Luận văn: Chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Chất lượng tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong chi nhánh Bến Thành dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT ĐỀ ÁN

Tên đề án: Chất lượng tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong chi nhánh Bến Thành.

Tóm tắt đề án: Đề án này tập trung vào việc phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại chi nhánh này, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt và sự gia tăng nợ xấu. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào chất lượng tín dụng tại TPBank Bến Thành từ năm 2022 đến 2025, sử dụng phương pháp định tính kết hợp thống kê, so sánh số liệu và phân tích tổng hợp. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng TPBank Bến Thành đã đạt được một số thành tựu trong hoạt động tín dụng, nhưng vẫn tồn tại nhiều hạn chế đáng kể. Cụ thể, tỷ lệ nợ xấu có xu hướng gia tăng, quy trình xét duyệt tín dụng còn phức tạp, các chương trình tiếp cận thị trường chưa thực sự hiệu quả và hệ thống công nghệ chưa được khai thác tối đa. Những nguyên nhân dẫn đến các hạn chế này bao gồm chính sách tín dụng chưa đa dạng, tập trung rủi ro vào một nhóm khách hàng; áp lực chỉ tiêu kinh doanh quá lớn khiến cán bộ tín dụng thiếu sự sàng lọc hồ sơ; quy trình tín dụng phân tán dẫn đến sự chưa tách bạch giữa các chức năng; ý kiến chủ quan trong thẩm định và khó khăn trong việc thu thập, xác thực thông tin khách hàng. Ngoài ra, việc kiểm tra, giám sát sau cho vay chưa hiệu quả và số lượng cán bộ chuyên trách còn hạn chế cũng là những vấn đề cần được cải thiện. Từ những phân tích trên, đề án đề xuất một loạt các giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại TPBank Bến Thành.

Các giải pháp này bao gồm: Nâng cao chất lượng thẩm định và quản lý rủi ro tín dụng bằng cách tăng cường đào tạo, bồi dưỡng năng lực và đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ thẩm định, đồng thời chuyên môn hóa theo ngành nghề. Ngoài ra, đề án cũng nhấn mạnh việc tối ưu hóa suất sinh lời và quản lý chi phí rủi ro, tối ưu hóa thiết kế sản phẩm, nâng cao năng lực xử lý nghiệp vụ của nhân viên, đầu tư nâng cấp hạ tầng công nghệ, rút ngắn thời gian phê duyệt khoản vay, và đa dạng hóa danh mục tín dụng. Đặc biệt, việc xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra kiểm soát chuyên nghiệp, tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát thường xuyên và kiểm soát chéo, cùng với việc kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động cấp tín dụng.

Từ khóa: Chất lượng tín dụng, nợ xấu, quản lý rủi ro tín dụng, đội ngũ nhân viên.

  • ABSTRACT Luận văn: Chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

Title: Credit Quality at Tien Phong Commercial Joint Stock Bank – Ben Thanh Branch

Thesis Summary: This thesis focuses on analyzing the current situation and proposing solutions to improve credit quality at TPBank’s Ben Thanh branch, especially in the context of fierce competition and increasing non-performing loans. The scope of the study concentrates on credit quality at TPBank Ben Thanh from 2022 to 2025, utilizing qualitative methods combined with statistics, data comparison, and comprehensive analysis. Research results indicate that TPBank Ben Thanh has achieved certain successes in credit operations but still faces significant limitations. Specifically, the non-performing loan ratio tends to increase, the credit approval process remains complex, market outreach programs are not truly effective, and the technology system has not been fully exploited. The reasons leading to these limitations include an undiversified credit policy, concentrating risks on a single customer group; excessive business targets pressuring credit officers to inadequately screen applications; a fragmented credit process leading to a lack of clear separation of functions; subjective opinions in appraisal, and difficulties in collecting and verifying customer information. Furthermore, ineffective post-lending inspection and supervision, and a limited number of specialized officers are also issues that need improvement. Based on these analyses, the thesis proposes a series of key solutions to enhance credit quality at TPBank Ben Thanh.

These solutions include: Improving the quality of appraisal and credit risk management by strengthening training, fostering capacity, and professional ethics for appraisal officers, while also specializing by industry. Additionally, the thesis emphasizes optimizing profitability and managing risk costs, optimizing product design, enhancing employees’ operational processing capabilities, investing in upgrading technological infrastructure, shortening loan approval times, and diversifying the credit portfolio. Particularly, building a professional inspection and control team, strengthening regular inspection and supervision activities, cross-checking, along with controlling conflicts of interest in credit granting activities, are considered crucial factors to ensure the safety and efficiency of the branch’s credit operations in the coming period.

Keywords: Credit quality, non-performing loans, credit risk management, staff.

PHẦN MỞ ĐẦU

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Ngân hàng thương mại (NHTM) là một trong những đơn vị quan trọng khiến nền kinh tế hoạt động nhịp nhàng. Ngân hàng, cùng với các lĩnh vực khác trong nền kinh tế, chịu trách nhiệm bình ổn thị trường tiền tệ, kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, tạo công việc làm cho người lao động, hỗ trợ các nhà đầu tư, phát triển thị trường vốn và ngoại hối, tham gia hỗ trợ thanh toán. Trong hoạt động của ngân hàng thì hoạt động tín dụng là một lĩnh vực quan trọng, quan hệ tín dụng là quan hệ xương sống, quyết định sự phát triển bền vững của nền kinh tế quốc dân và nó còn là nguồn sinh lợi chủ yếu, quyết định sự tồn tại, phát triển của ngân hàng. Hoà cùng với sự đổi mới của toàn bộ hệ thống, ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) trong những năm qua đã rất chú trọng tới hoạt động tín dụng và đang từng bước hoàn thiện trong hoạt động kinh doanh của mình để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong lúc sự quản lý kinh tế, sự chuyển đổi cơ chế quản lý trong lĩnh vực ngân hàng đang diễn ra hết sức phong phú và đa dạng. Luận văn: Chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

Hoạt động tín dụng không chỉ là một khía cạnh cốt lõi mà còn là yếu tố mang tính quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng thương mại (NHTM). Đồng thời, vai trò của nó còn lan tỏa, tạo ra tác động đáng kể đến sự ổn định và tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Trong tổng thể các hoạt động của một ngân hàng, hoạt động tín dụng thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong bảng cân đối kế toán, đồng thời là nguồn mang lại doanh thu chính. Điều này nhấn mạnh rằng, khả năng sinh lời và duy trì hoạt động của ngân hàng phụ thuộc phần lớn vào hiệu quả của danh mục tín dụng. Thông qua việc cấp vốn, các Ngân hàng thương mại góp phần luân chuyển dòng tiền trong nền kinh tế, hỗ trợ các doanh nghiệp và cá nhân thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, song hành với vai trò quan trọng, hoạt động tín dụng cũng luôn đi kèm với rủi ro cao nhất. Rủi ro này phát sinh khi người vay không thực hiện đúng các cam kết trả nợ, dẫn đến nợ xấu. Khi chất lượng tín dụng suy giảm, tức là tỷ lệ nợ xấu tăng cao, ngân hàng sẽ phải đối mặt với tổn thất tài chính nghiêm trọng, bao gồm việc phải trích lập dự phòng rủi ro và giảm lợi nhuận. Điều này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh lời và sức khỏe tài chính của ngân hàng mà còn có thể lan rộng, gây ra mất ổn định hệ thống tài chính nếu không được kiểm soát. Chính vì những lý do trên, nâng cao chất lượng tín dụng luôn được xem là mục tiêu hàng đầu của cả các Ngân hàng thương mại và các nhà quản lý kinh tế. Một danh mục tín dụng chất lượng cao không chỉ đảm bảo lợi nhuận bền vững cho ngân hàng mà còn góp phần vào sự ổn định vĩ mô, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển liên tục của nền kinh tế.

Ngân hàng TMCP Tiên Phong – Chi Nhánh Bến Thành (TPBank Bến Thành) là một trong những chi nhánh lớn của TPBank trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Giai đoạn 2021 – 2023 chứng kiến những ảnh hưởng sâu sắc từ đại dịch Covid-19, làm thay đổi cấu trúc kinh tế và tạo ra nhu cầu cấp thiết về vốn cá nhân (KHCN) để phục hồi và ổn định cuộc sống. Sự khó khăn về tài chính cá nhân đã kích thích người dân tìm kiếm nguồn vốn vay, dẫn đến việc dư nợ cho vay KHCN tại TPBank Bến Thành gia tăng. Tuy nhiên, đà tăng trưởng này không hoàn toàn mang tính bền vững. Sự tăng trưởng đi kèm với sụt giảm tốc độ tăng do áp lực cạnh tranh gay gắt từ các Ngân hàng Thương mại (NHTM) khác trên địa bàn. Điều này chỉ ra rằng chi nhánh Bến Thành đang phải cân bằng giữa việc duy trì thị phần (qua tăng trưởng dư nợ) và việc quản lý rủi ro trong một môi trường cạnh tranh về lãi suất và điều kiện cho vay. Việc phân tích Chất lượng tín dụng cần làm rõ liệu sự tăng trưởng dư nợ này có đi kèm với sự nới lỏng các tiêu chuẩn thẩm định một cách không kiểm soát hay không. Yếu tố quan trọng nhất tạo nên tính cấp bách của đề tài là sự gia tăng đột biến của tỷ lệ nợ xấu (NPL). Việc tỷ lệ này tăng xấp xỉ 7% mỗi năm trong giai đoạn 2023 – 2024 so với năm 2022 là một tín hiệu báo động đỏ cho Chi nhánh. Trong nghiệp vụ ngân hàng, NPL không chỉ là một chỉ số rủi ro mà còn là một nhân tố ăn mòn lợi nhuận xuyên suốt nhiều năm. Mỗi khoản nợ xấu phát sinh đều kéo theo chi phí trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo quy định, làm giảm trực tiếp lợi nhuận ròng. Hơn nữa, việc gia tăng NPL còn làm tăng chi phí quản lý và xử lý nợ, làm suy giảm năng lực vốn khả dụng để tái cấp tín dụng và ảnh hưởng tiêu cực đến xếp hạng tín nhiệm nội bộ. Do đó, việc nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế phát sinh nợ xấu và đề xuất giải pháp kiểm soát là nhiệm vụ trọng yếu, quyết định sự ổn định và hiệu quả hoạt động lâu dài của TPBank Bến Thành. Luận văn: Chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

Các nghiên cứu trong nước và quốc tế giai đoạn 2022-2025 chỉ ra rằng chất lượng tín dụng tại các ngân hàng thương mại chịu tác động đa chiều từ yếu tố vĩ mô (GDP, lạm phát, lãi suất) và yếu tố vi mô nội tại của ngân hàng (quản trị rủi ro, sinh lời, quy mô, ứng dụng công nghệ). Các công trình quốc tế đã mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các rủi ro mới nổi như ESG và vai trò của công nghệ số (Ofori-Atta và Peprah, 2024; Singh và Narula, 2025), trong khi các nghiên cứu tại Việt Nam tập trung đánh giá tác động của chính sách hỗ trợ và tăng trưởng tín dụng (Bùi Minh Tuấn và Nguyễn Hà My, 2022; Phan Thị Kim Dung, 2024). Mặc dù các nghiên cứu này phân tích toàn diện ở cấp độ hệ thống ngân hàng hoặc nhóm ngân hàng lớn, chúng vẫn còn tồn tại khoảng trống khi chưa đi sâu vào phân tích những đặc thù riêng biệt và mô hình quản lý rủi ro cụ thể của từng ngân hàng riêng lẻ, điều này là cần thiết để hiểu rõ hơn về thách thức và cơ hội trong quản lý chất lượng tín dụng theo bối cảnh cụ thể. Từ đó tác giả đã lựa chọn đề tài: “Chất lượng tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong chi nhánh Bến Thành” làm đề án nghiên cứu của mình.

2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu tổng quát

Đề án được thực hiện nhằm phân tích và đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng tại TPBank Bến Thành trong giai đoạn 2022 – 2025. Đồng thời, xác định những mặt đạt được, hạn chế và những nguyên nhân gây ra hạn chế. Từ đó đưa ra những đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng chất lượng tín dụng tại TPBank Bến Thành.

2.2. Mục tiêu cụ thể

Từ mục tiêu tổng quát thì chi tiết hóa thành các mục tiêu cụ thể đó là:

  • Thứ nhất, phân tích và đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng tại TPBank Bến Thành.
  • Thứ hai, đánh giá những điểm đạt được và hạn chế của chất lượng tín dụng tại TPBank Bến Thành. Đồng thời, xác định những nguyên nhân gây ra các hạn chế.
  • Thứ ba, đề xuất các giải pháp mang tính khả thi cho TPBank Bến Thành nhằm nâng cao chất lượng tín dụng.

3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Luận văn: Chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

Các câu hỏi nghiên cứu tương ứng với các mục tiêu cụ thể đó là:

  • Thứ nhất, thực trạng chất lượng tín dụng tại TPBank Bến Thành như thế nào?
  • Thứ hai, những điểm đạt được và hạn chế của chất lượng tín dụng tại TPBank Bến Thành là gì? Những nguyên nhân nào gây ra các hạn chế đó?
  • Thứ ba, các giải pháp nào mang tính khả thi được đề xuất cho TPBank Bến Thành nhằm nâng cao chất lượng tín dụng?

4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng tín dụng tại TPBank Bến Thành.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Về nội dung: Chất lượng tín dụng tại Ngân hàng thương mại, mở rộng cho bối cảnh tại TPBank Bến Thành
  • Về không gian: TPBank Bến Thành.
  • Về thời gian: Số liệu thứ cấp được thu thập và tổng hợp từ các BCTC của TPBank Bến Thành trong giai đoạn từ 2022 – 2025.

5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Luận văn: Chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

Đối với đề án này thì phương pháp định tính được sử dụng chủ yếu trong đó tập trung vào:

Phương pháp thống kê mô tả: Phương pháp tóm tắt, trình bày lược khảo cơ sở lý thuyết về tín dụng và chất lượng tín dụng tại Ngân hàng thương mại. Đồng thời, nghiên cứu áp dụng phương pháp tính toán để phản ánh các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng.

Phương pháp tổng hợp, phân tích: Là phương pháp nghiên cứu các tài liệu, số liệu khác nhau bằng cách phân tích chúng thành từng bộ phận để tìm hiểu sâu sắc về đối tượng nghiên cứu. Tổng hợp là liên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin đã được phân tích tạo ra một hệ thống thông tin, số liệu mới đầy đủ và sâu sắc về đối tượng nghiên cứu.

Phương pháp so sánh: So sánh kết quả, hiệu quả hoạt động tín dụng, tăng trưởng dư nợ tín dụng qua các năm 2022 – 2025.

6. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

Về mặt khoa học, kết quả phân tích và đánh giá cung cấp góc nhìn toàn diện về chất lượng tín dụng tại các Ngân hàng thương mại.

Về mặt thực tiễn, đề tài sẽ đưa ra một số gợi ý và khuyến nghị nhằm giúp các nhà lãnh đạo tại đơn vị đưa ra những giải pháp toàn diện nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại TPBank Bến Thành trong thời gian tới.

7. KẾT CẤU CỦA ĐỀ ÁN

Ngoài phần mở đầu thì đề án sẽ có kết cấu 3 chương như sau:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng tại các ngân hàng thương mại
  • Chương 2: Thực trạng về chất lượng tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong – Chi Nhánh Bến Thành
  • Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong – Chi Nhánh Bến Thành

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng

Theo Lê Thị Mận (2013) thì tín dụng là mối quan hệ vay mượn, hay nói cách khác là sự trao đổi và sử dụng vốn lẫn nhau giữa người đi vay và người cho vay, với nguyên tắc cơ bản là có hoàn trả. Mở rộng hơn, Nguyễn Văn Ngọc (2013) nhấn mạnh rằng tín dụng thường ám chỉ các hình thức cho vay có hiệu ứng tiền tệ. Điều này có nghĩa là khi ngân hàng tăng mức cho vay, nó sẽ dẫn đến sự gia tăng tiền gửi ngân hàng, từ đó làm tăng cung ứng tiền tệ hoặc các phương tiện thay thế tiền như tín dụng thương mại. Mối liên hệ trực tiếp giữa tiền và tín dụng ở cấp độ kinh tế vĩ mô được thể hiện rõ khi phân tích sự thay đổi của cung ứng tiền tệ dựa trên việc mở rộng tín dụng trong nước. Luận văn: Chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

Nguyễn Văn Tiến (2016) đã đưa ra một định nghĩa về tín dụng ngân hàng tập trung vào bản chất của mối quan hệ dựa trên sự tin tưởng và cam kết hoàn trả. Theo đó, tín dụng ngân hàng được hiểu là việc một ngân hàng cho phép khách hàng sử dụng một lượng tài sản cụ thể. Lượng tài sản này có thể là tiền mặt, các tài sản thực (như máy móc, thiết bị trong cho thuê tài chính), hoặc thậm chí là uy tín của ngân hàng thông qua các hình thức bảo lãnh. Cơ sở của sự chấp thuận này chính là niềm tin của ngân hàng vào khả năng hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi của khách hàng khi khoản vay đến hạn. Mối quan hệ tín dụng này không chỉ giới hạn ở một hình thức duy nhất mà được biểu hiện qua nhiều sản phẩm và dịch vụ tài chính đa dạng. Nguyễn Văn Tiến (2016) đã chỉ ra các hình thức phổ biến bao gồm: cho vay, chiết khấu, bảo lãnh và cho thuê tài chính. Hơn nữa, theo Khoản 16, Điều 4 của Luật các tổ chức tín dụng số 47/2011/QH12 và tương tự trong Luật số 02/2025/QH15, cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép khách hàng sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Như vậy, tín dụng ngân hàng chính là các hoạt động cấp tín dụng mà các tổ chức tín dụng (chủ yếu là ngân hàng) thực hiện cho khách hàng của mình, bao gồm nhiều hình thức khác nhau như cho vay, chiết khấu, bảo lãnh ngân hàng, v.v…, dựa trên nguyên tắc hoàn trả.

Tóm lại, tại đề án này tín dụng ngân hàng được hiểu là việc ngân hàng (bên cấp tín dụng) chuyển giao một lượng tiền tệ cho khách hàng (bên được cấp tín dụng). Khách hàng cam kết sẽ hoàn trả vô điều kiện khoản tiền đã nhận khi đến hạn thanh toán, kèm theo một khoản lãi suất đã thỏa thuận, tức là một lượng giá trị lớn hơn giá trị tiền tệ mà ngân hàng đã chuyển giao ban đầu. Tài sản được giao nhận chủ yếu là tiền tệ và yếu tố “uy tín” của ngân hàng là nền tảng cho việc thực hiện các nghiệp vụ cấp tín dụng. Việc cam kết hoàn trả “vô điều kiện” cùng với một “lượng giá trị lớn hơn” chính là bản chất của quan hệ tín dụng có lãi suất, đảm bảo lợi ích cho bên cấp tín dụng (ngân hàng) và bù đắp cho rủi ro mà họ chấp nhận.

1.1.2. Đặc điểm tín dụng ngân hàng Luận văn: Chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

Theo Nguyễn Văn Tiến (2016) thì tín dụng ngân hàng có những đặc điểm cơ bản sau: Tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở lòng tin, ngân hàng chỉ cấp tín dụng khi có lòng tin vào việc khách hàng sử dụng vốn vay vào đúng mục đích, hiệu quả và có khả năng hoàn trả nợ vay (gốc và lãi) đúng hạn, còn người đi vay thì tin tưởng vào khả năng kiếm được tiền trong tương lai để trả nợ gốc và lãi.

Tín dụng là sự chuyển giao quyền sử dụng tài sản có thời hạn hay có tính hoàn trả; trong quan hệ tín dụng thì ngân hàng chỉ chuyển giao quyền sử dụng tài sản cho khách hàng mà không chuyển giao quyền sở hữu. Ngân hàng là trung gian tài chính mà họat động chủ yếu là “đi vay để cho vay”, nên mọi khoản cấp tín dụng của ngân hàng đều phải có thời hạn nhằm đảm bảo để ngân hàng hoàn trả vốn huy động từ các chủ thể kinh tế.

Hoạt động tín dụng trong ngân hàng thương mại được xây dựng dựa trên nguyên tắc cơ bản là sự hoàn trả vô điều kiện, bao gồm cả gốc và lãi. Đây là yếu tố then chốt phản ánh bản chất kinh doanh của một tổ chức tài chính. Giá trị mà khách hàng hoàn trả phải luôn lớn hơn giá trị khoản vay ban đầu, bởi lẽ phần chênh lệch này không chỉ dùng để bù đắp chi phí hoạt động của ngân hàng (như chi phí huy động vốn, chi phí quản lý, chi phí vận hành) mà còn tạo ra lợi nhuận, đảm bảo sự phát triển bền vững của ngân hàng. Nếu nguyên tắc này không được tuân thủ, ngân hàng sẽ không thể duy trì hoạt động và tích lũy vốn.

Mặc dù mang lại nguồn thu nhập chính và là động lực cho sự phát triển của ngân hàng, tín dụng ngân hàng cũng là một hoạt động tiềm ẩn rủi ro cao. Tính chất rủi ro này là tất yếu và không thể loại trừ hoàn toàn. Rủi ro tín dụng phát sinh không chỉ do các yếu tố chủ quan từ phía khách hàng mà còn do những thay đổi khách quan của môi trường kinh doanh. Khách hàng có thể gặp phải những khó khăn bất ngờ như biến động kinh tế vĩ mô, suy thoái ngành, thay đổi chính sách, hoặc các sự kiện bất khả kháng (thiên tai, dịch bệnh). Những yếu tố này có thể làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng tạo ra dòng tiền và trả nợ của người vay, dẫn đến nợ quá hạn hoặc nợ xấu. Do đó, việc quản lý rủi ro tín dụng là một nhiệm vụ liên tục và phức tạp, đòi hỏi các ngân hàng phải có hệ thống đánh giá, giám sát và xử lý rủi ro hiệu quả để giảm thiểu tác động tiêu cực đến hoạt động kinh doanh.

1.1.3. Vai trò của tín dụng ngân hàng

  • Theo Phan Thị Thu Hà (2014) thì tín dụng ngân hàng có các vai trò đối với các đối tượng như sau:

Vai trò của tín dụng đối với khách hàng: Thông qua tín dụng ngân hàng đáp ứng nhu cầu về vốn cho khách hàng để duy trì quá trình sản xuất kinh doanh liên tục, thúc đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng, đầu tư chiều sâu của các doanh nghiệp, góp phần đầu tư phát triển kinh tế. Tín dụng ngân hàng có ý nghĩa quyết định đến thời cơ kinh doanh và tính chủ động trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nhờ nguồn vốn tín dụng bổ sung kịp thời, các doanh nghiệp mới có cơ hội để khai thác và nắm bắt được thời cơ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.

Vai trò của tín dụng đối với ngân hàng: Qua quan hệ tín dụng, các Ngân hàng thương mại hoạt động tốt sẽ có cơ hội giới thiệu và quảng bá đến khách hàng các loại hình dịch vụ ngân hàng mới, tạo ra nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng đối với khách hàng mới cũng như tạo mối quan hệ tin tưởng với khách hàng cũ, tạo dựng nguồn khách hàng truyền thống và trung thành đối với ngân hàng.

Vai trò của tín dụng đối với toàn bộ nền kinh tế: Trên cơ sở hoạt động tín dụng ngân hàng cấp cho các doanh nghiệp để các doanh nghiệp sẽ có vốn để tổ chức sản xuất, qua đó tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn trong nền kinh tế. Tín dụng thúc đẩy tiêu dùng thông qua hoạt động cho vay tiêu dùng đối với cá nhân, qua đó trực tiếp làm tăng tổng cầu hàng hóa dịch vụ trong xã hội và gián tiếp thúc đẩy doanh nghiệp phát triển sản xuất, mở rộng đầu tư, từ đó nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế. Tín dụng thúc đẩy mở rộng kim ngạch xuất nhập khẩu thông qua tài trợ vốn cho các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu. Tín dụng góp phần ổn định đời sống nhân dân qua việc gián tiếp tạo công ăn việc làm cho người lao động.

1.1.4. Phân loại tín dụng ngân hàng Luận văn: Chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

Theo Phan Thị Thu Hà (2014) đối với hình thức tín dụng tại các Ngân hàng thương mại thì có thể chia thành các nhóm tiêu chí đó là mục đích vay, thời hạn vay, phương thức cho vay, hình thức của Tài sản đảm bảo. Trong đó:

1.1.4.1. Đối với mục đích vay

Tín dụng tại các Ngân hàng thương mại theo mục đích vay bao gồm hai hình thức là phục vụ sản xuất kinh doanh và vay tiêu dùng.

Cho vay để sản xuất kinh doanh: Đây là hình thức mà Ngân hàng thương mại cho các khách hàng vay nhằm phục vụ cho mục đích bổ sung vốn kinh doanh như mua nguyên vật liệu, hàng hóa, trả lương cho công nhân, mua sắm thêm các loại TSCĐ để phục vụ cho hoạt động kinh doanh. Đặc điểm chính đối với hoạt động cho vay này là nguồn trả nợ chính sẽ xuất phát từ mục bán hàng thu được, thời gian vay vốn thường ngắn kéo dài từ 6 tháng đến 12 tháng đối với nhu cầu vốn lưu động và trên 12 tháng đối với nhu cầu đầu tư vào các loại TSCĐ dài hạn. Lãi suất vay của hình thức này thường thấp và được hưởng nhiều chính sách ưu đãi của ngân hàng. Vòng vay vốn liên tục và nguồn tiền bán hàng sẽ được ngân hàng giám sát chặt chẽ.

Cho vay phục vụ hoạt động tiêu dùng: Đây là hình thức mà ngân hàng sẽ tài trợ vốn cho khách hàng khi họ có mục đích chi tiêu cá nhân, hộ gia đình. Cái khoản vay tiêu dùng này là nguồn tài chính quan trọng giúp cho khách hàng có thể trang trải các nhu cầu của cuộc sống như mua nhà ở, xây dựng, sửa chữa, mua sắm phương tiện đi lại, sinh hoạt, học tập, du lịch, y tế. Hình thức cho vay tiêu dùng này giúp cho khách hàng thỏa mãn và thụ hưởng các dịch vụ mang lại và họ sẽ dùng nguồn tài chính của mình để trả nợ cho ngân hàng khi đến hạn, kỳ hạn này có thể theo hàng tháng hàng quý hoặc hàng năm tùy vào thoả thuận với ngân hàng.

1.1.4.2. Đối với kỳ hạn vay

Tại các ngân hàng hiện nay thì hoạt động cho vay đối với khách hàng thường chia ra thành ba kỳ hạn chính là ngắn hạn, trung hạn và dài hạn: Luận văn: Chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

Cho vay ngắn hạn: Đây là khoản vay có thời hạn dưới 12 tháng. Ngân hàng cho vay ngắn hạn nhằm phục vụ cho khách hàng có nhu cầu bổ sung vốn lưu động cho việc kinh doanh, chi tiêu ngắn hạn, tiêu dùng cá nhân.

Cho vay trung hạn: Đây là khoản vay có thời hạn từ 12 tháng đến dưới 60 tháng. Ngân hàng thường cho vay các khoản vay này nhằm tài trợ nhu cầu kinh doanh trung hạn, tiêu dùng trung hạn,…

Cho vay dài hạn: Đây là khoản vay có thời hạn trên 60 tháng. Ngân hàng cho khách hàng vay khoản vay dài hạn này nhằm để phục vụ cho các nhu cầu vay vốn hoạt động kinh doanh dài hạn, tiêu dùng của khách hàng để mua sắm tài sản cố định dài hạn, nhà ở, đất đai, xây nhà.

1.1.4.3. Đối với phương thức cho vay

Tại các ngân hàng hiện nay với phương thức cho vay thì phổ biến nhất là các hình thức cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức, các hình thức khác.

Cho vay từng lần: Đây là phương pháp là ngân hàng sẽ cho khách hàng vay thực hiện làm các thủ tục tín dụng cần thiết. Nhưng khi có nhu cầu vay vốn, khách hàng làm hồ sơ xin vay khoản tiền với mục đích sử dụng cụ thể. Hoặc với giá trị cho vay lớn, thì ngân hàng sẽ không giải ngân một lần mà sẽ chia nhỏ khoản cấp tín dụng thành nhiều lần.

Cho vay theo hạn mức: Khách hàng chỉ cần làm hồ sơ vay lần đầu với hình thức cho vay vốn luân chuyển này. Sau đó, dựa trên hợp đồng tín dụng đã ký, ngân hàng sẽ giải ngân cho khách hàng bằng giấy nhận nợ kèm theo chứng từ để chứng minh mục đích sử dụng tiền vay. Ngân hàng sẽ xác định hạn mức tín dụng cụ thể cho những khách hàng có nhu cầu bổ sung vốn lưu động thường xuyên, đều đặn và vòng quay vốn nhanh. Khách hàng cũng cần mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng để theo dõi dòng tiền của họ để sản xuất và thanh toán cho các đơn vị khác.

Cho vay với các hình thức khác: Ngân hàng sẽ cho khách hàng vay để mua dự án đầu tư, ứng trước, trả góp, hoặc cho vay thấu chi,… Luận văn: Chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

1.1.4.4. Đối với hình thức đảm bảo

Theo hình thức đảm bảo khi cho vay thì ngân hàng có hai hình thức chính là cho vay có đảm bảo bằng tài sản cố định hoặc cho vay không tài sản đảm bảo.

Cho vay có đảm bảo bằng tài sản: Đây là hình thức cấp tín dụng và điều kiện để khách hàng được vay là phải có Tài sản đảm bảo. Loại Tài sản đảm bảo này có thể là bất động sản, động sản, máy móc thiết bị, khách hàng cần phải làm thủ tục với ngân hàng đầy đủ theo quy định của pháp luật hay nói cách khác đây là hình thức thế chấp tài sản của khách hàng cho ngân hàng để làm sự đảm bảo nếu có rủi ro trong khoản vay xảy ra, sau khi sử dụng tài sản đảm bảo thế chấp thì khách hàng sẽ được nhận phần vốn vay của mình.

Cho vay không có Tài sản đảm bảo: Đây là hình thức mà ngân hàng chủ động lựa chọn khách hàng có thể đáp ứng được điều kiện để cấp tín dụng mà không cần phải có Tài sản đảm bảo cho ngân hàng. Dựa trên các đánh giá về năng lực tài chính, phi tài chính, khả năng trả nợ của khách hàng để đưa ra những phương án cấp tín dụng phù hợp. Đối với hình thức này thì ngân hàng và khách hàng sẽ có những thỏa thuận nhằm đưa ra các biện pháp để đảm bảo hay thu hồi nợ trước hạn hoặc trong trường hợp khách hàng gặp những vấn đề rủi ro hay vi phạm hợp đồng tín dụng sẽ có phương án xử lý cụ thể.

1.2. CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Luận văn: Chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

1.2.1. Khái niệm chất lượng tín dụng

Chất lượng tín dụng được xem là tiêu chí mà đại đa số các ngân hàng thương mại đều quan tâm hàng đầu trong kinh doanh tiền tệ của mình. Chất lượng tín dụng dưới góc độ khách hàng có thể được hiểu là ngân hàng đáp ứng được nhu cầu vốn của khách hàng kịp thời và đúng mục đích của khách hàng. Các khoản cấp tín dụng này chủ yếu phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh (của doanh nghiệp), đầu tư vào tài sản cố định, máy móc thiết bị (của doanh nghiệp hoặc các dự án cơ sở hạ tầng), đa dạng hóa đầu tư sản phẩm (của doanh nghiệp) hoặc thực hiện các mục đích tiêu dùng cá nhân (mua nhà, mua xe, giáo dục, y tế) và đầu tư phát triển kinh tế – xã hội của nhà nước. Mục tiêu chung là nhằm tạo ra giá trị gia tăng, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, cải thiện khả năng cạnh tranh (đối với doanh nghiệp) hoặc nâng cao chất lượng cuộc sống (đối với cá nhân), từ đó tạo ra dòng tiền hoặc nguồn thu nhập đủ để hoàn trả gốc và lãi cho bên cấp tín dụng (Nguyễn Văn Tiến, 2016).

Nguyễn Đăng Dờn (2011) cho rằng dưới góc độ ngân hàng thì chất lượng tín dụng có thể hiểu đó là sự nâng cao hiệu quả của hoạt động tín dụng mục đích để gia tăng được lợi nhuận cao trong hoạt động tín dụng. Khả năng thu hồi được nợ từ khách hàng có quan hệ tín dụng đối với ngân hàng, mặt khác ngăn ngừa hay giảm thiểu tối đa tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu tại ngân hàng. Ngân hàng luôn duy trì được tỷ lệ an toàn với cơ cấu tín dụng của mình với các đối tượng khách hàng của ngân hàng.

Tín dụng ngân hàng là một trong những hình thức hoạt động giúp cho nền kinh tế thị trường vận động và phát triển. Để thực hiện được hoạt động tín dụng ngân hàng thì hệ thống ngân hàng phải tận dụng tối đa và tốt các nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế sau đó phân phối các nguồn vốn này đến các chủ thể thiếu vốn như cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức,… muốn mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh làm ăn hoặc đầu tư vào các dự án,… Tín dụng ngân hàng là nhân tố tốt cho hoạt động đầu tư cho nền kinh tế vì đã tạo ra được các sản phẩm chất lượng cao, giá thành thấp tạo sự tăng trưởng kinh tế, gia tăng đời sống xã hội, giúp thị trường khai thác được những tiềm năng để vận hành sự phát triển.

Tóm lại, tại đề án này thì chất lượng tín dụng có thể hiểu đó chính là sự an toàn cao trong hệ thống ngân hàng. Với khía cạnh của ngân hàng thì chất lượng tín dụng càng được đảm bảo cao thì khả năng thanh toán càng cao đồng thời ngân hàng có thể tránh được những rủi ro có tính hệ thống. Theo đuổi mục tiêu nâng cao chất lượng tín dụng là công việc mục tiêu của ngân hàng vì nó gia tăng được thế mạnh của ngân hàng cũng như uy tín trong hệ thống và nền kinh tế. Do đó, tại đề án này chất lượng tín dụng sẽ được xem xét với khía cạnh ngân hàng và nên được hiểu là mức độ mà các khoản tín dụng được ngân hàng cấp có khả năng được hoàn trả đầy đủ gốc và lãi đúng hạn, theo các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng, đồng thời hạn chế tối đa các rủi ro phát sinh có thể gây tổn thất cho ngân hàng. Nó phản ánh khả năng quản lý rủi ro của ngân hàng, hiệu quả của quy trình thẩm định, giám sát khoản vay, và năng lực tài chính của bên đi vay. Chất lượng tín dụng cao sẽ góp phần đảm bảo an toàn và hiệu quả cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

1.2.2. Vai trò của việc nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng thương mại Luận văn: Chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

Phan Thị Thu Hà (2014) cho rằng chất lượng tín dụng là sự đáp ứng kịp thời nhu cầu khách hàng nhưng vẫn đảm bảo sự phát triển an toàn, bền vững của ngân hàng phù hợp với sự phát triển với kinh tế xã hội dưới những khía cạnh sau:

Đối với Ngân hàng thương mại thì chất lượng tín dụng thể hiện ở các mặt như phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phù hợp với năng lực ngân hàng. Đáp ứng và thỏa mãn tốt nhu cầu khách hàng thì các ngân hàng nên cấp tín dụng với mức độ và phạm vi khả năng của mình. Đồng thời thể hiện tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng hạn gốc lãi. Mặt khác nếu chất lượng tín dụng được nâng cao thì ngân hàng sẽ giảm thiểu được những rủi ro của hoạt động tín dụng là cơ sở để tăng quy mô tín dụng cũng như thị phần trong nền kinh tế ngày càng có nhiều sự cạnh tranh từ các đơn vị ngân hàng khác.

Đối với sự phát triển kinh tế và xã hội chất lượng tín dụng được thể hiện ở chỗ nó phục vụ được cho việc lưu thông thuận lợi hàng hóa, giải quyết được nhu cầu vốn làm ăn, đầu tư các dự án và khai thác triệt để các tiềm năng của nền kinh tế. Chất lượng tín dụng được nâng cao được xem là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, nó góp phần làm vai trò điều hòa nguồn bền vững trong nền kinh tế cũng như giải quyết vấn đề liên quan đến vốn. Khi các nguồn vốn đã được chảy lưu thông sẽ tạo ra sự hanh thông cho hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra vô số công ăn việc làm, thúc đẩy phát triển kinh tế, đẩy mạnh phát triển phúc lợi xã hội,…

1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại

1.2.3.1. Tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu

  • Nợ quá hạn Luận văn: Chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

Nợ quá hạn tại các Ngân hàng thương mại được định nghĩa là một phần hay toàn bộ nợ gốc cho khách hàng vay đã quá ngày trả tại bất cứ lý do gì (Nguyễn Văn Tiến, 2016). Theo TT11/2022/TT-NHNN thì nợ quá hạn được định nghĩa là khoản cấp tín dụng mà một phần hoặc toàn bộ giá trị (bao gồm cả gốc và lãi) đã vượt quá thời hạn thanh toán được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Nói cách khác, đây là tình trạng mà khách hàng vay, dù là cá nhân hay tổ chức, không thể hoàn trả đúng hạn các khoản gốc và lãi theo cam kết ban đầu trên hợp đồng tín dụng, đồng thời khoản vay này không được phép hoặc không đủ điều kiện để ngân hàng gia hạn nợ. Thông thường, nợ quá hạn được phân loại thành 5 nhóm khác nhau, phản ánh mức độ rủi ro và khả năng thu hồi của khoản nợ:

Nhóm “1 (Nợ đủ tiêu chuẩn): Với nhóm nợ này thì ngân hàng có thể thu hồi được cả gốc lẫn lãi như trên hợp đồng tín dụng. Nhưng khoản nợ này có thể đã quá hạn thanh toán dưới 10 ngày nhưng vẫn được đánh giá có thể thu hồi gốc và lãi hay lãi phạt quá hạn đúng ngày.

Nhóm 2 (Nợ cần được chú ý): Với nhóm nợ này thì khách hàng đã quá hạn thanh toán gốc lãi từ 10 đến 90 ngày hoặc khoản nợ có sự điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần thứ nhất.

Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn): Với nhóm nợ này thì khách hàng đã quá hạn thanh toán gốc lãi từ 91 đến 180 ngày hoặc, nợ gia hạn lần thứ nhất. Với khoản nợ này thì ngân hàng có thể miễn giảm lãi cho khách hàng do không đủ khả năng chi trả lãi theo thỏa thuận ban đầu trên hợp đồng tín dụng.

Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ): Với nhóm nợ này thì khách hàng đã quá hạn thanh toán gốc lãi từ 181 đến 360 ngày. Nợ cơ cấu lần thứ nhất dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lần thứ nhất và tiến hành cơ cấu lần thứ hai.

Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn): Với nhóm nợ này, đây là những khoản vay mà khách hàng đã quá hạn thanh toán gốc và lãi trên 360 ngày. Đặc biệt, nhóm nợ này còn bao gồm các khoản vay đã được cơ cấu lại nợ (lần thứ nhất và lần thứ hai) nhưng khách hàng vẫn không thể thực hiện được nghĩa vụ thanh toán gốc và lãi cho ngân hàng. Đây là nhóm nợ có mức độ rủi ro rất cao, thường được xếp vào nhóm nợ có khả năng mất vốn, phản ánh tình trạng tài chính cực kỳ khó khăn của khách hàng và khả năng thu hồi vốn của ngân hàng là rất thấp. Tại ngân hàng, nợ quá hạn có hai công thức đo lường như sau:

  • Nợ xấu Luận văn: Chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

Thuật ngữ “Nợ xấu” (Non – Performing Loans) có thể được thay thế bằng nợ khó đòi theo như Fofack (2006) hoặc các khoản vay có vấn đề (Berger và De Young, 1997). Nợ xấu cũng có thể được định nghĩa là các khoản nợ không trả được (Defaulted Loans) mà các Ngân hàng thương mại không thể thu lợi từ khoản vay đó.

Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF, 2005) cho rằng: “Một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”.

Ủy ban Basel (2007) về giám sát ngân hàng (BCBS) không đưa ra thời gian quá hạn chi trả một khoản nợ bị coi là “xấu” (có thể là 30-89 ngày, 90-179 ngày, trên 180 ngày ở các quốc gia khác nhau) mà cho rằng đó là: “Khoản nợ đã quá hạn và ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi”.

Theo TT số 11/2022/TT-NHNN tại Việt Nam quy định về những sự phân loại tài sản có, các phương pháp thực hiện công tác trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại các tổ chức tín dụng thì: “Nợ xấu là nợ thuộc các nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ), nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn). Nợ xấu được định nghĩa của TT cũng được xác định dựa trên 2 yếu tố là nợ đã quá hạn trên 90 ngày và khả năng trả nợ đáng lo ngại của người vay”.

Ngoài ra, có những định nghĩa theo các nghiên cứu thực nghiệm của Salas và Saurina (2003), Das và Ghosh (2008), Chaibi và Ftiti (2016) thì nợ xấu là khoản cấp tín dụng của các Ngân hàng thương mại đến các đối tượng khách hàng khi đến hạn họ không có hoặc mất khả năng chi trả cho khoản nợ gốc và lãi. Khoản nợ xấu này sẽ buộc các Ngân hàng thương mại phải trích lập dự phòng theo thời gian quá hạn quy định và gây ra sự khó khăn để thanh toán cho các khoản huy động.

Tóm lại, nợ xấu được hiểu với nhiều khía cạnh khác nhau. Trong đề án này, nợ xấu được hiểu theo TT số 31/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chính là các khoản cấp tín dụng quá hạn được phân loại thuộc nhóm 3, 4, 5. Hay nói cách khác, với khoản nợ vay thuộc các nhóm này thì các Ngân hàng thương mại đánh giá có tính chất khó hoặc không thu hồi được. Nếu tình huống xấu nhất xảy ra và tỷ lệ nợ xấu tăng cao thì buộc các Ngân hàng thương mại phải đối diện với việc xử lý nó thông qua phương pháp trích lập dự phòng. Khi đó, sẽ kéo Ngân hàng thương mại suy giảm tài sản, gia tăng chi phí, lợi nhuận giảm sút và mất uy tín nếu không thể thanh toán các khoản tiền huy động từ khách hàng gửi tiền để cho vay. Mặt khác, nợ xấu được xem là tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng và sự hiệu quả trong hoạt động cho vay của các Ngân hàng thương mại. Chỉ tiêu nợ xấu được phản ánh như sau: Luận văn: Chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

1.2.3.2. Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng

Ashour (2012) cho rằng Dự phòng rủi ro tín dụng được xem là một khoản chi phí quản lý được tính trước cho chi phí vận hành của các Ngân hàng thương mại, khoản dự phòng này nhằm dự phòng trước cho sự tổn thất có thể sinh ra từ các khoản nợ quá hạn khó thu hồi hoặc không thu hồi được của Ngân hàng thương mại. Trong đó thì IMF chia dự phòng này thành hai khoản là dự phòng cụ thể và dự phòng chung.

Trích lập Dự phòng rủi ro tín dụng là một nghiệp vụ tài chính trọng yếu trong hoạt động ngân hàng, được xem là quá trình nhận diện sớm và quản lý hiệu quả các tổn thất tiềm tàng từ hoạt động cấp tín dụng. Đây là việc ngân hàng ước tính và dự trữ một khoản tiền nhằm bù đắp cho những thiệt hại có thể phát sinh từ các khoản vay mà khách hàng không có khả năng hoặc mất đi khả năng thanh toán cả gốc và lãi khi đến hạn. Bản chất của hoạt động tín dụng luôn tiềm ẩn rủi ro về việc khách hàng vi phạm nguyên tắc hoàn trả do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Do đó, việc trích lập dự phòng trở thành một yêu cầu tất yếu đối với các ngân hàng. Theo Nguyễn Văn Tiến (2016), khoản dự phòng này không chỉ là một khoản chi phí mà còn là một nguồn dự trữ tài chính quan trọng, giúp ngân hàng có thể đối phó và hấp thụ những cú sốc từ các khoản tín dụng không hiệu quả. Nó đảm bảo rằng ngân hàng có đủ khả năng tài chính để bù đắp các khoản lỗ tiềm năng, từ đó bảo vệ sự ổn định của bảng cân đối kế toán và duy trì hoạt động kinh doanh liên tục. Nói cách khác, Dự phòng rủi ro tín dụng hoạt động như một “tấm đệm” tài chính, giúp ngân hàng quản lý rủi ro tín dụng một cách chủ động, giảm thiểu tác động tiêu cực khi rủi ro chuyển thành tổn thất thực tế và củng cố niềm tin của thị trường vào năng lực tài chính của tổ chức.

Theo nghị định số 86/2025/NĐ-CP thì các khoản nợ xấu thuộc nhóm nợ quá hạn 3,4,5 mới được trích lập Dự phòng rủi ro tín dụng và đây là trích lập cụ thể. Như đã đề cập phía trước khoản dự phòng là chi phí quản lý trả trước và được kết chuyển thành chi phí hoạt động của ngân hàng, do đó trích lập Dự phòng rủi ro tín dụng càng cao thì lợi nhuận ngân hàng kỳ đó càng suy giảm, giá trị tài sản cũng giảm theo hay hiệu quả HĐKD của Ngân hàng thương mại cũng kém đi. Mức trích lập dự phòng rủi ro tín dụng được tính bằng chỉ số như sau: Luận văn: Chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

1.2.3.3. Thu nhập từ lãi của hoạt động tín dụng

Chất lượng tín dụng còn được đánh giá thông qua thu nhập từ lãi của hoạt động tín dụng. Vì thu nhập từ lãi tín dụng thể hiện được mức độ tăng trưởng kinh doanh của hoạt động này, cũng như nguồn lợi ngân hàng được hưởng từ hoạt động này.

Tốc độ thu lãi từ tín dụng càng gia tăng thì cho thấy hoạt động này đang được triển khai hiệu quả tại ngân hàng, đồng thời cho thấy các khoản vay mà ngân hàng cấp cho khách hàng đang được duy trì việc thu nợ gốc lãi tốt.

1.2.3.4. Hoạt động quản trị rủi ro tín dụng

Theo Phan Thị Thu Hà (2014), hoạt động quản trị Rủi ro tín dụng trong ngân hàng gồm các nội dung chính như xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, giám sát rủi ro và thông qua xử lý nợ. Trong đó, việc xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ đóng vai trò nền tảng.

  • Xây dựng hệ thống Xếp hạng tín dụng nội bộ

Hệ thống chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng là một quy trình thiết yếu trong hoạt động của Ngân hàng thương mại. Chức năng cốt lõi của hệ thống này là đánh giá khách quan khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính của khách hàng đối với ngân hàng. Điều này giúp Ngân hàng thương mại đưa ra các quyết định cấp tín dụng một cách có cơ sở, quản lý rủi ro hiệu quả, và duy trì sự ổn định của danh mục cho vay. Điều này bao gồm khả năng hoàn trả gốc, lãi vay đúng hạn, cũng như tuân thủ các điều kiện tín dụng khác. Mục tiêu cuối cùng là đánh giá và định lượng Rủi ro tín dụng mà Ngân hàng thương mại phải đối mặt từ từng khách hàng (Nguyễn Văn Tiến, 2016). Luận văn: Chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

Đối tượng và mục đích Xếp hạng tín dụng: Hệ thống chấm điểm và Xếp hạng tín dụng là công cụ then chốt của Ngân hàng thương mại để đánh giá khả năng khách hàng thực hiện nghĩa vụ tài chính. Xếp hạng tín dụng thu thập đa dạng thông tin, từ báo cáo tài chính đến kinh nghiệm quản lý, uy tín doanh nghiệp và lịch sử giao dịch. Điều quan trọng là Xếp hạng tín dụng không đo lường “giá trị” tuyệt đối của người vay, mà là khả năng họ gây ra Rủi ro tín dụng, giúp ngân hàng xây dựng chính sách tín dụng phù hợp. Một xếp hạng cao không đảm bảo hoàn toàn khả năng trả nợ, mà chỉ là cơ sở để định mức cấp tín dụng và dự kiến mức độ Rủi ro tín dụng. Chức năng chính của Xếp hạng tín dụng là dự báo nguy cơ vỡ nợ (nguy hiểm, cảnh báo, an toàn) dựa trên xác suất không thu hồi được nợ, thường thông qua đánh giá tư cách người vay, tài sản đảm bảo, thời hạn, dư nợ tại các ngân hàng khác và năng lực tài chính tổng thể (Nguyễn Văn Tiến, 2016).

Vai trò của Xếp hạng tín dụng trong hoạt động quản trị Rủi ro tín dụng: Để quản trị Rủi ro tín dụng hiệu quả, việc xây dựng một môi trường quản lý Rủi ro tín dụng với quy trình lành mạnh, hệ thống đo lường và theo dõi phù hợp là điều kiện tiên quyết. Trong đó, Xếp hạng tín dụng đóng vai trò không thể thiếu.

Cung cấp thông tin chuẩn mực về Rủi ro tín dụng: Xếp hạng tín dụng cung cấp những bằng chứng và thông tin có tính chuẩn mực về các cấp độ Rủi ro tín dụng. Một xếp hạng càng thấp thì Rủi ro tín dụng của khách hàng càng lớn, đồng nghĩa với nguy cơ tổn thất cho Ngân hàng thương mại sẽ càng cao (Nguyễn Văn Tiến, 2016).

Hỗ trợ sàng lọc khách hàng: Xếp hạng tín dụng giúp Ngân hàng thương mại có căn cứ để từ chối các khách hàng có mức điểm đánh giá thấp. Điều này giúp ngân hàng tiết kiệm đáng kể thời gian và nguồn lực, cho phép tập trung vào các khách hàng có khả năng trả nợ tốt hơn (Nguyễn Văn Tiến, 2016).

Cơ sở kiểm soát và đánh giá hiệu quả quản trị: Xếp hạng tín dụng tạo ra một căn cứ độc lập để Ngân hàng thương mại đánh giá tính hiệu quả của quá trình quản trị Rủi ro tín dụng của các bộ phận liên Nhờ đó, ngân hàng có thể đảm bảo chức năng cấp tín dụng được quản lý một cách phù hợp và tối ưu (Nguyễn Văn Tiến, 2016).

Tối ưu hóa quản lý thông tin: Xếp hạng tín dụng thúc đẩy các Ngân hàng thương mại thu thập, quản lý, khai thác và phân tích thông tin một cách có hệ thống. Những dữ liệu này được lưu trữ để sử dụng một cách chính xác trong quá trình thẩm định hay xét duyệt tư cách tín dụng của khách hàng trong tương lai (Nguyễn Văn Tiến, 2016).

Nguyên tắc và quy trình Xếp hạng tín dụng: Hoạt động Xếp hạng tín dụng được xây dựng trên các nguyên tắc chủ yếu bao gồm: phân tích tín nhiệm dựa trên thiện chí trả nợ trước đây của khách hàng và đánh giá tiềm lực tài chính hiện tại. Từ đó, ngân hàng có thể đánh giá rủi ro một cách toàn diện và thống nhất. Theo Nguyễn Văn Tiến (2016) thì quy trình Xếp hạng tín dụng thường bao gồm 5 bước theo thứ tự sau. Luận văn: Chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

  • Thu thập thông tin: Tập hợp đầy đủ các dữ liệu tài chính và phi tài chính liên quan đến khách hàng.
  • Phân loại theo ngành – quy mô: Phân nhóm khách hàng dựa trên đặc điểm ngành nghề và quy mô hoạt động để áp dụng các tiêu chí đánh giá phù hợp.
  • Phân tích các chỉ tiêu và cho điểm: Áp dụng các mô hình và tiêu chí định lượng, định tính để phân tích dữ liệu và gán điểm cho từng khách hàng.
  • Đưa ra các kết quả Xếp hạng tín dụng: Tổng hợp các điểm số để đưa ra xếp hạng cuối cùng cho khách hàng.

Phê chuẩn và sử dụng kết quả Xếp hạng tín dụng: Kết quả được cấp có thẩm quyền phê duyệt và sau đó được sử dụng trong các quyết định cấp tín dụng và quản lý rủi ro.

  • Đo lường Rủi ro tín dụng

Đo lường rủi ro “là một bước quan trọng trong toàn bộ quy trình quản lý Rủi ro tín dụng nói riêng và quản trị Rủi ro tín dụng nói chung và việc đo lường rủi ro ngày càng trở nên quan trọng hơn trong việc quản trị RR hiện đại. Đo lường RR được hiểu là việc tính toán định lượng một cách chính xác về rủi ro mà ngân hàng gặp phải trong tất cả các giao dịch có liên quan. Việc đo lường rủi ro có thể xét trên 02 khía cạnh: Đo lường rủi ro cho từng giao dịch cho vay đơn lẻ; Đo lường rủi ro cho toàn danh mục cho vay của ngân hàng (Chaibi và Ftiti, 2016). Đo lường Rủi ro tín dụng thực chất là đo lường xác suất xảy ra biến cố vỡ nợ (Probability of Default – PD) và mức độ tổn thất (Loss Given at Default – LGD) do biến cố vỡ nợ đó mang lại cho từng giao dịch và cho toàn danh mục tín dụng. Tùy vào điều kiện cụ thể, các ngân hàng có thể lựa chọn một trong hai biến cố này hoặc cả hai khi xây dựng mô hình đo lường rủi ro tín dụng. Để tính toán các xác suất nói trên, Ngân hàng thương mại dựa vào các số liệu thống kê lịch sử trong hệ thống xếp hạng nội bộ (Chaibi và Ftiti, 2016). Luận văn: Chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

  • Giám sát Rủi ro tín dụng

Để quản lý hiệu quả Rủi ro tín dụng, các Ngân hàng thương mại cần triển khai một quy trình giám sát và kiểm soát chặt chẽ. Điều này bao gồm việc theo dõi sát sao từng khoản cấp tín dụng riêng lẻ và toàn bộ danh mục tín dụng. Mục tiêu chính là chủ động nhận diện sớm các dấu hiệu suy giảm chất lượng tín dụng và kịp thời áp dụng các biện pháp xử lý. Để đạt được sự hiệu quả, việc giám sát Rủi ro tín dụng tối thiểu phải đáp ứng các yêu cầu cốt lõi sau: Thường xuyên cập nhật, theo dõi sát sao kết quả phân loại nợ của các khoản cấp tín dụng tại TCTD của mình; Đánh giá được mức độ đầy đủ của việc trích lập dự phòng rủi ro theo quy định của Ngân hàng Nhà nước; Thường xuyên kiểm tra, kiểm soát trạng thái Rủi ro tín dụng thực tế tại đơn vị, để từ đó tuân thủ tuyệt đối giới hạn cấp tín dụng trong từng lĩnh vực, ngành nghề, tuân thủ hạn mức Rủi ro tín dụng theo quy định nội bộ của mỗi ngân hàng và quy định của hiện hành của Pháp luật Việt Nam; Đánh giá được mức độ tuân thủ quy định, quy trình kiểm tra, giám sát sau cho vay.

Theo Nguyễn Văn Tiến (2016) hoạt động giám sát rủi ro là một thành phần không thể thiếu trong quản lý Rủi ro tín dụng, với mục tiêu chính là phát hiện sớm các dấu hiệu cảnh báo về khả năng phát sinh rủi ro tín dụng. Việc nhận diện kịp thời các tín hiệu này cho phép Ngân hàng thương mại triển khai các biện pháp xử lý chủ động và hiệu quả, qua đó giảm thiểu tổn thất tiềm năng. Ngoài ra, giám sát Rủi ro tín dụng còn đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát tính tuân thủ các quy định nội bộ và quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) liên quan đến quản lý Rủi ro tín dụng. Hoạt động này cũng nhằm mục đích khắc phục các vi phạm đã xảy ra và đảm bảo tính hiệu quả của các phương pháp quản lý Rủi ro tín dụng mà ngân hàng đã lựa chọn, giúp duy trì sự ổn định và an toàn trong hoạt động tín dụng. Để đạt được các mục tiêu trên, hoạt động giám sát Rủi ro tín dụng tại mỗi Ngân hàng thương mại cần đáp ứng ba yêu cầu cơ bản:

Giám sát trạng thái rủi ro: Yêu cầu này đề cập đến việc theo dõi liên tục và đánh giá hiện trạng của các khoản tín dụng, từ đó xác định mức độ rủi ro hiện tại và tiềm ẩn. Điều này đòi hỏi Ngân hàng thương mại phải có khả năng cập nhật thông tin về tình hình tài chính của khách hàng, diễn biến thị trường và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ.

Giám sát tính tuân thủ quy định: Ngân hàng thương mại phải đảm bảo rằng các hoạt động cấp và quản lý tín dụng đều tuân thủ nghiêm ngặt các quy định nội bộ do ngân hàng ban hành, cũng như các quy định của Ngân hàng Nhà nước về quản lý Rủi ro tín dụng. Việc này giúp hạn chế các rủi ro phát sinh do thiếu sót trong quy trình hoặc không tuân thủ quy tắc.

Giám sát việc thực hiện biện pháp giảm thiểu rủi ro và khắc phục sai phạm: Giám sát không chỉ dừng lại ở việc phát hiện rủi ro mà còn bao gồm việc theo dõi hiệu quả của các biện pháp đã được áp dụng để giảm thiểu rủi ro hoặc khắc phục các sai phạm. Điều này giúp ngân hàng đánh giá được tính hiệu quả của các chiến lược quản lý Rủi ro tín dụng và điều chỉnh kịp thời nếu cần.

Nguyễn Văn Tiến (2016) cũng đề xuất các phương pháp đa dạng mà Ngân hàng thương mại có thể áp dụng để thực hiện giám sát Rủi ro tín dụng một cách hiệu quả: Luận văn: Chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

Kiểm tra tại chỗ: Đây là phương pháp trực tiếp, cho phép ngân hàng kiểm tra tình hình thực tế của khách hàng, tài sản bảo đảm, hoặc các chứng từ liên quan tại địa điểm kinh doanh của khách hàng. Phương pháp này cung cấp cái nhìn sâu sắc và trực quan về rủi ro.

Phân tích các báo cáo tài chính định kỳ: Việc phân tích các báo cáo tài chính của khách hàng (như báo cáo kết quả kinh doanh, bảng cân đối kế toán, báo cáo lưu chuyển tiền tệ) giúp ngân hàng đánh giá sức khỏe tài chính, khả năng sinh lời và dòng tiền của người vay một cách liên tục.

Thông qua các dữ liệu thông tin từ các nguồn khác nhau: Ngân hàng cần tận dụng nhiều nguồn thông tin bên ngoài như báo cáo ngành, thông tin kinh tế vĩ mô, thông tin từ các tổ chức tín dụng khác, hoặc các cơ quan truyền thông để có cái nhìn tổng thể về môi trường kinh doanh và các yếu tố rủi ro tiềm ẩn.

Việc giám sát Rủi ro tín dụng cần được thực hiện thường xuyên để đảm bảo tính kịp thời trong việc phát hiện và xử lý rủi ro (Nguyễn Văn Tiến, 2016). Tuy nhiên, mức độ giám sát có thể điều chỉnh tùy thuộc vào tính chất và đặc điểm của từng khoản cấp tín dụng riêng lẻ và từng danh mục tín dụng. Điều này hàm ý rằng các khoản vay có rủi ro cao hoặc các danh mục tập trung có thể cần mức độ giám sát chặt chẽ và thường xuyên hơn. Quan trọng nhất, việc giám sát phải đảm bảo rằng các nội dung trọng yếu luôn được theo dõi để duy trì Rủi ro tín dụng trong giới hạn của khẩu vị rủi ro và hạn mức rủi ro mà mỗi Ngân hàng thương mại đã thiết lập. Điều này giúp ngân hàng kiểm soát chặt chẽ tổng thể rủi ro mà mình đang gánh chịu, tránh các tổn thất ngoài dự kiến.

  • Quản trị Rủi ro tín dụng với hoạt động thu hồi nợ xấu

Theo Nguyễn Văn Tiến (2016) chiến lược xử lý Rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại được phân tách thành hai cấp độ chính là xử lý rủi ro giao dịch (từng khoản vay) và xử lý rủi ro danh mục. Mỗi cấp độ đều có những quy trình và công cụ đặc thù nhằm tối ưu hóa hiệu quả quản lý rủi ro. Luận văn: Chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

Đối với từng khoản vay cụ thể (rủi ro giao dịch): Khi nhận thấy các dấu hiệu cảnh báo liên quan đến một khoản cấp tín dụng cụ thể, Ngân hàng thương mại cần chủ động thực hiện một quy trình xử lý nợ có vấn đề. Quy trình này được mô tả qua các bước sau.

Phát hiện dấu hiệu nghi ngờ: Bước đầu tiên là việc nhận diện sớm các dấu hiệu cho thấy chất lượng khoản vay đang suy giảm. Điều này có thể bao gồm việc khách hàng chậm trả nợ, kết quả kinh doanh sa sút, thay đổi bất lợi trong ngành hoặc các yếu tố vĩ mô ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thanh toán của khách hàng.

Tăng cường đối thoại giữa các bên: Sau khi phát hiện dấu hiệu, việc thiết lập kênh đối thoại hiệu quả giữa ngân hàng và khách hàng là rất quan trọng. Mục đích là để hiểu rõ hơn về nguyên nhân dẫn đến khó khăn của khách hàng, đánh giá đúng mức độ nghiêm trọng của vấn đề và cùng nhau tìm kiếm giải pháp.

Tìm phương án tháo gỡ: Dựa trên kết quả đối thoại và phân tích, ngân hàng và khách hàng sẽ cùng nhau tìm kiếm các phương án khả thi để tháo gỡ khó khăn. Các phương án này có thể bao gồm cơ cấu lại nợ (gia hạn thời gian trả nợ, điều chỉnh kỳ hạn), điều chỉnh lãi suất, yêu cầu bổ sung tài sản đảm bảo, hoặc các biện pháp hỗ trợ khác phù hợp với tình hình cụ thể.

Lên kế hoạch: Sau khi đã thống nhất được phương án, cần xây dựng một kế hoạch chi tiết, cụ thể về các bước thực hiện, thời gian biểu và trách nhiệm của từng bên. Kế hoạch này cần được văn bản hóa và có sự đồng thuận của cả ngân hàng và khách hàng.

Kiểm soát: Bước cuối cùng là triển khai kế hoạch và giám sát chặt chẽ quá trình thực hiện. Ngân hàng cần theo dõi sát sao việc tuân thủ kế hoạch của khách hàng, đánh giá hiệu quả của các biện pháp đã áp dụng và điều chỉnh kịp thời nếu cần thiết để đảm bảo mục tiêu thu hồi nợ.

Đối với danh mục tín dụng tập trung (rủi ro danh mục): Đối với rủi ro danh mục, đặc biệt là khi nhận thấy dấu hiệu của rủi ro tập trung lớn, Nguyễn Văn Tiến (2016) nhấn mạnh sự cần thiết của việc cấu trúc lại danh mục. Điều này có thể được thực hiện thông qua hai nhóm biện pháp chính. Luận văn: Chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

Biện pháp tác động nội bảng: Nhóm biện pháp này trực tiếp làm thay đổi dư nợ, cơ cấu và tỷ trọng của các khoản vay trong danh mục tín dụng, từ đó giảm thiểu rủi ro tập trung. Một trong những biện pháp cụ thể được đề cập là mua bán nợ (Loan Trading). Việc mua bán nợ được coi là một công cụ tương đối đơn giản để điều chỉnh danh mục cho Thông qua hoạt động này, ngân hàng có thể bán đi các khoản nợ có rủi ro cao hoặc tập trung ở một ngành/khu vực nhất định, đồng thời có thể mua vào các khoản nợ phù hợp hơn với khẩu vị rủi ro và chiến lược đa dạng hóa danh mục của mình.

Biện pháp tác động ngoại bảng: Trong bối cảnh quản lý Rủi ro tín dụng, các Ngân hàng thương mại có thể áp dụng các biện pháp tác động ngoại bảng để giảm thiểu rủi ro mà không làm thay đổi trực tiếp dư nợ hay cấu trúc danh mục tín dụng trên bảng cân đối kế toán. Những công cụ này hoạt động chủ yếu thông qua việc chuyển giao hoặc bảo hiểm rủi ro. Một trong những công cụ tiêu biểu là hoán đổi Rủi ro tín dụng (Credit Default Swaps – CDS), Nguyễn Văn Tiến (2016) mô tả có cơ chế tương tự như một hợp đồng bảo hiểm. Bên bán bảo hiểm cam kết bồi thường cho bên mua khi một biến cố Rủi ro tín dụng xảy ra với tài sản tham chiếu (có thể là một khoản vay hoặc danh mục vay), đổi lại bên mua sẽ trả một khoản phí định kỳ.

Hợp đồng hoán đổi Rủi ro tín dụng là thỏa thuận song phương, xác định rõ ba yếu tố then chốt: Tài sản tham chiếu (khoản vay/danh mục vay được bảo hiểm). Biến cố Rủi ro tín dụng (như vỡ nợ, tái cấu trúc, mất khả năng thanh toán) và Phương thức thanh toán khi biến cố xảy ra (thanh toán bằng tiền mặt hoặc chuyển giao tài sản). Ngoài ra, chứng khoán hóa nợ cũng là một biện pháp ngoại bảng hiệu quả, biến các khoản nợ kém thanh khoản (ví dụ: khoản vay cá nhân, khoản vay mua ô tô, thế chấp) thành các chứng khoán có thể giao dịch, giúp ngân hàng chuyển giao rủi ro tín dụng của những khoản nợ đó cho các nhà đầu tư trên thị trường.

1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng tại ngân hàng thương mại

Theo Nguyễn Đăng Dờn (2012) thì các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương mại thì sẽ liên quan đến cả nội tại, lẫn các nhân tố bên ngoài ngân hàng. Nguyên nhân, vì Ngân hàng thương mại là trung gian tài chính và là huyết mạnh của nền kinh tế, do đó các HĐKD của ngân hàng liên quan tất cả các đối tượng trong đó.

1.2.4.1. Các nhân tố thuộc về ngân hàng Luận văn: Chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

Chính sách tín dụng của ngân hàng: Đây là các chính sách do Ban lãnh đạo ngân hàng đưa ra bao gồm hệ thống các quy định liên quan đến việc mở rộng hay thu hẹp Tín dụng nhằm đạt các mục tiêu đã hoạch định để hạn chế rủi ro, tăng lợi nhuận và đảm bảo an toàn trong hoạt động của ngân hàng. Chính sách tín dụng quá mở rộng đồng nghĩa với việc Ngân hàng thương mại hạ thấp tiêu chuẩn đối với khách hàng vay vốn, nghĩa là bên cạnh việc cho vay đối với những khách hàng có khả năng trả nợ tốt, Ngân hàng thương mại cho vay cả những khách hàng có khả năng trả nợ kém. Điều này sẽ khiến nợ xấu gia tăng, từ đó gây rủi ro cho hoạt động của Ngân hàng thương mại, khả năng thu hồi vốn sẽ bị giảm thấp.

Chất lượng thông tin tín dụng: Thông tin tín dụng là các thông tin liên quan đến khách hàng vay vốn bao gồm: Lịch sử hoạt động vay trả từ ngân hàng hoặc các TCTD khác, tình hình tài chính của khách hàng; thực tế số lượng, chất lượng thông tin tín dụng liên quan chặt chẽ đến chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại. Thông tin tín dụng càng đầy đủ, càng chính xác thì cán bộ tín dụng có cơ sở phân tích trước khi người có thẩm quyền phê duyệt. Khi chất lượng thông tin tốt đồng nghĩa chất lượng tín dụng của ngân hàng ngày càng cao, vì dự báo khả năng trả nợ của ngân hàng chính xác.

Quy trình tín dụng: Quy trình tín dụng bao gồm những quy định, các bước cần phải thực hiện trong quá trình cho vay, thu nợ nhằm đảm bảo an toàn nguồn vốn tín dụng của Ngân hàng thương mại. Quy trình tín dụng bắt đầu khi ngân hàng tiếp nhận đơn cấp tín dụng, thẩm định tín dụng, giải ngân đến khi thu hồi được nợ. Một ngân hàng có các bước của quy trình càng được tuân thủ chặt chẽ thì chất lượng tín dụng cao, vì một mặt hạn chế được rủi ro, mặt khác đơn giản hóa thủ tục, tiết kiệm thời gian cho khách hàng.

Năng lực phẩm chất cán bộ tín dụng: Trong quá trình cho vay, cán bộ tín dụng đóng vai trò rất quan trọng. Họ là người kiểm tra tư cách khách hàng, thẩm định điều kiện và mục đích sử dụng vốn vay. Nếu cán bộ tín dụng ngân hàng không đủ năng lực kiểm tra, năng lực thẩm định hoặc cố tình vi phạm thì chất lượng tín dụng sẽ thấp.

Công tác tổ chức thực hiện cấp tín dụng của ngân hàng: Các bộ phận phòng ban của ngân hàng được sắp xếp khoa học sẽ đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cán bộ, các bộ phận, là cơ sở để tiến hành các nghiệp vụ tín dụng hiệu quả, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho khách hàng để họ có cơ hội kinh doanh, có tiền trả nợ cho ngân hàng. Mặt khác, hạn chế thấp nhất các sơ hở trong quá trình cấp tín dụng. Luận văn: Chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

Năng lực đạo đức của nhà quản trị ngân hàng: Với môi trường hoạt động đặc thù có nhiều khả năng phát sinh các rủi ro về mặt đạo đức, yêu cầu phải có các tiêu chuẩn, điều kiện chặt chẽ hơn đối với người giữ chức danh quản lý, điều hành bao gồm cả các yêu cầu về phẩm chất, đạo đức và chuyên môn. Nhà quản trị ngân hàng kém năng lực sẽ hạn chế khả năng ban hành các quy định có khả năng kiểm soát rủi ro, sẽ sai lầm khi ra quyết định cho vay. Nhà quản trị phẩm chất kém sẽ đồng lõa với khách hàng trong việc cấp khoản tín dụng tồi, không có khả năng thu hồi nợ.

Hoạt động kiểm soát quá trình cấp tín dụng: Kiểm soát tốt sẽ loại trừ những cán bộ mất phẩm chất, tiêu cực, tham ô, tham nhũng gây thất thoát tài sản làm mất uy tín của ngân hàng đối với khách hàng. Nâng cao chất lượng tín dụng đòi hỏi ngân hàng phải chú trọng đến công tác kiểm tra, kiểm soát, thanh tra để kịp thời ngăn chặn, phát hiện được những hành vi vi phạm pháp luật.

Mức độ hiện đại hóa công nghệ ngân hàng: Công nghệ thông tin ngân hàng càng phát triển trong xu thế nền kinh tế số, đòi hỏi hệ thống ngân hàng phải trang bị đầy đủ các thiết bị công nghệ ngân hàng hiện đại để giúp các phòng ban xử lý các thông tin nhanh, đầy đủ, chính xác để ra các quyết định tín dụng. Đồng thời, sẽ giúp khách hàng giảm được thời gian giao dịch với ngân hàng. Qua đó sẽ nâng cao chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại dưới góc độ ngân hàng cũng như khách hàng.

1.2.4.2. Các nhân tố thuộc về khách hàng

Đạo đức và uy tín của khách hàng: Đạo đức uy tín cũng là một yếu tố hết sức quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng. Tín dụng là dựa trên đạo đức và sự tín nhiệm của ngân hàng đối với khách hàng. Việc khách hàng xin vay vốn để làm việc này nhưng thực tế lại sử dụng vào việc khác sai mục đích ban đầu dẫn tới ngân hàng không kiểm soát, đánh giá được khả năng trả nợ và khi đó có thể không có khả năng trả nợ; Khách hàng có ý đồ lừa đảo ngân hàng để chiếm đoạt tài sản không phải là ít, có những vụ việc xảy ra hết sức nghiêm trọng gây tổn thất lớn cho ngân hàng. Thiện chí trả nợ của khách hàng cũng là vấn đề cần quan tâm, không phải mọi khách hàng vay đều có thiện chí trả nợ mặc dù hoàn toàn có khả năng trả nợ đúng hạn cho ngân hàng. Luận văn: Chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

Năng lực quản trị của khách hàng: Những yếu kém về quản lý tài chính, tùy tiện, thiếu minh bạch, quy mô vốn chủ sở hữu nhỏ cũng là yếu tố làm cho khách hàng không có khả năng chống chọi với các biến động bất lợi cũng như làm ảnh hưởng lớn đến họat động SXKD, làm suy giảm khả năng trả nợ của khách hàng.

Khả năng tài chính của khách hàng: Nhiều khách hàng quá tham vọng, đầu tư vào nhiều lĩnh vực mình không có kinh nghiệm, quy mô đầu tư lớn vượt quá khả năng tài chính, không có khả năng dự đoán dòng tiền chính xác, khả năng kém trong phân tích dự đoán thị trường dẫn tới không kịp thời phản ứng trước các biến động bất lợi của nền kinh tế. Khi gặp biến cố rủi ro, nếu khách hàng có năng lực tài chính tốt sẽ giúp họ chống chọi với rủi ro, tăng khả năng khắc phục trước biến cố rủi ro, tăng khả năng trả nợ cho ngân hàng, khi đó sẽ làm tăng chất lượng tín dụng.

1.2.4.3. Các nhân tố thuộc về môi trường kinh tế

Môi trường kinh tế: Môi trường kinh tế ổn định sẽ là điều kiện thuận lợi trong họat động SXKD của mọi chủ thể kinh tế. Các khách hàng vay vốn sẽ làm ăn có hiệu quả, khả năng trả nợ tốt dẫn đến chất lượng tín dụng ngân hàng tốt. Bất cứ sự biến đổi nào của môi trường kinh tế đều sẽ có tác động đến các chủ thể kinh tế, các khách hàng vay vốn từ đó ảnh hưởng chất lượng và hiệu quả tín dụng. Nếu sự biến đổi theo hướng có lợi thì chất lượng và hiệu quả tín dụng tăng lên; ngược lại sẽ làm cho chất lượng tín dụng xấu đi ngoài mong muốn.

Môi trường Pháp luật: Pháp luật chi phối hoạt động của ngân hàng và khách hàng. Họat động ngân hàng nói chung và tín dụng ngân hàng nói riêng càng phải tuân thủ theo quy định của pháp luật. Hành lang pháp lý đầy đủ, chặt chẽ, đồng bộ sẽ là nền tảng tạo ra môi trường họat động sản xuất kinh doanh lành mạnh, minh bạch, bình đẳng cho các chủ thể, đồng thời cũng là căn cứ để xử lý, giải quyết các tranh chấp phát sinh với các chế tài cần thiết tương ứng, từ đó tác động tích cực đến chất lượng tín dụng. Ngược lại, hành lang pháp lý chưa đầy đủ, thiếu chặt chẽ đồng bộ, chồng chéo nhau, chế tài không đủ mạnh,… sẽ là kẽ hở cho những hành vi tiêu cực, làm ăn chụp giật, lừa đảo trong mọi họat động, nhất là họat động tín dụng, làm cho tính nghiêm minh của pháp luật bị mất đi, không những ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng mà còn ảnh hưởng đến xấu đến kinh tế xã hội.

Môi trường công nghệ: Công nghệ phát triển tốt giúp ngân hàng có khả năng ứng dụng các công nghệ hiện đại trong quản lý, có khả năng loại bỏ tốt các rủi ro bằng hệ thống thông tin, có khả năng ứng dụng phần mềm để quản lý rủi ro, có khả năng giao dịch nhanh dòng tiền để đáp ứng nhu cầu cho khách hàng, tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng trong hoạt động tín dụng.

Môi trường chính trị: Môi trường chính trị tùy thuộc vào từng quốc gia thường ổn định trong thời gian dài và ít biến động, nhưng một khi xảy ra bất ổn chính trị như thay đổi thể chế chính trị, thay đổi đảng phái lãnh đạo sẽ tác động rất lớn đến nền kinh tế, ảnh hưởng trực tiếp đến mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng vay cũng như chính ngân hàng cho vay, chất lượng tín dụng trong trường hợp này thường có chiều hướng xấu đi và hoàn toàn nằm ngoài tầm kiểm soát của ngân hàng.

1.3. KINH NGHIỆM VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA MỘT SỐ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ BÀI HỌC CHO NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TIÊN PHONG CHI NHÁNH BẾN THÀNH

1.3.1. Kinh nghiệm từ các ngân hàng thương mại Việt Nam

1.3.1.1. Kinh nghiệm về nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng

VPBank trong hoạt động cho vay đã có quy trình chặt chẽ kiểm soát tập trung do VPBank duy trì một lực lượng đông đảo nhân viên chuyên về thu nợ được đào tạo bài bản. Hiện nay, ngân hàng mẹ có hơn 600 cán bộ thu nợ, FE Credit có 1.600 cán bộ thu nợ chưa kể các công ty thu nợ đối tác của VPBank trên thị trường. VPBank xem thu nợ là một ngành không thể tách rời khỏi nghề ngân hàng. Người đi xử lý nợ có vai trò không kém đối với người cho vay, người phát triển kinh doanh. Trên cơ sở đó, VPBank đã xây dựng đội ngũ nhân viên thu nợ có kỹ năng, công nghệ kỹ thuật, hệ thống đưa vào cho phép ngân hàng kiểm soát nợ tốt hơn (Báo cáo hoạt động kinh doanh của VPBank, 2024). Luận văn: Chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

1.3.1.2. Kinh nghiệm từ ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội (MB)

Tại Ngân hàng thương mạiCP Quân đội (MB), Ban lãnh đạo Ngân hàng đã xây dựng một chính sách tín dụng mang tính chất hệ thống và linh hoạt để thích ứng kịp thời với sự biến động của nền kinh tế. Chính sách tín dụng điều chỉnh đến tất cả các vấn đề liên quan đến hoạt động tín dụng.

Quy trình tín dụng được áp dụng chung tại MB bao gồm các bước: tiếp nhận và lập hồ sơ khách hàng, thẩm định tín dụng, ra quyết định tín dụng, hoàn thiện thủ tục tài sản đảm bảo và ký hợp đồng tín dụng, giải ngân, kiểm soát sau, thu nợ hoặc xử lý những khoản nợ có vấn đề. Hiện nay tại MB đang thực hiện quy trình thẩm định và phê duyệt tín dụng tập trung, cán bộ tín dụng tại chi nhánh có nhiệm vụ đề xuất, phần thẩm định sẽ được trung tâm thẩm định trực thuộc Hội sở chính thực hiện (Báo cáo hoạt động kinh doanh của MB, 2024).

Riêng trong mảng tín dụng cá nhân với những đặc thù như: hồ sơ giá trị vay nhỏ, những khách hàng cá nhân đã có quan hệ tín dụng lâu năm,… thì MB có chính sách riêng cho phép chi nhánh có thẩm quyền phê duyệt đối với những khoản vay này. Điều này cũng là sự đột phá, thích ứng với nhu cầu khách hàng, nâng cao sự cạnh tranh của MB trên thị trường mà vẫn đảm bảo được chất lượng tín dụng của ngân hàng. Đối với khách hàng cá nhân nội dung và quy trình cụ thể như sau:

Việc đánh giá sẽ thực hiện theo từng món vay dựa trên đánh giá xếp loại rủi ro khách hàng và tài sản đảm bảo. Về xếp loại rủi ro khách hàng: Mỗi chỉ tiêu dùng để đánh giá sẽ có năm mức điểm từ 20 đến 100. Phần xếp loại rủi ro khách hàng xem xét hai nhóm chỉ tiêu gồm nhóm chỉ tiêu về nhân thân và Nhóm chỉ tiêu về khả năng trả nợ (Báo cáo hoạt động kinh doanh của MB, 2025).

Phần đánh giá tài sản đảm bảo bao gồm các chỉ tiêu về: Loại tài sản đảm bảo; Tính chất sở hữu tài sản đảm bảo; Giá trị tài sản đảm bảo/Tổng nợ vay đề nghị; Tính chất sở hữu tài sản đảm bảo và Xu hướng giảm giá trị của tài sản đảm bảo trong 12 tháng qua.

1.3.2. Bài học cho ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong chi nhánh Bến Thành Luận văn: Chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

Qua kinh nghiệm của các ngân hàng thương mại trong và ngoài nước nêu trên TPBank Bến Thành cũng rút ra được những bài học trong nâng cao chất lượng tín dụng cá nhân để vận dụng nhằm mục tiêu đảm bảo chất lượng tín dụng của chi nhánh ngày càng được nâng cao. Những bài học kinh nghiệm đó là:

Thứ nhất: Củng cố mô hình tổ chức phòng, ban trong chi nhánh để đảm bảo hoạt động an toàn, hiệu quả. Phân giao từng khách hàng đến cho từng cán bộ để quản lý.

Thứ hai: Chú trọng và tăng cường công tác thông tin, sàng lọc thông tin và tập hợp những thông tin tin cậy giúp cho ngân hàng có những quyết định cho vay đúng đắn và tránh xảy ra rủi ro.

Thứ ba: Thành lập đơn vị chuyên biệt để quản lý nợ xấu tại chi nhánh.

Thứ tư: Trình độ cán bộ tín dụng luôn phải được trau dồi và nâng cao khả năng thẩm định, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn và mức độ rủi ro khách hàng. Cán bộ xử lý công việc nhanh gọn, có tinh thần trách nhiệm đối với từng khoản vay.

Thứ năm: Tổ chức các đoàn kiểm tra chéo, kiểm tra nội bộ để phát hiện và chỉnh sửa kịp thời các sai sót, hạn chế thấp nhất các rủi ro có thể xảy ra.

Thứ sáu: Có sự kết hợp chặt chẽ với các tổ chức, địa phương, sở ban ngành để có được thông tin về khách hàng trước khi thực hiện cấp tín dụng, cũng như dễ dàng nhận được sự phối hợp khi có vấn đề phải xử lý tài sản, xử lý các vấn đề liên quan về pháp lý.

1.4. TỔNG QUAN TÍNH HÌNH NGHIÊN CỨU Luận văn: Chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

1.4.1. Các nghiên cứu nước ngoài

Gounder và Sharma (2022) khi nghiên cứu hiệu quả của các biện pháp ứng phó khủng hoảng (như gói kích thích và chính sách giãn nợ) do chính phủ và ngân hàng trung ương ban hành đối với chất lượng tín dụng, tập trung vào 100 ngân hàng ở các nền kinh tế đang phát triển (Ấn Độ, Indonesia, Philippines) giai đoạn 2020-2022. Bằng phương pháp hồi quy với biến giả, kết quả khẳng định các chương trình bảo lãnh tín dụng và giãn nợ đã đóng vai trò quan trọng trong việc kiềm chế sự suy giảm của tỷ lệ nợ xấu trong ngắn hạn. Tuy nhiên, nghiên cứu đưa ra cảnh báo về rủi ro tiềm ẩn: việc duy trì quá lâu các biện pháp này có thể che giấu rủi ro tín dụng thực sự của các khoản vay, đòi hỏi phải có kế hoạch thoái lui chính sách thận trọng.

El-Gamal và Hassan (2023) tập trung phân tích tác động của mô hình kinh doanh ngân hàng số và đổi mới công nghệ (digital banking and technological innovation) lên hiệu quả hoạt động và chất lượng tín dụng tại các ngân hàng, bao gồm cả ngân hàng Hồi giáo và truyền thống, trong khu vực Trung Đông và Bắc Phi (MENA), sử dụng dữ liệu bảng từ 2020-2023. Về phương pháp, các tác giả đã kết hợp Phân tích Dữ liệu Bao (DEA) để đo lường hiệu quả, sau đó sử dụng hồi quy Tobit để định lượng mối quan hệ giữa đầu tư công nghệ và tỷ lệ nợ xấu. Kết quả cho thấy, việc đầu tư vào công nghệ và các sáng kiến ngân hàng số có tiềm năng nâng cao hiệu quả hoạt động và gián tiếp cải thiện chất lượng tín dụng thông qua việc tăng cường độ chính xác và hiệu quả của quy trình đánh giá rủi ro.

Nghiên cứu của Ofori-Atta và Peprah (2024) tập trung vào việc khảo sát các yếu tố cả nội tại và ngoại sinh có ảnh hưởng đến chất lượng tài sản của các ngân hàng tại Ghana. Đặc biệt, nghiên cứu quan tâm đến tác động của các chỉ số kinh tế vĩ mô và đặc điểm quản trị nội bộ ngân hàng đối với sức khỏe của danh mục cho vay. Dữ liệu bảng được thu thập từ 25 ngân hàng thương mại ở Ghana trong giai đoạn 2018-2023. Các biến số độc lập bao gồm GDP, lạm phát, lãi suất (đại diện cho yếu tố vĩ mô), cùng với quy mô ngân hàng và hiệu quả quản trị (đại diện cho yếu tố nội tại), trong khi biến phụ thuộc là tỷ lệ nợ xấu. Để giải quyết các vấn đề thường gặp trong dữ liệu bảng như nội sinh và tự tương quan, các tác giả đã sử dụng phương pháp hồi quy GMM. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố kinh tế vĩ mô như tăng trưởng GDP có tác động tích cực, trong khi lạm phát có thể tác động tiêu cực đáng kể đến chất lượng tài sản. Luận văn: Chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

Nghiên cứu của Chen và cộng sự (2024) điều tra tác động của biến đổi khí hậu và các rủi ro môi trường (ESG) đến chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại tại Trung Quốc. Trọng tâm nghiên cứu là phân tích mức độ mà các rủi ro liên quan đến môi trường có thể ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của các khoản vay, đặc biệt là những khoản vay dành cho các ngành công nghiệp nhạy cảm với khí hậu. Dữ liệu được sử dụng bao gồm thông tin từ 45 ngân hàng thương mại niêm yết tại Trung Quốc, cùng với dữ liệu về các sự kiện khí hậu cực đoan và mức độ tiếp xúc của ngân hàng với các ngành công nghiệp có lượng khí thải carbon cao trong giai đoạn 2022-2024. Các tác giả đã áp dụng mô hình hồi quy panel với biến độc lập là chỉ số rủi ro khí hậu và biến phụ thuộc là tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các ngân hàng có mức độ tiếp xúc cao hơn với các ngành công nghiệp dễ bị tổn thương bởi biến đổi khí hậu thường phải đối mặt với nguy cơ nợ xấu cao hơn.

Nghiên cứu của Singh và Narula (2025) đánh giá vai trò của giám sát ngân hàng và các quy định Basel III trong việc duy trì và nâng cao chất lượng tín dụng trong hệ thống ngân hàng Ấn Độ (2021-2024). Sử dụng dữ liệu hàng quý của 30 ngân hàng lớn và áp dụng mô hình hồi quy đa biến và phân tích tương quan, các tác giả tập trung xem xét ảnh hưởng của các yêu cầu về vốn (CAR) và thanh khoản theo Basel III đối với tỷ lệ nợ xấu. Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng mạnh mẽ cho thấy việc tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu của Basel III về vốn và thanh khoản có mối tương quan thuận tích cực với chất lượng tín dụng. Điều này khẳng định tầm quan trọng của khung khổ quản lý và vốn hóa vững chắc trong việc quản lý và kiểm soát rủi ro tín dụng.

1.4.2. Các nghiên cứu trong nước

Bùi Minh Tuấn và Nguyễn Hà My (2022) thực hiện nghiên cứu nhằm đánh giá tác động của các chính sách hỗ trợ từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn đỉnh điểm của đại dịch COVID-19 đến chất lượng tín dụng của các Ngân hàng thương mại. Nghiên cứu này đặc biệt tập trung vào hiệu quả của các gói tái cơ cấu nợ và giãn nợ đã được Ngân hàng Nhà nước triển khai. Dữ liệu khảo sát được tổng hợp từ số liệu quý về tỷ lệ nợ xấu, nợ nhóm 2, và tổng dư nợ tái cơ cấu theo Thông tư 01/2021/TT-NHNN và các sửa đổi của nó tại 15 Ngân hàng thương mại, kéo dài từ quý 1/2021 đến quý 4/2022. Các tác giả đã sử dụng phương pháp thống kê mô tả và phân tích xu hướng để vẽ ra bức tranh tổng thể về tình hình chất lượng tín dụng dưới tác động của chính sách, đồng thời áp dụng hồi quy đa biến để kiểm định định lượng tác động này. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các chính sách hỗ trợ kịp thời của Ngân hàng Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát sự gia tăng đột biến của tỷ lệ nợ xấu trong bối cảnh đại dịch. Luận văn: Chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

Trần Văn Hải và Lê Thị Phương Thảo (2023) đã đánh giá vai trò của quản trị rủi ro tín dụng (RRTD) và khả năng sinh lời đối với chất lượng tín dụng tại 20 Ngân hàng thương mại Việt Nam (2021-2023) thông qua mô hình hồi quy đa biến. Kết quả khẳng định rằng hoạt động quản trị Rủi ro tín dụng hiệu quả, cùng với khả năng sinh lời cao, có mối quan hệ đồng biến và tích cực với chất lượng tín dụng. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của một hệ thống quản lý rủi ro vững mạnh và hiệu quả kinh doanh cốt lõi trong việc duy trì tỷ lệ nợ xấu ở mức thấp.

Phan Thị Kim Dung (2024) đã phân tích mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và chất lượng tín dụng/rủi ro hệ thống tại 28 Ngân hàng thương mại Việt Nam (2019-2023) bằng mô hình VAR (Vector Autoregressive). Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, mặc dù tăng trưởng tín dụng hỗ trợ kinh tế, nhưng tốc độ tăng trưởng quá nhanh có thể dẫn đến suy giảm chất lượng tín dụng trong dài hạn, đặc biệt khi quy trình thẩm định và giám sát khoản vay không chặt chẽ. Từ đó, nghiên cứu khuyến nghị các cơ quan quản lý cần tìm kiếm sự cân bằng hợp lý giữa mục tiêu tăng trưởng và việc quản lý rủi ro để đảm bảo sự bền vững của hệ thống tài chính.

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hiền (2024) đi sâu vào việc xác định các yếu tố then chốt ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh hồi phục kinh tế sau đại dịch Covid 19. Mục tiêu chính là đánh giá một cách toàn diện tác động của cả yếu tố vĩ mô và vi mô lên tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng. Dữ liệu được sử dụng là dữ liệu bảng (panel data) thu thập từ báo cáo tài chính của 25 ngân hàng thương mại niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn 2022-2024. Các biến số độc lập bao gồm tăng trưởng GDP, lạm phát, lãi suất, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (CAR) và tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản, trong khi biến phụ thuộc là tỷ lệ nợ xấu. Để phân tích mối quan hệ này, tác giả đã áp dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng với mô hình hồi quy tác động cố định (Fixed Effects Model), giúp kiểm soát các đặc trưng riêng biệt của từng ngân hàng. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, tăng trưởng GDP và một nền tảng vốn vững chắc (thể hiện qua tỷ lệ vốn chủ sở hữu cao) có mối quan hệ tích cực, giúp cải thiện chất lượng tín dụng. Ngược lại, môi trường lạm phát và lãi suất tăng cao có xu hướng gây áp lực tiêu cực lên khả năng trả nợ của khách hàng, từ đó làm suy giảm chất lượng tín dụng.

Nghiên cứu của Phạm Thị Lan Anh (2025) khảo sát ảnh hưởng của công nghệ tài chính (Fintech) đến chất lượng tín dụng và hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong năm 2024. Tác giả đã sử dụng phương pháp hỗn hợp (phỏng vấn sâu chuyên gia quản lý rủi ro để thu thập dữ liệu định tính, kết hợp với dữ liệu định lượng về ứng dụng Fintech và tỷ lệ nợ xấu) và áp dụng hồi quy Logit để phân tích định lượng xác suất nợ xấu. Kết quả chỉ ra tiềm năng tích cực của việc ứng dụng Fintech, đặc biệt trong các khâu thẩm định và giám sát khoản vay, giúp nâng cao khả năng phân tích dữ liệu, tự động hóa quy trình và cải thiện chất lượng tín dụng. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng cảnh báo về các thách thức đi kèm như an ninh mạng và bảo mật dữ liệu, nhấn mạnh sự cần thiết của một chiến lược quản lý rủi ro công nghệ chặt chẽ tại các ngân hàng.

  • Bảng 1.1: Tóm tắt các nghiên cứu liên quan Luận văn: Chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

Các nghiên cứu trong và ngoài nước đã cung cấp một cái nhìn toàn diện về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng tại các ngân hàng thương mại trong giai đoạn 2022-2025. Nhìn chung, các công trình này đều khẳng định rằng chất lượng tín dụng không chỉ chịu tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô như tăng trưởng GDP, lạm phát, và lãi suất, mà còn bị chi phối bởi các yếu tố vi mô nội tại của ngân hàng như quản trị rủi ro, khả năng sinh lời, quy mô hoạt động, và việc ứng dụng công nghệ.

Cụ thể, các nghiên cứu quốc tế như của Ofori-Atta và Peprah (2024) hay Chen và cộng sự (2024) đã mở rộng phạm vi phân tích sang các yếu tố mới nổi như biến đổi khí hậu và rủi ro ESG, cho thấy sự dịch chuyển trong nhận thức về rủi ro tín dụng toàn cầu. Đồng thời, El-Gamal và Hassan (2023) cùng Singh và Narula (2025) nhấn mạnh vai trò của công nghệ số và các quy định quốc tế (Basel III) trong việc cải thiện hiệu quả quản lý rủi ro và chất lượng tín dụng.

Tại Việt Nam, các công trình của Bùi Minh Tuấn và Nguyễn Hà My (2022) hay Phan Thị Kim Dung (2024) tập trung đánh giá tác động của chính sách hỗ trợ của Ngân hàng Nhà nước trong giai đoạn đại dịch và mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng với chất lượng tín dụng. Nghiên cứu của Trần Văn Hải và Lê Thị Phương Thảo (2023) cùng Nguyễn Thị Thu Hiền (2024) khẳng định vai trò của quản trị rủi ro và các chỉ số tài chính nội tại đối với chất lượng tín dụng. Đặc biệt, nghiên cứu của Phạm Thị Lan Anh (2025) đã bắt đầu chạm đến ảnh hưởng của Fintech tại thị trường Việt Nam.

Tuy nhiên, một điểm chung cần nhận thấy là hầu hết các nghiên cứu này đều tập trung vào ngành ngân hàng nói chung hoặc nhóm các ngân hàng niêm yết, sử dụng dữ liệu tổng hợp ở cấp độ toàn hệ thống hoặc nhóm ngân hàng lớn. Việc phân tích ở cấp độ tổng quát này mặc dù cung cấp cái nhìn vĩ mô, nhưng có thể bỏ qua những đặc thù riêng biệt của từng ngân hàng cụ thể hoặc từng chi nhánh trong hệ thống. Mỗi ngân hàng, với mô hình kinh doanh, chiến lược phát triển, tệp khách hàng, và môi trường hoạt động cụ thể, sẽ có những thách thức và cơ hội riêng trong việc quản lý chất lượng tín dụng.

  • TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Trong chương 1, tác giả đã khái quát được những lý luận, khái niệm cơ bản về tín dụng ngân hàng và chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại. Trong đó, chất lượng tín dụng sẽ được xem xét với khía cạnh ngân hàng và nên được hiểu là mức độ mà các khoản tín dụng được ngân hàng cấp có khả năng được hoàn trả đầy đủ gốc và lãi đúng hạn, theo các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng, đồng thời hạn chế tối đa các rủi ro phát sinh có thể gây tổn thất cho ngân hàng. Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng đó là nợ quá hạn, nợ xấu, tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, việc thu lãi từ tín dụng. Đồng thời, tổng hợp các bài học kinh nghiệm về nâng cao chất lượng tín dụng của các ngân hàng trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Luận văn: Chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank

One thought on “Luận văn: Chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp chất lượng tín dụng tại ngân hàng TPBank

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *