Luận văn: Thực trạng rủi ro phối hợp thu Ngân sách nhà nước

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng rủi ro phối hợp thu Ngân sách nhà nước hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng Quản lý rủi ro trong phối hợp thu Ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước trên địa bàn Hóc Môn dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Văn bản pháp lý về phối hợp thu ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước

Quyết định số 3414/QĐ-BTC ngày 18/10/2006 của BTC về việc triển khai Dự án Hiện đại hóa quy trình quản lý thu, nộp thuế giữa cơ quan Thuế – Kho bạc Nhà nước – Hải quan – Tài chính;

Quyết định số 1027/QĐ-BTC ngày 19/5/2009 của BTC về việc ban hành Quy trình quản lý thu Ngân sách nhà nước theo Dự án hiện đại hóa thu, nộp Ngân sách nhà nước;

Thông tư 85/2011/TT-BTC ngày 17/6/2011 của BTC hướng dẫn quy trình tổ chức Phối hợp thu ngân sách nhà nước giữa Kho bạc Nhà nước – Tổng cục Thuế – Tổng Cục Hải quan và các Ngân hàng thương mại;

Quyết định số 1233/QĐ-BTC ngày 27/7/2018 của BTC về việc ban hành Quy chế truyền nhận thông tin thu nộp, hoàn trả Ngân sách nhà nước điện tử giữa cơ quan Thuế, Hải quan, Tài chính và Kho bạc Nhà nước.

Quyết định số 3414/QĐ-BTC ngày 18/10/2006 của Bộ Tài chính: Triển khai Dự án Hiện đại hóa quy trình quản lý thu, nộp thuế giữa các cơ quan: Thuế, Kho bạc Nhà nước, Hải quan và Tài chính. Văn bản này đặt nền móng cho việc phối hợp liên thông, hiện đại hóa các bước thu – nộp ngân sách, nhằm tăng tính minh bạch, hiệu quả và giảm thiểu sai sót trong quá trình quản lý thu Ngân sách nhà nước.

Quyết định số 1027/QĐ-BTC ngày 19/5/2009 của Bộ Tài chính: Ban hành Quy trình quản lý thu Ngân sách nhà nước theo Dự án hiện đại hóa thu, nộp Ngân sách nhà nước. Quy trình này quy định rõ các bước, trách nhiệm của từng bên trong việc thu, nộp ngân sách, đảm bảo sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan liên quan, từ tiếp nhận, xử lý đến kiểm soát thông tin và dòng tiền.

Thông tư 85/2011/TT-BTC ngày 17/6/2011 của Bộ Tài chính: Hướng dẫn quy trình tổ chức phối hợp thu Ngân sách nhà nước giữa Kho bạc Nhà nước, Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan và các ngân hàng thương mại. Thông tư này quy định chi tiết về trách nhiệm, phương thức trao đổi thông tin, xử lý chứng từ, đối chiếu và thanh quyết toán các khoản thu Ngân sách nhà nước giữa các bên tham gia phối hợp thu.

Quyết định số 1233/QĐ-BTC ngày 27/7/2018 của Bộ Tài chính: Ban hành Quy chế truyền nhận thông tin thu nộp, hoàn trả Ngân sách nhà nước điện tử giữa các cơ quan Thuế, Hải quan, Tài chính và Kho bạc Nhà nước. Quyết định này thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin trong truyền nhận dữ liệu, đảm bảo thông tin thu nộp và hoàn trả Ngân sách nhà nước được cập nhật kịp thời, chính xác, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và giảm thiểu rủi ro.

2.2. Quy trình phối hợp thu Ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Luận văn: Thực trạng rủi ro phối hợp thu Ngân sách nhà nước.

2.2.1. Quy trình thu Ngân sách nhà nước tại Kho bạc Nhà nước Hóc Môn

  • Thu bằng tiền mặt: Hiện tại Kho bạc Nhà nước Hóc Môn không thực hiện thu tiền mặt tại trụ sở.
  • Thu bằng chuyển khoản: Thực hiện thu bằng chuyển khoản theo các bước trong Sơ đồ 2.1.

Bước 1: Người nộp thuế chuyển GRDT ngân sách/Giấy rút vốn đầu tư có thông tin phần nộp thuế gửi Giao dịch viên Kho bạc Nhà nước qua DVCTT.

Bước 2: Giao dịch viên căn cứ chứng từ, thực hiện kiểm tra các nội dung theo quy định hiện hành và tính hợp pháp, hợp lệ; kiểm tra số dư tài khoản và thông tin thu Ngân sách nhà nước. Chứng từ sau khi được Giao dịch viên ký kiểm soát được luân chuyển đến Kế toán trưởng và Giám đốc phê duyệt.

Bước 3: Sau khi Giám đốc phê duyệt chứng từ, Giao dịch viên (GDV) sẽ thực hiện các bước sau:

  • Nhập liệu trên chương trình TCS: Đối với các khoản thu do cơ quan thuế cùng địa bàn quản lý.
  • Nhập liệu trên chương trình thanh toán liên kho bạc (LKB): Đối với các trường hợp người nộp thuế trích nộp ngân sách nhà nước khác địa bàn.

Bước 4: Kế toán trưởng nghiệp vụ kiểm tra, kiểm soát chứng từ trên chương trình TCS hoặc chương tình TTĐT LKB dựa vào từng chứng từ cụ thể; và truyền dữ liệu cho CQT theo quy định. Chứng từ sau khi hoàn thành thanh toán được chuyển trả Giao dịch viên kiểm tra, lưu trữ. Luận văn: Thực trạng rủi ro phối hợp thu Ngân sách nhà nước.

  • Sơ đồ 2.1: Các bước thu Ngân sách nhà nước hình thức chuyển khoản

Thu Ngân sách nhà nước nhận trên chương trình TTĐTLKB: Áp dụng với những chứng từ thu Ngân sách nhà nước do Kho bạc Nhà nước khác thu hộ và truyền đến Kho bạc Nhà nước trên chương trình TTĐT.

Bước 1: TTV nhận LTT, chọn hạch toán “Đúng” nếu các thông tin nộp thu Ngân sách nhà nước phù hợp, chọn hạch toán “Chờ xử lý” nếu thông tin nộp thu Ngân sách nhà nước chưa chính xác. TTV chọn phân hệ đích là phân hệ TCS.

Bước 2: Sau khi hoàn tất, Thanh toán viên (TTV) sẽ in một liên Bảng kê các Lệnh thanh toán thu liên kho bạc (LTT LKB) đến giao diện vào hệ thống TCS theo mẫu C8-01/KB tại TABMIS LKB. Bảng kê này sẽ được chuyển cho kế toán thu ngân sách nhà nước để làm căn cứ xử lý và hạch toán kế toán trên hệ thống TCS, tuân thủ đúng quy trình đã định về việc xử lý và kiểm soát các khoản thu.

Bước 3: Sau khi Kế toán trưởng (KTT) ký chữ ký số và phê duyệt Lệnh thanh toán thu (LTT) trên hệ thống TABMIS LKB, LTT sẽ được tự động chuyển sang hệ thống TCS. Tại TCS, LTT sẽ có trạng thái “chưa kiểm soát” hoặc “kiểm soát lỗi” nếu cần phải hoàn thiện lại các đoạn mã như mã cơ quan thu, mã địa bàn hành chính.

Bước 4: Sau khi hoàn thiện, TTV Ngân sách nhà nước sẽ đệ trình Kế toán trưởng (KTT) để ký kiểm soát chứng từ thu trên hệ thống TCS theo đúng quy trình. Sau khi Kế toán trưởng ký kiểm soát, truyền dữ liệu cho cơ quan thu.

2.2.2. Quy trình thu Ngân sách nhà nước qua Phối hợp thu với Ngân hàng thương mại

Quy trình thu Ngân sách nhà nước qua Phối hợp thu với Ngân hàng thương mại bao gồm các quy trình tại Ngân hàng thương mại, Kho bạc Nhà nước và các CQT.

  • Bảng 2.1: Quy trình thu Ngân sách nhà nước qua Phối hợp thuvới Ngân hàng thương mại

Bước 1- Người nộp thuế lập Bảng kê nộp tiền (Mẫu số 01/BKNT ban hành kèm theo Nghị định số 11/2020/NĐ-CP ngày 20/01/2020 của Chính Phủ) hoặc gửi Quyết định/Thông báo của cơ quan thẩm quyền (đối với trường hợp Người nộp thuế không phải lập Bảng kê nộp tiền theo quy định) cho giao dịch viên ngân hàng đối với trường hợp thu bằng tiền mặt. Người nộp  thuế  (NNT) có trách nhiệm lập Bảng kê nộp thuế (BKNT) theo Mẫu số 01/BKNT ban hành kèm theo Nghị định số 11/2020/NĐ-CP.

  • Trong trường hợp Người nộp thuế không phải lập Bảng kê nộp tiền, Người nộp thuế chỉ cần gửi quyết định/thông báo này cho giao dịch viên ngân hàng. Luận văn: Thực trạng rủi ro phối hợp thu Ngân sách nhà nước.
  • Trường hợp Người nộp thuế trích tài khoản mở tại Ngân hàng thương mại ủy nhiệm thu nộp thu Ngân sách nhà nước, giao dịch viên ngân hàng căn cứ ủy nhiệm chi do khách hàng lập thực hiện trích tài khoản của khách hàng chuyển vào tài khoản của Kho bạc Nhà nước mở tại Ngân hàng thương mại.
  • Trường hợp Người nộp thuế trích tài khoản mở tại Ngân hàng thương mại không ủy nhiệm thu, Ngân hàng thương mại nơi phục vụ khách hàng căn cứ ủy nhiệm chi, thực hiện trích tài khoản của khách hàng và chuyển nội dung thu nộp Ngân sách nhà nước đến Ngân hàng thương mại ủy nhiệm thu.

Bước 2 Giao dịch viên ngân hàng thương mại (NHTM) sẽ cập nhật đầy đủ thông tin từ chứng từ vào chương trình TCS-NHTM.

Sau đó, giao dịch viên sẽ thực hiện thủ tục thu tiền mặt hoặc trích tài khoản của người nộp thuế (NNT) và chuyển số tiền đó vào tài khoản tiền gửi của Kho bạc Nhà nước (KBNN) mở tại chính Ngân hàng thương mại đó.

Bước 3  Chứng từ thu Ngân sách nhà nước sau khi được giao dịch viên ngân hàng lập được chuyển đến Kế toán trưởng ngân hàng ký số và truyền tự động sang Kho bạc Nhà nước trên chương trình TCS-NHTM. Cuối ngày, Ngân hàng thương mại ủy nhiệm thu thực hiện truyền BKGNT vào Ngân sách nhà nước cho Kho bạc Nhà nước làm căn cứ đối chiếu.

  • Tại Kho bạc Nhà nước

Bước 1 Trên cơ sở thông tin điện tử về số thu Ngân sách nhà nước do Ngân hàng thương mại chuyển đến, TTV Ngân sách nhà nước thực hiện hoàn thiện chứng từ điện tử. Chứng từ sau khi được hoàn hiện được chuyển đến Kế toán trưởng ký kiểm soát.

Bước 2 TTV của Kho bạc Nhà nước sẽ đối chiếu số liệu với Bảng kê ghi nhận thu (BKGNT) vào ngân sách nhà nước do Ngân hàng thương mại ủy nhiệm thu truyền sang.

Mục đích của việc này là để đảm bảo khớp đúng số món và tổng số tiền. Sau khi đối chiếu, BKGNT sẽ được chuyển đến Kế toán trưởng nghiệp vụ thu để kiểm soát. Luận văn: Thực trạng rủi ro phối hợp thu Ngân sách nhà nước.

Bước 3  Dựa trên Bảng kê ghi nhận thu (BKGNT) vào ngân sách nhà nước do kế toán thu chuyển đến, Kế toán trưởng (KTT) thực hiện các bước sau:

  • Kiểm soát chứng từ thu trên chương trình TCS.
  • Chuyển bảng kê lại cho kế toán thu để kiểm tra và lưu trữ chứng từ.
  • Hàng ngày, dữ liệu truyền cho các cơ quan thu bằng chữ ký số điện tử.

Tại các CQT:

  • Cơ quan Tài chính: Có trách nhiệm nhận dữ liệu thu Ngân sách nhà nước từ Kho bạc Nhà nước. Sau đó, cơ quan này sẽ tổng hợp và báo cáo số thu Ngân sách nhà nước trên địa bàn cho Ủy ban nhân dân (UBND) và Hội đồng nhân dân (HĐND)
  • Cơ quan Thuế: Nhận dữ liệu thu Ngân sách nhà nước; cập nhật, hạch toán, thực hiện đối chiếu số liệu về thu NS trên địa bàn.

2.2.3. Quy trình ủy nhiệm thu phạt vi phạm hành chính bằng biên lai thu tại ngân hàng thương mại Luận văn: Thực trạng rủi ro phối hợp thu Ngân sách nhà nước.

Quy trình thu và nộp tiền phạt vi phạm hành chính (VPHC) qua ngân hàng thương mại (NHTM) được thực hiện theo các bước tuần tự, bảo đảm minh bạch, chính xác và đúng quy định của pháp luật:

  • Bước 1: Người vi phạm nộp tiền mặt kèm theo quyết định xử phạt cho giao dịch viên của Ngân hàng thương mại thực hiện thu phạt.
  • Bước 2: Giao dịch viên căn cứ quyết định xử phạt để thu tiền, tính tiền chậm nộp (nếu có) và lập biên lai thu phạt gồm 4 liên. Các liên này được xử lý theo quy định: một liên lưu tại Ngân hàng thương mại, 1 liên trả Người nộp thuế, 1 liên chuyển cho cơ quan ra quyết định xử phạt (thông qua người nộp), và 1 liên lưu cuống để quyết toán.
  • Bước 3: Cuối ngày, Ngân hàng thương mại tổng hợp biên lai theo cơ quan ra quyết định xử phạt, nhập dữ liệu vào hệ thống TCS-NHTM, lập BKT tiền phạt và GNT vào Ngân sách nhà nước.
  • Bước 4: Căn cứ GNT Ngân hàng thương mại hạch toán vào tài khoản của Kho bạc Nhà nước (KBNN), lưu hồ sơ liên quan và thực hiện kết xuất, truyền dữ liệu cho Kho bạc Nhà nước theo quy trình phối hợp thu đã được quy định.
  • Bước 5: Kho bạc Nhà nước tiếp nhận dữ liệu từ Ngân hàng thương mại, tiến hành kiểm tra, đối chiếu giấy nộp tiền với bảng kê thu phạt; nếu số liệu khớp đúng sẽ thực hiện hoàn thiện dữ liệu vào Ngân sách nhà nước theo quy định hiện hành.

2.3. Kết quả thu ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Hóc Môn giai đoạn 2020 – 2024.

  • Biểu đồ 2.1: Dự toán giao và số thu đạt được qua Kho bạc Nhà nước Hóc Môn giai đoạn 2020-2024

Trong giai đoạn 2020–2024, tình hình thu ngân sách nhà nước (NSNN) trên địa bàn có nhiều biến động do các yếu tố khách quan, đặc biệt là đại dịch COVID-19.

Tuy nhiên, với nỗ lực của các cơ quan chức năng và sự đồng lòng của người dân, công tác thu Ngân sách nhà nước vẫn đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần ổn định và phát triển kinh tế-xã hội.

Cụ thể, năm 2020, mặc dù dự toán thu được giao là 1.190 tỷ đồng, nhưng do ảnh hưởng nghiêm trọng của dịch bệnh, kết quả thu chỉ đạt 1.080 tỷ đồng, tương đương 90% dự toán. Năm 2021, trong bối cảnh tiếp tục chịu tác động từ COVID-19, tổng thu Ngân sách nhà nước đạt 1.199,2 tỷ đồng, hoàn thành 100% dự toán điều chỉnh. Sang năm 2022, tình hình kinh tế – xã hội dần phục hồi, thu Ngân sách nhà nước đạt 1.448 tỷ đồng, vượt 130,5% so với dự toán được giao (1.109,3 tỷ đồng). Năm 2023, dự toán được giao là 1.467,65 tỷ đồng, tổng thu đạt 1.659 tỷ đồng, tương ứng 113% so với dự toán. Đặc biệt, năm 2024 ghi nhận kết quả nổi bật với tổng thu Ngân sách nhà nước đạt 2.070 tỷ đồng, bằng 131,78% vượt thu so với dự toán được giao là 1.578 tỷ đồng. Luận văn: Thực trạng rủi ro phối hợp thu Ngân sách nhà nước.

Tuy còn nhiều khó khan nhưng kết quả thu Ngân sách nhà nước qua các năm cho thấy xu hướng phục hồi và tăng trưởng ổn định, góp phần quan trọng vào nhiệm vụ tài chính – ngân sách của địa phương.

  • Bảng 2.1: Tổng thu Ngân sách nhà nước trên địa bàn Huyện Hóc Môn

Từ bảng 2.1 cho thấy tổng thu Ngân sách nhà nước trên địa bàn Huyện Hóc Môn đã tăng trưởng qua các năm, góp phần thúc đẩy nền kinh tế địa phương phát triển.

Để tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt và tạo thuận lợi cho người nộp Ngân sách nhà nước, Kho bạc Nhà nước Hóc Môn đã chủ động mở rộng mạng lưới phối hợp thu với các ngân hàng thương mại (NHTM) theo chủ trương của Bộ Tài chính.

Tính đến cuối năm 2022, Kho bạc Nhà nước Hóc Môn đã ký kết phối hợp thu với 7 Ngân hàng thương mại, gồm Agribank Hóc Môn, VietinBank, BIDV, Vietcombank, MB, VPBank và ACB. Năm 2023, tiếp tục mở rộng với 1 ngân hàng mới là OCB, và đến nay đã bổ sung thêm 3 Ngân hàng thương mại gồm Techcombank, Eximbank và TPBank, nâng tổng số Ngân hàng thương mại phối hợp thu lên 11 ngân hàng, trong đó có 1 ngân hàng thực hiện thanh toán song phương là Agribank Hóc Môn.

Nhờ mở rộng hệ thống phối hợp thu, đến thời điểm hiện tại, 100% số giao dịch nộp Ngân sách nhà nước trên địa bàn Kho bạc Nhà nước Hóc Môn đã được thực hiện thông qua các Ngân hàng thương mại, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý thu và hiện đại hóa công tác thu Ngân sách nhà nước.

2.4. Thực trạng công tác quản lý rủi ro trong phối hợp thu ngân sách nhà nước Luận văn: Thực trạng rủi ro phối hợp thu Ngân sách nhà nước.

2.4.1. Thực trạng công tác nhận diện rủi ro trong phối hợp thu

Tại Kho bạc Nhà nước Hóc Môn, qua công tác nhận diện các rủi ro trong quá trình Phối hợp thu Ngân sách nhà nước, tiềm ẩn các rủi ro sau:

2.4.1.1. Rủi ro phát sinh trong quá trình hạch toán và phân chia nguồn thu Ngân sách nhà nước theo phân cấp quy định.

Trong giai đoạn 2020–2024, Kho bạc Nhà nước Hóc Môn đã tích cực mở rộng ủy nhiệm thu với nhiều Ngân hàng thương mại trên địa bàn, bước đầu mang lại hiệu quả tích cực trong công tác thu Ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, quá trình này cũng phát sinh một số rủi ro trong quá trình thực hiện.

Từ năm 2020 đến 2024, Kho bạc Nhà nước Hóc Môn đã thực hiện 7.830 món điều chỉnh liên quan đến các lỗi phổ biến như sai tài khoản hạch toán thu, sai mã số thuế, sai cơ quan quản lý thu, sai mục lục ngân sách. Dù các sai sót này không ảnh hưởng đến việc phân chia các khoản thu Ngân sách nhà nước, nhưng gây tốn kém đáng kể về thời gian, công sức trong công tác rà soát, theo dõi của công chức kho bạc; đồng thời ảnh hưởng đến cơ quan quản lý thu trong việc theo dõi nghĩa vụ thuế của người nộp, cũng như làm chậm trễ các thủ tục hành chính tiếp theo đối với người nộp Ngân sách nhà nước.

  • Các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các rủi ro và sai sót trên bao gồm:

Giao dịch viên ngân hàng ủy nhiệm nhập sai thông tin thu Ngân sách nhà nước vào hệ thống TCS-NHTM, trong khi người nộp lại thuộc phạm vi quản lý của kho bạc không ủy nhiệm, dẫn đến việc phải tra soát và điều chuyển liên kho.

Ngân hàng ủy nhiệm tiếp nhận các khoản thu từ ngân hàng không ủy nhiệm nhưng lại nhập sai hoặc thiếu thông tin so với lệnh gốc. Luận văn: Thực trạng rủi ro phối hợp thu Ngân sách nhà nước.

Hệ thống TCS hiện cho phép giao dịch viên kho bạc tự hoàn chỉnh một số thông tin mà không cần xác nhận từ cơ quan thu hoặc ngân hàng, tiềm ẩn nguy cơ sai lệch dữ liệu thu Ngân sách nhà nước.

Một số người nộp Ngân sách nhà nước kê khai sai thông tin do chưa nắm rõ quy trình, làm phát sinh khoản thu không chính xác.

Giao dịch viên kho bạc không phát hiện lỗi thông tin trong quá trình xử lý, truyền dữ liệu sai đến cơ quan thu, khiến khách hàng phải đề nghị điều chỉnh lại. Điều này làm tăng khối lượng công việc, gây áp lực cho cả giao dịch viên kho bạc và cơ quan thu.

Từ thực tiễn này cho thấy, bên cạnh việc đẩy mạnh phối hợp thu qua Ngân hàng thương mại, tăng cường công tác kiểm soát, chuẩn hóa dữ liệu và đào tạo nghiệp vụ nhằm hạn chế tối đa các sai sót phát sinh trong công tác thu và hạch toán Ngân sách nhà nước.

Việc rủi ro trong thu sai tỷ lệ điều tiết ảnh hưởng đến số thu giữa các cấp ngân sách. Sai sót bao gồm do cơ quan thu, mục lục ngân sách (MLNS) và sai tỷ lệ phân chia. Nội dung các sai sót trong phối hợp thu tại Kho bạc Nhà nước Hóc Môn năm 2020-2024 được phát hiện thể hiện qua bảng 2.3.

  • Bảng 2.2: Nội dung của các sai sót trong phối hợp thu tại Kho bạc Nhà nước Hóc Môn năm 2020-2024

2.4.1.2. Rủi ro phát sinh trong quá trình kiểm tra, đối chiếu các khoản thu ngân sách nhà nước

Định kỳ hằng tháng, Kho bạc Nhà nước Hóc Môn tiến hành rà soát các báo cáo thu và vay Ngân sách nhà nước theo mẫu B02-01/TABMIS-BC và B02-02/TABMIS-BC nhằm ngăn chặn và xử lý kịp thời các sai sót thường gặp như: khoản thu không đúng công thức, dòng thu có cấp ngân sách bằng 0, sai tỷ lệ điều tiết,…

Song song đó, Kho bạc Nhà nước Hóc Môn phối hợp với các cơ quan thu trên địa bàn, đặc biệt là cơ quan Thuế, thực hiện đối chiếu số liệu thu và hoàn thuế Ngân sách nhà nước theo đúng quy định. Trong quá trình kiểm tra, nếu cơ quan thu phát hiện sai sót như khai sai MST, sai CQT, sai mục lục ngân sách…, thì sẽ lập Giấy đề nghị điều chỉnh gửi Kho bạc Nhà nước để thực hiện hạch toán lại cho đúng.

Việc trao đổi và truyền nhận dữ liệu giữa Kho bạc Nhà nước và cơ quan thu vẫn còn tồn tại sai sót. Tình trạng này khiến dữ liệu không đầy đủ, kịp thời và chính xác, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác quản lý thu Ngân sách nhà nước.

2.4.1.3. Rủi ro phát sinh trong việc bố trí giao dịch viên làm công tác thu Ngân sách nhà nước tại Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng thương mại Luận văn: Thực trạng rủi ro phối hợp thu Ngân sách nhà nước.

Chất lượng nguồn nhân lực tham gia công tác phối hợp thu Ngân sách nhà nước tại một số đơn vị còn hạn chế. Nhiều giao dịch viên của Ngân hàng thương mại chưa nắm vững quy trình nghiệp vụ, còn lúng túng trong hướng dẫn thủ tục thu, xử lý công việc chậm và dễ mắc sai sót khi nhập liệu chứng từ do thiếu kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực này.

Bên cạnh đó, việc bố trí nhân sự làm nhiệm vụ thu Ngân sách nhà nước tại các Ngân hàng thương mại và Kho bạc Nhà nước còn bất hợp lý khi thường giao cho các giao dịch viên mới tuyển dụng hoặc lớn tuổi, thiếu kinh nghiệm xử lý nghiệp vụ, đặc biệt trong các tình huống phát sinh phức tạp. Điều này làm gia tăng nguy cơ rủi ro và phát sinh nhu cầu điều chỉnh khoản thu.

Ngoài ra, sự quan tâm của lãnh đạo đơn vị và trưởng bộ phận phụ trách thu Ngân sách nhà nước tại một số ngân hàng và kho bạc còn chưa đầy đủ, dẫn đến việc giao dịch viên thiếu chủ động trong học tập, tự trau dồi trình độ nghiệp vụ chuyên môn về thu Ngân sách nhà nước.

2.4.1.4. Rủi ro trong trao đổi thông tin thu ngân sách nhà nước giữa cơ quan phối hợp thu

Các Ngân hàng thương mại Phối hợp thu nhận Danh mục dung chung và danh mục người nộp Ngân sách nhà nước từ Cổng thông tin điện tử (CTTĐT) của Tổng cục Thuế (TCT) hoặc Tổng cục Hải quan (TCHQ). Dữ liệu này được cập nhật vào hệ thống của Ngân hàng thương mại một cách đầy đủ và liên tục để đảm bảo tính đồng bộ và chính xác trong quá trình thu Ngân sách nhà nước.

Trao đổi các khoản phải thu ngân sách nhà nước của cơ quan thu cho Ngân hàng thương mại, Kho bạc Nhà nước được thực hiện theo đúng quy định. Tuy nhiên, trên hệ thống của từng chi nhánh Ngân hàng thương mại, hệ thống TCS-TT của Kho bạc Nhà nước số phải thu của đối tượng nộp thuế chưa được chính xác, khi Giao dịch viên của Ngân hàng thương mại, Kho bạc Nhà nước nhập mã số thuế của Người nộp thuế đến giao dịch thì đôi lúc số thuế phải nộp trên hệ thống lớn hơn hoặc nhỏ hơn so với số tiền Người nộp thuế nộp. Giấy nộp thuế và Sổ thuế phải thu qua Kho bạc Nhà nước hình 2.3.

  • Hình 2.1: GNT và Sổ thuế phải thu qua Kho bạc Nhà nước Luận văn: Thực trạng rủi ro phối hợp thu Ngân sách nhà nước.

2.4.1.5. Rủi ro trong khâu đối chiếu, kiểm tra và quyết toán thu Ngân sách nhà nước cuối ngày

Việc đối chiếu tự động giữa Kho bạc Nhà nước và các Ngân hàng thương mại về các khoản thu Ngân sách nhà nước nhìn chung được thực hiện khớp đúng vào cuối ngày, giúp đảm bảo việc quyết toán và chuyển tiền về tài khoản Kho bạc Nhà nước tại hội sở chính của Ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng sai lệch do Ngân hàng thương mại truyền thiếu hoặc thừa chứng từ, dẫn đến chậm trễ trong quyết toán và làm chậm quá trình tập trung nguồn thu về Kho bạc Nhà nước Trung ương, ảnh hưởng đến điều hành ngân quỹ quốc gia.

Công tác đối chiếu số dư tài khoản của Kho bạc Nhà nước (KBNN) tại các Ngân hàng thương mại (NHTM) tuân thủ quy định của Ngân hàng Nhà nước và chính Ngân hàng thương mại đó. Vào cuối tháng và cuối năm, số dư tài khoản sau khi đối chiếu phải được hai bên xác nhận, ký tên và đóng dấu đầy đủ để đảm bảo tính pháp lý của chứng từ. Tuy nhiên, do còn áp dụng hình thức đối chiếu thủ công, nên việc hoàn tất và nhận lại chứng từ chậm trễ, gây khó khăn trong việc xử lý kịp thời khi phát sinh sai lệch.

Ngoài ra, việc truyền dữ liệu thu ngân sách nhà nước (NSNN) từ Kho bạc Nhà nước (KBNN) đến cơ quan thu được thực hiện theo đúng quy định, chậm nhất là 10 giờ sáng ngày làm việc tiếp theo thông qua hệ thống TCS-TT. Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng lỗi kỹ thuật trong quá trình truyền dữ liệu, dẫn đến cơ quan thu không nhận được thông tin đúng thời hạn.

2.4.2. Các biện pháp quản lý rủi ro trong phối hợp thu tại Kho bạc Nhà nước Hóc Môn

KBNN Hóc Môn luôn chủ động cập nhật và phổ biến kịp thời các văn bản pháp lý liên quan đến thu Ngân sách nhà nước cho toàn thể công chức, bao gồm các quy định sửa đổi, bổ sung về mục lục Ngân sách nhà nước, hướng dẫn điều tiết các khoản thu như thuế cấp quyền khai thác khoáng sản, thuế bảo vệ môi trường… Đồng thời, định kỳ tổ chức công tác kiểm tra, thanh tra chéo nhằm phát hiện, xử lý kịp thời các sai sót phát sinh trong quá trình thu Ngân sách nhà nước.

Trong công tác quản lý rủi ro (QLRR), Kho bạc Nhà nước Hóc Môn thực hiện việc đối chiếu, rà soát thường xuyên với từng cơ quan thu, từng khoản thu và từng phân đoạn của mục lục Ngân sách nhà nước trong quá trình hạch toán. Tuy nhiên, việc triển khai Quản lý rủi ro hiện vẫn mang tính rời rạc do chưa xây dựng được một khung Quản lý rủi ro đồng bộ và khoa học.

2.5. Đánh giá công tác Quản lý rủi ro trong phối hợp thu ngân sách nhà nước trên địa bàn Huyện Luận văn: Thực trạng rủi ro phối hợp thu Ngân sách nhà nước.

2.5.1. Kết quả đạt được

Dưới sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Lãnh đạo, Kho bạc Nhà nước Hóc Môn luôn đảm bảo tổ chức thực hiện thu Ngân sách nhà nước theo đúng quy định và phân chia chính xác các khoản thu, góp phần hỗ trợ tích cực cho công tác điều hành ngân sách của các cơ quan liên quan.

Phương thức và quy trình thu Ngân sách nhà nước ngày càng theo hướng đơn giản, thuận tiện, giúp hạn chế rủi ro phát sinh trong quá trình thu nộp. Kho bạc Nhà nước Hóc Môn đã phối hợp hiệu quả với cơ quan thu và các Ngân hàng thương mại trong việc triển khai phối hợp thu, ủy nhiệm thu bằng tiền mặt và chuyển khoản, mang lại những kết quả tích cực trong công tác quản lý rủi ro.

Đối với người nộp tiền, thủ tục nộp thuế được đơn giản, thời gian xử lý rút ngắn, đồng thời mở rộng lựa chọn về địa điểm và thời gian nộp tiền, kể cả ngoài giờ hành chính, ngày nghỉ, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ công và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp.

Đối với cơ quan thu, việc chia sẻ và cập nhật dữ liệu từ Kho bạc Nhà nước và các Ngân hàng thương mại giúp nâng cao hiệu quả quản lý, hỗ trợ triển khai các biện pháp cưỡng chế thu hồi nợ thuế theo quy định.

Về đội ngũ công chức, công tác khai báo tỷ lệ điều tiết các khoản thu trên hệ thống được lãnh đạo đơn vị quan tâm chỉ đạo sát sao, bởi đây là yếu tố then chốt đảm bảo việc phân chia Ngân sách nhà nước được thực hiện chính xác, tự động trên hệ thống TCS-TT.

Đối với các Ngân hàng thương mại, việc được cung cấp thông tin về người nộp giúp ngân hàng chủ động phát triển các dịch vụ thanh toán hiện đại, phù hợp với từng đối tượng khách hàng. Đồng thời, Kho bạc Nhà nước Hóc Môn cũng thường xuyên phối hợp cùng các Ngân hàng thương mại trong công tác tra soát, đối chiếu cuối ngày nhằm xử lý kịp thời những sai lệch phát sinh.

2.5.2. Khó khăn, hạn chế Luận văn: Thực trạng rủi ro phối hợp thu Ngân sách nhà nước.

Thứ nhất dù công tác phối hợp thu Ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng trong vận hành ngân sách, nhưng do quy trình nghiệp vụ không quá phức tạp nên công tác quản lý và kiểm soát rủi ro chưa được quan tâm đúng mức. Hiện chưa có bộ phận chuyên trách thực hiện nhiệm vụ quản lý rủi ro, đồng thời cũng chưa xây dựng được mô hình quản lý rủi ro toàn diện trong toàn hệ thống nói chung và tại Kho bạc Nhà nước Hóc Môn nói riêng.

  • Thứ hai, chưa thiết lập khung quản lý rủi ro

Công tác dự báo rủi ro mới dừng ở mức ứng phó các tình huống thực tế đã xảy ra, chưa có phương pháp hệ thống hóa nhằm nhận diện, phân loại và xử lý rủi ro một cách bài bản. Việc thiếu khung quản lý rủi ro chuẩn mực dẫn đến các hoạt động nghiệp vụ chưa có căn cứ rõ ràng để phòng ngừa rủi ro trong thực tiễn tác nghiệp.

Thêm vào đó, hệ thống văn bản pháp lý còn tồn tại bất cập, đặc biệt là trong các trường hợp thông tin nộp thu khác với dữ liệu quản lý của Tổng cục Thuế vẫn được chấp nhận xử lý, gây dư thừa và trùng lặp dữ liệu người nộp trên hệ thống, từ đó làm tăng nguy cơ nhầm lẫn thông tin cho các lần thu tiếp theo.

  • Thứ ba, chưa ban hành quy trình quản lý rủi ro cụ thể.

Dù các đơn vị tham gia Phối hợp thu Ngân sách nhà nước đã tuân thủ quy trình hiện hành, song do thiếu một quy trình Quản lý rủi ro cụ thể nên chưa có công cụ đánh giá, phân tích và nhận diện các rủi ro thường gặp trong từng loại khoản thu. Điều này khiến cho hoạt động phòng ngừa rủi ro mang tính bị động, chưa tập trung vào các nguy cơ có tần suất cao.

  • Thứ tư, kiểm tra nội bộ chưa hiệu quả.

Việc kiểm tra nội bộ trong quản lý Phối hợp thu Ngân sách nhà nước còn nhiều hạn chế, chủ yếu mới chỉ dừng lại ở phía Kho bạc Nhà nước. Trong khi đó, các chủ thể khác như Ngân hàng thương mại, cơ quan thu và người nộp chưa được tích cực lồng ghép vào quy trình kiểm tra, dẫn đến việc khắc phục sai sót thiếu tính đồng bộ. Đồng thời, ý thức tự kiểm tra, phát hiện lỗi của công chức tại đơn vị còn hạn chế, làm giảm hiệu quả cảnh báo và phòng ngừa.

  • Thứ năm, hạn chế về năng lực và đào tạo nhân sự.

Đội ngũ giao dịch viên tại Kho bạc Nhà nước và các Ngân hàng thương mại còn thiếu kiến thức chuyên môn sâu về quản lý rủi ro trong công tác phối hợp thu. Khả năng phân tích, dự báo và đánh giá rủi ro phát sinh từ từng khoản thu còn hạn chế. Phần lớn vẫn chỉ thực hiện nghiệp vụ theo thông tin do người nộp cung cấp mà chưa có kỹ năng thẩm định hoặc phát hiện sai sót.

  • Thứ sáu, ứng dụng công nghệ thông tin còn bất cập.

Mặc dù hạ tầng Công nghệ thông tin phục vụ thu Ngân sách nhà nước qua Ngân hàng thương mại ngày càng được cải thiện, nhưng vẫn xảy ra lỗi truyền nhận dữ liệu và đối chiếu thông tin thu nộp Ngân sách nhà nước. Thời gian xử lý sự cố còn chậm, ảnh hưởng đến tính kịp thời trong việc xác nhận, truyền dữ liệu về cơ quan quản lý thu. Bên cạnh đó, đối chiếu số dư TK của Kho bạc Nhà nước tại Ngân hàng thương mại vẫn thực hiện thủ công, chưa tích hợp trên nền tảng số, gây chậm trễ trong xác minh số liệu và xử lý chênh lệch.

2.5.3. Nguyên nhân Luận văn: Thực trạng rủi ro phối hợp thu Ngân sách nhà nước.

2.5.3.1 Nguyên nhân chủ quan

Quy trình thu của Giao dịch viên, nhân viên Ngân hàng thương mại, Kho bạc Nhà nước chưa được quan tâm, đôi lúc còn thờ ơ, thiếu sự đề phòng các rủi ro có thể xảy ra. Khả năng phân tích, dự báo các nguy cơ có thể xảy ra sai sót liên quan đến từng khoản thu cũng còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế.

Việc bố trí giao dịch viên tại Ngân hàng thương mại, Kho bạc Nhà nước làm công tác thu Ngân sách nhà nước thường các đơn vị giao cho những giao dịch viên mới tuyển hoặc những giao dịch viên lớn tuổi chưa có nhiều kinh nghiệm, kiến thức về xử lý các nghiệp vụ hoặc xử lý chậm, đặc biệt là những tình huống phức tạp. Ngoài ra, lãnh đạo đơn vị, quản lý phần thu Ngân sách nhà nước tại các đơn vị Ngân hàng thương mại, Kho bạc Nhà nước đôi khi chưa thực sự chú trọng đúng mức. Các Giao dịch viên cũng không tích cực nghiên cứu các văn bản, bám sát quy trình hướng dẫn, học hỏi các nghiệp vụ liên quan đến công tác thu Ngân sách nhà nước.

Một số trường hợp xảy ra sai sót nguyên nhân do sự buông lỏng của Giao dịch viên quản lý, thiếu sự kiểm tra giám sát trong quá trình kiểm soát chứng từ dẫn đến việc rủi ro dễ xảy ra.

2.5.3.2. Nguyên nhân khách quan

Thứ nhất, hiện nay chưa có hành lang pháp lý đầy đủ để tổ chức bộ máy quản lý rủi ro mang tính liên thông giữa các chủ thể tham gia phối hợp thu Ngân sách nhà nước, do đây là hoạt động liên ngành, bao gồm nhiều cơ quan như Kho bạc Nhà nước, cơ quan thu và hệ thống Ngân hàng thương mại. Việc thiếu quy định pháp lý thống nhất đã dẫn đến việc chưa thể thiết lập một khung quản lý rủi ro tổng thể, đồng bộ giữa các bên. Luận văn: Thực trạng rủi ro phối hợp thu Ngân sách nhà nước.

Thứ hai, theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước, phần lớn các khoản thu Ngân sách nhà nước là khoản thu phân chia giữa các cấp ngân sách, phụ thuộc vào đặc thù kinh tế và khả năng thu ngân sách của từng địa phương. Tính phân tán và biến động này gây khó khăn trong việc thiết kế một khung quản lý rủi ro có tính ứng dụng cao và phù hợp với toàn hệ thống.

Thứ ba, TLPC các khoản thu Ngân sách nhà nước được quy định trong các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân thành phố về phân cấp nguồn thu. Tuy nhiên, quá trình xây dựng các Nghị quyết này còn thiếu sự phối hợp và lấy ý kiến từ Kho bạc Nhà nước – đơn vị trực tiếp vận hành hệ thống thu Ngân sách nhà nước. Một số tiêu thức phân chia nguồn thu chưa đồng bộ với chương trình ứng dụng TCS hiện hành, gây ra nhiều khó khăn, nhầm lẫn trong quá trình khai báo và thực hiện điều tiết thu ngân sách tại Kho bạc Nhà nước.

  • TÓM TẮT CHƯƠNG 2

Chương 2 của đề án tập trung phản ánh thực trạng công tác Quản lý rủi ro trong phối hợp thu Ngân sách nhà nước trên địa bàn Huyện Hóc Môn, thông qua các nội dung trọng tâm như: nhận diện rủi ro; xây dựng và triển khai các biện pháp Quản lý rủi ro; công tác giám sát và báo cáo rủi ro trong quá trình phối hợp thu.

Trên cơ sở phân tích thực trạng giai đoạn 2020–2024, chương này đã chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời nhận diện các tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong công tác Quản lý rủi ro. Đây là cơ sở quan trọng cho việc đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác Quản lý rủi ro trong phối hợp thu Ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước sẽ được trình bày trong Chương 3. Luận văn: Thực trạng rủi ro phối hợp thu Ngân sách nhà nước.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Giải pháp rủi ro phối hợp thu Ngân sách nhà nước

One thought on “Luận văn: Thực trạng rủi ro phối hợp thu Ngân sách nhà nước

  1. Pingback: Luận văn: Quản lý rủi ro trong phối hợp thu ngân sách qua Kho bạc

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *