Luận văn: Quyết định vay vốn của khách hàng tại NH Nam Á

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quyết định vay vốn của khách hàng tại NH Nam Á hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Nam Á chi nhánh Tiền Giang giai đoạn 2022-2024 dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT ĐỀ ÁN

Hoạt động cho vay là một những hoạt động quan trọng và cũng là một nghiệp vụ chủ yếu đem lại thu nhập cho ngân hàng. Do đó việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân là một trong những nội hàm cần thiết từ đó đề xuất giải pháp nhằm mở rộng hoạt động tín dụng cá nhân tại ngân hàng Nam Á nói chung và ngân hàng Nam Á chi nhánh Tiền Giang nói riêng. Đề án thực hiện với mục đích đề án đặt ra nhằm xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Nam Á chi nhánh Tiền Giang. Từ đó đề xuất giải pháp nhằm mở rộng hoạt động tín dụng cá nhân tại ngân hàng Nam Á chi nhánh Tiền Giang. Đề án thực hiện với nhiệm vụ chính nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến đến quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Nam Á chi nhánh Tiền Giang. Đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến đến quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Nam Á chi nhánh Tiền Giang và đưa ra một số hàm ý quản trị để mở rộng hoạt động vay vốn đối với khách hàng cá nhân tại ngân hàng Nam Á Chi nhánh Tiền Giang

Thông qua khảo sát khảo sát chính thức 350 khách hàng cá nhân vay vốn tại Ngân hàng Nam Á chi nhánh Tiền Giang. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA. Kết quả sau khi chạy hồi quy có hệ số R2 hiệu chỉnh = 57.3%, kiểm định độ phù hợp đạt yêu cầu vì giá trị sig. < 0,05. Điều này chứng tỏ, ngoài tám nhân tố trong mô hình nghiên cứu còn có những nhân tố khác có tác động đến giá trị cả nhận nhưng chưa được đưa vào mô hình nghiên cứu. Các giả thuyết H1, H2, H3, H4, H5, H6, H7 đều được ủng hộ. Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Nam Á chi nhánh Tiền Giang giai đoạn 2022-2024 do 7 yếu tố tác động, được sắp xếp theo thứ tự giảm dần mức độ ảnh hưởng như sau: Phong cách phục vụ (PC); Sự thuận tiện (TT); Lãi suất, chi phí vay vốn (LS); Mục đích vay vốn (MD); Thương hiệu ngân hàng (TH); Nhân viên ngân hàng (NV); Thủ tục vay vốn (TTVV).

CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU CHUNG

1. Lí do nghiên cứu Luận văn: Quyết định vay vốn của khách hàng tại NH Nam Á.

Năm 2023-2024 một năm đầy biến động đối với nền kinh tế Việt Nam, trong đó đặc biệt là ngành Ngân hàng bởi ảnh hưởng chung từ các biến động kinh tế toàn cầu, việc gia tăng áp lực lạm phát, tỷ giá và lãi suất. Trong bối cảnh kinh tế nhiều thách thức, với sự quản lý và điều hành của NHNN cùng khả năng thích ứng nhanh chóng của các ngân hàng thương mại đã tiếp tục tăng trưởng về quy mô hoạt động và năng lực tài chính, tín dụng gia tăng trở lại do nhu cầu tiêu dùng được khôi phục lại sau đại dịch. Bên cạnh những điểm tích cực, trong nửa cuối năm 2022-2023, ngành Ngân hàng cũng phải đương đầu với các thách thức đáng kể về thiếu hụt thanh khoản thị trường do lãi suất được điều chỉnh tăng để kiềm chế lạm phát và ổn định tỷ giá, cũng như hiệu ứng của việc xử lý một số vụ việc vi phạm liên quan tới trái phiếu doanh nghiệp.

Trong bối cảnh nền kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn, Trong giai đoạn hiện nay (2024–2025), nhiều ngân hàng tại Việt Nam và khu vực đang đối mặt với các khó khăn đáng kể, đặc biệt là tình trạng ứ đọng vốn. Tình trạng ứ đọng vốn (vốn dư thừa nhưng không giải ngân được), nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong kinh doanh, không dám vay thêm do sợ không trả được, hoặc không có nhu cầu mở rộng sản xuất. Ngân hàng siết chặt điều kiện cho vay để giảm rủi ro, khiến nhiều khách hàng không đáp ứng đủ điều kiện vay vốn. Thị trường bất động sản đóng băng: Một lượng lớn vốn ngân hàng bị “mắc kẹt” trong các dự án bất động sản chưa triển khai hoặc đang chờ pháp lý, không sinh lợi được. Điều này không chỉ gây khó khăn cho các doanh nghiệp mà còn làm các ngân hàng bị “ứ động vốn”. Trước thực trạng đó, tín dụng cá nhân trở thành một mảnh đất màu mỡ để các ngân hàng khai thác và đây cũng là nhóm khách hàng chiến lược mà các ngân hàng hướng đến hiện nay. Chênh lệch giữa lãi suất cho vay và huy động trong mảng khách hàng cá nhân khá cao so với khách hàng doanh nghiệp. Cụ thể, lãi vay đối với cá nhân tiêu dùng, sản xuất nông nghiệp, mua nhà, các ngân hàng vẫn áp dụng mức phổ biến từ: 8% – 10%/năm, trong khi huy động tiết kiệm chỉ từ 4 – 7%/năm (năm 2021); 12% – 16%/năm, trong khi huy động tiết kiệm chỉ từ 8 – 10%/năm (năm 2022). Đó chính là lý do để Ngân hàng Nam Á đẩy mạnh tín dụng cho phân khúc khách hàng cá nhân này (Trần Nguyễn Tường Vy, Lê Trung Hiếu, 2024).

Trong bối cảnh phát triển kinh tế nông thôn và hiện đại hóa hệ thống tài chính, vai trò của tín dụng ngân hàng trong việc thúc đẩy sản xuất kinh doanh và nâng cao đời sống của người dân ngày càng trở nên quan trọng. Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank) chính thức hoạt động từ ngày 21/10/1992, là một trong những Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên được thành lập sau khi Pháp lệnh về Ngân hàng được ban hành năm 1990, với sứ mệnh đáp ứng kịp thời các nhu cầu hợp lý về phát triển sản xuất – kinh doanh – dịch vụ của khách hàng bằng các phương tiện hiện đại, sản phẩm dịch vụ mới với phong cách phục vụ chuyên nghiệp. Luận văn: Quyết định vay vốn của khách hàng tại NH Nam Á.

Tuy nhiên, quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân không chỉ phụ thuộc vào nhu cầu tài chính mà còn bị chi phối bởi nhiều yếu tố kinh tế, xã hội, tâm lý và thể chế. Các yếu tố này bao gồm mức thu nhập, sự thuận tiện trong quy trình vay, chất lượng dịch vụ, uy tín của ngân hàng và các yếu tố tâm lý như niềm tin và nhận thức rủi ro (Nguyen và cộng sự, 2020). Đặc biệt, tại khu vực nông thôn như Tiền Giang, các đặc thù về kinh tế xã hội như thu nhập theo mùa và mức độ tiếp cận thông tin tài chính đã tạo nên sự khác biệt đáng kể trong hành vi vay vốn của khách hàng (Le và Tran, 2021).

Nghiên cứu về các yếu tố tác động đến quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân tại chi nhánh Ngân hàng Nam Á chi nhánh Tiền Giang mang ý nghĩa thực tiễn và học thuật quan trọng. Về mặt thực tiễn, nghiên cứu này sẽ cung cấp cơ sở để Ngân hàng Nam Á cải thiện các chính sách tín dụng, nâng cao chất lượng dịch vụ, và thiết kế các sản phẩm phù hợp với nhu cầu của khách hàng địa phương. Về mặt học thuật, nghiên cứu góp phần bổ sung vào tài liệu nghiên cứu về hành vi tài chính tại Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh nông thôn, nơi các yếu tố ảnh hưởng có thể khác biệt đáng kể so với khu vực đô thị (Kaswoto, 2017). Do đó, đề tài này không chỉ mang tính thời sự mà còn có giá trị lâu dài trong việc hỗ trợ ngân hàng và các nhà hoạch định chính sách phát triển các chiến lược tài chính toàn diện, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội tại tỉnh Tiền Giang.

Từ những lý do trên tác giả đã lựa chọn đề tài: “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Nam Á chi nhánh Tiền Giang giai đoạn 2022 – 2024” làm đề án tốt nghiệp thạc sĩ.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Nam Á chi nhánh Tiền Giang. Từ đó đề xuất giải pháp nhằm mở rộng hoạt động tín dụng cá nhân tại ngân hàng Nam Á chi nhánh Tiền Giang.

Mục tiêu cụ thể:

  • Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến đến quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Nam Á chi nhánh Tiền
  • Đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến đến quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Nam Á chi nhánh Tiền Luận văn: Quyết định vay vốn của khách hàng tại NH Nam Á.
  • Đưa ra một số hàm ý quản trị để mở rộng hoạt động vay vốn đối với khách hàng cá nhân tại ngân hàng Nam Á Chi nhánh Tiền

3. Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu trên, nội dung của đề án phải giải quyết được các câu hỏi nghiên cứu sau:

  • Các yếu tố ảnh hưởng đến đến quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Nam Á chi nhánh Tiền Giang được xác định trên yếu tố nào?
  • Có yếu tố nào ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Nam Á chi nhánh Tiền Giang giai đoạn 2022-2024?
  • Cần có hàm ý quản trị nào để mở rộng hoạt động vay vốn đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Nam Á chi nhánh Tiền Giang trong thời gian tới ?

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến đến quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân Ngân hàng Nam Á chi nhánh Tiền Giang.

  • Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại Ngân hàng Nam Á chi nhánh Tiền Giang đây là nơi tác giả đang công tác. Lựa chọn Ngân hàng Nam Á chi nhánh Tiền Giang là cơ sở để tác giả có đề xuất với lãnh đạo Ngân hàng có hàm ý chính sách

Về thời gian: Tác giả tiến hành khảo sát các khách hàng cá nhân thực hiện vay vốn tại Ngân hàng Nam Á chi nhánh Tiền Giang giai đoạn 2023 – 2024 và đã có kỳ trả nợ đầu tiên. Đây là giai đoạn gần nhất với thời điểm tác giả nghiên cứu, các số liệu, thông số được cập nhật đầy đủ, chính xác nhất.

Về đối tượng khảo sát: Phương pháp điều tra ngẫu nhiên được áp dụng để thu thập dữ liệu của 365 khách hàng cá nhân đã sử dụng sản phẩm vay của ngân hàng. Luận văn: Quyết định vay vốn của khách hàng tại NH Nam Á.

5. Phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp định tính

Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua phỏng vấn nhóm tập trung (Phỏng vấn chuyên gia). Mục đích của việc phỏng vấn nhóm nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Nam Á chi nhánh Tiền Giang giai đoạn 2022-2024.

Ngoài số liệu khảo sát, tác giả cập nhật các thông tin từ báo cáo tài chính, báo kết quả kinh doanh của Ngân hàng Nam Á chi nhánh Tiền Giang giai đoạn 2022-2024; Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng; Cơ cấu quản trị và bộ máy quản lý; Các hoạt động kinh doanh của ngân hàng; Phân tích hoạt động đầu tư; Tình hình cho vay vốn; Chất lượng tín dụng của Ngân hàng Nam Á chi nhánh Tiền Giang.

5.2. Phương pháp định lượng

Nhằm kiểm định độ tin cậy của thang đo từ các dữ liệu khảo sát được của nhân viên công ty. Phiếu khảo sát được gửi thông qua hình thức gửi email. Nghiên cứu định lượng được thông qua phản hồi từ khách hàng cá nhân đang vay vốn tại Ngân hàng Nam Á chi nhánh Tiền Giang. Dữ liệu thu thập sẽ được xử lý và phân tích thông qua phần mềm SPSS. Nghiên cứu sử dụng các phân tích thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha, phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA, Anova để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Nam Á chi nhánh Tiền Giang giai đoạn 2022-2024.

6. Kết cấu đề án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục trong đề án nghiên cứu được chia thành 5 chương như sau:

  • Chương 1. Giới thiệu chung
  • Chương 2. Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan
  • Chương 3. Phương pháp nghiên cứu
  • Chương 4. Kết quả nghiên cứu
  • Chương 5. Kết luận và hàm ý quản trị

CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

2.1. Cơ sở lý thuyết

2.1.1. Tổng quan về cho vay cá nhân

  • Khái niệm

Khách hàng cá nhân Luận văn: Quyết định vay vốn của khách hàng tại NH Nam Á.

Khách hàng là thành phần có vị trí hết sức quan trọng trong việc quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng bởi khách hàng vừa tham gia trực tiếp vào quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ ngân hàng, vừa trực tiếp sử dụng, hưởng thụ sản phẩm dịch vụ. Vì vậy, nhu cầu, mong muốn và cách thức sử dụng sản phẩm dịch vụ của khách hàng sẽ là yếu tố quyết định cả về số lượng, kết cấu, chất lượng sản phẩm dịch vụ và kết quả hoạt động của ngân hàng

Đối với các hoạt động kinh tế dù ở tầm vi mô hay vĩ mô, khách hàng luôn đóng vai trò quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến sự thành công hay thất bại của chủ thể tham gia kinh tế. Mọi hoạt động kinh doanh đều hướng tới mục tiêu chung đó là thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và thông qua đó mang lại lợi nhuận tối đa cho bản thân.

Khách hàng của các tổ chức tín dụng nói chung, ngân hàng nói riêng tham gia 4 nhóm giao dịch chính là: giao dịch tiền gửi, giao dịch tiền vay, giao dịch thanh toán và các dịch vụ khác.

Trước năm 2017, pháp luật thừa nhận 3 loại chủ thể tham gia quan hệ pháp luật dân sự gồm: cá nhân; pháp nhân; hộ gia đình, tổ hợp tác và các tổ chức khác không có tư cách pháp nhân.

Trong lĩnh vực thương mại, KHCN là những người mua sắm sản phẩm hoặc dịch vụ nhằm phục vụ nhu cầu cá nhân, gia đình, hoặc bạn bè của họ, mà không đại diện cho bất kỳ tổ chức hay doanh nghiệp nào. Trong hoạt động ngân hàng, KHCN là các cá nhân hoặc nhóm cá nhân đã, đang, hoặc sẽ sử dụng các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng để đáp ứng nhu cầu của bản thân hoặc gia đình của họ.

Một đặc điểm quan trọng của KHCN trong lĩnh vực ngân hàng là số lượng lớn nhưng quy mô mỗi khách hàng thường nhỏ. Điều này đặt ra thách thức cho các ngân hàng trong việc quản lý và phục vụ một lượng lớn khách hàng với các nhu cầu tài chính đa dạng. Thêm vào đó, KHCN rất khác nhau về tuổi tác, giới tính, thu nhập, trình độ văn hóa và sở thích, tạo nên sự phức tạp trong việc thiết kế và cung cấp các sản phẩm và dịch vụ phù hợp. Nhu cầu của KHCN cũng thường xuyên thay đổi và có xu hướng gia tăng, đòi hỏi các ngân hàng phải liên tục điều chỉnh và cải tiến dịch vụ của mình để đáp ứng kịp thời và hiệu quả.

Trong bối cảnh này, việc hiểu rõ và nắm bắt được các yếu tố đặc trưng của KHCN là vô cùng cần thiết. Ngân hàng cần có chiến lược linh hoạt và sáng tạo để không chỉ thu hút mà còn giữ chân khách hàng. Điều này không chỉ giúp ngân hàng tăng trưởng bền vững mà còn góp phần nâng cao trải nghiệm và sự hài lòng của khách hàng, tạo nên lợi thế cạnh tranh quan trọng trong ngành dịch vụ tài chính. Luận văn: Quyết định vay vốn của khách hàng tại NH Nam Á.

Trong phạm vi đề tài cho rằng: “Khách hàng cá nhân giao dịch với ngân hàng thông thường là những người đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ (là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự)”.

  • Cho vay khách hàng cá nhân:

Theo giáo trình của Đinh Xuân Hạng (2012) đã đưa ra: Cho vay khách hàng cá nhân là hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng (chủ yếu là ngân hàng thương mại) đối với các cá nhân hoặc hộ gia đình nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu, sản xuất, kinh doanh, đầu tư hoặc tiêu dùng trong đời sống.

Trong đó, ngân hàng chuyển tài sản cho người đi vay để sử dụng trong một khoảng thời gian đã thỏa thuận và người vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện gốc và lãi cho ngần hàng vào thời hạn thanh toán (Nguyễn Văn Tiến, 2010). Do đó, mối quan hệ giữa NHTM và khách hàng được thiết lập trên nguyên tắc hoàn trả vô điểu kiện, có thể được xem như việc chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc tài sản trong một khoảng thời gian nhất định với một mức chi phí xác định.

Theo Luật Các tổ chức tín dụng (2024), “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi” (Quốc Hội, 2024).

Theo tác giả Phan Thị Thu Hà (2014) cho rằng: “Cho vay là việc Ngân hàng cấp tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi trong khoảng thời gian xác định. Ngân hàng có thể vay bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản, tiền có thể chuyển tới tài khoản khách hàng hoặc tài khoản của người bán hàng cho khách hàng”.

Khách hàng cá nhân là “các pháp nhân, cá nhân có đầy đủ điều kiện để đi vay, có nhu cầu vay vốn để sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng cá nhân. Như vậy, hoạt động cho vay của KHCN là hình thức cho vay mà Ngân hàng chuyển nhượng quyền sở hữu vốn cho khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình với mục đích tiêu dùng, hoạt động sản xuất kinh doanh nhỏ của cá nhân và hộ gia đình đó với những điều kiện nhất định được thỏa thuận trong hợp đồng” (Nguyễn Văn Tiến, 2012).

Khách hàng cá nhân là “nhóm các đối tượng bao gồm: cá nhân, chủ trang trại, hộ gia đình, tổ hợp tác… Nhóm đối tượng khách hàng này có số lượng rất lớn và nhu cầu vay các món nhỏ lẻ” (Đặng Văn Tú và Bùi Diệu Anh, 2022).

Như vậy, trong phạm vi đề tài cho rằng: “Hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân ho vay khách hàng cá nhân có thể hiểu là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và cá nhân người vay, trong đó ngân hàng đóng vai trò là bên cho vay, còn khách hàng cá nhân là bên đi vay, chịu trách nhiệm hoàn trả khoản vay đúng thời hạn và điều kiện đã cam kết”.

  • Đặc điểm Luận văn: Quyết định vay vốn của khách hàng tại NH Nam Á.

Trước hết, KHCN chủ yếu sử dụng hình thức tài trợ cho mục đích chi tiêu của cá nhân, hộ gia đình. Các khoản cho vay tiêu dùng là nguồn tài chính quan trọng giúp người tiêu dùng có thể trang trải các nhu cầu trong cuộc sống như nhà ở, phương tiện đi lại, tiện nghi sinh hoạt, học tập, du lịch, y tế… trước khi họ có đủ khả năng về tài chính để hưởng thụ. Nguyễn Đăng Dờn (2016) cho rằng: Tín dụng cho vay KHCN có một số đặc điểm sau:

Thứ nhất, quy mô khoản vay nhỏ, số lượng các khoản vay lớn. Trên thực tế, mục đích vay của KHCN chủ yếu là nhằm đáp ứng nhu cẩu chi tiêu phục vụ đời sống hoặc nhằm mục đích bổ sung vốn kinh doanh. Vì thế, mà khối lượng khoản vay cũng bị giới hạn bởi các yếu tố như quyết định vay vốn, tính hợp lý của khoản vay cũng như những yêu cấu vế tài sản đảm bảo. Tuy nhiên, số lượng khách vay là rất lớn và nhu cẩu tín dụng cũng vì thế mà rất đa dạng.

Thứ hai, tín dụng KHCN tiếm ẩn nhiểu rủi ro. Do thông tin liên quan đến đói tượng này thường khó tiếp cận, không đầy đủ và toàn diện vì tính bảo mật cao. Điểu này dẫn đến rủi ro thông tin bất cân xứng khiến cho việc thẩm định khách hàng sẽ thiếu chính xác. Ngoài ra, rủi ro tác nghiệp xuất phát từ chính quá trình thẩm định khách hàng cũng là một trong những nguyên nhân gây tổn thất cho ngân hàng.

Thứ ba, tín dụng KHCN gầy tốn kém nhiểu chi phí. Để duy trì và phát triển loại hình tín dụng này, các ngân hàng sẽ phải chú trọng đến những khoản đẩu tư với chi phí cao như mở rộng quảng cáo, tiếp thị để nâng cao khả năng tiếp cận và khai thác những khách hàng tiếm năng, mở rộng phạm vi sử dụng dịch vụ; phát triển nhân sự nhằm cung cấp dịch vụ một cách nhanh chóng, hiệu quả và chính xác.

Từ khái niệm trên cho thấy cho vay cá nhân là một loại hình của tín dụng, vì vậy nó mang những đặc điểm chung của tín dụng. Có ba đặc điểm chung như sau:

Thứ nhất: Khách hàng vay là cá nhân và các hộ gia đình. Mục đích vay nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình không phải xuất phát từ mục đích kinh doanh. Do đó phụ thuộc vào nhu cầu, tính cách của từng đối tượng khách hàng và chu kỳ kinh tế của người đi vay. Luận văn: Quyết định vay vốn của khách hàng tại NH Nam Á.

Thứ hai, Khoản cho vay có độ rủi ro cao

Các khoản vay của KHCN thường được đảm bảo bằng thu nhập của chính cá nhân đó. Tuy nhiên, nếu khách hàng gặp phải bất trắc như ốm đau, bệnh tật,…thì ngay lập tức thu nhập đó hoặc giảm sút hoặc thậm chí có thể mất đi hoàn toàn. “NHTM luôn phải đối mặt với những rủi ro đó, mà công tác thẩm định, quản lí khách hàng lại không thể kiểm soát được hết tất cả. Chính vì điều này, rất nhiều NHTM trong một thời gian dài trước đây đã rất ngại cho KHCN vay vốn. Nhưng hiện nay, nhận thấy hoạt động cho vay đối với KHCN mang lại một nguồn thu không nhỏ nên các NHTM đã tập trung hướng tới mục tiêu này. Và công tác quản lí rủi ro ngày càng được các Ngân hàng quan tâm chú trọng hơn” (Đặng Văn Tú và Bùi Diệu Anh, 2022).

Khách hàng vay tiêu dùng thường ít quan tâm đến lãi suất mà thường quan tâm đến số tiền họ phải thanh toán.

Thứ ba, “Lãi “suất thường cao hơn so với lãi suất của các khoản vay khác. Lãi suất “áp dụng cho KHCN thường cao hơn các lãi suất khác của các khoản vay khác của NHTM. Do quy mô của các khoản vay thường không lớn nhưng chi phí bỏ ra để quản lí lại rất lớn nên các NHTM phải đề ra mức lãi suất cao để bù đắp chi phí (gồm chi phí về thời gian, nhân lực, thẩm định, quản lí…).

Về lãi suất, do quy mô các khoản vay thường nhỏ (trừ những khoản vay để mua bất động sản), dẫn đến chi phí để cho vay cao, do vậy, lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao hơn lãi suất cho vay thương”” mại.

Thứ tư, Nguồn trả nợ của khách hàng được trích từ thu nhập, không nhất thiết phải là từ kết quả của việc sử dụng những khoản vay đó. Những khách hàng có việc làm, mức thu nhập ổn định và có trình độ học vấn là những tiêu chí quan trọng để ngân hàng thương mại quyết định cho vay.

Thứ năm, Thời hạn của các khoản vay ngắn.

Với khách hàng là các doanh nghiệp thì các khoản vay thường được sử dụng với mục đích tài trợ cho tài sản cố định hay xây dựng nhà xưởng… Còn với KHCN, chủ yếu các khoản vay là những khoản vay ngắn hạn, chỉ có một phần trung hạn, dài hạn hầu như không có.

2.1.2. Các loại hình cho vay cá nhân Luận văn: Quyết định vay vốn của khách hàng tại NH Nam Á.

Cho vay khách hàng cá nhân là hình thức cấp tín dụng phổ biến trong hoạt động ngân hàng thương mại, hướng đến các đối tượng là cá nhân, hộ gia đình có nhu cầu vốn phục vụ tiêu dùng, đầu tư hoặc sản xuất kinh doanh quy mô nhỏ. Đặc điểm của cho vay khách hàng cá nhân là giá trị khoản vay thường không lớn, song số lượng khách hàng đông và đa dạng. Các khoản vay này thường có thời hạn ngắn hoặc trung hạn, được bảo đảm bằng tài sản hoặc tín chấp tùy theo năng lực tài chính và uy tín của người vay. Quy trình xét duyệt cho vay cá nhân thường đơn giản, linh hoạt và chú trọng đến khả năng trả nợ, lịch sử tín dụng, cũng như mục đích sử dụng vốn của khách hàng. Có thể thấy, hoạt động cho vay KHCN là hình thức cho vay mà Ngân hàng chuyển nhượng quyền sở hữu vốn cho khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình với mục đích tiêu dùng và hoạt động sản xuất kinh doanh nhỏ của cá nhân và hộ gia đình đó với những điều kiện nhất định được thỏa thuận trong hợp đồng. Từ phân tích trên, các loại hình cho vay cá nhân bao gồm:

Cho vay tiêu dùng: Cho vay tiêu dùng là hình thức ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng cá nhân nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu và sinh hoạt như mua sắm hàng hóa, trang thiết bị, sửa chữa nhà ở, thanh toán học phí, du lịch hay y tế. Mục đích của khoản vay này chủ yếu phục vụ đời sống, không trực tiếp tạo ra lợi nhuận. Các khoản vay tiêu dùng thường có quy mô nhỏ, thời hạn ngắn và có thể được bảo đảm bằng tài sản hoặc tín chấp tùy theo điều kiện của khách hàng.

Cho vay sản xuất – kinh doanh cá thể: Đây là hình thức cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của các hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh nhỏ lẻ để mở rộng quy mô, mua sắm máy móc, nguyên vật liệu hoặc bổ sung vốn lưu động. Khoản vay này giúp khách hàng phát triển hoạt động kinh tế, góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập. Ngân hàng thường xem xét kỹ năng lực tài chính, khả năng trả nợ và phương án kinh doanh trước khi quyết định cho vay.

Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn: Căn cứ vào thời gian hoàn trả, cho vay cá nhân được chia thành ba loại: ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Cho vay ngắn hạn có thời hạn dưới 12 tháng, thường dùng cho nhu cầu chi tiêu hoặc vốn lưu động nhỏ.

Cho vay trung hạn kéo dài từ 1 đến 5 năm, phục vụ nhu cầu mua sắm tài sản, thiết bị hoặc mở rộng kinh doanh. Cho vay dài hạn có thời gian trên 5 năm, thường áp dụng cho các khoản vay mua nhà, xây dựng hoặc đầu tư dài hạn.

Cho vay có tài sản bảo đảm: Cho vay có tài sản bảo đảm là hình thức khách hàng dùng tài sản như nhà đất, ô tô, sổ tiết kiệm hoặc giấy tờ có giá trị để thế chấp, cầm cố cho khoản vay. Hình thức này giúp ngân hàng giảm rủi ro tín dụng và khách hàng có thể được hưởng mức lãi suất ưu đãi hơn. Tuy nhiên, quy trình xét duyệt thường phức tạp hơn do cần định giá và kiểm tra tính pháp lý của tài sản. Luận văn: Quyết định vay vốn của khách hàng tại NH Nam Á.

Cho vay tín chấp: Cho vay tín chấp là hình thức cấp tín dụng không cần tài sản bảo đảm. Ngân hàng dựa vào uy tín cá nhân, thu nhập ổn định, lịch sử tín dụng và khả năng trả nợ để ra quyết định cho vay. Hình thức này phổ biến với người làm công ăn lương, cán bộ công chức hoặc khách hàng thân thiết. Tuy nhiên, lãi suất của cho vay tín chấp thường cao hơn do mức độ rủi ro lớn.

Cho vay trả góp: Trong loại hình này, khách hàng trả nợ gốc và lãi định kỳ hàng tháng hoặc hàng quý. Hình thức này phù hợp với người có thu nhập ổn định, giúp họ chủ động cân đối chi tiêu. Cho vay trả góp thường áp dụng với các khoản vay tiêu dùng hoặc mua sắm tài sản như nhà, xe ô tô, thiết bị điện tử.

Cho vay trả một lần khi đáo hạn: Đây là hình thức khách hàng thanh toán toàn bộ gốc và lãi khi đến hạn hợp đồng. Hình thức này thường áp dụng cho các khoản vay ngắn hạn, có thời gian quay vòng vốn nhanh như vay phục vụ kinh doanh mùa vụ hoặc tiêu dùng ngắn hạn.

Cho vay theo hạn mức tín dụng: Cho vay theo hạn mức tín dụng là hình thức ngân hàng và khách hàng thỏa thuận một mức tín dụng tối đa trong một thời hạn nhất định, thường từ 6 đến 12 tháng. Trong thời gian đó, khách hàng có thể rút vốn, trả nợ và tiếp tục vay trong phạm vi hạn mức được duyệt. Hình thức này mang lại sự linh hoạt và chủ động cho khách hàng cá nhân có nhu cầu vốn thường xuyên.

Cho vay từng lần: Đây là hình thức phổ biến nhất, theo đó mỗi lần vay vốn, khách hàng lập hồ sơ riêng, ngân hàng xem xét, thẩm định và ký hợp đồng tín dụng mới. Hình thức này thường áp dụng cho khách hàng vay vốn không thường xuyên hoặc có nhu cầu vay cụ thể, rõ ràng về mục đích sử dụng vốn.

Các loại hình cho vay cá nhân rất đa dạng, giúp ngân hàng đáp ứng nhu cầu khác nhau của từng nhóm khách hàng. Việc phát triển các sản phẩm cho vay phù hợp với thu nhập, khả năng trả nợ và mục tiêu sử dụng vốn của khách hàng sẽ giúp ngân hàng mở rộng thị phần, nâng cao năng lực cạnh tranh và tăng hiệu quả hoạt động tín dụng.

2.1.3. Các loại rủi ro xuất phát từ hình thức cho vay cá nhân

Theo Nguyễn Minh Kiều (2007), rủi ro từ cho vay khách hàng cá nhân là loại rủi ro phát sinh do khách hàng vay nợ có thể mất quyết định vay vốn một khoản vay nào đó. Luận văn: Quyết định vay vốn của khách hàng tại NH Nam Á.

Theo Thông tư 14/2014/TT-NHNN, “rủi ro từ cho vay khách hàng cá nhân trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”.

Khi khách hàng được tài trợ tín dụng của ngân hàng, khách hàng nói chung và khách hàng cá nhân được theo dõi và phân loại nợ (phân loại rủi ro tín dụng) theo hai phương pháp phân loại là định tính và định lượng (Thông tư 02/2013/TT-NHNN). Theo phương pháp định lượng được trình bày trong Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN, nợ được phân loại thành 5 nhóm như sau: “Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn (Đủ khả năng thu hồi nợ đúng hạn); Nhóm 2: Nợ cần chú ý (Nợ quá hạn < 90 ngày, nợ cơ cấu); Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn (Nợ quá hạn từ 90-180 ngày; nợ cơ cấu); Nhóm 4: Nợ nghi ngờ (Nợ quá hạn từ 181-360 ngày; nợ cơ cấu); Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn (Nợ quá hạn > 360 ngày)”.

Theo phương pháp định tính (Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN), nợ cũng được chia làm năm nhóm như sau:

  • “Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn.
  • Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm quyết định vay vốn.
  • Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi.
  • Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là khả năng tổn thất cao.
  • Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn”. Luận văn: Quyết định vay vốn của khách hàng tại NH Nam Á.

Khi khách hàng được phân loại thành từng nhóm nợ (từng nhóm rủi ro), ngân hàng sẽ phải trích lập mức dự phòng tương ứng từ nhóm 1 tới nhóm 5 là 0%, 5%, 20%, 50%, 100% (Thông tư 02/2013/TT-NHNN).

Trong các nghiên cứu thực nghiệm về rủi ro cho vay cá nhân, có hai khía cạnh về vấn đề này thường được các nhà nghiên cứu quan tâm là rủi ro không trả được số nợ vay và rủi ro không trả nợ đúng hạn (Antwi và cộng sự, 2012). Điều này có nghĩa là rủi ro được xem xét trên hai khía cạnh là quy mô trả nợ và thời gian đáo hạn của khoản nợ.

Rủi ro về chi phí giao dịch: Rủi ro về chi phí giao dịch là rủi ro xảy ra khi chi phí cấu thành giao dịch tăng với tốc độ tăng lớn hơn lợi nhuận. Cho vay cá nhân thường có quy mô giao dịch nhỏ nhưng số lượng giao dịch lớn và phân tán rộng khắp khiến cho việc giao dịch không được thuận tiện” (Nguyễn Minh Kiều, 2007) và như vậy ngân hàng phải mở thêm nhiều chi nhánh hoặc các dịch vụ trực tuyến khác để phục vụ cho đặc điểm này của khách hàng cá nhân. Điều đó có thể dẫn đến rủi ro tăng chi phí trong khi hiệu quả đem lại không thể bù đắp được.

Rủi ro thông tin bất cân xứng: “Khi tiến hành giao dịch với khách hàng cá nhân, thông thường tổ chức tín dụng gặp rủi ro về thông tin bất cân xứng” (Heffernan, 2005) hơn so với khách hàng tổ chức do việc thu thập chính xác thông tin về loại khách hàng này là rất khó khăn đồng thời nguồn trả nợ chủ yếu của khách hàng cá nhân là từ thu nhập ổn định ở thời điểm hiện tại. Do vậy, nếu người vay gặp vấn đề về sức khoẻ, mất việc làm hay gặp các biến cố bất ngờ ảnh hưởng đến thu nhập thì sẽ không trả được nợ vay cho ngân hàng.

Rủi ro tác nghiệp: “Rủi ro về tác nghiệp nảy sinh do đặc điểm của cho vay cá nhân là quy mô mỗi khoản vay nhỏ nhưng số lượng khoản vay lớn, vì vậy để có thể đáp ứng tối đa nhu cầu khách hàng nhằm nâng cao kết quả công việc đòi hỏi sự phục vụ nhanh chóng của cán bộ tín dụng” (Nguyễn Minh Kiều, 2007). Do đó, trong quá trình thẩm định hồ sơ tín dụng các cán bộ tín dụng thường hay chủ quan khi tiến hành thẩm định khách hàng. Các rủi ro về thông tin bất cân xứng, rủi ro về tác nghiệp và một số điều kiện khác (khả năng sử dụng khoản vay, tình hình kinh tế …) mà nó ảnh hưởng tới rủi ro không trả được nợ đúng hạn hay không trả được nợ gốc của khách hàng cá nhân (Heffernan, 2005).

2.1.4. Quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân Luận văn: Quyết định vay vốn của khách hàng tại NH Nam Á.

Nguyen và cộng sự (2020) cho rằng, “Trong bối cảnh phát triển kinh tế nông thôn và hiện đại hóa hệ thống tài chính, vai trò của tín dụng ngân hàng trong việc thúc đẩy sản xuất kinh doanh và nâng cao đời sống của người dân ngày càng trở nên quan trọng. Tuy nhiên, quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân không chỉ phụ thuộc vào nhu cầu tài chính mà còn bị chi phối bởi nhiều yếu tố kinh tế, xã hội, tâm lý và thể chế. Các yếu tố này bao gồm mức thu nhập, sự thuận tiện trong quy trình vay, chất lượng dịch vụ, uy tín của ngân hàng, và các yếu tố tâm lý như niềm tin và nhận thức rủi ro”.

Khưu Thị Phương Đông và cộng sự (2022), cũng chỉ ra KHCN quyết định vay vốn bị tác động bởi các yếu tố bao gồm thu nhập bình quân, nghề nghiệp, tài sản đảm bảo, mục đích vay vốn, thời hạn món vay và cán bộ tín dụng.

Trong đó, theo Vương Quốc Duy và Đặng Hoàng Trung (2015) đã chỉ ra rằng quyết định vay vốn của KHCN thường bị ảnh hưởng do tuổi của khách hàng là yếu tố thể hiện một cách tương đối kinh nghiệm sản xuất kinh doanh. Cá nhân có độ tuổi càng cao được kỳ vọng sẽ có nhiều kinh nghiệm sản xuất, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp.

Giới tính cũng cũng là một trong các yếu tố có ảnh hưởng đến lượng vốn vay mà ngân hàng phê duyệt cho khách hàng. Nguyễn Ngọc Lam (2007) đã chỉ ra rằng, ở một số vùng nông thôn, tư tưởng trọng nam khinh nữ một phần đã làm hạn chế trình độ học vấn.

Zeithaml, V. A., Berry, L. L., Parasuraman (1993) đã đưa ra quyết định vay vốn của KHCN phụ thuộc vào yếu thuộc về sản phẩm cho vay. Đây là các điều kiện, điều khoản trực tiếp liên quan đến khoản vay mà người vay phải đối mặt: Lãi suất vay (Chi phí vay vốn); Thủ tục và Điều kiện cho vay; Thời hạn và Hạn mức vay; Chính sách ưu đã.

Nhóm tác giả Phan Thị út Châu và cộng sự (2020) đã quyết định vay vốn của KHCN phụ thuộc vào các yếu tố như: Thương hiệu và Uy tín, Uy tín và danh tiếng của ngân hàng tạo sự tin cậy, đặc biệt trong các khoản vay giá trị lớn và dài hạn. Chất lượng Dịch vụ, sự chuyên nghiệp và tận tâm của đội ngũ nhân viên, khả năng tư vấn và hỗ trợ khách hàng. Cơ sở vật chất và công nghệ, Khả năng tiếp cận dịch vụ (số lượng chi nhánh, phòng giao dịch) và các nền tảng trực tuyến (Internet Banking, Mobile App) có tiện lợi không và ảnh hưởng xã hội, các khuyến nghị từ người thân, bạn bè hoặc các đánh giá từ cộng đồng về ngân hàng cũng là yếu tố tác động.

Quyết định vay vốn là “một quá trình được diễn ra kể từ khi người đi vay hình thành ý thức về nhu cầu, đến khi tiến hành tìm hiểu thông tin để đưa ra quyết định vay, hoặc lặp lại quyết định vay vốn, trong đó quyết định vay được xem là giai đoạn cuối cùng của quá trình thông qua quyết định vay vốn. Đó là kết quả của quá trình chọn lọc, đánh giá các chọn lựa trên cơ sở cân đối giữa nhu cầu và khả năng, giữa giá trị nhận được và tổn thất mất đi, giữa tổng lợi ích nhận được so với chi phí bỏ ra để có được sản phẩm đó dưới sự tác động của những người xung quanh, bên cạnh các tình huống bất ngờ xảy ra và những rủi ro khi khách hàng nhận thức được trước khi đưa ra quyết định vay vốn ở một tổ chức tín dụng”.

2.2. Một số lý thuyết nghiên cứu Luận văn: Quyết định vay vốn của khách hàng tại NH Nam Á.

Lý thuyết hành động hợp lý TRA

  • Hình 2.1 Thuyết hành động hợp lý TRA

Lý thuyết hành động hợp lý TRA được đề xuất bởi Fishbein và Ajzen (1975) và Ajzen & Fishbein (1980). Lý thuyết này giải thích mối quan hệ giữa thái độ và hành vi trong hành động của con người. Lý thuyết này thường được sử dụng để dự đoán cách cá nhân sẽ hành xử dựa trên thái độ và ý định hành vi đã tồn tại. Theo Fishbein và Ajzen (1975), ý định hành vi được xác định bởi hai yếu tố chính: yếu tố cá nhân hay “thái độ” và yếu tố xã hội hay “chuẩn mực”. Việc áp dụng lý thuyết này trong hiểu biết về hành vi của người tiêu dùng tập trung vào thái độ của khách hàng đối với một sản phẩm, một thương hiệu, một người hoặc một vấn đề. Dựa trên thông tin thu được từ môi trường xung quanh, người tiêu dùng sẽ sau đó hiểu và đánh giá thông tin này để hình thành niềm tin, thái độ và ý định đối với một thương hiệu và phản ứng với quan điểm ý định của mình (có mua/dùng thử và từ chối hoặc chấp nhận một sản phẩm/thương hiệu).

Do đó, ý định mua hàng được xác định là sự ưu tiên mua sản phẩm hoặc dịch vụ của người tiêu dùng vì người tiêu dùng cần một sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể, hoặc thậm chí là thái độ đối với một sản phẩm và nhận thức về sản phẩm.

Đã có nhiều nghiên cứu được tiến hành sử dụng TRA để hiểu về các yếu tố thái độ và chuẩn mực chủ quan của người tiêu dùng đối với ý định mua hàng, đặc biệt là trong việc mua và tiêu thụ thực phẩm

  • Thuyết hành vi dự định Luận văn: Quyết định vay vốn của khách hàng tại NH Nam Á.

Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) được phát triển từ lý thuyết hành vi hợp lý (Ajzen và Fishbein, 1975), lý thuyết này được tạo ra để khắc phục sự hạn chế của lí thuyết trước về việc cho rằng hành vi của con người là hoàn toàn do kiểm soát lý trí.

Theo Lý thuyết về hành vi hợp lý, nếu một người có thái độ tích cực đối với hành vi và những người quan trọng của họ cũng mong đợi họ thực hiện hành vi (tức là yếu tố tiêu chuẩn chủ quan), thì kết quả là họ có mức độ ý định hành vi cao hơn (có nhiều động lực hơn) và nhiều khả năng sẽ hành động (thực hiện ý định). Điều này đã được chứng minh trong nhiều nghiên cứu, khẳng định mối liên kết giữa thái độ và tiêu chuẩn chủ quan đối với ý định hành vi, và sau đó là thực hiện hành vi.

  • Sơ đồ 2.1: Mô hình thuyết hành vi định sẵn TPB

Thái độ (Attitude Toward Behavior – AB) “được hiểu như là cảm xúc tích cực hay tiêu cực cá nhân bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tâm lý và các tình huống đang gặp phải. Các yếu tố khác ảnh hưởng đến thái độ đối với hành vi kinh doanh, như: sẵn sàng chấp nhận rủi ro, quỹ tích kiểm soát, sự tự do, độc lập.

Chuẩn chủ quan (Subjective Norm – SN) hay cảm nhận về ảnh hưởng từ phía cộng đồng xã hội được định nghĩa là “nhận thức về áp lực xã hội đến thực hiện hoặc không thực hiện hành vi (Ajzen, 1991). Đó là ảnh hưởng của những người quan trọng và gần gũi có thể tác động đến cá nhân thực hiện hành vi

Nhận thức kiểm soát hành vi (Perceived Behavioral Control – PBC) phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi và việc thực hiện hành vi đó có bị kiểm soát, hạn chế hay không. Ajzen (1991) đề nghị rằng yếu tố kiểm soát hành vi tác động trực tiếp đến quyết định thực hiện hành vi và nếu chính xác trong nhận thức của mình, thì kiểm soát hành vi còn dự báo cả hành vi. Khi ba yếu tố trên kết hợp với nhau sẽ tạo ra sự thay đổi về hành vi.

  • Sơ đồ 2.2: Sự kết hợp của 3 yếu tố trong thuyết TPB

TPB đã được áp dụng thành công để dự đoán và giải thích các hành vi khác nhau như: quyết định bỏ phiếu, giảm cân, ngừng hút thuốc, quyết định mua. Trong lĩnh vực kinh doanh, các nhà nghiên cứu thường chọn TPB làm khung lý thuyết cho các nghiên cứu về quản trị và Marketing.

Lý thuyết hành vi người tiêu dùng: Theo Philip Kotler (2012), “trong quá trình nghiên cứu hành vi người tiêu dùng với mục đích nhận biết nhu cầu, sở thích, thói quen của họ, cụ thể xem người tiêu dùng muốn mua gì, sao họ lại mua sản phẩm dịch vụ đó, tại sao họ mua nhãn hiệu đó, họ mua như thế nào, mua ở đâu, khi nào mua và mức độ mua ra sao để xây dựng chiến lược marketing thúc đẩy người tiêu dùng mua sản phẩm, dịch vụ của mình”. Philip Kotler (2012) đã hệ thống các yếu tố dẫn tới quyết định mua sắm của người tiêu dùng thông qua mô hình sau: Luận văn: Quyết định vay vốn của khách hàng tại NH Nam Á.

  • Hình 2.2. Mô hình hành vi khách hàng

Nghiên cứu hành vi người tiêu dùng là nhằm giải thích quá trình mua một loại hàng hóa nào đó. Một trong những cách để phân tích hành vi người tiêu dùng là đo lường ý định tiêu dùng của khách hàng. Ý định tiêu dùng nghĩa là sự nghiên theo chủ quan của người tiêu dùng về một sản phẩm, thương hiệu nào đó và nó đã được chứng minh là yếu tố then chốt để dự đoán hành vi người tiêu dùng (Fishbein và Ạjzen,1975).

Lý thuyết chi phí giao dịch (Transaction Cost Economics) của doanh nghiệp được Ronald Harry Coase đưa ra lần đầu tiên trong bài báo với nhan đề “Bản chất của Hãng (Nature of Firms)” vào năm 1937 và được O.E. Williamson (1981) cùng những người khác tiếp tục phát triển cho đến nay. Khi chi phí giao dịch thấp, các bên có thể soạn thảo văn bản hợp đồng về những tình huống phát sinh để bảo vệ kết cấu chặt chẽ của các giao dịch của họ. Vì thế, các giao dịch có thể được giao cho thị trường, và thị trường sẽ cung ứng cho các bên những động cơ mạnh mẽ, không bằng nhau, khuyến khích hành vi tối đa hoá sự hợp tác. nhấn mạnh, việc giảm thiểu các chi phí liên quan đến giao dịch, như chi phí thủ tục, phí lãi suất và thời gian xử lý, góp phần tăng khả năng tiếp cận tín dụng của khách hàng.

2.3. Giới thiệu các nghiên cứu liên quan

2.3.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài

Pasha et at (2014) đưa ra hai mô hình chấm điểm tín dụng để phục vụ việc ra quyết định cho vay tại các ngân hàng của Jordan. Mô hình sẽ nâng cao chất lượng quyết định tín dụng và cải thiện các thủ tục cho vay, giảm thời gian và chi phí thẩm định. Mô hình được xây dựng dựa trên số liệu từ cả hai trường hợp đơn xin vay được chấp nhận hoặc từ chối ở các ngân hàng. Các tác giả kết luận mô hình logistic có tỷ lệ chính xác tổng thể cao hơn. Các biến độc lập được đưa vào mô hình gồm: quốc tịch, giới tính, độ tuổi, thu nhập hàng tháng, loại hình công ty, bảo đảm, số tiền vay, thời hạn, mục đích vay vốn (Pasha, S. A. M., & Negese, T, 2014).

Tác giả Almossawi (2001) thông qua nghiên cứu thực nghiệm đã cho thấy các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn NH của sinh viên có thể kể đến như danh tiếng, sự thuận tiện, lợi ích tài chính và sự tương tác giữa nhân viên và khách hàng.

Tác giả Saleh (2013) đã tìm thấy 6 yếu tố bao gồm sự tin cậy, sự thuận tiện, sự đảm bảo, dịch vụ gia tăng, khả năng tiếp cận và sự phản hồi ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn NH của KHCN.

Tác giả Agarwal (2017) trong nghiên cứu của mình đã phát hiện yếu tố công nghệ, yếu tố ảnh hưởng xã hội, yếu tố chất lượng dịch vụ, yếu tố hình ảnh NH và yếu tố thuộc về tài chính là các yếu tố được cho là có ảnh hưởng đáng kể đến quyết định lưa chọn NH của khách hàng. Tác giả Mansour (2019) đã thực hiện nghiên cứu và chỉ ra có 4 yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn NH gồm nỗ lực tiếp thị của NH, sự thuận tiện, hiệu quả nhân thân và cung cấp dịch vụ.

Nhóm tác giả Narteh và Braimah (2020) phát hiện ra rằng sự tương tác về mặt cảm xúc, hiệu quả hoạt động của công ty và chất lượng dịch vụ có ảnh hưởng trực tiếp sự lựa chọn của khách hàng đối với các NH bán lẻ ở Ghana.

2.3.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam Luận văn: Quyết định vay vốn của khách hàng tại NH Nam Á.

Cho đến nay, trên thế giới cũng như tại Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân của các ngân hàng. Các nghiên cứu này thường được thực hiện tại các ngân hàng hoặc chi nhánh ngân hàng, sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau bao gồm cả phương pháp định tính và định lượng.

Tác giả Nguyễn Thị Tuyên Ngôn (2017) đã phát hiện thương hiệu và uy tín của NH, lãi suất, quy trình thủ tục, thái độ của đội ngũ nhân viên là các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của KHCN tại Agribank chi nhánh Đà Nẵng.

Theo Hồ Ngọc Khoa (2018), có 8 yếu tố ảnh hưởng tới quyết định đến lựa chọn ngân hàng của các khách hàng cá nhân, gồm: Cảm giác an toàn; Hình ảnh ngân hàng; Lợi ích tài chính; Sự thuận tiện; Nhân viên; Sự ảnh hưởng; Cung ứng sản phẩm dịch vụ; Chiêu thị. Còn nghiên cứu của Hoàng Hải Yến (2018), có 6 yếu tố tác động đến quyết định lựa chọn ngân hàng để giao dịch của các khách hàng cá nhân trên địa bàn tỉnh Bình Phước, bao gồm: (1) Uy tín và thương hiệu ngân hàng; (2) Chất lượng dịch vụ; (3) Sự tiện ích; (4) Chi phí – giá cả; (5) Thái độ phục vụ của nhân viên ngân hàng; (6) Chế độ hậu mãi, quảng cáo.

Lê Hoàng Anh, Lê Ngọc Lưu Quang (2019) trong đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn ngân hàng của khách hàng cá nhân ở Thành phố Huế” với phương pháp khảo sát trực tiếp 330 khách hàng cá nhân đã, đang có giao dịch vay vốn tại các ngân hàng thương mại khác nhau trên địa bàn TP. Huế (tỉnh Thừa Thiên – Huế) và thông qua mô hình hồi quy Binary logistics, nghiên cứu đã chỉ ra được các biến lãi suất, cơ hội kinh doanh, chất lượng ngân hàng, vay ngoài và độ tuổi là những biến giải thích tốt nhất cho quyết định vay vốn hay không vay vốn của khách hàng cá nhân. Trong đó, biến cơ hội kinh doanh là biến có ảnh hưởng lớn nhất đến quyết định đi vay của cá nhân và có cơ hội kinh doanh, khách hàng cá nhân sẽ đi vay với xác suất là 2.691 lần. Luận văn: Quyết định vay vốn của khách hàng tại NH Nam Á.

Nhóm tác giả Hồ Thị Khánh Linh và Huỳnh Quốc Tuấn (2019) khi thực hiện nghiên cứu nhằm xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của KHCN tại Vietinbank chi nhánh Đồng Tháp, kết quả nghiên cứu cho thấy thương hiệu và uy tín NH, nhân viên NH, lãi suất và chi phí vay, sự thuận tiện là các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của KHCN. Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Phương Anh về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn cũng đã chỉ ra hình ảnh NH; nhân viên phục vụ; lợi ích tài chính và gợi ý người thân là các yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến quyết định vay vốn của KHCN (2019).

Bùi Văn Thụy (2021) đã nghiên cứu được thực hiện với phương pháp nghiên cứu hỗn hợp nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Đông Đồng Nai (Vietcombank Đông Đồng Nai). Dựa trên các lý thuyết nền tảng và kế thừa kết quả các nghiên cứu trước đây, nghiên cứu thiết lập mô hình nghiên cứu và thang đo các yếu tố. Kết quả xử lý dữ liệu thu thập từ 341 KHCN tại Vietcombank Đông Đồng Nai cho thấy, có 7 yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn, gồm: Chất lượng dịch vụ, Hình ảnh danh tiếng ngân hàng, Chi phí lãi suất, Sự thuận tiện, Ảnh hưởng xã hội, Nhân viên ngân hàng, Thủ tục vay vốn.

Lê Hoàng Hạc (2021), đã xây dựng các khái niệm nghiên cứu liên quan đến ngân hàng tín dụng, vay tiêu dùng, vay bất động sản, lý thuyết hành động hợp lý, lý thuyết hành vi định nghĩa. Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng dựa trên số liệu thu thập bằng bảng câu hỏi khảo sát. Những thông tin thu thập được phân tích thống kê mô tả, kiểm tra thang đo (Cronbach’s Alpha), phân tích yếu tố khám phá (EFA), phân tích yếu tố khám phá (EFA), phân tích yếu tố khám phá (EFA), phân tích yếu tố khám phá ảnh hưởng của yếu tố quyết định vay ngân hàng mua nhà của khách hàng cá nhân tại TP.HCM phụ vào các yếu tố kiểm soát cho vay, Thời gian vay tiền và Số tiền trả nợ định kỳ, Tỷ lệ Vay trên Giá trị tài sản và thế chấp, Hình ảnh danh tiếng ngân hàng, Chất lượng phục vụ của nhân viên ngân hàng, Các phương thức tiếp theo của ngân hàng. Trong đó, Chất lượng dịch vụ của nhân viên ngân hàng có tác động mạnh nhất trong nghiên cứu này. Đây là cơ sở giúp nhà tư bất động sản, ngân hàng và nhà nước hiểu rõ hơn về nhu cầu và mong muốn của người vay vốn mua nhà ở phần tư vấn giúp nhà tư bất động sản bán được sản phẩm, giúp ngân hàng tăng lợi thế cạnh tranh, giúp nhà nước đưa ra chính sách hỗ trợ người dân nhà ở ở; đặc biệt tại thị trường tiềm năng TP.HCM. Luận văn: Quyết định vay vốn của khách hàng tại NH Nam Á.

Đào Văn Thi, Nguyễn Lê Ngọc Hà (2022) đã hệ thống hóa các vấn đề về hoạt động tín dụng trong hệ thống Ngân hàng TMCP Việt Nam cùng với việc khái quát về chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại, thực trạng chất lượng tín dụng cá nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh An Lão, Hải Phòng (Agribank An Lão) trong giai đoạn 2017-2021. Từ đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng cá nhân tại Agribank – An Lão, Hải Phòng từ nay đến năm 2025, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của địa phương và đất nước.

Nhóm nghiên cứu Nguyễn Thanh Thiện, Đào Duy Huân, Nguyễn Thị Lụa và Cao Thị Sen (2023) đã nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố đến ý định tiếp tục vay vốn của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại cổ phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam – Chi nhánh Cần Thơ (Eximbank Cần Thơ). Dữ liệu nghiên cứu được “thu thập khảo sát 200 khách hàng cá nhân đã vay và có ý định tiếp tục vay vốn của Eximbank Cần Thơ. Mô hình nghiên cứu được xây dựng, các phương pháp kiểm định hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích yếu tố khám phá (EFA), phân tích tương quan và phân tích hồi quy tuyến tính đa biến. Kết quả nghiên cứu xác định được năm yếu tố độc lập ảnh hưởng đến ý định tiếp tục vay vốn của khách hàng, đó là Thương hiệu ngân hàng, Lãi suất vay vốn, Thủ tục vay vốn, Nhân viên ngân hàng và Phương tiện hữu hình. Trên cơ sở kết quả của nghiên cứu, tác giả đề xuất năm yếu tố cần được Eximbank Cần Thơ quan tâm nhằm nâng cao ý định tiếp tục vay vốn của khách hàng trong thời gian tới là: Thương hiệu ngân hàng, Lãi suất vay vốn, Thủ tục vay vốn, Nhân viên ngân hàng, Phương tiện hữu hình”.

Lê Minh Trường (2023) đã nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích định lượng nhằm đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại tại TP. Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 5 yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại tại TP. Hồ Chí Minh, gồm: Chất lượng dịch vụ; Lãi suất tiền vay; Hĩnh ảnh ngân hàng; Ánh hưởng xung quanh; Sự thuận tiện.

Nhóm nghiên cứu Lưu Nguyệt Quỳnh, Đào Duy Hân (2023) trong đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiếp tục vay vốn của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Kế Sách” đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với phương pháp nghiên cứu định lượng với dữ liệu thu thập khảo sát 200 khách hàng đã và đang vay vốn được xử lý bằng phần mềm SPSS thông qua các phân tích thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích yếu tố khám phá (EFA) và phân tích hồi quy tuyến tính. Kết quả phân tích dữ liệu, xác định có 5 yếu tố (biến độc lập) được xây dựng trong mô hình đề xuất có ảnh hưởng đến quyết định tiếp tục vay vốn của khách hàng gồm: Sự tin cậy, Chuẩn chủ quan, Giá trị cảm nhận, Phương tiện hữu hình, Thương hiệu.

Nguyễn Giác Trí (2023) đã nghiên cứu này thực hiện nhằm xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn ngân hàng để vay vốn của khách hàng cá nhân. Trên cơ sở lược khảo các nghiên cứu trước đó, tác giả đã xây dựng bảng hỏi và tiến hành khảo sát trực tiếp 300 khách hàng cá nhân trên địa bàn Thành phố Cao Lãnh. Kết quả thu về 299 phản hồi, trong đó có 298 phản hồi hợp lệ và được tác giả tiến hành mã hóa, nhập liệu và chuẩn bị cho phân tích. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng các phương pháp phân tích dữ liệu như: kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân khám phá, kiểm định tương quan và phân tích hồi quy tuyến tính bội với sự hỗ trợ của công cụ là phần mềm SPSS. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 6 yếu tố là: Nhân viên ngân hàng, lãi suất và chi phí vay vốn hợp lý, hình ảnh thương hiệu, sự thuận tiện, nhóm tham khảo, yếu tố công nghệ. Trong đó, lãi suất và chi phí vay vốn hợp lý là yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất đến quyết định lựa chọn ngân hàng để vay vốn của khách hàng cá nhân. Luận văn: Quyết định vay vốn của khách hàng tại NH Nam Á.

Trong nghiên cứu Trần Văn Hiếu (2021) đã nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hương đến quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại Cổ Phần Sài Gòn – Hà Nội (SHB) PGD Xuyên Mộc” tập trung vào việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân, từ đó có những đề xuất khuyến nghị lên Ban lãnh đạo ngân hàng SHB Xuyên Mộc để có những chính sách, chiến lược phù hợp nhất trong công tác cho vay KHCN. Trên cơ sở lý thuyết và thừa hưởng kết quả của những nghiên cứu trước đây, để đạt được mục tiêu đặt ra, tác giả đã tiến hành khảo sát 230 khách hàng vay vốn cá nhân đã và đang vay vốn tại SHB Xuyên Mộc trong khoảng thời gian từ tháng 1/2021 đến hết tháng 3/2021. Có 210 phiếu hợp lệ được thu về. Tác giản áp dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với nghiên cứu định lượng dựa trên phần mềm SPSS 22.0. Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân tại SHB Xuyên Mộc là: Hình ảnh và danh tiếng của ngân hàng; Giá cả; Chất lượng dịch vụ của ngân hàng; Sự thuận tiện; Chính sách tín dụng; Ảnh hưởng từ các mối quan hệ của khách hàng và Chính sách Marketing.

Nhóm tác giả Từ Nguyễn Anh Thư, Bùi Văn Trịnh (2022) đã nghiên cứu này nhằm khám phá các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định vay tiêu dùng của khách hàng cá nhân trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng dựa trên dữ liệu được thu thập từ 250 bảng câu hỏi được xử lý bằng công cụ SPSS, với các kỹ thuật kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA) và phân tích hồi quy bội. Nghiên cứu nghiên cứu cho thấy, các nhân tố ảnh hưởng đến Quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân theo mức độ giảm dần là: Thương hiệu ngân hàng; Thủ tục vay; Nhân viên; Chất lượng dịch vụ và Lãi suất vay. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đạt được, một sô’hàm ý chính sách được dề xuất nhằm góp phần thu hút khách hàng cá nhân mới vay tiêu dùng tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng.

Trần Nguyễn Tường Vy, Lê Trung Hiếu (2024) “đã thông qua kết quả khảo sát đối với 255 khách hàng cá nhân đã, đang và có quan tâm đến sản phẩm cho vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) Chi nhánh Trà Vinh, nghiên cứu nhằm phân tích các yếu tố tác động đến quyết định vay vốn của khách hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 6 yếu tố có ảnh hưởng tích cực tới Quyết định vay vốn của khách hàng, đó là: Thủ tục vay vốn; Chất lượng dịch vụ; Sự thuận tiện; Quan hệ xã hội; Lãi suất chi phí; Thương hiệu ngân hàng; Phong cách phục vụ của nhân viên. Trong khi đó, Lãi suất chi phí có tác động tiêu cực tới Quyết định vay vốn của khách hàng”.

Kết quả tổng quan cho thấy, hiện nay chưa có tác giả nào thực hiện đề tài các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Nam Á chi nhánh Tiền Giang. Do đó, đề tài nghiên cứu của tác giả có ý nghĩa và không bị trùng lặp so với các tác giả nghiên cứu trước. Bên cạnh đó, tác giả xem xét, bổ sung một số yếu tố thể hiện tính đặc thù đối với Ngân hàng Nam Á chi nhánh Tiền Giang. Do vậy, đề tài mà tác giả lựa chọn có ý nghĩa thực tiễn cao, áp dụng phục vụ cho chính nơi tác giả đang công tác. Tổng hợp các nghiên cứu thể hiện qua bảng sau:

  • Bảng 2.1: Tổng hợp các nghiên cứu đi trước

2.4. Các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân Luận văn: Quyết định vay vốn của khách hàng tại NH Nam Á.

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân khá đa dạng, thường liên quan đến cả yếu tố bên trong (tình hình tài chính cá nhân) và bên ngoài (chính sách ngân hàng, thị trường).

Nhiều nghiên cứu, chủ yếu từ Hoa Kỳ và một số quốc gia châu Âu, đã cố gắng xác định các yếu tố quyết định quan trọng nhất đối với hành vi của khách hàng khi lựa chọn các sản phẩm ngân hàng như các khoản vay (Rivaldo, C., Santos, A., & Pinto, L, 2022).

Christos C. Frangos et at (2021), đã xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách hàng Hy Lạp từ các ngân hàng thương mại. Một số biến (nhân khẩu học, chất lượng dịch vụ và sự hài lòng) đã được xem xét như các yếu tố tiềm năng ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách hàng. Một mẫu công dân Hy Lạp được chọn ngẫu nhiên (n = 277) đã được chọn để kiểm tra các giả thuyết. Một bảng câu hỏi với các thang đo tự xác định đã được tạo ra sau khi đảm bảo tính hợp lệ của công cụ thông qua phân tích nhân tố xác nhận. Kết quả hồi quy logistic cho thấy tình trạng hôn nhân cá nhân, dịch vụ khách hàng, thiết kế cửa hàng và lãi suất là những yếu tố dự báo quan trọng nhất về việc vay vốn. Một số hàm ý quản lý cho thấy các nhà quản lý ngân hàng nên tập trung vào việc cho vay các cá nhân cũng như thay đổi chính sách lãi suất của họ bằng cách giảm lãi suất cho tất cả các loại khoản vay, đặc biệt là các khoản vay nhà ở. Luận văn: Quyết định vay vốn của khách hàng tại NH Nam Á.

Kapil Deb Subedi, Ph.D, Anoj Joshi, Ph.D. Scholar (2025) đã nghiên cứu xem xét các yếu tố quyết định quyết định vay của khách hàng tại các ngân hàng thương mại bằng cách sử dụng phản hồi khảo sát từ 384 người tham gia được phân tích thông qua trung bình, độ lệch chuẩn, tương quan và hồi quy bội. Kết quả cho thấy sự hài lòng của ngân hàng, chất lượng dịch vụ, lãi suất, Sự thuận tiện, thủ tục cho vay và Phong cách phục vụ tác động đáng kể đến hành vi vay, trong đó Thương hiệu ngân hàng là yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất. Những hiểu biết sâu sắc này cung cấp những hàm ý có giá trị cho các ngân hàng nhằm nâng cao trải nghiệm của khách hàng, các nhà hoạch định chính sách thúc đẩy hòa nhập tài chính và các nhà nghiên cứu nhằm khám phá thêm hành vi vay ở các nền kinh tế đang phát triển. Nghiên cứu cũng xác định các lĩnh vực nghiên cứu trong tương lai, bao gồm vai trò của ngân hàng kỹ thuật số, kiến thức tài chính và các sản phẩm tài chính bền vững trong việc tác động đến hành vi vay.

Từ phân tích, trong phạm vi đề tài khái niệm các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân là tập hợp những điều kiện, tác động chủ quan và khách quan chi phối quá trình cân nhắc, lựa chọn và ra quyết định vay vốn của một cá nhân tại ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng.

Tóm tắt chương 2

Ngân hàng là ngành hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng – hoạt động kinh doanh đặc biệt, với những quy định nghiêm ngặt của pháp luật nhằm bảo đảm an toàn và hiệu quả trong hoạt động, cũng như bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp, của người dân, khách hàng của ngân hàng. Vì vậy, gửi tiền vào ngân hàng không chỉ là kênh đầu tư an toàn nhất, ít rủi ro nhất để hưởng lãi suất, mà người gửi tiền còn được sử dụng dịch vụ tiện ích tối đa, cũng như được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong mọi trường hợp. Để khắc phục phần nào thực trạng trên, các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam chuyển hướng tập trung phát triển khách hàng cá nhân với nhu cầu phong phú, đa dạng và với lợi nhuận cao hơn; bằng nhiều biện pháp khác nhau, như: nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng vay, ưu đãi, cắt giảm lãi suất, thủ tục vay vốn đơn giản… được sử dụng đề tăng trưởng tín dụng. Với mục đích trên, tác giả nghiên cứu đề tài trong chương 1, tác giả đã hệ thống hóa và khái quát lý luận về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân, cụ thể như sau:

Thứ nhất, tác giả đánh giá tổng quan về vay vốn của khách hàng cá nhân về khái niệm; Đặc điểm; Các loại hình tín dụng cá nhân; Các loại rủi ro xuất phát từ hình thức tín dụng cá nhân; Quyết định vốn của khách hàng cá nhân; Các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân.

Thứ hai, các nghiên cứu liên quan trong đó tác giả nhắc đến các nghiên cứu ngoài nước, trong nước và nghiên cứu. Từ đó, tác giả đã tổng hợp các nghiên cứu đó đến đề tài qua các biến nghiên cứu.

Như vậy, từ tổng quan về lý do lựa chọn và xây dựng đề tài nghiên cứu đã được trình bày trong chương 2. Trong chương 3 tác giả dẫn xuất cơ sở lý thuyết, các khái niệm nghiên cứu liên quan, đồng thời tham khảo các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước để làm cơ sở cho việc xây dựng các giả thuyết và đề xuất mô hình nghiên cứu trong chương 3 tiếp theo. Luận văn: Quyết định vay vốn của khách hàng tại NH Nam Á.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: PPNC Quyết định vay vốn ở khách hàng tại NH Nam Á

One thought on “Luận văn: Quyết định vay vốn của khách hàng tại NH Nam Á

  1. Pingback: Luận văn: KQNC Quyết định vay vốn ở khách hàng tại NH Nam Á

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *