Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của Ngân hàng niêm yết

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của Ngân hàng niêm yết hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của Ngân hàng Thương mại niêm yết tại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT

Luận văn này đã tổng hợp các khung lý thuyết cốt lõi liên quan đến nợ xấu ngân hàng và các yếu tố ảnh hưởng đến nó trong bối cảnh các NHTM. Đồng thời, thông qua việc tóm lược các công trình nghiên cứu đã xác định được những khoảng trống nghiên cứu còn tồn tại. Mục tiêu nghiên cứu thứ nhất đã được giải quyết một cách rõ ràng xác định các yếu tố đề xuất vào việc xây dựng mô hình nghiên cứu và có sự ảnh hưởng đến nợ xấu tại các NHTM niêm yết tại Việt Nam. Tiếp theo, thông qua nghiên cứu định lượng, mục tiêu nghiên cứu thứ hai đã được hoàn thành. Nghiên cứu đã tiến hành thu thập dữ liệu thứ cấp của 24 NHTM niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2023, với thiết kế dữ liệu dạng bảng. Các dữ liệu này sau đó đã được xử lý bằng phương pháp hồi quy đa biến, đặc biệt là mô hình FEM được lựa chọn sau khi đã khắc phục các khuyết tật. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra rằng các biến số ảnh hưởng tích cực đến nợ xấu tại các NHTM niêm yết tại Việt Nam bao gồm quy mô ngân hàng, tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ chi phí hoạt động, hệ số an toàn vốn, tỷ lệ lạm phát và đại dịch COVID-19. Ngược lại, tỷ suất sinh lời (ROE) và sở hữu Nhà nước thể hiện ảnh hưởng tiêu cực đến nợ xấu. Ngoài ra, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) không có ý nghĩa thống kê trong việc ảnh hưởng đến nợ xấu tại các NHTM niêm yết tại Việt Nam.

Từ những kết quả phân tích định lượng toàn diện nói trên, luận văn đã tiến hành đề xuất các hàm ý quản trị thiết thực. Trong đó tập trung vào việc xây dựng chiến lược mở rộng quy mô một cách bền vững, quản lý tốt chi phí hoạt động, đảm bảo tăng trưởng tín dụng ổn định và củng cố các công tác quản lý rủi ro tín dụng trong ngân hàng, nhằm góp phần hạn chế nợ xấu phát sinh trong tương lai.

Từ khóa: Nợ xấu, quy mô ngân hàng, hệ số an toàn vốn, chi phí hoạt động, vĩ mô nền kinh tế.

ABSTRACT

Title: Factors Affecting Non-Performing Loans of Listed Commercial Banks in Vietnam

Abstract: This thesis synthesizes core theoretical frameworks related to bank non-performing loans (NPLs) and their influencing factors within the context of commercial banks. Simultaneously, by summarizing existing research, it identifies lingering research gaps. The first research objective is clearly addressed by identifying the factors proposed for model construction that influence non-performing loans in listed Vietnamese Commercial Banks. These factors include bank size, return on equity, credit growth, operating expense ratio, capital adequacy ratio, economic growth rate, inflation rate, the COVID-19 pandemic, and state ownership. Subsequently, through quantitative research, the second research objective is achieved. The study collects secondary data from 24 listed Vietnamese Commercial Banks spanning from 2011 to 2023, utilizing a panel data design. This data is then processed using multivariate regression, specifically the Fixed Effects Model (FEM), which was selected after addressing inherent model deficiencies. Empirical findings indicate that bank size, credit growth, operating expense ratio, capital adequacy ratio, inflation rate, and the COVID-19 pandemic positively influence non-performing loans in listed Vietnamese Commercial Banks. Conversely, return on equity (ROE) and state ownership exhibit a negative impact on non-performing loans. Furthermore, the economic growth rate (GDP) shows no statistically significant influence on non-performing loans in listed Vietnamese Commercial Banks. Based on these comprehensive quantitative analysis results, the thesis proposes practical managerial implications. These implications focus on developing sustainable scale expansion strategies, sound operating expense management, ensuring stable credit growth, and strengthening credit risk management practices within banks, aiming to mitigate future non-performing loan accumulation. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của Ngân hàng niêm yết.

Keywords: Non-performing loans, bank size, capital adequacy ratio, operating expenses, macroeconomic environment.

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU

1.1. Lý do chọn đề tài

Nợ xấu đã nổi lên như một thách thức đáng kể không chỉ đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam mà còn trên phạm vi toàn cầu. Sự xuất hiện của thuật ngữ này trong các nghiên cứu tại nhiều quốc gia phát triển và các nền kinh tế mới nổi, bao gồm Việt Nam, phản ánh tính chất phổ biến của vấn đề. Trong lĩnh vực ngân hàng, việc phát sinh nợ xấu là một yếu tố nội tại, không thể loại bỏ hoàn toàn. Đây là một vấn đề mà tất cả các ngân hàng thương mại (NHTM) trên thế giới đều phải đối diện. Tỷ lệ nợ xấu ở mức cao có khả năng làm tê liệt hoạt động ngân hàng, do các tổ chức này sẽ thiếu hụt nguồn vốn để đáp ứng nghĩa vụ thanh toán cho người gửi tiền khi đến hạn. Trong những trường hợp nghiêm trọng hơn, tình trạng này có thể dẫn đến phá sản ngân hàng. Do đó, công tác quản lý rủi ro tín dụng, cùng với các biện pháp phòng ngừa, hạn chế và xử lý nợ xấu, giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong vận hành của các NHTM. Tại Việt Nam, xu hướng gia tăng nợ xấu bắt đầu được ghi nhận từ năm 2007. Giai đoạn này trùng khớp với thời kỳ các ngân hàng đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng. Tuy nhiên, chất lượng của các khoản tín dụng cấp ra và năng lực quản trị rủi ro trong hệ thống NHTM thời điểm đó còn tồn tại nhiều hạn chế, góp phần vào sự tích tụ nợ xấu.

Nợ xấu ngân hàng là vấn đề “nóng” bởi nó không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của ngân hàng mà còn có thể làm ảnh hưởng đến các ngành kinh tế khác. Sự bùng phát của dịch Covid-19 đã ảnh hưởng và ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động ngân hàng cũng như kết quả cơ cấu lại gắn với xử lí nợ xấu toàn ngành Ngân hàng trong những năm vừa qua.

Trên thế giới đã có nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu. Nghiên cứu của Ahlem Selma Messai và Fathi Jouini (2013) xác định các yếu tố vĩ mô bao gồm tốc độ tăng trưởng GDP, tỉ lệ thất nghiệp và lãi suất thực tế đối với các biến cụ thể được lựa chọn cho tỉ suất sinh lợi của tài sản, sự thay đổi trong các khoản vay và tỉ lệ dự phòng rủi ro cho vay/tổng các khoản cho vay góp phần làm tăng nợ xấu. Nghiên cứu của Hassan và cộng sự (2014) đã đưa ra bằng chứng về mối quan hệ giữa các yếu tố xã hội và các yếu tố nội tại ngân hàng với nợ xấu. Các yếu tố thuộc về ngân hàng như đánh giá tín dụng, giám sát tín dụng và tăng trưởng tín dụng nhanh chóng có ảnh hưởng đáng kể đến nợ xấu, trong khi lãi suất có ảnh hưởng yếu đến nợ xấu. Các yếu tố xã hội bao gồm can thiệp chính trị và sự thiếu năng lực của ngân hàng có ảnh hưởng đáng kể đến các khoản nợ xấu. Ngoài ra, còn nhiều nghiên cứu chỉ ra ảnh hưởng của các yếu tố đến nợ xấu của Ngân hàng như: N.Viswanadham và Nahid B (2015), Rachman và cộng sự (2018), Mehmet và Zeynep (2021), … Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của Ngân hàng niêm yết.

Tại Việt Nam cũng đã có nhiều nghiên cứu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của NHTM như: Nguyễn Tuấn Kiệt và Đinh Hùng Phú (2016), Nguyễn Thị Như Quỳnh và cộng sự (2018), Đào Lê Kiều Oanh và cộng sự (2020),… Tuy nhiên, các nghiên cứu này chỉ đưa ra các yếu tố quen thuộc như tỷ lệ lạm phát, tăng trưởng GDP, lãi suất, khung pháp lý,… Để hạn chế tỷ lệ nợ xấu cần có cái nhìn tổng quan và đa dạng hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu.

Nợ xấu vẫn luôn là vấn đề nan giải đối với Ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Trong bối cảnh nền kinh tế trong và ngoài nước đang gặp nhiều biến động như hiện nay, khi lạm phát tăng, tình hình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn sau đại dịch Covid – 19, “bong bóng” bất động sản vỡ, thị trường chứng khoán suy giảm mạnh, lãi suất ngân hàng tăng cao (có thời điểm hơn 20%/năm) làm cho nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn không thể trả nợ ngân hàng, không thể trả nợ ngân hàng. Kết quả là, nợ xấu của ngân hàng đã tăng đáng kể từ cuối năm 2022, tỷ lệ nợ xấu ở các tổ chức tín dụng, đặc biệt là nợ có khả năng mất vốn có xu hướng tăng, ảnh hưởng đến an toàn hoạt động của các tổ chức tín dụng, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến tài chính -ngân sách nhà nước. Do đó, việc tăng cường các giải pháp để kích thích quá trình xử lý nợ xấu là rất cần thiết nhằm hạn chế tình trạng tỷ lệ nợ xấu của hệ thống tăng lên. Chính vì lí do đó, tác giả quyết định chọn đề tài nghiên cứu “Yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của ngân hàng nhương mại niêm yết tại Việt Nam” để có cái nhìn tổng quan hơn về nguyên nhân gây ra nợ xấu, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp hạn chế tỷ lệ nợ xấu tại các NHTM niêm yết tại Việt Nam.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của Ngân hàng niêm yết.

1.2.1. Mục tiêu tổng quát

Luận văn “được thực hiện nhằm xác định các yếu tố và mức độ ảnh hưởng của chúng đến nợ xấu tại các NHTM niêm yết tại Việt Nam. Đồng thời, dựa trên kết quả thực nghiệm đề xuất các hàm ý quản trị khả thi nhằm giúp các NHTM niêm yết tại Việt Nam kiểm soát được nợ xấu trong tương lai.

1.2.2. Mục tiêu cụ thể

  • Xác định các yếu tố có thể ảnh hưởng đến nợ xấu tại các NHTM niêm yết tại Việt Nam.
  • Đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến nợ xấu tại các NHTM niêm yết tại Việt Nam.
  • Đề xuất các hàm ý quản trị mang tính khả thi cho các NHTM niêm yết tại Việt Nam nhằm hạn chế được nợ xấu trong tương lai.

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

Các câu hỏi nghiên cứu tương ứng với các mục tiêu:

  • Các yếu tố nào có thể ảnh hưởng đến nợ xấu tại các NHTM niêm yết tại Việt Nam?
  • Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến nợ xấu tại các NHTM niêm yết tại Việt Nam như thế nào?
  • Các hàm ý quản trị nào mang tính khả thi được đề xuất cho các NHTM niêm yết tại Việt Nam nhằm hạn chế được nợ xấu trong tương lai?

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các NHTM niêm yết tại Việt Nam.

  • Phạm vi nghiên cứu bao gồm không gian và thời gian:

Về không gian, 24 NHTM niêm yết tại Việt Nam, không tính đến các NHTM có vốn sở hữu nước ngoài 100% hay đặt trụ sở đại diện tại Việt Nam. Mặt khác, tổng tài sản của 24 NHTM này chiếm trên 80% thị phần của hệ thống NHTM Việt Nam, do đó có thể đại diện cho các NHTM. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của Ngân hàng niêm yết.

Về thời gian, số liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo tại các NHTM trong giai đoạn 2011 – 2023. Khoảng thời gian này hệ thống NHTM niêm yết tại Việt Nam tái cấu trúc 2014 – 2015 để lặp lại ổn định với hoạt động tín dụng. Sau đó, sự bão hòa của hệ thống ngân hàng, khó khăn kinh tế 2018 – 2019 và cao điểm là đại dịch Covid 19 gây ra những ảnh hưởng rất xấu cho nền kinh tế, hệ thống ngân hàng.

Về dữ liệu nghiên cứu, đối với dữ liệu thuộc nội tại của các ngân hàng, tác giả tổng hợp từ các BCTC đã qua kiểm toán và báo cáo thường niên trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến 2023. Đối với dữ liệu vĩ mô, luận văn tổng hợp từ Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Thế giới (World Bank).

1.5. Phương pháp nghiên cứu

Hai phương pháp chính được sử dụng tại luận văn này đó là định tính và định lượng. Trong đó, nghiên cứu định tính được tiến hành thông qua việc tóm tắt các lý thuyết nền tảng, lược khảo các nghiên cứu liên quan và kết quả là xác định các khoảng trống nghiên cứu tạo điều kiện đề xuất mô hình nghiên cứu với bối cảnh các NHTM niêm yết tại Việt Nam.

Nghiên cứu định lượng thông qua việc thu thập số liệu liên quan đến các biến số của mô hình nghiên cứu, thiết kế dưới dạng bảng với giai đoạn từ 2011 – 2023. “Từ dữ liệu đó tiến hành xử lý thông qua phần mềm thống kê STATA 14.0 để cho ra các kết quả. Sau đó, luận văn sẽ thống kê mô tả đặc điểm của các biến số, thực hiện hồi quy với các mô hình như Pooled OLS, FEM, REM. Dựa trên các mô hình hồi quy sẽ thực hiện hàng loạt các kiểm định như Hausman, F – test để lựa chọn mô hình phù hợp, từ đó kiểm định sự xuất hiện các khuyết tật và khắc phục chúng với phương pháp FGLS để có được kết quả hồi quy cuối cùng.” Dựa vào đó để thảo luận kết quả nghiên cứu và đề xuất hàm ý khả thi cho các NHTM niêm yết tại Việt Nam.

1.6. Đóng góp của nghiên cứu Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của Ngân hàng niêm yết.

Về mặt lý luận, luận văn xác định các khoảng trống nghiên cứu tồn tại từ việc tóm tắt các nền tảng lý thuyết và các công trình lược khảo, tạo cơ sở để để đề xuất cho bối cảnh với các NHTM niêm yết tại Việt Nam. Từ đó, xác định được một cách tổng quát các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các NHTM niêm yết tại Việt Nam với phạm vi nghiên cứu từ năm 2011 – 2023. Đây có thể tạo ra cơ sở tiếp nối trong tương lai với các công trình hay học giả có cùng sự quan tâm về rủi ro tín dụng tại các NHTM.

Về mặt thực tiễn, nghiên cứu này cung cấp bằng chứng thực tiễn về các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các NHTM niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2023.

Từ kết quả thực tiễn đó luận văn đã đề xuất đến các lãnh đạo ngân hàng cũng như các bên liên quan về các hàm ý có tính khả thi bao gồm cả các vấn đề thuộc nội tại cũng như vĩ mô nền kinh tế để hạn chế được nợ xấu gia tăng, tạo điều kiện cho các hoạt động kinh doanh tại các ngân hàng bền vững và tăng trưởng.

1.7. Kết cấu của luận văn

Luận văn có kết cấu 5 chương:

  • Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu

Chương này tập trung vào việc lập luận lý do chọn đề tài, xác định các mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu. Định hướng lựa chọn phạm vi và đối tượng nghiên cứu, từ đó xác định phương pháp nghiên cứu phù hợp để giải quyết vấn đề. Đồng thời xác định các đóng góp chính” của luận văn.

  • Chương 2: Tổng quan lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm

Chương này “tổng hợp các cơ sở lý thuyết nền tảng liên quan đến cấu nợ xấu của các NHTM và mối quan hệ ảnh hưởng giữa chúng. Đồng thời thông qua lược khảo các nghiên cứu liên quan để phát hiện các khoảng trống nghiên cứu và làm cơ sở đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu tương ứng với bối cảnh NHTM niêm yết tại Việt Nam.”

  • Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương này tập trung vào việc đề xuất mô hình và các giả thuyết nghiên cứu nhằm xác định những yếu tố tác động đến nợ xấu tại các ngân hàng thương mại (NHTM) niêm yết ở Việt Nam. Phần nội dung này sẽ trình bày chi tiết về phương pháp nghiên cứu được áp dụng, bao gồm cách thức tiến hành lấy mẫu, quy trình thu thập số liệu, cùng với các phương pháp tính toán và xử lý số liệu liên quan. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của Ngân hàng niêm yết.

  • Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này sẽ tập trung vào việc trình bày kết quả xử lý số liệu thu thập từ các ngân hàng thương mại (NHTM) niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2023. Các phân tích được thực hiện bao gồm thống kê mô tả mẫu nghiên cứu, phân tích tương quan, hồi quy đa biến, và kiểm định tương ứng từ mô hình hồi quy đã lựa chọn. Sau khi khắc phục các hiện tượng (ví dụ: đa cộng tuyến, phương sai sai số thay đổi), nghiên cứu sẽ kết luận các giả thuyết đã đề ra và thảo luận chi tiết về những kết quả này.

  • Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị

Chương này sẽ kết luận những thành tựu chính của nghiên cứu. Dựa trên các kết quả hồi quy đạt được, nghiên cứu sẽ đề xuất các hàm ý chính sách tương ứng với từng biến số trong mô hình. Những đề xuất này nhằm cung cấp giải pháp thiết thực cho các NHTM niêm yết tại Việt Nam trong việc kiểm soát và hạn chế nợ xấu trong tương lai.

  • KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương này tập trung vào trình bày lý do lựa chọn đề tài thông qua đánh giá tình hình chung về vấn đề hệ thống NHTM niêm yết tại Việt Nam, tình hình về các nghiên cứu liên quan. Từ đó, xác định các mục tiêu, câu hỏi và đối tượng nghiên cứu. Đồng thời, trình bày tổng quát về phương pháp nghiên cứu và các đóng góp chính của luận văn về mặt lý luận cũng như thực tiễn của nó. Cuối cùng trình bày kết cấu và nội dung dự kiến của mỗi chương cần được hoàn thành.

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM

2.1. Nợ xấu

2.1.1. Khái niệm nợ xấu Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của Ngân hàng niêm yết.

Thuật ngữ “nợ xấu” (Non-Performing Loans – NPL) được sử dụng rộng rãi, tuy nhiên, các cách tiếp cận định nghĩa có sự khác biệt giữa các tổ chức và chuyên gia. Fofack (2005) đề xuất sử dụng thuật ngữ “nợ khó đòi”, trong khi Berger và DeYoung (1997) lại dùng khái niệm “các khoản vay có vấn đề”. Về cơ bản, nợ xấu có thể hiểu là những khoản nợ mà ngân hàng không thể thu hồi được lợi nhuận, và người vay không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đưa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu dựa trên thời gian quá hạn. Một khoản nợ được xem là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày. Ngoài ra, các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận cũng thuộc diện nợ xấu. Đặc biệt, ngay cả những khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày vẫn có thể được phân loại là nợ xấu nếu có căn cứ vững chắc về khả năng người vay không thể thanh toán đầy đủ.

Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS) không quy định một khung thời gian cụ thể cho việc xác định nợ xấu (có thể dao động từ 30-89 ngày, 90-179 ngày, hoặc trên 180 ngày tùy quốc gia). Thay vào đó, BCBS nhấn mạnh rằng nợ xấu là “khoản nợ đã quá hạn và ngân hàng nhận định người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi”. Cách tiếp cận này tập trung vào khả năng trả nợ thực tế của khách hàng hơn là chỉ dựa vào yếu tố thời gian.

Theo IMF (2004) và các chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IAS) thường đề cập đến các khoản nợ bị giảm giá trị (Impaired) thay vì thuật ngữ nợ xấu. Cụ thể, Chuẩn mực Kế toán IAS 39, được khuyến nghị áp dụng ở một số nước phát triển từ đầu năm 2005, yêu cầu phải có bằng chứng khách quan để phân loại một khoản vay là có dấu hiệu bị giảm giá trị. Khi nợ bị giảm giá trị, tài sản được ghi nhận sẽ bị điều chỉnh giảm do những tổn thất phát sinh từ chất lượng nợ. IAS 39 ưu tiên đánh giá khả năng hoàn trả của khoản vay mà không bị ràng buộc bởi thời gian quá hạn 90 ngày hay thậm chí chưa quá hạn. Phương pháp đánh giá phổ biến bao gồm phân tích dòng tiền tương lai chiết khấu hoặc xếp hạng khoản vay của khách hàng. Mặc dù hệ thống này được đánh giá là chính xác về mặt lý thuyết, việc triển khai thực tế thường gặp phải nhiều thách thức.

Tại Việt Nam, Nguyễn Văn Tiến (2015) định nghĩa nợ xấu là khoản cấp tín dụng của ngân hàng cho khách hàng đã đến hạn thanh toán mà họ không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ vô điều kiện, điều này làm cho ngân hàng không thu hồi được gốc và lãi. Các khoản nợ này bị quá thời hạn thanh toán từ 91 ngày trở lên. Ngoài ra, tài sản đảm bảo (TSĐB) được thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh tại ngân hàng có thể được thanh lý để xử lý nợ, tuy nhiên khả năng không đủ để bù đắp cho khoản nợ gốc và lãi.

Về mặt pháp lý, Thông tư 31/2024/TT-NHNN ngày 30/06/2024 của NHNN Việt Nam, quy định về phân loại tài sản có trong hoạt động của ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, định nghĩa khoản nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn. Theo thông tư này, nợ xấu (NPL) bao gồm các khoản nợ thuộc nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ), và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn). Định nghĩa nợ xấu trong thông tư này được xác định dựa trên hai yếu tố chính: nợ đã quá hạn trên 90 ngày và khả năng trả nợ đáng lo ngại của người vay. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của Ngân hàng niêm yết.

Tóm lại, nợ xấu được xem là giá trị của một khoản cấp tín dụng có khả năng sinh lời kém tại ngân hàng, hay nói cách khác khoản cho vay này của các NHTM khó hoặc không có khả năng thu hồi, nguyên nhân đến từ việc khách hàng mất khả năng thanh toán hay bị phá sản. Nợ xấu là một vấn đề có quy định theo tiêu chuẩn quốc tế và đặc thù kinh doanh của hệ thống ngân hàng tại mỗi quốc gia. Nó được đo lường thông qua tỷ lệ các nhóm nợ quá hạn thuộc loại 3,4,5 theo quy định tại thông tư 31/2024/TT-NHNN, đây là các khoản nọ được đánh giá với khả năng thu hồi rất thấp hoặc mất vốn tại các NHTM. Nếu tỷ lệ nợ xấu gia tăng phản ánh chất lượng tín dụng của NHTM suy giảm kéo theo hiệu quả kinh doanh, uy tín, khả năng thanh toán của ngân hàng cũng sẽ bị kéo theo hướng suy giảm.

2.1.2. Phân loại nợ xấu

Tại Việt Nam, quy định về phân loại nợ và trích lập dự phòng được thực hiện theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 và Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 điều chỉnh bổ sung 493/2005/QĐ-NHNN. Hiện nay theo Thông tư 31/2024/TT-NHNN ngày 30/06/2024 quy định về phân loại tài sản có trong hoạt động của ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì đối với doanh nghiệp có từ hai khoản nợ tại các TCTD, nếu có một khoản nợ nào bị phân loại vào nhóm có mức độ rủi ro cao hơn các khoản nợ thì các khoản nợ còn lại ở các TCTD phải phân loại vào nhóm có rủi ro cao nhất. Trong đó, các NHTM đều quan tâm nhất đến nợ quá hạn, hay là các khoản nợ không được hoàn trả đúng ngày giao kết hợp đồng giữa ngân hàng và khách vay. Các nhóm nợ chính được phản ánh tại các NHTM bao gồm:

Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn): Với nhóm nợ này thì ngân hàng có thể thu hồi được cả gốc lẫn lãi như trên hợp đồng tín dụng. Nhưng khoản nợ này có thể đã quá hạn thanh toán dưới 10 ngày nhưng vẫn được đánh giá có thể thu hồi gốc và lãi hay lãi phạt quá hạn đúng ngày.

Nhóm 2 (Nợ cần được chú ý): Với nhóm nợ này thì khách hàng đã quá hạn thanh toán gốc lãi từ 10 đến 90 ngày hoặc khoản nợ có sự điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần thứ nhất.

Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn): Với nhóm nợ này thì khách hàng đã quá hạn thanh toán gốc lãi từ 91 đến 180 ngày hoặc, nợ gia hạn lần thứ nhất. Với khoản nợ này thì ngân hàng có thể miễn giảm lãi cho khách hàng do không đủ khả năng chi trả lãi theo thỏa thuận ban đầu trên hợp đồng tín dụng. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của Ngân hàng niêm yết.

Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ): Với nhóm nợ này thì khách hàng đã quá hạn thanh toán gốc lãi từ 181 đến 360 ngày. Nợ cơ cấu lần thứ nhất dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lần thứ nhất và tiến hành cơ cấu lần thứ hai.”

Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn): Gồm các khoản nợ mà khách hàng đã quá hạn thanh toán gốc và/hoặc lãi trên 360 ngày. Đây là những khoản nợ mà ngay cả sau các lần cơ cấu lại (lần thứ nhất lần thứ hai), khách hàng vẫn không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng.

Trong số năm nhóm nợ được phân loại, nợ xấu được xác định là thuộc nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ), nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn). Điều này đồng nghĩa với việc nợ xấu phát sinh khi khách hàng không trả được nợ với thời gian quá hạn bắt đầu từ 90 ngày trở lên. Sự hiện diện của các nhóm nợ này buộc các NHTM phải thực hiện trích lập các khoản dự phòng cần thiết. Việc trích lập dự phòng không chỉ nhằm phòng ngừa rủi ro tiềm ẩn mà còn để đảm bảo khả năng thanh toán các khoản tiền gửi huy động đến hạn của mình (Phan Thị Thu Hà, 2013).

2.1.3. Đo lường nợ xấu

Theo Thông tư 34/2024/TT-NHNN ngày 30/06/2024 của NHNN Việt Nam, nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3, 4, 5. Khái niệm nợ xấu về cơ bản cũng được xác định dựa trên hai yếu tố: (i) Các khoản dư nợ đã quá hạn từ 91 ngày trở lên (ii) Khả năng trả nợ của khách hàng được xếp vào loại bị nghi ngờ (có thể là khách hàng không thể trả nợ hoặc trả nợ không đủ) và quan điểm này được thế giới áp dụng phổ biến. Trên thế giới, thường xem xét quan điểm khách hàng phát sinh nợ xấu là do khách hàng không có khả năng trả nợ.

Tỷ lệ nợ xấu phản ánh chất lượng và mức độ rủi ro của hoạt động tín dụng mà ngân hàng có, đây được xem là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá tình trạng RRTD của NHTM. Nợ xấu được xem là các khoản tiền cho khách hàng vay, mà khó hoặc không thể thu hồi được do doanh nghiệp hoặc cá nhân đó làm ăn thua lỗ hoặc phá sản, nợ phải trả tăng, doanh nghiệp mất khả năng thanh toán lỗ hoặc vì nguyên nhân nào đó dẫn đến mất khả năng thanh toán. Bên cạnh đó, các khoản nợ không trả được khi đến hạn ở các cấp độ khác nhau cũng thể hiện các khả năng vỡ nợ khác nhau.

2.2. Khung lý thuyết Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của Ngân hàng niêm yết.

2.2.1. Lý thuyết về chu kỳ kinh tế

Samuelson (1952) cho rằng “Chu kỳ kinh doanh phản ánh sự dao động tổng thể của sản lượng quốc dân, thu nhập quốc dân và việc làm. Đây là một hiện tượng kinh tế vĩ mô đặc trưng bởi sự mở rộng hoặc thu hẹp trên quy mô lớn, ảnh hưởng đến hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế. Một chu kỳ kinh doanh điển hình thường kéo dài trong khoảng thời gian từ 2 đến 10 năm.

Chu kỳ kinh tế được đặc trưng bởi hai giai đoạn chính là suy thoái và mở rộng. Các đỉnh và đáy của chu kỳ đại diện cho những điểm chuyển hướng. Giai đoạn suy thoái được định nghĩa là khi tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thực tế giảm trong ít nhất hai quý liên tiếp, bắt đầu từ một đỉnh và kết thúc tại một đáy. Trong thời kỳ suy thoái, cầu về lao động giảm, dẫn đến gia tăng tỷ lệ thất nghiệp. Lợi nhuận doanh nghiệp cũng sụt giảm, và giá chứng khoán thường giảm khi nhà đầu tư nhận thấy sự đi xuống của chu kỳ kinh tế. Ngược lại, giai đoạn mở rộng là hình ảnh phản chiếu của suy thoái, với mỗi yếu tố hoạt động theo chiều hướng ngược lại.

Mặc dù không có hai chu kỳ kinh tế nào hoàn toàn giống nhau, tính chu kỳ này lan rộng đến nhiều khía cạnh của nền kinh tế, điển hình là thông qua GDP và tỷ lệ lạm phát. Khi nền kinh tế đạt được tăng trưởng, các chủ thể kinh doanh gặp nhiều thuận lợi. Khả năng tạo đòn bẩy của các NHTM trở nên hiệu quả hơn, đồng thời khả năng trả nợ của các đối tượng vay cũng được cải thiện, góp phần thu hẹp nợ xấu. Tuy nhiên, khi chu kỳ kinh tế có sự thu hẹp, đối mặt với khó khăn hoặc lạm phát gia tăng, hoạt động cho vay và thu hồi nợ trở nên kém thuận lợi. Đây là điều kiện thúc đẩy sự gia tăng nợ xấu cho các NHTM.

2.2.2. Lý thuyết về quy mô của ngân hàng Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của Ngân hàng niêm yết.

Giả thuyết “Quá lớn để phá sản” được Boyd và Gertler (1994) lập luận rằng quy mô ngân hàng có liên hệ chặt chẽ với rủi ro tín dụng. Theo giả thuyết này, các NHTM có quy mô lớn thường thể hiện khẩu vị rủi ro cao hơn so với các tổ chức nhỏ. Điều này thúc đẩy tham vọng huy động vốn và tăng trưởng cho vay nhanh chóng, kéo theo sự suy giảm chất lượng tín dụng do chấp nhận các khách hàng có lịch sử tín dụng kém. Đồng thời, nhận thức rằng Chính phủ sẽ can thiệp để ngăn chặn sự phá sản của các NHTM lớn nhằm hạn chế rủi ro hệ thống, các ngân hàng này có xu hướng chấp nhận nhiều rủi ro nợ xấu hơn. Nói cách khác, khi NHTM đạt đến một ngưỡng quy mô nhất định, rủi ro tín dụng (RRTD) có thể đạt mức cao nhất.

Ngược lại, hiệu ứng quy mô được Salas và Saurina (2002) đề xuất lại cung cấp một góc nhìn khác. Quan điểm này cho rằng các NHTM có quy mô lớn có khả năng tận dụng lợi thế của mình để đa dạng hóa các nguồn thu nhập. Việc đa dạng hóa giúp phân tán rủi ro từ hoạt động tín dụng, tránh sự tập trung rủi ro quá lớn vào một lĩnh vực hay nhóm khách hàng cụ thể. Từ đó, hiệu ứng quy mô có thể góp phần kiểm soát nợ xấu thông qua chiến lược quản lý rủi ro toàn diện hơn.

2.2.3. Lý thuyết thông tin bất cân xứng

Akerlof (1970) đã sử dụng lý thuyết thị trường quả chanh, trong đó nhấn mạnh việc trao đổi mua bán trên thị trường với thông tin về sản phẩm giữa đơn vị bán và người mua không giống nhau. Cụm từ “quả chanh” biểu thị cho các loại hàng hóa dịch vụ có chất lượng kém. Với thị trường quả chanh thì sự bất cân xứng thường xuyên xảy ra, đặc biệt với bối cảnh một trong hai bên có sự nắm bắt chi tiết hơn về thông tin hơn bên còn lại. Việc bất cân xứng này dẫn đến việc sự tin cậy giữa hai bên bị phá vỡ và bất ổn trong thị trường. Điều này dẫn đến việc người mua sẽ từ chối mua hàng với việc ngờ hoặc hay không tin chất lượng sản phẩm dịch vụ do biết quá ít thông tin, hoặc chấp nhận mua với giá thấp hơn hay sau khi mua nhận ra chất lượng không như mình nghĩ và cắt đứt quan hệ mua bán. Với các tình huống xảy ra như trên thì Akerlof (1970) đã cho thấy thị trường kinh doanh không hoàn hảo và bất cân xứng về thông tin là hệ quả dẫn đến vấn đề đó, nó đe dọa rất lớn đến rủi ro của các bên kinh doanh hay nó nhấn mạnh đến lựa chọn đối nghịch hay rủi ro đạo đức.

Do đó, khi xét đến khía cạnh của nợ xấu của ngân hàng. Khi các NHTM tiến hành hoạt động cấp tín dụng thì việc xem xét các thông tin của khách hàng là điều bắt buộc, do đó các khách hàng có xu hướng sẽ tuân thủ các quy định ban đầu để tiếp cận được vốn. Nhưng sau đó, các mục đích sử dụng vốn hay các thông tin xác thực của khách hàng sẽ rất khó để ngân hàng kiểm soát, lúc này các NHTM sẽ bị rơi vào tình trạng thông tin bất cân xứng. Nên để thu hẹp tình trạng này thì các ngân hàng tận dụng sự lớn mạnh của nguồn lực để kiểm soát, bỏ thêm chi phí hoạt động để quản lý các khoản vay, đa dạng hóa các nguồn thu để có thêm các thông tin,… Tất cả nhằm mục đích hướng tới giảm thiểu nợ xấu tại ngân hàng.

2.2.4. Lý thuyết hiệu quả và chất lượng quản trị ngân hàng Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của Ngân hàng niêm yết.

Berger và DeYoung (1997) cho rằng “Việc sử dụng chi phí một cách không thực sự hiệu quả cũng là một nguyên nhân dẫn đến nợ xấu”. Nguyên nhân đến từ việc các lãnh đạo không có năng lực quản lý chi phí tốt sẽ sinh ra một danh mục cho vay yếu kém, vì nếu ngân hàng không theo dõi hay quản lí hoạt động hiệu quả thì các danh mục cho vay sẽ bị đánh giá chưa đầy đủ. Lý thuyết này cho rằng sự yếu kém của các lãnh đạo ngân hàng xuất phát từ kỹ năng kém trong xếp hạng tín dụng, đánh giá tài sản đảm bảo, thiếu năng lực trong giám sát việc tuân thủ các khoản vay. Điều này dẫn đến, việc khi nợ xấu xuất hiện thì các chi phí hoạt động để xử lý càng gia tăng, để bù đắp nó thì các NHTM lại càng cho vay để tìm kiếm khoản thu, nhưng khi đó nguy cơ nợ xấu lại càng tăng cao hơn.

Nhưng với một khía cạnh khác, nếu các ngân hàng cắt giảm chi phí hoạt động để gia tăng lợi nhuận, như tiết kiệm các chi phí liên quan đến sàng lọc khoản vay, thẩm định hay định giá tài sản. Về ngắn hạn thì các hoạt động này vẫn có thể đảm bảo được việc không phát sinh nợ xấu. Nhưng về lâu về dài sẽ sinh ra sự thiếu chặt chẽ và rủi ro hệ thống và nợ xấu sẽ khó kiểm soát hơn. Vì vậy, việc cân đối chi phí cần phải dựa trên quy mô tín dụng mà ngân hàng xây dựng.

2.3. Yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của Ngân hàng niêm yết.

2.3.1. Nhóm yếu tố nội tại

  • Quy mô ngân hàng

Theo Boyd và Gertler (1994), với giả thuyết “Quá lớn để phá sản”, quy mô ngân hàng có mối liên hệ mật thiết với nợ xấu. Lý thuyết này lập luận rằng các NHTM quy mô lớn thường có xu hướng chấp nhận rủi ro tín dụng (RRTD) cao hơn để tăng trưởng dư nợ cho vay, thậm chí bỏ qua các vấn đề liên quan đến lịch sử tín dụng của khách hàng. Tuy nhiên, khi đối mặt với nguy cơ phá sản do nợ xấu gia tăng, các Ngân hàng Trung ương thường can thiệp hỗ trợ các NHTM này nhằm ngăn chặn những hệ lụy tiềm tàng đối với toàn bộ nền kinh tế (Stern và Feldman, 2004). Thực tiễn nghiên cứu cũng ủng hộ quan điểm này; ví dụ, các công trình của Manz (2019) và Trần Trọng Phong và cộng sự (2015) đều cho thấy quy mô ngân hàng có ảnh hưởng cùng chiều đến nợ xấu. Tuy nhiên, lập luận này có một quan điểm đối lập được thể hiện qua hiệu ứng quy mô của Salas và Saurina (2002). Theo đó, khi các NHTM đạt quy mô lớn hơn, hoạt động đa dạng hóa nguồn thu nhập trở nên phổ biến hơn, hay các NHTM lớn tìm kiếm lợi nhuận từ nhiều kênh khác nhau. Do đó, việc tái cơ cấu danh mục tài sản sẽ tập trung vào các hoạt động bán lẻ hoặc đầu tư khác có tính an toàn cao hơn, thay vì chỉ phụ thuộc vào hoạt động cho vay truyền thống tiềm ẩn rủi ro nợ xấu cao. Ngoài ra, các NHTM có quy mô lớn sẽ tạo điều kiện và nguồn lực kinh nghiệm cho các hoạt động xử lý nợ xấu nhằm duy trì hoạt động và uy tín với khách hàng nhằm duy trì giá trị gửi tiền tiết kiệm. Vì vậy, quy mô ngân hàng có thể làm giảm thiểu được nợ xấu. Điển hình là các nghiên cứu như: Antony và Suresh (2023), Phạm Dương Phương Thảo và Nguyễn Linh Đan (2018),… chỉ ra quy mô ngân hàng ảnh hưởng ngược chiều đến nợ xấu.

  • Khả năng sinh lời

Khả năng sinh lời là một tiêu chí quan trọng đo lường kết quả tài chính của ngân hàng, là điều kiện cần thiết để duy trì sự tồn tại và phát triển bền vững của NHTM. Trong đó, Hu và cộng sự (2004) cho rằng các NHTM thường có xu hướng bảo toàn hoạt động kinh doanh của mình bằng cách tập trung cho vay với các đối tượng khách hàng an toàn để hạn chế rủi ro nợ xấu, điều này sẽ giúp NHTM bảo toàn được khoản lợi nhuận của mình thay vì phải đi xử lý nợ xấu hay trích lập chi phí dự phòng rủi ro tín dụng. Tuy nhiên, Boudriga và cộng sự (2009); Nikolaidou và Vogiazas (2011) lại cho rằng trong thời điểm các NHTM cạnh tranh nhau trên thị trường, thì việc chạy đua với việc tăng trưởng tín dụng nóng nhằm kiếm được thị phần và lợi nhuận trong ngắn hạn. Đồng thời, điều này sẽ làm cho các NHTM gia tăng được khả năng sinh lời nhưng cũng sẽ khiến cho các NHTM xuất hiện sự tiềm ẩn rủi ro nợ xấu trong tương lai. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của Ngân hàng niêm yết.

  • Tăng trưởng tín dụng

Foos và cộng sự (2010) cho rằng tăng trưởng tín dụng có ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ đến rủi ro tín dụng của các NHTM, thường biểu hiện rõ sau hai đến ba năm. Hiện tượng này có thể được giải thích qua cơ chế cạnh tranh. Khi nền kinh tế phát triển, các ngân hàng chịu áp lực phải tăng trưởng, dẫn đến việc họ cân nhắc hai chiến lược: giảm lãi suất vay hoặc nới lỏng các tiêu chuẩn cho vay. Việc giảm lãi suất thường không khả thi do tác động tiêu cực đến lợi nhuận và sự phản đối từ cổ đông. Do đó, việc nới lỏng điều kiện xét duyệt tín dụng, như hạ thấp yêu cầu về tài sản đảm bảo, chấp nhận khách hàng có hồ sơ tín dụng yếu, hoặc đòi hỏi ít bằng chứng về dòng thu nhập, trở thành phương án phổ biến. Những hành động này tích lũy rủi ro tiềm ẩn, mà thường bộc lộ trong giai đoạn suy thoái kinh tế. Các khoản vay có chất lượng thấp sẽ có nguy cơ vỡ nợ cao khi điều kiện kinh tế bất lợi, với ảnh hưởng có thể trì hoãn vài năm. Tăng trưởng tín dụng theo cách này làm gia tăng rủi ro tín dụng, đòi hỏi NHTM phải tăng cường trích lập dự phòng trong tương lai. Thiagarajan và cộng sự (2011) cũng củng cố nhận định này, cho rằng tăng trưởng tín dụng ảnh hưởng cùng chiều đến rủi ro tín dụng với độ trễ hai năm.

Tuy nhiên, mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và rủi ro không phải lúc nào cũng là cùng chiều. Tăng trưởng tín dụng có thể ảnh hưởng ngược chiều đến rủi ro tín dụng trong những trường hợp cụ thể. Chẳng hạn, khi khách hàng có nhu cầu vay vốn tăng cao nhằm mở rộng hoạt động kinh doanh và tăng tỷ trọng vốn ngân hàng, các NHTM thường có thể phản ứng bằng cách tăng lãi suất cho vay hoặc nâng cao các tiêu chuẩn thẩm định tín dụng. Hay nói cách khác, tăng trưởng tín dụng (trong kỳ hiện tại hoặc với độ trễ một năm) được Clair (1992) ghi nhận là ảnh hưởng ngược chiều đến rủi ro tín dụng.

  • Chi phí hoạt động Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của Ngân hàng niêm yết.

Tỷ lệ chi phí hoạt động là một chỉ số quan trọng, phản ánh mức độ hiệu quả trong việc sử dụng tài sản để tạo ra thu nhập của một tổ chức. Berger và De Young (1997) đã chỉ ra rằng tỷ lệ giữa chi phí trên tổng tài sản của ngân hàng có ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng. Nghiên cứu của họ kết luận rằng hiệu quả chi phí góp phần làm giảm nợ xấu, đồng thời khẳng định tỷ lệ chi phí hoạt động là một chỉ số dự báo quan trọng cho cả nợ xấu trong tương lai lẫn rủi ro chung của ngân hàng. Điều này có nghĩa là các NHTM hoạt động kém hiệu quả sẽ phải đối mặt với áp lực lớn từ rủi ro tín dụng. Để bù đắp chi phí vận hành cao, những ngân hàng này thường buộc phải đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng, ngay cả khi điều đó đi kèm với việc chấp nhận rủi ro lớn hơn để cố gắng thu về lợi nhuận. Tương tự, Hess và cộng sự (2008) cũng chọn chỉ số này là một trong những yếu tố nghiên cứu về rủi ro tín dụng. Kết quả từ công trình của họ cũng đồng nhất, cho thấy các ngân hàng hoạt động kém hiệu quả thường có mức rủi ro tín dụng cao hơn so với các ngân hàng khác.

  • Hệ số an toàn vốn

Keeton và Morris (1987) hệ số an toàn vốn biểu diễn cho mức độ tự bảo toàn rủi ro của các ngân hàng thông qua nguồn vốn tự có, đặc biệt là VCSH, nếu các NHTM không duy trì tỷ lệ này thì khả năng gặp nguy cơ nợ xấu sẽ rất cao. Vì khi các NHTM sử dụng các nguồn VCSH huy động được để lao vào cho vay đặc biệt là các danh mục có rủi ro cao nhằm tìm kiếm lợi nhuận, thì CAR sẽ giảm xuống đồng thời nợ xấu cũng có nguy cơ tiềm ẩn xuất hiện. Hệ quả của việc này là các chi phí hoạt động, chi phí lãi và chi phí sử dụng VCSH cũng tăng lên theo, đe dọa nghiêm trọng đến hoạt động của NHTM (Berger và DeYoung, 1997; Salas và Saurina, 2002).

  • Cấu trúc sở hữu

Antony và Suresh (2023) cho rằng cấu trúc sở hữu tại các NHTM rất quan trọng, trong đó các NHTM có vốn sở hữu của Nhà nước hay Chính phủ càng nhiều thì sẽ nhận được rất nhiều lợi thế trên thị trường khi hoạt động kinh doanh trong việc củng cố thương hiệu hay chỗ đứng. Loại hình sở hữu có ảnh hưởng đáng kể đến khẩu vị rủi ro và hoạt động của các NHTM. Khi tỷ lệ sở hữu của Nhà nước trong ngân hàng càng cao, khẩu vị rủi ro của các tổ chức này có xu hướng giảm xuống. Các NHTM với tỷ trọng sở hữu Nhà nước lớn thường ưu tiên hoạt động theo định hướng ổn định và an toàn, qua đó góp phần giảm thiểu RRTD tổng thể. Ngược lại, các NHTM tư nhân, dưới áp lực cạnh tranh gay gắt trên thị trường, thường có xu hướng tập trung vào các hoạt động cho vay hoặc đầu tư mạo hiểm hơn. Mục tiêu là để đạt được tốc độ tăng trưởng và lợi nhuận cao, điều này có thể đi kèm với việc chấp nhận mức độ rủi ro lớn hơn so với các ngân hàng có sở hữu Nhà nước chi phối.

2.3.2. Nhóm yếu tố vĩ mô Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của Ngân hàng niêm yết.

  • Tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế là một yếu tố vĩ mô có mối liên hệ mật thiết với rủi ro tín dụng. Trong các giai đoạn kinh tế phát triển, các doanh nghiệp thường hoạt động hiệu quả, sản xuất kinh doanh thuận lợi, từ đó có đầy đủ nguồn vốn và khả năng trả nợ. Ngược lại, khi nền kinh tế bước vào thời kỳ suy thoái, khả năng thanh toán nợ của cả cá nhân và doanh nghiệp đều sụt giảm, dẫn đến sự gia tăng trong rủi ro tín dụng. Do đó, mối quan hệ giữa tăng trưởng GDP và rủi ro tín dụng được nhiều nghiên cứu dự đoán là nghịch biến, tức là sự suy giảm trong tỷ lệ tăng trưởng GDP có thể làm gia tăng rủi ro tín dụng (Fainstein và Novikov, 2011; Jakubík, 2007; Castro, 2013).

Tuy nhiên, mối quan hệ này cũng có thể phức tạp hơn. Khi tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng, môi trường kinh doanh được cải thiện và các rào cản kinh tế giảm dần. Điều này thường dẫn đến việc gia tăng mức độ cạnh tranh giữa các NHTM, từ đó ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của các ngân hàng (Tan và Floros, 2012b; Boahene và cộng sự, 2012; Tan, 2015). Sự cạnh tranh có thể thúc đẩy các ngân hàng nới lỏng điều kiện cho vay để giành thị phần, tiềm ẩn nguy cơ làm tăng rủi ro tín dụng.

  • Lạm phát

Lạm phát đóng vai trò là một biến kinh tế vĩ mô then chốt, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của các NHTM. Khi lạm phát được dự đoán và kiểm soát hiệu quả, các ngân hàng có khả năng điều chỉnh lãi suất hoặc quản lý chi phí hoạt động một cách linh hoạt. Điều này có thể thúc đẩy doanh thu tăng nhanh hơn chi phí, từ đó nâng cao khả năng sinh lời (Revell, 1979; Perry, 1992).

Tuy nhiên, nếu lạm phát không được dự báo hoặc kiểm soát đầy đủ, các khoản lỗ từ hoạt động cho vay có thể tích lũy, dẫn đến suy giảm lợi nhuận của ngân hàng (Tan, 2015). Lạm phát mang lại những ảnh hưởng đa chiều đối với nợ xấu. Một mặt, lạm phát cao có thể làm giảm giá trị thực của các khoản vay, qua đó giúp việc trả nợ trở nên dễ dàng hơn. Mặt khác, lạm phát cũng có thể làm giảm giá trị thu nhập thực tế của khách hàng, đồng thời làm suy yếu khả năng thanh toán nợ của họ. Ngoài ra, khi lạm phát tăng cao, giá cả hàng hóa trong nước tăng, sức mua giảm, và đồng nội tệ mất giá. Điều này kéo theo chi phí sản xuất tăng, gia tăng gánh nặng tài chính cho các doanh nghiệp. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của Ngân hàng niêm yết.

Do những kết luận không đồng nhất từ các nghiên cứu trước đây, mối quan hệ giữa lạm phát và rủi ro tín dụng có thể là tích cực hoặc tiêu cực (Castro, 2013; Chaibi và Ftiti, 2015). Sự phức tạp này đòi hỏi một phân tích sâu rộng để hiểu rõ hơn về cơ chế ảnh hưởng của lạm phát trong từng bối cảnh cụ thể.

  • Đại dịch Covid 19

Nghiên cứu của Žunić và cộng sự (2021) đã làm rõ những hạn chế nghiêm trọng mà đại dịch COVID-19 gây ra cho nền kinh tế toàn cầu. Sự lây lan dịch bệnh đã dẫn đến suy giảm sức khỏe cộng đồng trên diện rộng, kéo theo những hệ quả kinh tế nghiêm trọng. Trong thời kỳ đại dịch, phần lớn các hoạt động kinh tế bị đình trệ hoặc diễn ra chậm chạp do các quốc gia ưu tiên phòng chống dịch bệnh và bảo vệ sức khỏe người dân. Hậu quả là các khoản nợ vay từ NHTM của khách hàng không còn được đảm bảo. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ sự suy yếu trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và những thiệt hại về sức khỏe cá nhân. Điều này trực tiếp dẫn đến việc các khoản nợ xấu của khách hàng bị ghi nhận tăng lên trong hệ thống ngân hàng.

2.4. Lược khảo nghiên cứu thực nghiệm Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của Ngân hàng niêm yết.

2.4.1. Nghiên cứu nước ngoài

Messai và Jouini (2013) khi xem xét phân tích về các yếu tố vi mô và vĩ mô ảnh hưởng đến nợ xấu thì dữ liệu thứ cấp của 85 NHTM tại các quốc gia như Italia, Hy Lạp và Tây Ban Nha đã được thu thập. Công trình này tập trung chính vào nghiên cứu định lượng và các mô hình hồi quy đa biến được sử dụng là Pooled OLS, FEM, REM để kết luận. Kết quả hồi quy đã chỉ ra rằng GDP và suất sinh lời có mối quan hệ ngược chiều với nợ xấu. Ngược lại, tỷ lệ thất nghiệp, dự phòng rủi ro tín dụng và lãi suất vay lại có ảnh hưởng cùng chiều đến nợ xấu.

Mazreku và cộng sự (2018) phân tích về các yếu tố vĩ mô ảnh hưởng đến nợ xấu tại các NHTM của 10 quốc gia Bắc Âu. Công trình này tập trung chính vào nghiên cứu định lượng và các mô hình hồi quy đa biến được sử dụng là Pooled OLS, FEM, REM. Kết quả hồi quy đã chỉ ra rằng tốc độ tăng trưởng kinh tế có ảnh hưởng ngược chiều đến nợ xấu. Trong khi đó, tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ thất nghiệp lại có ảnh hưởng cùng chiều.”

Manz (2019) nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu, công trình này tập trung chính vào “nghiên cứu định lượng và các mô hình hồi quy đa biến được sử dụng là Pooled OLS, FEM, REM. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ chi phí hoạt động, quy mô ngân hàng, chính sách tiền tệ và nợ công có ảnh hưởng cùng chiều đến nợ xấu. Ngược lại, chính sách cho vay, chính sách quản trị và môi trường kinh doanh lại có mối quan hệ ngược chiều với nợ xấu.

Tole và cộng sự (2019) phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các NHTM Ethiopia, đồng thời nhóm tác giả đã phân tích dữ liệu từ 8 NHTM Ethiopia giai đoạn 2003 – 2017 để xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng. Công trình này tập trung chính vào nghiên cứu định lượng và các mô hình hồi quy đa biến được sử dụng là Pooled OLS, FEM, REM. Kết quả hồi quy đã chỉ ra rằng khả năng sinh lời, khả năng thanh khoản và tỷ lệ nợ xấu năm trước có ảnh hưởng tích cực đến nợ xấu. Tuy nhiên, các biến như tăng trưởng cho vay, tăng trưởng kinh tế GDP và tỷ lệ an toàn vốn (CAR) lại có ảnh hưởng tiêu cực.

Hazimi và William (2020) nghiên cứu các yếu tố vĩ mô và yếu tố vi mô đến rủi ro tín dụng thuộc ngân hàng ở Indonesia từ năm 2014 – 2018. Nghiên cứu cho thấy các ngân hàng duy trì sự quản lý thận trọng trong việc quản lý rủi ro tín dụng, giải thích tại sao biến cụ thể của ngân hàng có mức so sánh có ý nghĩa cao hơn đối với biến kinh tế vĩ mô. Kết quả khẳng định rằng các yếu tố vi mô ngân hàng có ảnh hưởng đến RRTD ngân hàng mạnh hơn so với biến kinh tế vĩ mô. Trong đó, khả năng sinh lời ảnh hưởng ngược chiều đến nợ xấu. Tăng trưởng cho vay, lãi suất cho vay, tỷ giá hối đoái và tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát ảnh hưởng cùng chiều đến nợ xấu. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của Ngân hàng niêm yết.

Žunić và cộng sự (2021) trong nghiên cứu về sự ảnh hưởng của Covid 19 đến nợ xấu tại các NHTM Bosnia và Herzegovina, dữ liệu thứ cấp của các NHTM trong khu vực này từ năm 2003 – 2020 đã được thu thập. Đồng thời sử dụng đồ thị biến đổi và mô hình hồi quy đa biến để kết luận. Kết quả hồi quy đã chi ra rằng các khoản nợ vay ngắn hạn hay dài của ngân hàng thì Covid 19 xuất hiện làm gia tăng thêm khả năng trở thành nợ xấu cho ngân hàng. Đồng thời, đại dịch làm suy giảm GDP của nền kinh tế.

Antony và Suresh (2023) sử dụng mô hình hồi quy đa biến theo phương pháp GMM để nghiên cứu về khả năng sinh lời, các chỉ số kinh tế vi mô và vĩ mô có ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của ngân hàng. Để thực hiện nghiên cứu này, bộ dữ liệu của 31 ngân hàng Ấn Độ từ năm 2012 – 2021 đã được thu thập và sử dụng phương pháp tiếp cận mô hình hóa dữ liệu bảng để giải thích cho bất kỳ biến thể nào trong hành vi chấp nhận rủi ro. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thu nhập lãi cận biên NIM, tuổi ngân hàng, loại hình sở hữu, thu nhập được đa dạng hóa ảnh hưởng cùng chiều đến nợ xấu. Nhưng quy mô ngân hàng, tỷ suất sinh lời ROE, tỷ lệ chi phí hoạt động lại ảnh hưởng làm giảm đến nợ xấu của NHTM.

2.4.2. Nghiên cứu trong nước

Trần Trọng Phong và cộng sự (2015) đã thu thập dữ liệu từ 15 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2007 – 2014. Kết quả hồi quy (sử dụng Pooled OLS, FEM, REM) chỉ ra rằng tỷ lệ nợ xấu kỳ trước, kết quả kinh doanh trong quá khứ, sự kém hiệu quả, quy mô của ngân hàng và tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản đều có ảnh hưởng cùng chiều tới nợ xấu.

Ngược lại, tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản tăng lại ảnh hưởng ngược chiều đến nợ xấu.

Phạm Dương Phương Thảo và Nguyễn Linh Đan (2018) đã phân tích dữ liệu của 27 NHTM cổ phần tại Việt Nam từ năm 2005 đến 2016. Nghiên cứu này, sử dụng các mô hình hồi quy đa biến tương tự, cho thấy tỷ lệ nợ xấu năm trước, tỷ lệ trích lập dự phòng RRTD, hiệu quả chi phí, lãi suất dài hạn, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp và tỷ giá hối đoái ảnh hưởng cùng chiều đến nợ xấu. Ngược lại, quy mô ngân hàng, khả năng sinh lời, thu nhập phi lãi, lợi nhuận ngân hàng và tăng trưởng kinh tế lại có ảnh hưởng ngược chiều. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của Ngân hàng niêm yết.

Đào Lê Kiều Oanh và cộng sự (2020) đã khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các NHTM cổ phần niêm yết trên sàn chứng khoán TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2008 – 2017. Với phương pháp định lượng và mô hình hồi quy đa biến (Pooled OLS, FEM), nghiên cứu này chỉ ra rằng hiệu quả kinh doanh (ROE) và tăng trưởng tín dụng có ảnh hưởng tiêu cực đến nợ xấu. Ngoài ra, lãi suất cao làm tăng nợ xấu, trong khi GDP và lạm phát không có ảnh hưởng đáng kể.

Nguyễn Quỳnh Hoa (2020) đã nghiên cứu ảnh hưởng của hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) đến RRTD của các NHTM tại Việt Nam, sử dụng dữ liệu từ 16 NHTM Việt Nam và dữ liệu vĩ mô từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế giai đoạn 2008-2018. Kết quả hồi quy từ mô hình GMM hệ thống cho thấy RRTD năm trước, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, hiệu quả quản lý, tăng trưởng kinh tế và quy mô ngân hàng ảnh hưởng cùng chiều với nợ xấu. Ngược lại, môi trường kiểm soát và lạm phát lại có ảnh hưởng ngược chiều đến RRTD.

Lê Hoàng Vinh và cộng sự (2021) đã tập trung vào việc khẳng định ảnh hưởng phi tuyến của quy mô ngân hàng và tăng trưởng cho vay đến RRTD, được đo lường bằng nợ xấu và chi phí dự phòng rủi ro tín dụng. Dựa trên dữ liệu kiểm toán của 24 NHTM niêm yết tại Việt Nam giai đoạn 2009-2019, ước lượng theo phương pháp GLS cho thấy tăng trưởng cho vay có ảnh hưởng dạng hình chữ U, trong khi quy mô ngân hàng có ảnh hưởng dạng hình chữ U ngược đến rủi ro tín dụng. Kết quả này gợi ý rằng các NHTM cần thiết lập các ngưỡng giới hạn cho tăng trưởng cho vay và quy mô ngân hàng để xây dựng chính sách điều chỉnh rủi ro tín dụng theo kỳ vọng.”

  • Bảng 2.1: Tổng hợp các nghiên cứu liên quan

2.5. Khoảng trống nghiên cứu

Thứ nhất, các nghiên cứu trong và ngoài nước đã phân tích nhiều nhóm yếu tố nội tại ngân hàng cũng như các yếu tố vĩ mô tác động đến nợ xấu. Tuy nhiên, vẫn còn thiếu sự thống nhất về mức độ và chiều hướng ảnh hưởng của các yếu tố này. Sự khác biệt này ban đầu có thể được lý giải bởi đặc thù về điều kiện kinh tế của từng quốc gia, khu vực hay giai đoạn nghiên cứu cụ thể. Điều này tạo nên khoảng trống đầu tiên cần được khám phá. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của Ngân hàng niêm yết.

Thứ hai, phần lớn các công trình nghiên cứu liên quan đều sử dụng dữ liệu được thu thập trước năm 2021. Điều này hàm ý rằng những nghiên cứu này chưa thể xem xét đầy đủ ảnh hưởng của đại dịch Covid 19 đến hoạt động kinh doanh của các NHTM. Trong khi đó, xét theo tình hình chung trên thế giới và tại Việt Nam, đại dịch trong hai năm 2020-2021 đã gây ra những ảnh hưởng tiêu cực nghiêm trọng đến kinh tế, với những hệ quả có thể kéo dài sang các năm tiếp theo. Đây là khoảng trống nghiên cứu thứ hai cần được lấp đầy.

Thứ ba, các nghiên cứu tại Việt Nam vẫn chưa tập trung phân tích ảnh hưởng của loại hình sở hữu ngân hàng đến nợ xấu. Hiện tại, các NHTM ở Việt Nam được phân loại cơ bản thành hai nhóm: có vốn sở hữu Nhà nước và không có vốn sở hữu Nhà nước. Loại hình sở hữu này có thể liên quan trực tiếp đến việc hoạch định chính sách và chiến lược mở rộng dư nợ tín dụng tại các NHTM, từ đó ảnh hưởng đến mức độ nợ xấu. Do đó, khoảng trống nghiên cứu thứ ba này cần được làm rõ.

  • KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Chương 2 đã cung cấp một tổng quan toàn diện về lý thuyết liên quan đến nợ xấu và các chỉ tiêu đo lường của nó. Đồng thời, chương này cũng đã trình bày cơ sở lý luận cho các yếu tố được cho là có ảnh hưởng đến nợ xấu. Tiếp theo, chương đã tiến hành lược khảo các nghiên cứu trong nước và quốc tế có liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các NHTM. Mục đích của việc này là để xác định những khoảng trống nghiên cứu còn tồn tại trong tài liệu khoa học hiện hành. Trên nền tảng của cơ sở lý thuyết vững chắc và các nghiên cứu trước đây, chương này đã đưa ra nhận định về những yếu tố tiềm năng có thể ảnh hưởng đến nợ xấu. Những nhận định này đóng vai trò là nền tảng quan trọng để đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu chi tiết sẽ được trình bày trong chương tiếp theo. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của Ngân hàng niêm yết.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến nợ xấu của Ngân hàng niêm yết

One thought on “Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của Ngân hàng niêm yết

  1. Pingback: Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến nợ xấu của Ngân hàng niêm yết

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *