giải pháp và sản phẩm tài chính ngân hàng hiệu quả, đặc biệt hướng đến phân khúc khách hàng trẻ và năng động. Với mục tiêu dẫn đầu trong lĩnh vực Ngân hàng số, TPBank đã đầu tư mạnh mẽ vào hạ tầng công nghệ hiện đại và các giải pháp tiên tiến. Điều này đã dẫn đến sự ra đời của nhiều sản phẩm đột phá, tạo nên một hệ sinh thái ngân hàng số đa dạng và vượt trội tại Việt Nam. Các sản phẩm nổi bật có thể kể đến như:

  • LiveBank: Mô hình ngân hàng tự động hoạt động 24/7, mang lại sự tiện lợi tối đa cho khách hàng.
  • Savy: Ứng dụng tiết kiệm linh hoạt, giúp khách hàng quản lý và gia tăng tài sản hiệu quả.
  • QuickPay: Giải pháp thanh toán tiện lợi bằng mã QR code.
  • Ebank: Ứng dụng ngân hàng điện tử toàn diện, đáp ứng đa dạng nhu cầu giao dịch.

Đáng chú ý, TPBank đã thành công trong việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ học máy (Machine Learning) thông qua trợ lý ảo T’aio, cùng với các hệ thống nhận diện khách hàng bằng giọng nói và vân tay. Những đổi mới này đã củng cố vị thế của TPBank là một trong những nhà băng tiên phong về công nghệ số tại Việt Nam.

TPBank đã thu hút được sự quan tâm đáng kể từ các nhà đầu tư quốc tế, điển hình là Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) và Quỹ đầu tư Phần Lan PYN Elite Fund. Đây là minh chứng cho sự tin tưởng của thị trường vào tiềm năng và triển vọng của ngân hàng. Năm 2019 đánh dấu một cột mốc quan trọng khi TPBank niêm yết thành công 555 triệu cổ phiếu trên sàn chứng khoán TP. Hồ Chí Minh, khẳng định vị thế hoạt động ổn định và bền vững. TPBank cũng liên tục được các tổ chức uy tín trong và ngoài nước đánh giá cao, nhận về nhiều giải thưởng danh giá như: “Ngân hàng số sáng tạo nhất Việt Nam” và “Ngân hàng bán lẻ tốt nhất Việt Nam”. Cùng trong năm 2019, Hãng xếp hạng tín nhiệm Moody’s đã nâng mức xếp hạng tín nhiệm của TPBank lên B1 với triển vọng ổn định, phản ánh sự cải thiện về chất lượng tài sản và năng lực tài chính. TPBank cũng được tạp chí The Asian Banker bình chọn vào Top 10 Ngân hàng mạnh nhất Việt Nam và Top 500 Ngân hàng mạnh nhất Châu Á. Đặc biệt, tháng 11/2019, TPBank vinh dự nhận được Huân chương Lao động Hạng Ba do Đảng và Nhà nước trao tặng, ghi nhận những đóng góp và thành tựu xuất sắc của ngân hàng.

2.1.2. Quá trình hình thành của ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong chi nhánh Bến Thành Luận văn: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong (TPBank) chi nhánh Bến Thành tại số 385B Cách mạng Tháng Tám, Phường 13, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh bắt đầu hoạt động vào ngày 24/1/2015. Sau đó, được sự chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước tại công văn số 1224/CucII.4, kể từ ngày 08/7/2017, Ngân hàng TMCP Tiên Phong – Chi nhánh TPBank Bến Thành chính thức hoạt động tại địa chỉ mới số 180 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Xuân Hòa, TP. Hồ Chí Minh. Với trụ sở mới đặt trong toà nhà lớn, được bài trí khang trang, hiện đại, tọa lạc tại góc ngã tư Võ Văn Tần – Nam Kỳ Khởi Nghĩa sầm uất, giao thông thuận tiện, trụ sở mới của TPBank Bến Thành hứa hẹn sẽ mang đến cho khách hàng một không gian ngân hàng hiện đại, đa năng, đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, cùng các sản phẩm, dịch vụ chất lượng như dịch vụ gửi tiết kiệm, tín dụng, ngoại hối, thanh toán trong nước và quốc tế, dịch vụ ngân hàng điện tử,… TPBank Bến Thành đi vào hoạt động sẽ tiếp tục cung ứng cho thị trường những dịch vụ tài chính ngân hàng truyền thống và hiện đại với chất lượng tốt, góp phần vào việc xây dựng uy tín và thương hiệu TPBank với các khách hàng miền Nam.

2.1.3. Cơ cấu tổ chức

Dựa trên quy định của TPBank về cơ cấu nhân sự hoạt động của bộ máy, nên chi nhánh Bến Thành cơ cấu tổ chức được phân bổ theo chiều dọc như sau:

  • Hình 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức TPBank Bến Thành

Ban Lãnh đạo: Bao gồm Giám đốc và các Phó Giám đốc. Giám đốc là người đứng đầu TPBank Bến Thành, trực tiếp quản lý và điều hành chung về hoạt động kinh doanh của toàn chi nhánh, chịu trách nhiệm trước chủ tịch hội đồng quản trị và trước pháp luật về mọi hoạt động của Chi nhánh. Các Phó giám đốc được Giám đốc ủy quyền phụ trách các phòng chuyên môn nhất định. 01 Phó Giám đốc phụ trách Phòng Kế toán bao gồm các hoạt động liên quan kiểm soát về nghiệp vụ kế toán, giấy tờ sổ sách, kiểm toán – kiểm soát nội bộ và một số mảng thuộc Phòng Kinh doanh. 01 Phó Giám đốc phụ trách Phòng Dịch vụ bao gồm các hoạt động tư vấn, chăm sóc khách hàng, kinh doanh tại Phòng Dịch vụ và một số mảng thuộc Phòng Kinh doanh.

Phòng Dịch vụ: Thực hiện việc tư vấn các sản phẩm của chi nhánh đến khách hàng. Ngoài ra, thực hiện các hoạt động chăm sóc khách hàng trong quá trình sử dụng dịch vụ hay sản phẩm của Chi nhánh.

Phòng Kinh doanh: Xây dựng kế hoạch kinh doanh ngắn, trung và dài hạn theo định hướng kinh doanh của TPBank và phân giao chỉ tiêu kế hoạch đến từng bộ phận liên quan, định kỳ kiểm tra và đôn đốc các nhân viên thực hiện kế hoạch theo tiến độ. Trưởng phòng là người đứng đầu sẽ chịu trách nhiệm trong việc tổng hợp về các đề xuất kinh doanh cho chi nhánh, phân công và quản lý các hoạt động cụ thể để vận hành hoạt động kinh doanh. Ngoài ra, phòng kinh doanh còn thực hiện hoạt động bán hàng các sản phẩm dịch vụ liên quan đến tín dụng cho chi nhánh.

Phòng Kế toán: Thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến kế toán, giấy tờ sổ sách, kiểm toán – kiểm soát nội bộ, quản lý và xây dựng kế hoạch tài chính. Luận văn: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

2.1.4. Chức năng nhiệm vụ

Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và tổ chức tín dụng khác dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác; phát hành kỳ phiếu để huy động vốn của các tổ chức, cá nhân. Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn đối với các pháp nhân, cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp đáp ứng tất cả các nhu cầu vốn trừ những nhu cầu mà pháp luật cấm. Thực hiện nghiệp vụ cầm bảo lãnh bao gồm bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng và các loại bảo lãnh khác. Kinh doanh ngoại tệ. Thanh toán chuyển tiền nhanh trong nước và quốc tế qua mạng SWIFT. Thực hiện một số dịch vụ ngân hàng khác với chất lượng cao như: Chi trả kiều hối, thanh toán thẻ Master Card, Visa Card và các dịch vụ ngân hàng khác.

2.1.5. Tình hình hoạt động kinh doanh chung của ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong Chi nhánh Bến Thành giai đoạn 2022 – 2025

Trong giai đoạn 2022 – 2025 của TPBank Bến Thành nhìn chung các chỉ tiêu kinh doanh vẫn đạt được những sự tăng trưởng. Trong đó: Luận văn: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

  • Bảng 2.1: Tình hình chung các chỉ tiêu kinh doanh tại TPBank Bến Thành giai đoạn 2022 – 2025

Dựa trên bảng 2.1 ta thấy rằng tổng tài sản của TPBank Bến Thành về mặt giá trị tăng đều qua mỗi năm trong giai đoạn 2022 – 2025, với giá trị tổng tài sản tăng từ 5.124,35 tỷ đồng năm 2022 lên đến 6.503,25 tỷ đồng. Tương ứng với tốc độ tăng của năm 2022, 2023, 2024, 2025 lần lượt là 13,4%; 4% và 7,6%, điều này cho thấy có sự suy giảm trong tốc độ tăng trưởng tài sản của chi nhánh. Dấu hiệu này cho thấy những năm vừa qua với sự cạnh tranh khốc liệt của các Ngân hàng thương mại lân cận trong địa bàn cũng đã làm giảm đi khả năng tăng trưởng tài sản của chi nhánh.

Dư nợ cho vay của chi nhánh đối với các đối tượng từ tổ chức đến cá nhân cũng tăng đều qua mỗi năm từ năm 2022 – 2025. Với tổng dư nợ cho vay tăng từ 3.151,4 tỷ năm 2022 lên đến 4.426,45 tỷ đồng năm 2025. Tương ứng với tốc độ tăng lần lượt là 10,2%, 13,2% và 12,6%. Với tốc độ tăng trưởng này cho thấy chi nhánh luôn cố gắng duy trì mức tăng trưởng của hoạt động cho vay đều đặn mỗi năm, vì đây là hoạt động xương sống mang lại thu nhập lẫn nguồn lợi lớn nhất cho chi nhánh.

Với hoạt động huy động vốn thì nguồn huy động của chi nhánh chủ yếu đến từ tiền gửi tiết kiệm của các đối tượng khách hàng cá nhân và tổ chức trên địa bàn, chiếm hơn 90% trên tổng số huy động với khách hàng cá nhân chiếm đại đa số trên tổng nguồn vốn huy động được. Tổng nguồn vốn huy động tăng từ 4.852,18 tỷ năm 2022 tăng lên đến 5.703,63 tỷ đồng năm 2024. Trong đó tốc độ tăng trưởng của nguồn huy động từ tiền gửi tiết kiệm vào năm từ 2022 – 2024 lần lượt là 3%; 6,1%; 0,1% điều này cho thấy năm 2024 chi nhánh đã tích cực trong việc huy động tiền gửi từ khách hàng với các chương trình cạnh tranh về ưu đãi lãi suất, hay các liên kết thu hút khách hàng. Nhưng năm 2025 thì với tình hình chung do sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Nhà nước nên kênh huy động vốn từ tiền gửi của chi nhánh khó khăn hơn các năm trước đó nên tốc độ tăng trưởng sụt giảm.

Tổng thu nhập tại chi nhánh vẫn tăng từ năm 2022 – 2024 từ 386,6 tỷ lên đến 544,5 tỷ. Tương ứng tốc độ tăng tưởng đều đặn qua các năm lần lượt là 10,9%; 12,8%; 12,6%. Điều này cho thấy với mọi hoàn cảnh khách quan thì chi nhánh vẫn cố gắng duy trì tốc độ tăng trưởng với thu nhập, thông qua việc tập trung cho chiến lược đa dạng hóa để có thể tận dụng mọi nguồn thu và bù đắp cho nhau. Cụ thể năm 2023 thì tốc độ tăng trưởng lãi từ tín dụng giảm so với năm 2022 nhưng thu nhập từ dịch vụ và thu nhập khác lại tăng lên. Trong giai đoạn sau đó, khi thị trường có sự cải thiện sau Covid 19 thì hoạt động cho vay lại tăng trưởng trở lại thì các hoạt động khác được điều chỉnh để duy trì tăng trưởng nhưng vẫn đảm bảo sự tập trung hóa.

Về mặt chi phí thì giai đoạn 2022 – 2025, chi cho các hoạt động vận hành của chi nhánh tăng đều tại mỗi năm với tổng giá trị từ 236,9 tỷ tăng đến 256,4 tỷ. Trong đó, chi phí dự phòng Rủi ro tín dụng cũng tăng qua các năm, đặc biệt năm 2024 tăng 45,6% so với năm 2023 đây là hệ quả của giai đoạn đại dịch Covid 19 để lại cho chi nhánh. Đối với lợi nhuận thì từ năm 2022 – 2025 thì vẫn tăng năm 2023 thì tăng 36,3% nhưng năm 2024 lại giảm chỉ còn tăng 21,8% so với năm 2023 và đến năm 2025 tăng 22,9% so với năm 2024, nguyên nhân bước đầu được xác định do chi phí hoạt động tăng cao và dự phòng Rủi ro tín dụng cũng có phần gia tăng so với các năm trước đó.

2.2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TIÊN PHONG CHI NHÁNH BẾN THÀNH GIAI ĐOẠN 2022 – 2025 Luận văn: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

Dựa trên quy định của Ngân hàng Nhà nước và quy trình chung về hoạt động cho vay của TPBank Bến Thành thì tại chi nhánh thiết kế quy trình như sau:

  • Hình 2.2: Sơ đồ quy trình cho vay tại TPBank Bến Thành

Tìm kiếm tiếp cận nhu cầu khách hàng: Bước đầu trong công tác cấp tín dụng, cán bộ khách hàng cần tự xây dựng tệp thông tin khách hàng bằng cách tiếp thị, tìm kiếm khách hàng, thuyết phục khách hàng sử dụng dịch vụ vay vốn tại TPBank Bến Thành. Cán bộ khách hàng tìm hiểu nhu cầu của khách hàng vay bao nhiêu, thời gian bao lâu, mục đích vay, tài sản bảo đảm, nguồn trả nợ đến từ đâu.

Hướng dẫn khách hàng chuẩn bị hồ sơ vay: Các hồ sơ KHCN cần cung cấp gồm có giấy tờ chứng minh nhân thân; giấy tờ chứng minh thu nhập; giấy tờ chứng minh tài sản bảo đảm; giấy tờ chứng minh mục đích vay; giấy tờ liên quan đến tình trạng tín dụng; giấy tờ bổ sung (bảo hiểm, giấy tờ về các khoản vay khác); đơn đề nghị vay vốn.

Thẩm định hồ sơ: Sau khi thu thập đủ thông tin về nhu cầu vay vốn của khách hàng, cán bộ thẩm định cho vay KHCN tại Phòng Khách hàng xem xét các hồ sơ do khách hàng cung cấp, rà soát thông tin, đánh giá nhu cầu, phương án vay, mục đích sử dụng vốn vay. Cán bộ thẩm định dùng các nghiệp vụ phân tích, định giá, đánh giá để đối chiếu, xác minh từ đó đưa ra đề xuất tín dụng phù hợp với nhu cầu của khách hàng và quy định của TPBank Bến Thành. Các kết quả thẩm định và các đề xuất tín dụng được thể hiện trong báo cáo thẩm định tín dụng. Luận văn: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

Trình phê duyệt khoản vay: Sau khi hoàn thành thẩm định, cán bộ thẩm định chuyển hồ sơ cho quản lý thẩm định/lãnh đạo Phòng Khách hàng rà soát, cho ý kiến. Nếu khách hàng đủ các điều kiện để cho vay, cán bộ thẩm định chuyển hồ sơ trình cấp thẩm quyền phê duyệt. Cấp phê duyệt đối với các KHCN tại Phòng Khách hàng được phân chia như sau: Đối với KHCN có Giới hạn tín dụng đề xuất dưới 500 triệu đồng: Thẩm quyền phê duyệt là Giám đốc Chi nhánh; Đối với KHCN có Giới hạn tín dụng đề xuất từ trên 500 triệu đồng đến dưới 5 tỷ: Thẩm quyền phê duyệt là Hội đồng tín dụng cơ sở; Đối với KHCN có Giới hạn tín dụng đề xuất trên 5 tỷ đồng: Thẩm quyền phê duyệt là Chuyên gia phê duyệt tín dụng thuộc hội sở chính. Trên cơ sở hồ sơ và các thông tin do cán bộ thẩm định và lãnh đạo Phòng Khách hàng, lãnh đạo Chi nhánh đề xuất, cấp có thẩm quyền sẽ tiến hành phê duyệt Giới hạn tín dụng cho khách hàng. Sau khi Giới hạn tín dụng của khách hàng đã được phê duyệt, cán bộ thẩm định tiếp tục trình Giám đốc chi nhánh quyết định cấp tín dụng theo sản phẩm cho khách hàng, sau đó tiến hành thương thảo, soạn hợp đồng cho khách hàng ký.

Giải ngân vốn vay: Sau khi Giới hạn tín dụng và các sản phẩm cấp tín dụng đã được phê duyệt, cán bộ thẩm định tín dụng chuyển toàn bộ hồ sơ cho cán bộ khách hàng xem xét, hướng dẫn khách hàng thủ tục, chuẩn bị hồ sơ nhận nợ vay.

Kiểm soát sau cho vay: Sau khi vốn vay đã được giải ngân, cán bộ thẩm định và cán bộ quan hệ khách hàng phối hợp theo dõi tình hình sử dụng vốn vay của khách hàng, đánh giá việc sử dụng tiền giải ngân có đúng mục đích hay không, hiệu quả của phương án sử dụng vốn vay. Kết hợp với việc thu thập số liệu tài chính để đối chiếu, sau đó lập biên bản kiểm tra sử dụng vốn vay chuyển cho đại diện khách hàng và đại diện TPBank ký xác nhận.

Thu hồi nợ, xử lý khoản vay: Sau khi kiểm tra sử dụng vốn vay, cán bộ khách hàng theo dõi dòng tiền từ phương án sản xuất kinh doanh, theo dõi, nhắc nhở khách hàng các khoản vay sắp đến hạn/đến hạn để khách hàng sắp xếp nguồn tiền trả nợ. Trường hợp nguồn trả nợ được đảm bảo, cán bộ khách hàng tiến hành thu nợ trước hạn (theo yêu cầu của khách hàng), hoặc thu nợ đến hạn/quá hạn. Trường hợp nguồn trả nợ không được đảm bảo, cán bộ khách hàng báo cáo cấp trên xin ý kiến chỉ đạo và thực hiện các biện pháp thu hồi nợ khác theo đúng quy định. Luận văn: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

Quy trình cho vay được trình bày trong sơ đồ bao gồm các giai đoạn cốt lõi, từ việc tiếp cận nhu cầu khách hàng đến xử lý nợ. Tuy nhiên, việc thiếu vắng các chi tiết cụ thể trong mỗi bước có thể dẫn đến một số hạn chế đáng kể, ảnh hưởng đến hiệu quả, tốc độ xử lý và khả năng quản lý rủi ro của hoạt động cấp tín dụng. Trước tiên, trong giai đoạn tìm kiếm, tiếp cận nhu cầu khách hàng, sơ đồ chưa làm rõ phương pháp thực hiện, có thể ngụ ý một cách tiếp cận tương đối thụ động hoặc dàn trải. Nếu ngân hàng chỉ dựa vào việc khách hàng tự tìm đến hoặc các kênh tiếp thị truyền thống, có nguy cơ bỏ lỡ các phân khúc khách hàng tiềm năng lớn và đa dạng, đặc biệt là trong bối cảnh thị trường số hóa hiện nay. Hơn nữa, việc thiếu một bước sàng lọc và phân loại sơ bộ khách hàng ngay từ đầu có thể dẫn đến việc tiếp nhận và xử lý một lượng lớn hồ sơ không phù hợp, gây lãng phí thời gian và nguồn lực cho các giai đoạn tiếp theo.

Hạn chế tiếp theo thể hiện rõ trong khâu hướng dẫn khách hàng chuẩn bị hồ sơ. Việc chỉ đơn thuần “hướng dẫn” có thể không đủ để đảm bảo chất lượng hồ sơ được cung cấp. Khách hàng, đặc biệt là những người không am hiểu về quy trình tài chính, có thể dễ dàng cung cấp thông tin thiếu sót, không chính xác hoặc không đầy đủ. Điều này không chỉ kéo dài thời gian xử lý do yêu cầu bổ sung nhiều lần, gây phiền hà cho khách hàng, mà còn gia tăng khối lượng công việc cho cán bộ tín dụng, làm chậm trễ toàn bộ quy trình.

Giai đoạn thẩm định hồ sơ trong sơ đồ cũng bộc lộ những điểm chưa rõ ràng. Nếu quy trình thẩm định vẫn chủ yếu dựa vào phương pháp thủ công, sẽ tiềm ẩn rủi ro về mặt thời gian và khả năng xảy ra sai sót chủ quan, hoặc thậm chí bỏ sót các rủi ro tín dụng tiềm ẩn do không tận dụng được sức mạnh của công nghệ phân tích dữ liệu lớn. Sơ đồ không chỉ ra sự tham gia của các cấp độ thẩm định khác nhau, cơ chế kiểm tra chéo hay việc áp dụng các tiêu chí đánh giá rủi ro linh hoạt, điều này có thể ảnh hưởng đến tính khách quan và toàn diện của quyết định tín dụng.

Về khâu trình phê duyệt khoản vay, một hạn chế tiềm ẩn là nguy cơ tập trung quyền lực phê duyệt vào một số ít cá nhân hoặc bộ phận mà không có cơ chế phân cấp rõ ràng hoặc quy định thời gian cụ thể. Điều này dễ dẫn đến tình trạng tắc nghẽn hồ sơ, kéo dài thời gian chờ đợi của khách hàng và làm giảm lợi thế cạnh tranh của ngân hàng. Hơn nữa, sự thiếu minh bạch trong tiêu chí và cơ sở ra quyết định phê duyệt có thể tạo ra rủi ro về đạo đức và làm giảm niềm tin của khách hàng vào quy trình.

Cuối cùng, các bước giải ngân vốn vay, kiểm soát sau cho vay và thu hồi nợ, xử lý khoản vay cũng tiềm ẩn nhiều thách thức. Việc chỉ thể hiện “giải ngân” mà không có cơ chế kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng vốn đúng mục đích có thể dẫn đến rủi ro sử dụng vốn sai mục đích, gây khó khăn cho việc thu hồi nợ. “Kiểm soát sau cho vay” nếu không được hỗ trợ bởi hệ thống cảnh báo sớm và theo dõi tự động sẽ trở nên bị động, chỉ phát hiện vấn đề khi đã quá muộn. Tương tự, “thu hồi nợ, xử lý khoản vay” cần một quy trình linh hoạt, đa dạng công cụ và được hỗ trợ bởi công nghệ để đảm bảo hiệu quả, tránh gia tăng tỷ lệ nợ xấu và chi phí xử lý. Quan trọng hơn, toàn bộ sơ đồ thiếu một vòng lặp phản hồi từ các giai đoạn sau (đặc biệt là quản lý nợ xấu) trở lại các giai đoạn đầu (tìm kiếm, thẩm định), điều này có thể khiến ngân hàng không học hỏi và tối ưu hóa được quy trình của mình theo thời gian, lặp lại các sai lầm hoặc không cải thiện được chất lượng khách hàng và chính sách cho vay.

2.2.1. Phân loại cấp tín dụng theo kỳ hạn Luận văn: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

Để đánh giá tình hình chung của hoạt động tín dụng tại TBBank Bến Thành giai đoạn 2022 – 2025 thì cần xem xét dư nợ tín dụng thông qua các sự phân loại theo các tiêu chí như sau:

  • Bảng 2.2: Phân loại cấp tín dụng theo kỳ hạn cho vay tại TPBank Bến Thành giai đoạn 2022 – 2025

Tổng “dư nợ cho vay của TPBank Bến Thành có xu hướng tăng trưởng hàng năm trong giai đoạn 2022 – 2025. Đây là hoạt động chính yếu mang lại lợi nhuận và xương sống để cho chi nhánh thực hiện chức năng trung gian tài chính, do đó việc gia tăng dư nợ là yêu cầu tất yếu của chi nhánh.

  • Hình 2.3: Biểu đồ thể hiện sự tăng trưởng của dư nợ cho vay theo các loại kỳ hạn của TPBank Bến Thành giai đoạn 2022 – 2025

Nợ ngắn hạn vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất hàng năm (chiếm từ 44% đến gần 60% tổng dư nợ), điều này cho thấy các khoản cho vay của TPBank với các đối tượng khách hàng có thời hạn thanh toán dưới 12 tháng để bổ sung vốn lưu động. Năm 2023 so với năm 2022 có tốc độ tăng trưởng cao nhất là 30,8%, trong khi năm 2024 so với năm 2023 là 17,8% và đến năm 2025 thì tốc độ tăng so với năm 2024 là 20,3%. Trong giai đoạn này với năm 2022 – 2023 thì các đối tượng khách hàng cần nguồn vốn lưu động liên tục để mở rộng sản xuất kinh doanh do tình hình COVID-19 gây khó khăn cho các hoạt động kinh doanh, nên nhu cầu vay ngắn hạn cũng tăng cao hơn so với các kỳ hạn khác. Luận văn: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

Từ năm 2022 – 2025 nợ trung – dài hạn thì có những sự thay đổi. Năm 2023 nợ trung hạn tăng 64,2% so với năm 2022, năm 2024 thì nợ trung hạn có tốc độ tăng là 5,7% so với năm 2023, nhưng năm 2025 thì tốc độ tăng là 44,3%. Tuy nhiên giá trị dư nợ của trung hạn chiếm chưa đến 10% tổng dư nợ, cho thấy các khoản vay trung hạn không được chi nhánh tập trung nhiều. Các khoản nợ trung hạn chủ yếu dành cho các doanh nghiệp đầu tư vào các tài sản có tính lưu động nhanh và các cá nhân vay để mua phương tiện đi lại.

Đối với các khoản vay dài hạn thì tại chi nhánh qua các năm có xu hướng giảm về tốc độ tăng trưởng. Trong đó năm 2023 giảm 14,3% so với năm 2022, đến năm 2024 giảm 12% so với năm 2023, nhưng đến năm 2025 lại tăng 16,4% so với năm 2024. Chứng tỏ, các khoản ngắn hạn vẫn chiếm ưu thế tại chi nhánh này, do đó việc thanh toán của khách hàng gặp nhiều khó khăn. Do đó, việc ngắn hạn được ưu tiên tại chi nhánh sẽ tạo ra áp lực thanh toán liên tục cho khách hàng và dẫn đến Rủi ro tín dụng cũng gia tăng theo. Mặt khác, giai đoạn gần đây các khoản dài hạn phục vụ cho các khoản vay tiêu dùng của khách hàng cá nhân khi mua sắm bất động sản, nhà ở,… trở nên phổ biến nên các khoản dài hạn có xu hướng tăng trong những năm tiếp theo.

2.2.2. Phân loại cấp tín dụng theo tài sản đảm bảo

Từ năm 2022 – 2025 thì TPBank Bến Thành vẫn cho khách hàng vay theo hai hình thức là có và không có Tài sản đảm bảo. Với hình thức cho vay có Tài sản đảm bảo thì chi nhánh vẫn tuân theo quy trình định giá Tài sản đảm bảo kết hợp với phương án trả nợ của khách hàng để tiến hành định ra mức cấp tín dụng. Đối với không Tài sản đảm bảo thì thường là các khoản vay tín chấp, vay qua thẻ hay các trường hợp đặc biệt khác.

  • Bảng 2.3: Phân loại cấp tín dụng theo đối tượng Tài sản đảm bảo tại TPBank Bến Thành giai đoạn 2022 – 2025

Dựa trên kết quả bảng 2.3 ta có thể thấy tại TPBank Bến Thành giai đoạn 2022 – 2025 thì đại đa số với dư nợ cho vay thì chi nhánh đều chọn phương án an toàn thông qua việc đều cho vay có Tài sản đảm bảo, dư nợ cho vay có Tài sản đảm bảo đều chiếm trên 75% trên tổng dư nợ cho vay của toàn chi nhánh. Ngoài ra, từ năm 2022 – 2025 thì tỷ trọng cho vay có Tài sản đảm bảo tăng từ 75,25% lên đến 82,32%. Điều này dẫn đến các khoản vay không có Tài sản đảm bảo hay tín chấp tại chi nhánh có xu hướng giảm qua các năm từ 2022 – 2025. Đây được xem là bước phòng ngừa cho rủi ro tín dụng có thể xảy ra.

2.2.3. Phân loại cấp tín dụng theo đối tượng khách hàng Luận văn: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

TPBank Bến Thành thì ngoài tiêu chí kỳ hạn vay thì còn chia theo đối tượng khách hàng, trong đó có các tổ chức kinh tế thường là tín dụng bán buôn, còn đối với khách hàng cá nhân thì là tín dụng bán lẻ.

  • Bảng 2.4: Phân loại cấp tín dụng theo đối tượng khách hàng tại TPBank Bến Thành giai đoạn 2022 – 2025

Dựa trên bảng 2.4 ta có thể thấy đối tượng được TPBank Bến Thành chủ yếu tập trung cho vay vẫn là các tổ chức kinh tế, chiếm hơn 55% tổng dư nợ và tăng trưởng đều qua mỗi năm. Cho vay đối với khách hàng cá nhân tuy chiếm tỷ trọng không đa số nhưng vẫn tăng trưởng đều qua mỗi năm. “Điều này có thể dễ dàng lý giải vì khi cho vay với các tổ chức kinh tế, họ là các đối tượng pháp nhân và các giấy tờ có thể dễ dàng được chứng thực với các cơ quan liên quan như thuế và kiểm toán, điều này sẽ hạn chế Rủi ro tín dụng.”

  • Hình 2.4: Biểu đồ thể hiện sự tăng trưởng của dư nợ cho vay theo khách hàng của TPBank Bến Thành giai đoạn 2022 – 2025

Tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay đối với khách hàng là các tổ chức doanh nghiệp tăng trưởng lần lượt tại tại các năm 2023 đến 2025 là 11,03%; 6,55%; 5,49%. Có thể nói mặc dù dư nợ đối với khách hàng doanh nghiệp gia tăng, nhưng tốc độ tăng trưởng các năm sau vẫn không cao như năm trước, điều này cho thấy sự cạnh tranh rất lớn chi nhánh với các đối thủ khác. Mặt khác, rủi ro cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp cũng cao hơn vì giá trị dư nợ lớn, do đó chi nhánh cũng tăng trưởng dư nợ thận trọng hơn. Nên để bù đắp lại cho tình hình đó thì việc tăng trưởng dư nợ đối với khách hàng cá nhân có phần cao hơn do đó tăng trưởng qua các năm 2023 đến 2025 lần lượt là 11,03%; 26,13%; 24,2%. Mặt khác, đối tượng khách hàng cá nhân là một trong những điều kiện mà chi nhánh tập trung để mở rộng và tái cơ cấu tín dụng.

2.3. THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TIÊN PHONG CHI NHÁNH BẾN THÀNH GIAI ĐOẠN 2022 – 2025

2.3.1. Thực trạng nợ quá hạn và nợ xấu Luận văn: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

Đối với tiêu chí nợ quá hạn thì tại TPBank Bến Thành tập trung vào các nhóm nợ chính đó là nợ đủ tiêu chuẩn, nợ cần chú ý, nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn và nợ cho vay được khoanh vùng chờ xử lý.

  • Bảng 2.5: Tỷ trọng các nhóm nợ quá hạn và nợ xấu tại TPBank Bến Thành giai đoạn từ 2022 – 2025

Điểm tương đồng qua các năm thì nợ đủ tiêu chuẩn tại TPBank Bến Thành vẫn chiếm trên 90%. Do đó, bước đầu đánh giá hoạt động tín dụng và Rủi ro tín dụng tại chi nhánh vẫn nằm trong tầm kiểm soát. Vì có thể thấy đa phần các khoản cấp tín dụng tại chi nhánh vẫn chủ yếu là các khoản được đảm bảo bằng TSCĐ nên rủi ro có phần được hạn chế hơn. khoản vay, cũng như giá trị trích lập dự phòng Rủi ro tín dụng tại chi nhánh.

  • Hình 2.5: Tỷ trọng các nhóm nợ quá hạn tại TPBank Bến Thành giai đoạn từ năm 2022 – 2025

Tình hình chất lượng tín dụng tại TPBank Bến Thành trong giai đoạn 2022 – 2025 đã phản ánh rõ nét những ảnh hưởng kéo dài của đại dịch Covid-19 và các biến động kinh tế vĩ mô. Điều này được thể hiện qua sự thay đổi đáng kể trong tỷ trọng của các nhóm nợ, đặc biệt là sự gia tăng của các nhóm nợ có rủi ro cao. Cụ thể, nợ đủ tiêu chuẩn (nợ nhóm 1), vốn được xem là nhóm nợ an toàn nhất, đã chứng kiến sự suy giảm về tỷ trọng từ 95,13% vào năm 2022 xuống còn 94,25% vào năm 2025. Sự dịch chuyển này cho thấy một phần các khoản vay ban đầu có chất lượng tốt đang dần chuyển sang các nhóm có rủi ro cao hơn. Điều này đặc biệt được củng cố khi nợ cần chú ý (nợ nhóm 2) có xu hướng gia tăng liên tục trong giai đoạn 2022 – 2025, từ 1,64% lên đến 1,89%. Đáng chú ý, năm 2024 ghi nhận tỷ trọng nợ cần chú ý tăng đột biến lên đến 2,89%. Đây là một tín hiệu đáng báo động đối với chi nhánh, vì năm 2024 là giai đoạn hậu giãn cách xã hội, nơi các khó khăn kinh tế sau đại dịch bắt đầu tác động mạnh mẽ, khiến nhiều khoản vay có dấu hiệu hình thành nguy cơ mất khả năng trả nợ.

Đối với các nhóm nợ có mức độ rủi ro cao hơn, nợ dưới tiêu chuẩn (nợ nhóm 3) cho thấy xu hướng được kiểm soát khá tốt trong giai đoạn 2022 – 2024, với tỷ trọng duy trì dưới mức 2% và giảm đều qua các năm, từ 1,33% năm 2022 xuống 1,26% vào năm 2025. Tuy nhiên, tình hình trở nên nghiêm trọng hơn ở hai nhóm nợ xấu điển hình và nguy hiểm nhất là nợ nghi ngờ (nợ nhóm 4) và nợ có khả năng mất vốn (nợ nhóm 5). Tỷ trọng của nợ nghi ngờ tại chi nhánh đã gia tăng từ 0,85% lên đến 1,12% trong giai đoạn này. Song song đó, nợ có khả năng mất vốn cũng tăng mạnh từ 1,05% lên đến 1,48%. Nhìn chung, tổng tỷ trọng của các nhóm nợ rủi ro cao (nhóm 3, 4, 5) đã tăng từ 3,23% vào năm 2022 lên 3,86% vào năm 2025, vượt mức 2% và cho thấy một sự leo thang đáng ngại về rủi ro tín dụng. Luận văn: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

Tỷ lệ nợ quá hạn của TPBank Bến Thành giai đoạn 2022 – 2025 cho thấy một xu hướng biến động. Bắt đầu từ 4,87%, tỷ lệ này tăng lên 5,44% và tiếp tục lên 6,56%. Đây là một sự gia tăng đáng kể, cho thấy có nhiều khoản vay không được thanh toán đúng hạn hơn trong giai đoạn này. Tuy nhiên, ở mốc thời gian cuối cùng, tỷ lệ này đã giảm xuống 5,75%. Mặc dù có sự cải thiện so với mức đỉnh 6,56%, nhưng nó vẫn cao hơn so với mức ban đầu là 4,87% và 5,44%. Điều này có thể cho thấy những nỗ lực nhất định trong việc quản lý nợ quá hạn đã được thực hiện, nhưng tình hình vẫn cần được theo dõi chặt chẽ. Tỷ lệ nợ xấu tại TPBank Bến Thành giai đoạn 2022 – 2025 cho thấy một xu hướng tăng trưởng liên tục và đáng lo ngại. Khởi điểm từ 3,23%, tỷ lệ này dần tăng lên 3,54%, 3,67% và cuối cùng là 3,86%. Sự tăng trưởng đều đặn của tỷ lệ nợ xấu cho thấy một vấn đề tiềm ẩn về chất lượng tài sản có của TPBank Bến Thành. Nợ xấu tăng lên đồng nghĩa với việc rủi ro tín dụng cao hơn, khả năng thu hồi vốn khó khăn hơn và có thể dẫn đến việc phải trích lập dự phòng lớn hơn, ảnh hưởng đến lợi nhuận và sức khỏe tài chính tổng thể.

  • Hình 2.6: Tốc độ tăng tưởng của nợ xấu tại TPBank Bến Thành giai đoạn từ 2022 – 2025

Dựa trên kết quả hình 2.5 ta có thể thấy tỷ lệ nợ quá hạn, giai đoạn Năm 2023/2022 chứng kiến mức tăng 11,70%, cho thấy sự gia tăng đáng kể của các khoản nợ không được thanh toán đúng hạn. Xu hướng này tiếp tục trầm trọng hơn trong giai đoạn Năm 2024/2023, khi tỷ lệ này tăng vọt lên mức cao nhất là 20,59%. Điều này phản ánh một thách thức lớn trong việc kiểm soát các khoản nợ mới phát sinh tình trạng quá hạn. Tuy nhiên, tình hình đã có sự cải thiện rõ rệt trong giai đoạn Năm 2025/2024, với tỷ lệ nợ quá hạn giảm mạnh -12,35%. Sự sụt giảm này có thể là kết quả của các nỗ lực quyết liệt trong công tác thu hồi hoặc tái cơ cấu nợ, hoặc sự phục hồi nhất định trong khả năng thanh toán của KHCN.

Trong khi đó, diễn biến của tỷ lệ nợ xấu lại theo một quỹ đạo khác. Giai đoạn Năm 2023/2022, tỷ lệ nợ xấu tăng 9,75%, cho thấy áp lực về chất lượng tài sản. Đến giai đoạn Năm 2024/2023, tốc độ tăng trưởng của nợ xấu chậm lại đáng kể, chỉ còn 3,53%, mặc dù nợ quá hạn lại tăng rất cao. Điều này có thể được giải thích bằng các biện pháp chủ động xử lý nợ xấu hoặc việc các khoản nợ quá hạn chưa kịp thời chuyển thành nợ xấu trong kỳ. Tuy nhiên, trong giai đoạn Năm 2025/2024, tỷ lệ nợ xấu lại tăng trở lại mức 5,18%, cho thấy rằng dù nợ quá hạn đã giảm, một phần các khoản nợ rủi ro đã thực sự chuyển sang nhóm nợ xấu, đặt ra thách thức liên tục trong việc quản lý và kiểm soát chất lượng danh mục tín dụng. Luận văn: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

Tình hình tài chính tại TPBank Bến Thành đang cho thấy những ảnh hưởng kéo dài của đại dịch Covid 19 và các biến động kinh tế tiêu cực, đặc biệt là sự gia tăng của nợ xấu. Mặc dù chi nhánh đã nỗ lực kiểm soát các khoản nợ đủ tiêu chuẩn và nhận thấy chúng có dấu hiệu suy giảm, một điểm đáng lo ngại là nợ có khả năng mất vốn đang gia tăng nhanh chóng. Giai đoạn từ năm 2022 đến cuối năm 2023, đại dịch Covid 19 đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng và sâu rộng, ảnh hưởng tiêu cực đến mọi lĩnh vực của đời sống và kinh tế. Nhiều ngành nghề tại Việt Nam và trên toàn cầu đã đối mặt với khủng hoảng nghiêm trọng, dẫn đến khó khăn tài chính cho doanh nghiệp và cá nhân. Tình hình này trực tiếp tác động đến khả năng trả nợ của khách hàng, gây ra suy giảm chất lượng tín dụng tại TPBank Bến Thành nói riêng và hệ thống ngân hàng nói chung.

Giai đoạn từ năm 2022 đến cuối năm 2023, đại dịch Covid 19 đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng và sâu rộng, ảnh hưởng tiêu cực đến mọi lĩnh vực của đời sống và kinh tế. Nhiều ngành nghề tại Việt Nam và trên toàn cầu đã đối mặt với khủng hoảng nghiêm trọng, dẫn đến khó khăn tài chính cho doanh nghiệp và cá nhân. Tình hình này trực tiếp tác động đến khả năng trả nợ của khách hàng, gây ra suy giảm chất lượng tín dụng tại TPBank Bến Thành nói riêng và hệ thống ngân hàng nói chung. Nếu các khoản nợ có khả năng mất vốn không thể thu hồi được, chi nhánh sẽ phải tiến hành xử lý, dẫn đến tài sản bị suy giảm. Đồng thời, các chi phí liên quan đến quá trình xử lý nợ (như chi phí pháp lý, chi phí phát mãi tài sản) sẽ gia tăng trên bảng cân đối kế toán, gây áp lực lên hiệu quả hoạt động và cấu trúc tài chính của chi nhánh.

Không chỉ dừng lại vào năm 2023, mà nó còn kéo dài và leo thang vào năm 2024, các chính sách của quốc gia khó được vận hành tốt như dự kiến, thị trường chứng khoán lao dốc, các doanh nghiệp hoạt động, các ngành kinh tế khác gặp khó khăn,… Từ đó, dẫn tới các đối tượng khách hàng doanh nghiệp và cá nhân làm ăn kinh doanh thua lỗ thậm chí là phá sản, hệ lụy tiếp theo là mất khả năng trả nợ cho ngân hàng dẫn đến nợ xấu của chi nhánh tăng cao. Ngoài những giá trị cụ thể của các nhóm nợ thì để xem xét chất lượng tín dụng thì cần tập trung đến mức độ tăng trưởng của các nhóm nợ này qua mỗi năm tại chi nhánh, để cho thấy mức độ gia tăng và có những sự cảnh báo cho chi nhánh trong xu hướng sắp tới. Xem xét mức độ gia tăng này là một trong những cơ sở để chi nhánh đánh giá lại các khoản vay quá hạn cần được kiểm soát, tái cơ cấu khoản vay và xem xét lại các đối tượng khách hàng hiện tại nhằm có phương án đối phó.

2.3.2. Thực trạng dự phòng rủi ro tín dụng Luận văn: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

Dự phòng Rủi ro tín dụng tại TPBank Bến Thành có hai loại chính là dự phòng cụ thể và dự phòng chung.

  • Bảng 2.6: Tình hình trích lập dự phòng Rủi ro tín dụng tại TPBank Bến Thành giai đoạn từ 2022 – 2025

Theo số liệu thống kê từ bảng 2.6 thì tỷ lệ trích lập này tại chi nhánh đang có xu hướng gia tăng đáng kể. Trong đó dự phòng cụ thể tăng từ 50,77 tỷ đồng năm 2022 tăng đến 66,16 tỷ đồng năm 2025. Dự phòng chung tăng từ 51,02 tỷ năm 2022 lên đến 104,7 tỷ năm 2025. Mặt khác, tỷ trọng của dự phòng chung luôn chiếm 50% trên tổng số dự phòng rủi ro tín dụng của chi nhánh và tăng nhanh trong 2 năm 2024 – 2025.

  • Bảng 2.7: Tốc độ tăng của tỷ lệ dự phòng Rủi ro tín dụng tại TPBank Bến Thành giai đoạn từ 2022 – 2025

Dựa trên kết quả bảng 2.7 ta có thể thấy đối với tỷ lệ trích lập dự phòng Rủi ro tín dụng trong giai đoạn 2022 – 2025 có gia tăng về mặt giá trị nhưng tốc độ tăng trưởng thì có sự khống chế. Cụ thể, dự phòng chung thì tốc độ tăng năm 2023 so với năm 2022 là 27,14%, năm 2024 so với năm 2023 là 32,26% nhưng đến năm 2025 hạ xuống còn 22,05%.

Nhưng dự phòng cụ thể thì năm 2023 so với năm 2022 tăng 14,76%, năm 2024 so với năm 2023 chỉ tăng có 0,43% nhưng đến năm 2025 thì lại tăng 13,06% so với năm 2024. Điều này phù hợp với hoàn cảnh ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch Covid 19 đến chi nhánh.

Đặc biệt tình hình nợ có khả năng mất vốn tại chi nhánh đang có xu hướng tăng cao. So sánh với tình hình lợi nhuận của chi nhánh cũng có phần giảm sút, do chi phí dự phòng Rủi ro tín dụng tăng cao cũng sẽ kéo theo một vài chi phí hoạt động liên quan đến xử lý nợ xấu cũng tăng lên theo. Đây là tình trạng đáng báo động tại chi nhánh với chất lượng tín dụng đang suy giảm.

2.3.3. Thực trạng thu lãi từ tín dụng

Trong các nguồn thu tại chi nhánh hiện nay bao gồm ba nguồn chính đó là từ hoạt động tín dụng, hoạt động dịch vụ và các hoạt động khác. Trong đó: Luận văn: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

  • Bảng 2.8: Tình hình thu lãi từ hoạt động tín dụng của TPBank Bến Thành giai đoạn từ 2022 – 2025

Dựa trên kết quả bảng 2.8 ta có thể thấy thu nhập nhập thuần từ lãi tín dụng qua mỗi năm đều chiếm tỷ trọng rất cao tại chi nhánh và từ 2022 – 2025 đều chiếm trên 60%, trong đó năm 2025 chiếm 68,6% trên tổng thu nhập của chi nhánh. Điều này cho thấy hiện nay đối với TPBank Bến Thành thì hoạt động tín dụng vẫn được xem là chủ lực trong việc đem lại thu nhập cho toàn bộ chi nhánh và các hoạt động thu từ dịch vụ hay hoạt động khác chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ chứ không quá lớn.

  • Hình 2.7: Tốc độ tăng của thu nhập lãi từ tín dụng tại TPBank Bến Thành giai đoạn từ 2022 – 2025

Mặc dù gặp những khó khăn nhất định trong điều kiện kinh tế thị trường, hay đại dịch Covid 19 và tình hình bất động sản có những cản trở nhất định. Nhưng nhìn chung thì tại TPBank Bến Thành thì thu nhập từ lãi tín dụng qua mỗi năm từ 2022 – 2025 vẫn có xu hướng tăng trưởng, tốc độ tăng năm 2023 so với năm 2022 là -3,79%, đến năm 2024 so với năm 2023 là 29,55% và đến năm 2025 thì tốc độ tăng so với năm 2024 vẫn là 23,01%. Tuy nhiên, trong giai đoạn này thì năm 2023 so với năm 2022 thì thu lãi từ tín dụng giảm 3,79% do đại dịch Covid 19 làm cho việc trả nợ của các nhóm khách hàng có phần chậm chạp và gặp nhiều hạn chế. Nhìn chung, thì tốc độ tăng trưởng trong việc thu lãi từ tín dụng của chi nhánh vẫn đảm bảo.

2.3.4. Hoạt động quản trị rủi ro tín dụng Luận văn: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

2.3.4.1. Hệ thống xếp hạng tín dụng

Tại TPBank, hệ thống Xếp hạng tín dụng nội bộ đóng vai trò là một công cụ thiết yếu để đo lường và đánh giá Rủi ro tín dụng của khách hàng. Mô hình này được thiết kế để định lượng khả năng và xác suất khách hàng không thực hiện được các cam kết tín dụng của mình. Hệ thống Xếp hạng tín dụng tại TPBank được xây dựng dựa trên sự kết hợp của các bộ chỉ tiêu tài chính và phi tài chính, áp dụng phương pháp thống kê cùng với ý kiến chuyên gia. Điều này cho phép ngân hàng đánh giá một cách toàn diện về tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh, năng lực quản trị và uy tín của khách hàng. Toàn bộ quá trình chấm điểm mức độ Rủi ro tín dụng của khách hàng được hỗ trợ bởi một phần mềm chuyên dụng, đảm bảo tính khách quan và hiệu quả trong việc phân tích định tính và định lượng. Hệ thống Xếp hạng tín dụng nội bộ của TPBank được phát triển để phục vụ từng đối tượng khách hàng khác nhau, bao gồm cả những đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng và các bên liên quan. Mục tiêu chính là đảm bảo mọi hoạt động cấp tín dụng tại TPBank Bến Thành nói riêng và TPBank nói chung đều tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và các quy định nội bộ của ngân hàng. Hơn nữa, hệ thống Xếp hạng tín dụng này còn là căn cứ và cơ sở quan trọng cho nhiều hoạt động cốt lõi của ngân hàng, bao gồm:

  • Xét duyệt cấp tín dụng: Cung cấp thông tin nền tảng để đưa ra quyết định cho vay phù hợp với mức độ rủi ro của từng khách hàng.
  • Quản lý chất lượng tín dụng: Giúp theo dõi và kiểm soát chất lượng danh mục tín dụng theo thời gian.
  • Xây dựng chính sách dự phòng rủi ro: Đảm bảo việc trích lập dự phòng Rủi ro tín dụng được thực hiện một cách phù hợp với phạm vi hoạt động và tình hình thực tế của TPBank trong từng giai đoạn.

Tại TPBank Bến Thành, hệ thống Xếp hạng tín dụng được phân chia thành bốn loại chính để phù hợp với đặc thù của từng nhóm khách hàng, bao gồm: Hệ thống Xếp hạng tín dụng dành cho KHDN, hộ kinh doanh, KHCN, định chế tài chính. Đặc biệt, hệ thống Xếp hạng tín dụng tại TPBank Bến Thành phân loại khách hàng thành 10 hạng khác nhau, được sắp xếp từ hạng cao nhất (rủi ro thấp nhất) đến hạng thấp nhất (rủi ro cao nhất), nhằm cung cấp một cái nhìn chi tiết về mức độ rủi ro của từng đối tượng. Phân loại này chia thành ba nhóm rủi ro chính, bao gồm:

Nhóm rủi ro thấp: Các khách hàng thuộc nhóm này được đánh giá cao về khả năng trả nợ, với điểm số đạt từ 251 trở lên. Cụ thể, điểm >= 400 được xếp loại AAA, thể hiện rủi ro cực thấp. Điểm từ 351-400 tương ứng với hạng AA, và 301-350 là hạng A, cả hai đều nằm trong nhóm rủi ro thấp. Khách hàng đạt từ 251-300 điểm được xếp hạng BBB, vẫn thuộc nhóm rủi ro thấp nhưng với mức độ tiềm ẩn cao hơn so với các hạng trên. Luận văn: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

Nhóm rủi ro trung bình: Khách hàng trong nhóm này có điểm số dao động từ 101 đến 250, cho thấy mức độ không chắc chắn vừa phải về khả năng thực hiện nghĩa vụ nợ. Cụ thể, hạng BB áp dụng cho điểm từ 201-250, hạng B cho điểm từ 151-200, và hạng CCC cho điểm từ 101-150. Những hạng này đòi hỏi sự giám sát cẩn trọng hơn từ ngân hàng so với nhóm rủi ro thấp.

Nhóm rủi ro cao: Đây là nhóm khách hàng tiềm ẩn rủi ro vỡ nợ đáng kể, với điểm số nằm trong khoảng dưới 101 điểm. Chi tiết, hạng CC áp dụng cho điểm từ 51-100, hạng C cho điểm từ 01-50. Đặc biệt, những khách hàng đạt điểm < 0 sẽ bị xếp hạng D, biểu thị mức độ rủi ro rất cao và khả năng mất vốn lớn, thường yêu cầu các biện pháp xử lý nợ đặc biệt từ phía ngân hàng.

Tại TPBank Bến Thành, hệ thống Xếp hạng tín dụng là một công cụ thiết yếu giúp định lượng mức độ rủi ro của khách hàng xuyên suốt các giai đoạn trước, trong và sau khi cấp tín dụng. Hệ thống này được sử dụng để đánh giá khách hàng định kỳ hoặc khi có nhu cầu, đóng vai trò nền tảng cho việc xét duyệt cấp tín dụng, quản lý chất lượng tín dụng, và xây dựng chính sách dự phòng Rủi ro tín dụng phù hợp với quy mô hoạt động và tình hình thực tế của chi nhánh. TPBank Bến Thành luôn rà soát, cập nhật, và điều chỉnh hệ thống Xếp hạng tín dụng định kỳ hàng năm để đảm bảo tính phù hợp với những biến động của kinh tế vĩ mô cũng như môi trường kinh doanh của ngân hàng và khách hàng. Sau khi quá trình xếp hạng hoàn tất, chi nhánh có thể cho vay ngay đối với các khách hàng thuộc nhóm hạng A trở lên. Tuy nhiên, với khách hàng hạng BBB, TPBank Bến Thành sẽ tiến hành thẩm định rủi ro bổ sung để quyết định xem dự án có khả thi hoặc có đủ TSBĐ để được cấp tín dụng hay không. Điều quan trọng cần lưu ý là kết quả xếp hạng tín dụng chỉ là một phần của quá trình đánh giá; nó chưa thể phản ánh toàn diện chất lượng của một khoản tín dụng cụ thể. Để có cái nhìn chính xác nhất, cán bộ tín dụng vẫn phải thực hiện đánh giá chuyên sâu về phương án kinh doanh, kế hoạch dòng tiền trả nợ và chất lượng TSBĐ.

2.3.4.2. Đo lường rủi ro tín dụng

Hiện nay, TPBank Bến Thành đang trong quá trình tuân thủ các quy định của hệ thống đo lường rủi ro tín dụng theo chuẩn mực Basel. Đặc biệt, việc triển khai Basel II đòi hỏi một kỹ thuật phức tạp cùng với chi phí đầu tư tương đối cao. Đối với các ngân hàng đang trong giai đoạn phát triển ban đầu như Việt Nam nói chung và TPBank nói riêng, việc áp dụng toàn diện Basel II không tránh khỏi những khó khăn, thách thức đáng kể và cần một khoảng thời gian dài để thích nghi. Điều này xuất phát từ yêu cầu về cơ sở hạ tầng công nghệ, hệ thống thu thập và phân tích dữ liệu, cũng như năng lực chuyên môn của đội ngũ nhân sự, tất cả đều cần được nâng cấp để đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của Basel II.

  • Bảng 2.9: Đo lường Rủi ro tín dụng với quy định Basel II tại TPBank Bến Thành

2.3.4.3. Giám sát rủi ro tín dụng Luận văn: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

TPBank Bến Thành đang đặc biệt chú trọng kiểm soát Rủi ro tín dụng ở cả cấp độ khoản vay và danh mục, nhằm xử lý kịp thời khi chất lượng tín dụng giảm sút. Ngân hàng đáp ứng các yêu cầu tối thiểu như theo dõi phân loại nợ, đánh giá đầy đủ dự phòng rủi ro theo quy định Ngân hàng Nhà nước, kiểm soát Rủi ro tín dụng để tuân thủ giới hạn tín dụng và hạn mức rủi ro nội bộ, đồng thời đánh giá mức độ tuân thủ quy trình giám sát sau vay.

Chi nhánh cũng linh hoạt xây dựng các quy định kiểm soát rủi ro, phù hợp với mục tiêu chiến lược và khẩu vị rủi ro. Các nội dung trọng tâm bao gồm xác định rõ vai trò, trách nhiệm quản lý Rủi ro tín dụng, thực hiện phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro. Ngân hàng đánh giá và theo dõi Rủi ro tín dụng chi tiết cho từng khoản và danh mục, kiểm soát Rủi ro tín dụng theo hạn mức phân bổ thông qua kiểm soát từ xa và kiểm tra tại chỗ. Đồng thời, TPBank Bến Thành đang phát triển tiêu chí đánh giá suy giảm chất lượng tín dụng, cơ chế cảnh báo sớm, và quy trình rà soát biến động nhanh.

Hoạt động giám sát Rủi ro tín dụng này được thực hiện thường xuyên nhằm kiểm soát chặt chẽ tính tuân thủ, khắc phục vi phạm và đảm bảo hiệu quả các phương pháp quản lý Rủi ro tín dụng, bao gồm giám sát trạng thái rủi ro và tuân thủ quy định nội bộ cũng như của Ngân hàng Nhà nước. Mức độ giám sát được điều chỉnh theo tính chất khoản vay và danh mục, nhưng luôn đảm bảo các nội dung trọng yếu nằm trong giới hạn khẩu vị Rủi ro tín dụng và hạn mức rủi ro của TPBank.

2.3.4.4. Công tác xử lý rủi ro tín dụng

TPBank Bến Thành luôn chủ động thực thi công tác quản trị Rủi ro tín dụng nhưng việc loại bỏ hoàn toàn các rủi ro tiềm tàng là điều bất khả thi. Tuy nhiên, ngân hàng đã thiết lập một quy trình cụ thể để xử lý Rủi ro tín dụng khi chúng phát sinh. Trước tiên, bộ phận quản lý nợ sẽ tiến hành đánh giá mức độ rủi ro, sau đó đơn vị và bộ phận quản trị rủi ro sẽ phối hợp chặt chẽ để áp dụng các biện pháp xử lý thích hợp tùy thuộc vào bản chất của từng loại rủi ro.

Đối với các trường hợp Rủi ro tín dụng không xuất phát từ rủi ro đạo đức của con người hay các hành vi vi phạm pháp luật, các bộ phận quản lý Rủi ro tín dụng tại TPBank Bến Thành sẽ phối hợp với chuyên viên quan hệ khách hàng để tiến hành đàm phán với khách hàng. Mục tiêu của các cuộc đàm phán này là tìm kiếm giải pháp linh hoạt, chẳng hạn như cho phép khách hàng chậm trả hoặc trả nợ từng phần. Nếu khoản vay được đánh giá là vẫn có khả năng thu hồi vốn, ngân hàng sẽ chủ động hợp tác với khách hàng để cùng nhau khắc phục những khó khăn họ đang gặp phải. Trong những trường hợp này, ngân hàng sẽ tiến hành các thủ tục cần thiết để gia hạn nợ cho khách hàng, tạo điều kiện thuận lợi để họ ổn định lại tình hình tài chính và thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Luận văn: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

Ngược lại, đối với những rủi ro tín dụng phát sinh do yếu tố đạo đức của con người hoặc các hành vi lừa đảo trái pháp luật, TPBank Bến Thành sẽ áp dụng một quy trình xử lý nghiêm ngặt theo đúng quy định, quy chế của ngân hàng và pháp luật hiện hành. Trong tình huống này, ngân hàng sẽ buộc phải chuyển nhóm nợ của khoản vay sang nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn). Đồng thời, ngân hàng cũng sẽ áp dụng các quy chế nội bộ đối với các cá nhân có hành vi cố ý làm trái quy định, nhằm xử lý nghiêm minh các sai phạm và duy trì tính kỷ luật trong hoạt động.

2.4. ĐÁNH GIÁ VỀ THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TIÊN PHONG CHI NHÁNH BẾN THÀNH GIAI ĐOẠN 2022 – 2025

2.4.1. Những điểm đạt được

TPBank Bến Thành là chi nhánh có tiềm lực về tài chính, quy mô chuẩn để có thể đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Chi nhánh có nhiều cố gắng trong sự thay đổi chính sách tín dụng hợp lý, thay đổi quy trình dạng tinh giản an toàn, thủ tục ngắn gọn. Có cơ chế thỏa thuận về lãi suất cho vay cũng như ưu đãi lãi suất.

TPBank Bến Thành định hướng chú trọng vào việc phát triển tín dụng theo hướng đa dạng hóa, duy trì sự ổn định nên khẳng định được uy tín của mình với các nhóm đối tượng khách hàng này. Sản phẩm, dịch vụ liên quan đến tín dụng cho nhóm đối tượng khách hàng luôn đa dạng phong phú.

Dư nợ tín dụng của chi nhánh có sự tăng trưởng về mặt giá trị đều đặn qua mỗi năm tạo cơ sở gia tăng lợi nhuận. Do đó, chi nhánh luôn duy trì được tỷ trọng dư nợ ngắn hạn ở mức cao hơn dư nợ trung, dài hạn nên đáp ứng được mục tiêu phát triển của ngân hàng.

Nhóm nợ 1,2 hiện nay tại chi nhánh vẫn đang chiếm đại đa số. Do đó, tình hình rủi ro về nợ xấu của chi nhánh vẫn đang được kiểm soát an toàn. Nợ nhóm 3,4,5 mặc dù cao hơn mức 2% nhưng sự gia tăng qua mỗi năm vẫn nằm trong sự kiểm soát của chi nhánh. Luận văn: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

Nguồn thu từ hoạt động tín dụng vẫn đang là nguồn chính và được chi nhánh duy trì tăng trưởng đều đặn qua mỗi năm.

TPBank Bến Thành đang tích cực hoàn thiện khung khổ quản trị rủi ro tín dụng (RRTD), tập trung vào việc tuân thủ pháp luật và củng cố khẩu vị rủi ro cùng định hướng tín dụng. Chi nhánh đã đạt được những thành tựu đáng kể, đặc biệt trong việc tái cấu trúc mô hình phê duyệt tín dụng tập trung và cải tiến hệ thống chấm điểm, xếp hạng khách hàng theo chuẩn Basel.

Hiện tại, TPBank Bến Thành đã hoàn tất triển khai mô hình chấm điểm mới cho các phân khúc khách hàng và đang phát triển các mô hình định lượng Rủi ro tín dụng chuyên biệt cho KHCN, song song với việc xây dựng kho dữ liệu rủi ro toàn hàng (Risk Data Mart) để phân tích rủi ro toàn diện. Những nỗ lực này cho thấy công tác quản trị Rủi ro tín dụng của chi nhánh đang dần hoàn thiện và đáp ứng tốt các thông lệ quốc tế, với nhiều dự án quan trọng về công nghệ thông tin và quản trị rủi ro theo tiêu chuẩn Basel II đã được triển khai thành công, tuân thủ Thông tư 13/2019/TT-NHNN và Thông tư 41/2017/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước.

Ngoài ra, TPBank Bến Thành cũng sở hữu nguồn nhân lực trẻ, dồi dào, đóng góp tích cực vào hoạt động tín dụng. Công tác điều hành và quản lý được thực hiện một cách khoa học, trong đó ưu tiên phát triển nguồn nhân lực. Các chính sách liên quan đến hoạt động cho vay luôn đảm bảo tính minh bạch và công khai, góp phần xây dựng niềm tin và sự ổn định.

2.4.2. Những hạn chế Luận văn: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

Tỷ lệ nợ quá hạn/ nợ xấu của các nhóm đối tượng khách hàng đang ở mức độ cao và đáng báo động. Quản lý nợ còn gặp khó khăn, nợ xấu có biểu hiện tăng mạnh, một phần do việc xếp hạng khách hàng và thẩm định tín dụng vẫn còn có biểu hiện hình thức. Đặc biệt, đáng lưu ý là vấn đề đạo đức của nhân viên tín dụng có những biểu hiện trục lợi hoặc chạy theo chỉ tiêu dẫn tới buông lỏng các điều kiện.

Thủ tục vay vốn của ngân hàng đang còn phức tạp, để vay được vốn, khách hàng phải làm khá nhiều hồ sơ, như: Giấy đề nghị vay; phương án sử dụng vốn vay; các thủ tục thế chấp; đăng ký giao dịch. Điều đó gây phiền toái cho khách hàng thậm chí mất cơ hội kinh doanh của khách hàng. Mức cho vay của ngân hàng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu cho khách hàng.

Việc định kỳ hạn nợ cho khách hàng theo kết quả khảo sát cũng được nhiều khách hàng đánh giá chưa hợp lý, điều đó gây khó khăn cho khách hàng trong việc trả nợ, có lúc có tiền để trả nợ nhưng chưa đến kỳ; có lúc đến kỳ trả nợ khách hàng lại không có tiền trả. Khách hàng phải vay mượn tạm thời từ nguồn khác để trả nợ cho khách hàng, điều đó gây khó khăn cho khách hàng. Phương thức trả nợ chưa được thuận tiện, theo đánh giá của khách hàng thì hầu hết khách hàng cho rằng ngân hàng chưa có phương thức trả nợ thuận tiện cho khách hàng.

Việc xử lý nghiệp vụ của nhân viên chưa được chính xác, hợp thời từ việc thông báo số tiền lãi, gốc đến hạn gây tâm lý không tốt cho khách hàng. Nguyên nhân, khi thông báo số tiền lãi tính đến ngày thông báo, khách hàng đến nộp lại khác với ngày thông báo dẫn đến có sự sai lệnh tiền lãi. Luận văn: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

TPBank Bến Thành đã có những nỗ lực trong quản trị Rủi ro tín dụng, công tác này và việc triển khai các nguyên tắc của Basel II vẫn còn tương đối chậm so với một số ngân hàng khác tại Việt Nam. Điều này thể hiện rõ qua những hạn chế trong quy trình chấm điểm và xếp hạng tín dụng (XHTD) nội bộ, cũng như công tác kiểm tra sau vay. Tại TPBank Bến Thành, quy trình chấm điểm Xếp hạng tín dụng nội bộ còn bộc lộ một số vấn đề cần khắc phục. Việc Cán bộ tín dụng trực tiếp thực hiện chấm điểm trên hệ thống Xếp hạng tín dụng tạo ra một lỗ hổng tiềm tàng về tính khách quan. Kết quả đánh giá và cho điểm Xếp hạng tín dụng phụ thuộc rất lớn vào ý kiến chủ quan của Cán bộ tín dụng. Có những trường hợp Cán bộ tín dụng thực hiện việc cho điểm một cách hời hợt, hoặc cố tình lựa chọn các tiêu chí có lợi nhất trong bảng câu hỏi đánh giá tài chính và phi tài chính mà không đọc kỹ hay thực hiện đầy đủ nội dung yêu cầu. Tình trạng này dẫn đến việc kết quả Xếp hạng tín dụng thiếu khách quan, đặc biệt khi Cán bộ tín dụng mong muốn khách hàng do mình phụ trách đạt được xếp hạng cao nhằm tạo thuận lợi cho việc trình cấp tín dụng lên các cấp cao hơn.

Công tác kiểm tra các khoản vay, đặc biệt là giai đoạn kiểm tra sau vay, còn mang nặng tính đối phó. Cán bộ tín dụng chưa thực sự chủ động và sát sao trong việc theo dõi tình hình sử dụng vốn cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh thực tế của khách hàng sau khi giải ngân. Việc này thể hiện rõ qua việc Cán bộ tín dụng chưa thường xuyên thăm, kiểm tra trực tiếp cơ sở sản xuất kinh doanh của khách hàng, mà phần lớn chỉ tiến hành làm việc qua điện thoại, email tại văn phòng. Hạn chế này dẫn đến việc ngân hàng không nắm bắt được tình hình rủi ro thực tế và những dấu hiệu suy giảm chất lượng tài sản hoặc hoạt động kinh doanh của khách hàng, ví dụ như: sự xuống cấp của cơ sở kinh doanh, chất lượng máy móc thiết bị giảm sút hoặc bị thanh lý, hàng tồn kho gia tăng không tiêu thụ được, hay sản phẩm lỗi thời, lạc hậu không theo kịp xu thế thị trường.

2.4.3. Những nguyên nhân của hạn chế

2.4.3.1. Từ phía ngân hàng Luận văn: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

Thứ nhất, TPBank Bến Thành đã có những phương hướng cụ thể trong hoạt động tín dụng đã được xây dựng cũng như chỉ đạo từ Ban lãnh đạo tuy nhiên tại chi nhánh vẫn có những hạn chế:

Chủ yếu chính sách tín dụng vẫn hướng đến đối tượng khách hàng có mục đích vay để bổ sung sản xuất kinh doanh, mọi mức độ ưu đãi về lãi suất đều tập trung cho đối tượng mục đích vay này vì thế làm cho đối tượng khách hàng vẫn chưa thật sự đa dạng. Đối với việc tập trung cho vay với một mục đích như vậy sẽ làm tập trung rủi ro, không phân tán rủi ro.

Chi nhánh tập trung hướng đến đến việc mở rộng hoạt động, gia tăng thị phần, mục tiêu phát triển hoạt động bán lẻ vì vậy chỉ tiêu về việc bán lẻ, sản phẩm dịch vụ phi tín dụng và tăng trưởng dư nợ tín dụng cũng rất cao chính vì lí do đó nên cán bộ nhân viên tín dụng sẽ làm hồ sơ cho khách hàng vay sẽ có sự nhanh chóng cho đạt kết quả mà thiếu sự sàng lọc do áp lực chỉ tiêu quá lớn và sự cả nể muốn giữ chân khách hàng, vì vậy sẽ làm gia tăng rủi ro tiềm ẩn cho ngân hàng.

Thứ hai, TPBank Bến Thành vẫn đang thực hiện quy trình tín dụng theo mô hình phân tán có nghĩa là giao dịch tín dụng sẽ trực tiếp thực hiện tại chi nhánh chứ không tập trung về đầu mối tại Hội sở chính, tuy nhiên với mô hình này thì có nhược điểm đó là sự chưa tách bạch giữa các chức năng kinh doanh, quản trị rủi ro và tác nghiệp. Cán bộ tín dụng dường như phải làm nhiều việc một lúc của công đoạn quá trình cấp tín dụng như thu thập hồ sơ, chứng từ, thẩm định tài sản, thẩm định khách hàng, công chứng, giải ngân và kể cả việc giám sát sau cho vay.

Thứ ba, việc thẩm định khách hàng lẫn tài sản đảm bảo nó vẫn còn mang ý kiến chủ quan của cán bộ tín dụng rất nhiều làm sự chính xác không còn được đảm bảo, lãnh đạo chỉ có trách nhiệm ký duyệt ý kiến mà cán bộ tín dụng trình lên chính vì vậy tính khách quan không còn cao. Trong khi đó bộ phận thẩm định và kiểm soát giải ngân cũng thuộc chi nhánh chính vì vậy có thể cán bộ tín dụng có thể móc nối với bộ phận hoặc áp lực lớn từ lãnh đạo làm cho quá trình này cũng không còn tính khách quan cao. Vì vậy rủi ro cũng có thể xảy ra từ đây làm cho chất lượng tín dụng giảm.

Thứ tư, hiện nay việc thu thập và tổng hợp thông tin khách hàng gặp rất nhiều khó khăn và mất nhiều thời gian thậm chí tốn chi phí. Cán bộ tín dụng hiện nay chỉ tìm được thông tin khách hàng qua báo cáo CIC còn lại các thông tin khách của khách hàng đối tác làm ăn với khách hàng, thân nhân khách hàng, gia đình khách hàng, nơi khách hàng cư trú, đơn vị công tác của khách hàng,… những thông tin liên quan đến việc tìm kiếm khách hàng và liên quan đến việc trả nợ của họ thì rất khó để tìm kiếm và xác thực. Mặt khác trong quá trình cung cấp thông tin cá nhân của mình thì cán bộ tín dụng rất khó để biết thông tin mà khách hàng cung cấp có mức độ xác thực như thế nào, thiếu thông tin để phân tích, không cập nhật thông tin ngành, thị trường nên đưa ra đề xuất cấp tín dụng trên cơ sở chưa thực sự xác đáng và thiếu sự chắc chắn.

Thứ năm, tại địa bàn TP. Hồ Chí Minh hiện nay nguồn thông tin để xác thực giá trị tài sản đảm bảo thiếu sự chính xác, đặc biệt là bất động sản do tình trạng môi giới đẩy giá lên cao hay tình trạng sốt bất động sản gây ra tình trạng giá ảo nên làm cho cán bộ tín dụng khó có thể xác định giá trị chính xác của bất động sản. Ngoài ra, cán bộ tín dụng vẫn chưa được hỗ trợ trong công tác thẩm định vì cán bộ tín dụng không có đầy đủ kiến thức để xác thực tính chính xác của tài sản thẩm định ví dụ như xác định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thật, giả hay khách hàng cố tình lừa đảo cán bộ, gây ra thiệt hại cho ngân hàng,… vì vậy khai thác thông tin rất quan trọng trong việc quyết định cấp tín dụng.

Thứ sáu, Việc kiểm tra giám sát sau cho vay chưa thật sự hiệu quả khi cán bộ tín dụng vừa là người trực tiếp thẩm định hồ sơ vừa là người trực tiếp kiểm tra giám sát sau cho vay. Luận văn: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

Thứ bảy, số lượng cán bộ chuyên trách kiểm tra kiểm soát còn hạn chế với khối lượng công việc là rất lớn nên đặt ra vấn công tác kiểm soát tín dụng có thật sự đảm bảo. Từ đó dẫn đến nhiều trường hợp vấn đề về pháp lý, về tài sản đảm bảo do cán bộ tín dụng chủ quan trong quá trình cấp tín dụng không được phát hiện làm cho chi nhánh có thể phát sinh nợ xấu tổn thất cho ngân hàng làm giảm chất lượng tín dụng của ngân hàng. Vì vậy qua những đợt kiểm tra của Ngân hàng Nhà nước hay đoàn kiểm tra của Hội sở về kiểm tra thì vẫn phát hiện sai phạm của chi nhánh về thủ tục liên quan đến thẩm định khách hàng, tài sản đảm bảo hay về phân công công việc,…

2.4.3.2. Từ phía khách hàng

Thứ nhất, về thiện chí trả nợ của khách hàng là một trong tiêu chí đánh giá rất quan trọng. Dù khách hàng có phương án kinh doanh tốt, tài sản đảm bảo hợp lệ, thân nhân tốt nhưng lại có thiện chí không hợp tác, cố tình qua mặt, lừa đảo cán bộ tín dụng làm giả giấy tờ, chứng từ hay cung cấp sai sự thật về thông tin nhằm mục đích để vay được vốn rồi chiếm đoạt hay làm sai mục đích thì đó là một trong những yếu tố tạo ra rủi ro tín dụng. Mặt khác nếu khách hàng không có thiện chí thì khi có nợ quá hạn sẽ dẫn đến việc kéo dài không muốn trả nợ dẫn đến nợ xấu và có khả năng ngân hàng mất vốn.

Thứ hai, về thông tin khách hàng cung cấp cho cán bộ tín dụng trong quá trình làm việc với khách hàng cũng như trong quá trình thẩm định, thì cán bộ tín dụng chủ yếu làm việc và làm hồ sơ qua những thông tin mà khách hàng cung cấp. Vì vậy nếu gặp đối tượng khách hàng không trung thực, cố ý làm giả chứng từ nhằm mục đích chiếm đoạt vốn vay thì tính trung thực của thông tin khách hàng cung cấp là không đáng tin cậy nó ảnh hưởng rất nhiều đến việc phê duyệt tín dụng. Hiện nay thông tin khách hàng thì cán bộ chủ yếu là kiểm tra qua thông tin hệ thống nội bộ của ngân hàng hoặc hệ thống CIC nhưng sự cập nhật thông tin vẫn chưa liên tục vì khách hàng thay đổi thông tin liên tục. Ngoài ra những khoản nợ vay ở ngoài các ngân hàng như vay nóng, vay ngoài,… thì ngân hàng không thể kiểm tra được toàn bộ chính vì thế gây cản trở trong việc xem xét tình hình tài chính của khách hàng. Luận văn: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

Thứ ba, với mục đích gia tăng dư nợ cho vay cá nhân nhằm mục đích mở rộng tín dụng cũng như tăng lợi nhuận cho ngân hàng nên khách hàng không còn ngần ngại với việc vay vốn, tuy nhiên lợi dụng chính sách mở cửa ưu đãi thì khách hàng lại đưa cho ngân hàng phương án vay vốn không đúng với mục đích sử dụng cuối cùng của mình, đa số khách hàng muốn vay vốn đều trình những phương án sử dụng vốn vào những việc rủi ro thấp nhưng lại sử dụng vào các mục đích sai sự thật rủi ro cao như đầu tư vào bất động sản, chứng khoán,…

Thứ tư, khách hàng lại không có năng lực hay hạn chế về việc quản lý, điều hành thì công việc kinh doanh sẽ gặp nhiều khó khăn, gây những trở ngại nhất định trong việc thu xếp dòng tiền trả nợ cho ngân hàng tác động gây ra nợ quá hạn hoặc nợ xấu, ảnh hưởng làm giảm chất lượng tín dụng.

  • TÓM TẮT CHƯƠNG 2

Chương 2 của đề án đã trình bày, đánh giá, phân tích được thực trạng hoạt động tín dụng và chất lượng tín dụng tại TPBank Bến Thành. Đề án cũng phân tích những mặt hạn chế còn tồn tại, đồng thời cũng phân tích những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng, có những nguyên nhân do yếu tố nội tại bên trong của ngân hàng và từ khách hàng. Những kết quả đạt được ở chương 2 là cơ sở đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trong chương 3 tại TPBank Bến Thành. Luận văn: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Giải pháp chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *