Luận văn: Tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp ngành thép

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp ngành thép hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Tác động của các yếu tố thanh khoản đến tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp ngành thép niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Tên đề tài: Tác động của các yếu tố thanh khoản đến tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp ngành thép niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Nội dung chính: Luận văn này tập trung nghiên cứu các yếu tố thanh khoản ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) của các doanh nghiệp ngành thép đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2012 –2023. Ngành thép, với vai trò trọng yếu trong nền kinh tế nhưng đồng thời phải đối mặt với nhiều thách thức từ biến động giá cả toàn cầu, cạnh tranh gay gắt và sự phụ thuộc vào thị trường bất động sản, đòi hỏi một sự hiểu biết sâu sắc về các yếu tố nội tại và bên ngoài tác động đến hiệu quả tài chính của nó. Mục tiêu chính của nghiên cứu là xác định mức độ và chiều tác động của các biến số thanh khoản (tỷ số thanh toán hiện hành – QR, tỷ số thanh toán tiền mặt – CA, tỷ số thanh toán ngắn hạn –CR), quy mô doanh nghiệp (SIZE), và tốc độ tăng trưởng doanh thu (GROW) lên ROE.

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng thông qua phân tích hồi quy bảng để kiểm định các giả thuyết đã đặt ra. Dữ liệu được thu thập từ các báo cáo tài chính đã kiểm toán của các doanh nghiệp ngành thép niêm yết trên TTCK Việt Nam, đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy của kết quả. Mô hình hồi quy được thiết lập đã chứng minh khả năng giải thích đáng kể, với 55,47% sự biến động của tỷ suất sinh lời được giải thích bởi các biến độc lập trong mô hình, khẳng định tính phù hợp và ý nghĩa của các yếu tố được lựa chọn. Trong đó, các biến số độc lập là tỷ số thanh toán ngắn hạn tác động tiêu cực đến tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp ngành thép niêm yết tại TTCK Việt Nam giai đoạn 2012 – 2023, nhưng tỷ số thanh toán tiền mặt lại tác động tích cực. Ngoài ra, hai biến số kiểm soát quy mô doanh nghiệp và tốc độ tăng trưởng doanh nghiệp tác động tích cực đến tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp ngành thép niêm yết tại TTCK Việt Nam giai đoạn 2012 – 2023.

Từ khóa: Thanh khoản, tỷ suất sinh lời, tỷ số thanh toán, quy mô, doanh thu.

ABSTRACT

Title: The Impact of Liquidity Factors on the Profitability of Steel Enterprises Listed on the Vietnamese Stock Market

Content: This thesis focuses on researching the liquidity factors affecting the return on equity (ROE) of steel enterprises currently listed on the Vietnamese stock market during the period 2012 – 2023. The steel industry, while playing a crucial role in the economy, simultaneously faces numerous challenges from global price fluctuations, fierce competition, and dependence on the real estate market. This necessitates a deep understanding of internal and external factors impacting its financial performance. The main objective of the study is to determine the degree and direction of impact of liquidity variables (current ratio – QR, cash ratio – CA, quick ratio – CR), firm size (SIZE), and revenue growth rate (GROW) on ROE.

The study employs a quantitative methodology through panel regression analysis to test the formulated hypotheses. Data was collected from the audited financial statements of steel enterprises listed on the Vietnamese Stock Market, ensuring the objectivity and reliability of the results. The established regression model demonstrated significant explanatory power, with 55.47% of the variability in profitability explained by the independent variables in the model, affirming the suitability and significance of the selected factors. Specifically, the current ratio had a negative impact on the profitability of steel enterprises listed on the Vietnamese Stock Market during 2012 – 2023, while the cash ratio had a positive impact. Additionally, the two control variables, firm size and firm growth rate, positively impacted the profitability of steel enterprises listed on the Vietnamese Stock Market during 2012 – 2023. Luận văn: Tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp ngành thép.

Keywords: Liquidity, profitability, solvency ratio, size, revenue.

Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu

1.1. Lý do chọn đề tài

Ngành thép là một trong những ngành đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế, nhất là đối với mảng bất động sản, tuy nhiên những năm gần đây ngành gặp nhiều hạn chế như giá thành trong nước phụ thuộc vào giá phôi thép thế giới hoặc như còn hạn chế về vốn đầu tư, chưa tận dụng được lợi thế địa lý của Việt Nam, bên cạnh đó là tình trạng thiếu hụt container rỗng đã đẩy chi phí tăng cao, tác động đến giá nguyên vật liệu trong nước tăng. Một thực tế là ngành thép chịu phụ thuộc rất lớn từ thị trường bất động sản, việc thị trường bất động sản chưa có dấu hiệu hồi phục đã làm chậm tiến độ tiêu thụ, dẫn đến nhiều doanh nghiệp tồn kho lớn nhưng khả năng tiêu thụ giảm sút, tác động đến kết quả kinh doanh của ngành, bên cạnh đó là việc bán phá giá đối với sản phẩm thép mạ từ Trung Quốc và Hàn quốc. Những nỗ lực của nhà nước như ban hành các sửa đổi bổ sung Luật vừa được thông qua mới đây đã góp phần hỗ trợ tháo gỡ vướng mắc pháp lý cho thị trường bất động sản, đặc biệt là các vướng mắc trong công tác định giá tài sản, đền bù và giải phóng mặt bằng. Qua đó, giúp các doanh nghiệp và chủ đầu tư trong việc đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án, mang lại nguồn cung cho thị trường và sắp tới dự kiến là các biện pháp để phòng vệ thương mại. Điều này là tín hiệu tốt hỗ trợ các doanh nghiệp có liên quan trong việc duy trì ổn định giá cả, cung cấp nguyên liệu cho sản xuất và đảm bảo ngành thép phát triển bền vững, ứng phó với những tác động bất lợi từ thị trường. Tuy nhiên, nhìn chung việc tác động giá và các lợi ích từ bảo hộ, áp thuế phòng vệ thương mại chỉ là phương án trong ngắn hạn. Trong thời gian tới, việc đưa ra giải pháp nhằm ổn định thị trường, giải quyết bài toán cung cầu của ngành là một bài toán đòi hỏi các doanh nghiệp phải xem xét, tính toán thận trọng.

Như vậy, đối với các doanh nghiệp thép trong nước, điều này vừa là cơ hội, vừa là thách thức do đó bài toán hiện tại của các nhà quản trị doanh nghiệp thép là nên sử dụng nguồn vốn nào để tài trợ cho phương án kinh doanh nhằm mang lại kết quả tối ưu nhất. Các nghiên cứu chỉ ra nếu doanh nghiệp tận dụng hiệu quả khả năng thanh khoản của mình thì sẽ mang lại những tác động tích cực trong việc tăng lợi nhuận. Luận văn: Tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp ngành thép.

Việc doanh nghiệp định kỳ rà soát khả năng thanh toán của mình sẽ giúp các nhà quản trị nhìn rõ thực trạng của doanh nghiệp từ đó đưa ra các phương án ứng phó rủi ro có thể xảy ra như trường hợp giá hàng hoá đang có nhiều biến động như hiện nay có thể tác động làm giảm giá trị hàng tồn kho của doanh nghiệp, tăng chi phí lưu kho, sử dụng nhiều biện pháp để bảo quản hàng hoá nhưng vẫn đứng trước rủi ro hàng không bán được ra thị trường hay ngược lại nếu khả năng thanh toán quá thấp thì điều này cho thấy dòng tiền của doanh nghiệp đang bị giảm sút, tác động làm tăng chi phí đi vay và trầm trọng hơn nữa đây cũng là một dấu hiểu để cảnh báo tình hình tài chính đang gặp khó khăn của doanh nghiệp, có khả năng dẫn đến việc mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn và dẫn đến phá sản.

Có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới về vấn đề này đối với ngành thép bởi vì nếu một doanh nghiệp không có tài sản lưu động thì doanh nghiệp đó không thể đáp ứng được các nghĩa vụ của mình. Vì vậy, đây là điều quan trọng đối với ngành thép cũng như mọi tổ chức. Tuy nhiên một số doanh nghiệp ngành thép tại Việt Nam đã và đang gặp khó khăn trong việc phân tích và quản lí khả năng thanh toán một cách trầm trọng dẫn đến những sự thất bại trong kinh doanh. Nhận thấy được sự tác động cũng như tầm quan trọng của việc quản lý khả năng thanh toán đến quá trình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngành thép là không hề nhỏ vì vậy tác giả lựa chọn đề tài “Tác động của các yếu tố thanh khoản đến tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp ngành thép niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” để thực hiện nghiên cứu.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1. Mục tiêu tổng quát

Luận văn được thực hiện nhằm xác định và đo lường sự tác động của các yếu tố thanh khoản đến TSSL của các doanh nghiệp ngành thép niêm yết trên TTCK Việt Nam. Từ đó, đề xuất các hàm ý chính sách cho các doanh nghiệp ngành thép niêm yết tại TTCK Việt Nam gia tăng TSSL thông qua các yếu tố thanh khoản tác động đến nó.

1.2.2. Mục tiêu cụ thể

  • Một là xác định sự tác động của các yếu tố thanh khoản đến TSSL của các doanh nghiệp ngành thép niêm yết trên TTCK Việt Nam.
  • Hai là đo lường mức độ tác động của các yếu tố thanh khoản đến TSSL của các doanh nghiệp ngành thép niêm yết trên TTCK Việt Nam.
  • Ba là đề xuất các hàm ý chính sách cho các doanh nghiệp ngành thép niêm yết tại TTCK Việt Nam nhằm gia tăng TSSL thông qua các yếu tố thanh khoản tác động đến nó trong tương lai.

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

  • Thứ nhất, các yếu tố thanh khoản tác động đến TSSL của các doanh nghiệp ngành thép niêm yết trên TTCK Việt Nam như thế nào ?
  • Thứ hai, mức độ tác động của các yếu tố thanh khoản đến TSSL của các doanh nghiệp ngành thép niêm yết trên TTCK Việt Nam như thế nào ?
  • Thứ ba, các hàm ý chính sách nào được đề xuất cho các doanh nghiệp ngành thép niêm yết tại TTCK Việt Nam nhằm gia tăng TSSL thông qua các yếu tố thanh khoản tác động đến nó trong tương lai ?

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Luận văn: Tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp ngành thép.

Đối tượng nghiên cứu: Tác động của các yếu tố thanh khoản đến TSSL của các doanh nghiệp ngành thép niêm yết trên TTCK Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu:

Không gian nghiên cứu: Luận văn tiến hành nghiên cứu trên phạm vi của 24 doanh nghiệp ngành thép niêm yết tại các sàn TTCK Việt Nam gồm HOSE, HNX và UPCOM (Phụ lục 1). Số lượng doanh nghiệp này có tổng tài sản và thị phần chiếm trên 90% của ngành thép và các số liệu của các doanh nghiệp được niêm yết đầy đủ qua các năm từ 2012 – 2023

Thời gian nghiên cứu: Dữ liệu thứ cấp của nghiên cứu được thu thập từ năm 2012 –2023. Trong giai đoạn này thì kinh tế Việt Nam có những sự biến động như lạm phát tăng cao trong 2012 – 2013, suy thoái kinh tế năm 2018 – 2019 và đại dịch Covid 19 năm 2020 – 2021. Nên hiệu quả TSSL của các doanh nghiệp ngành thép phẩm niêm yết TTCK Việt Nam cũng sẽ có những biến động.

1.5. Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành được các mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu thì luận văn sẽ kết hợp hai phương pháp chính đó là định tính và định lượng. Trong đó, nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua lược khảo các nghiên cứu liên quan nhằm xác định các khoảng trống nghiên cứu để đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu. Ngoài ra, đánh giá sự thay đổi đang có xu hướng tăng trưởng hay suy giảm như thế nào về TSSL của các doanh nghiệp ngành thép niêm yết tại TTCK Việt Nam giai đoạn 2012 – 2023 đại diện bởi tỷ số ROE. Luận văn: Tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp ngành thép.

Tuy nhiên, phương pháp nghiên cứu định lượng vẫn là phương pháp chính của luận văn này nhằm xác định và đo lường sự tác động của các yếu tố thanh khoản đến TSSL của các doanh nghiệp ngành thép niêm yết tại TTCK Việt Nam. Trong đó phương pháp này được tiến hành với việc thu thập dữ liệu và thiết kế dưới dạng bảng, thông qua hồi quy đa biến với các mô hình Pooled OLS, FEM, REM và FGLS để kết luận và thảo luận kết quả nghiên cứu. Từ đó, tạo cơ sở để đề xuất các hàm ý cho các doanh nghiệp ngành thép niêm yết tại TTCK Việt Nam nhằm gia tăng TSSL trong tương lai thông qua các yếu tố thanh khoản.

1.6. Đóng góp của luận văn

Về mặt lý luận: Tại Việt Nam chủ yếu các bài nghiên cứu chỉ phân tích tổng quát, ít đi sâu xem xét tác động của các yếu tố thanh khoản đến TSSL của các doanh nghiệp ngành thép. Vì vậy thông qua kết quả của nghiên cứu này sẽ giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp có thêm góc nhìn để đưa ra quyết định và bên cạnh đó kết quả nghiên cứu cũng hỗ trợ doanh nghiệp tối đa hoá lợi nhuận, tăng khả năng cạnh tranh. Ngoài việc kế thừa từ các nghiên cứu trong và ngoài nước trước, nghiên cứu này đi vào cụ thể những tác động giữa các yếu tố thanh khoản và TSSL đối với các doanh nghiệp thép được niêm yết trên TTCK Việt Nam.

Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thêm cho các thông tin nhà tham khảo như sau: Thứ nhất là tìm ra tác động của các yếu tố thanh khoản đến tỷ suất sinh lời của doanh nghiệp ngành thép, thứ hai là xác định xu hướng tác động của các yếu tố này để đưa ra các đánh giá, khuyến nghị phù hợp và sử dụng các kết quả nghiên cứu từ bài nghiên cứu này để có thể mở rộng nghiên cứu.

1.7. Kết cấu của luận văn

Để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu thì luận văn này có cấu trúc được thiết kế trong 5 chương, bao gồm:

  • Chương 1: Giới thiệu đề tài

Nội dung chính của chương này tập trung vào trình bày lý do lựa chọn đề tài. Từ đó, xác định các mục tiêu, câu hỏi và đối tượng nghiên cứu. Đồng thời, trình bày tổng quát về phương pháp nghiên cứu và các đóng góp chính của luận văn về mặt lý luận cũng như thực tiễn của nó. Cuối cùng trình bày kết cấu và nội dung dự kiến của mỗi chương cần được hoàn thành.

  • Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các công trình nghiên cứu trước

Nội dung chính của chương là tóm tắt, luận giải các lý thuyết nền tảng liên quan đến đối tượng nghiên cứu. Tóm lược các công trình để đề xuất mô hình và giả thuyết phù hợp với các doanh nghiệp ngành thép niêm yết tại TTCK Việt Nam giai đoạn 2012 – 2023. Luận văn: Tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp ngành thép.

  • Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Nội dung chính của chương này là lập luận về lựa chọn mô hình và giả thuyết nghiên cứu. Ngoài ra, thiết kế quy trình và phương pháp nghiên cứu bao gồm cách thức lẫy mẫu, thu thập số liệu và xử lý số liệu liên quan.

  • Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Nội dung chính của chương này là tập trung vào việc trình bày kết quả xử lý số liệu từ các doanh nghiệp ngành thép niêm yết tại TTCK Việt Nam giai đoạn 2012 – 2023. Thông qua, thống kê mô tả mẫu nghiên cứu, phân tích tương quan, hồi quy đa biến và kiểm định từ mô hình hồi quy được chọn. Từ kết quả khắc phục các hiện tượng sẽ tiến hành kết luận giả thuyết nghiên cứu và thảo luận kết quả này.

  • Chương 5: Kết luận và hàm ý

Nội dung chính của chương này là kết luận các kết quả đạt được của nghiên cứu. Từ kết quả hồi quy tiến hành đề xuất các hàm ý quản trị nhằm giúp cho các doanh nghiệp ngành thép niêm yết tại TTCK Việt Nam gia tăng TSSL thông qua các yếu tố thanh khoản trong tương lai.

  • TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Chương này tập trung vào trình bày lý do lựa chọn đề tài thông qua đánh giá tình hình chung về vấn đề kinh doanh của các doanh nghiệp ngành thép niêm yết tại TTCK Việt Nam liên quan đến các yếu tố thanh khoản và TSSL, tình hình các nghiên cứu liên quan về các yếu tố thanh khoản tác động đến TSSL. Từ đó, xác định các mục tiêu, câu hỏi và đối tượng nghiên cứu. Đồng thời, trình bày tổng quát về phương pháp nghiên cứu và các đóng góp chính của luận văn về mặt lý luận cũng như thực tiễn của nó. Cuối cùng trình bày kết cấu và nội dung dự kiến của mỗi chương cần được hoàn thành.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các công trình nghiên cứu trước

2.1. Thanh khoản tại các doanh nghiệp

2.1.1. Khái niệm về tính thanh khoản

Theo O’Hara (1995) thì thanh khoản thị trường của tài sản tại doanh nghiệp là mức độ dễ dàng mà các tài sản cụ thể của doanh nghiệp có thể được mua hoặc bán trên thị trường mà không tác động đáng kể đến giá thị trường của chúng, bao gồm các khía cạnh về chiều rộng, chiều sâu và tính đàn hồi của thị trường. Gorton và Metrick (2012) thì lại cho rằng thanh khoản tài trợ tại doanh nghiệp là khả năng huy động vốn từ các nguồn bên ngoài, bao gồm thị trường nợ và thị trường vốn chủ sở hữu, phản ánh sự sẵn có và chi phí của các kênh tài trợ mà doanh nghiệp có thể tiếp cận khi cần tiền mặt.

Wild, Subramanyam và Halsey (2017) lập luận rằng thanh khoản dòng tiền hoạt động tại doanh nghiệp là khả năng tạo ra đủ dòng tiền từ các hoạt động kinh doanh cốt lõi để chi trả cho các khoản chi phí hoạt động và nghĩa vụ ngắn hạn, phản ánh năng lực tự thân của doanh nghiệp trong việc duy trì hoạt động mà không phụ thuộc vào việc bán tài sản hay vay nợ thêm. Theo Gitman và Zutter (2018) thì thanh khoản bảng cân đối kế toán tại doanh nghiệp là việc đánh giá cấu trúc tài sản và nợ, đặc biệt là tỷ lệ giữa tài sản lưu động và nợ ngắn hạn, thường được đo lường thông qua các tỷ số tài chính truyền thống như tỷ số thanh toán hiện hành (Current Ratio) và tỷ số thanh toán nhanh (Quick Ratio).

Brigham và Houston (2019) cho rằng tính thanh khoản tại doanh nghiệp là khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền mặt một cách nhanh chóng mà không gây ra tổn thất đáng kể về giá trị. Đây là yếu tố then chốt cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, đảm bảo năng lực đáp ứng các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn.

Tóm lại, tại luận văn này thì tính thanh khoản được hiểu là sự phản ánh khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền mặt hoặc các tài sản tương đương tiền mặt một cách nhanh chóng mà không làm giảm đáng kể giá trị. Khái niệm này không chỉ đơn thuần là việc có tiền mặt mà còn bao hàm năng lực của doanh nghiệp trong việc đáp ứng các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn (Brigham và Houston, 2019).

2.1.2. Vai trò của tính thanh khoản đối với doanh nghiệp Luận văn: Tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp ngành thép.

Tính thanh khoản đóng vai trò tối quan trọng đối với sự ổn định, khả năng hoạt động liên tục và tiềm năng phát triển của một doanh nghiệp. Vai trò này được thể hiện rõ nét qua nhiều khía cạnh khác nhau, từ việc duy trì hoạt động hàng ngày đến khả năng ứng phó với các cú sốc tài chính.

2.1.2.1. Đảm bảo khả năng thanh toán và hoạt động liên tục

Vai trò cơ bản nhất của tính thanh khoản là đảm bảo doanh nghiệp có đủ tiền mặt hoặc các tài sản dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn. Điều này bao gồm việc thanh toán lương nhân viên, chi trả cho nhà cung cấp, nộp thuế, và trả các khoản nợ đến hạn. Thiếu hụt thanh khoản có thể dẫn đến việc chậm trễ thanh toán, gây tổn hại đến uy tín và mối quan hệ với các đối tác, thậm chí dẫn đến nguy cơ phá sản dù doanh nghiệp vẫn có lợi nhuận trên giấy tờ (Brigham và Houston, 2019). Duy trì thanh khoản tốt giúp đảm bảo hoạt động sản xuất, kinh doanh diễn ra suôn sẻ, không bị gián đoạn.

2.1.2.2. Tăng cường khả năng chống chịu và ứng phó rủi ro

Tính thanh khoản cao giúp doanh nghiệp tăng cường khả năng chống chịu trước các biến động bất ngờ của thị trường và các rủi ro tài chính. Trong bối cảnh kinh tế vĩ mô không ổn định, các cú sốc như suy thoái kinh tế, khủng hoảng tín dụng, hay sự thay đổi đột ngột về chính sách có thể làm giảm doanh thu hoặc tăng chi phí một cách nhanh chóng. Một vị thế thanh khoản mạnh mẽ cho phép doanh nghiệp vượt qua giai đoạn khó khăn mà không cần phải thanh lý tài sản dài hạn dưới giá trị hoặc vay nợ khẩn cấp với lãi suất cao (Gorton và Metrick, 2012). Nó giống như một “tấm đệm” tài chính, giúp hấp thụ các cú sốc và duy trì sự linh hoạt.

2.1.2.3. Nâng cao uy tín và khả năng tiếp cận nguồn vốn

Doanh nghiệp có tính thanh khoản tốt thường được đánh giá là có độ tin cậy tài chính cao hơn. Điều này không chỉ củng cố niềm tin từ nhà đầu tư, khách hàng, và nhà cung cấp mà còn cải thiện đáng kể khả năng tiếp cận các nguồn vốn bên ngoài. Các tổ chức tín dụng và nhà đầu tư luôn ưu tiên những doanh nghiệp có dòng tiền ổn định và khả năng thanh toán rõ ràng, dẫn đến việc doanh nghiệp có thể vay vốn với lãi suất ưu đãi hơn hoặc huy động vốn dễ dàng hơn trên thị trường chứng khoán (Gitman và Zutter, 2018). Uy tín được xây dựng từ thanh khoản tốt tạo ra một vòng tròn tích cực: dễ tiếp cận vốn hơn, chi phí vốn thấp hơn, từ đó cải thiện hiệu quả tài chính. Luận văn: Tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp ngành thép.

2.1.2.4. Tạo cơ hội đầu tư và tăng trưởng

Thanh khoản không chỉ là khả năng tồn tại mà còn là nền tảng để nắm bắt các cơ hội kinh doanh. Khi có sẵn tiền mặt hoặc tài sản dễ dàng chuyển đổi, doanh nghiệp có thể nhanh chóng đầu tư vào các dự án mới, mua sắm tài sản cố định cần thiết, hoặc tận dụng các cơ hội mua sắm hàng hóa/nguyên vật liệu giá rẻ khi thị trường có biến động. Điều này giúp doanh nghiệp linh hoạt hơn trong chiến lược kinh doanh, từ đó thúc đẩy tăng trưởng và mở rộng quy mô hoạt động (Wild và cộng sự, 2017).

2.1.3. Các yếu tố phản ánh tính thanh khoản tại doanh nghiệp

2.1.3.1. Tỷ số thanh toán ngắn hạn

Tỷ số khả năng thanh toán ngắn hạn (Current Ratio – CR) là một chỉ số tài chính được sử dụng phổ biến để đo lường năng lực của doanh nghiệp trong việc đáp ứng các nghĩa vụ nợ ngắn hạn bằng tài sản lưu động hiện có. Chỉ số này phản ánh mức độ mà tài sản ngắn hạn hiện tại của doanh nghiệp có thể đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn (Gitman và Zutter, 2018). Wild và cộng sự (2017) cho rằng một tỷ số CR cao thường cho thấy khả năng trả nợ ngắn hạn của doanh nghiệp là lớn, hàm ý một vị thế thanh khoản mạnh mẽ. Ngược lại, nếu tỷ số này nhỏ hơn 1 (tức tài sản ngắn hạn ít hơn nợ ngắn hạn), điều này cảnh báo nguy cơ doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc hoàn thành các nghĩa vụ nợ khi đến hạn. Thông qua hệ số này, các nhà quản trị có thể có cái nhìn bao quát về một chu kỳ hoạt động của doanh nghiệp, đánh giá tổng quan về khả năng chuyển đổi sản phẩm thành tiền, năng lực và thời gian thu hồi công nợ, cũng như tình hình sử dụng vốn chiếm dụng và vốn vay ngắn hạn của doanh nghiệp. Điều này là then chốt để đảm bảo sự ổn định và liên tục trong hoạt động kinh doanh. Công thức tính như sau:

2.1.3.2. Tỷ số thanh toán nhanh

Tỷ số thanh toán nhanh (Quick Ratio – QR) là một hệ số dự báo thanh khoản mang tính thận trọng hơn so với CR, được thiết kế để đo lường khả năng của doanh nghiệp trong việc thanh toán các nghĩa vụ nợ ngắn hạn chỉ bằng những tài sản có tính thanh khoản cao nhất (Wild và cộng sự, 2017). Khác biệt cốt lõi của QR là việc loại trừ hàng tồn kho ra khỏi tài sản ngắn hạn trong phép tính, do hàng tồn kho thường là khoản mục kém linh hoạt nhất và có thể mất nhiều thời gian để chuyển đổi thành tiền mặt, đặc biệt trong các tình huống khẩn cấp hoặc thị trường bất lợi. Về bản chất, chỉ số này cung cấp cho các nhà quản trị cái nhìn sâu sắc về năng lực thanh toán tức thời của doanh nghiệp, cho phép họ nhận định mức độ tiền mặt và các khoản tương đương tiền có thể trang trải nợ ngắn hạn ngay lập tức mà không cần phải dựa vào việc bán hàng tồn kho. Công thức tính như sau:

2.1.3.3. Tỷ số thanh toán tiền mặt Luận văn: Tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp ngành thép.

Theo Brigham và Houston (2019) thì tỷ số thanh toán tiền mặt (Cash Ratio –CA) là thước đo nghiêm ngặt nhất về tính thanh khoản, phản ánh tỷ lệ trực tiếp giữa tổng tiền mặt và các khoản tương đương tiền (bao gồm cả các chứng khoán có tính thanh khoản cực cao) so với tổng nợ phải trả ngắn hạn của doanh nghiệp. Chỉ số này đánh giá khả năng tuyệt đối của doanh nghiệp trong việc thanh toán các nghĩa vụ ngắn hạn mà không cần phải thực hiện bất kỳ hoạt động chuyển đổi tài sản nào khác. CA cho thấy một doanh nghiệp có thể chi trả tất cả các khoản nợ hiện tại ngay lập tức, chỉ dựa vào những nguồn lực tiền mặt sẵn có. Cần lưu ý rằng tỷ số này có thể biến động đáng kể giữa các ngành (Wild và cộng sự, 2017), đặc biệt là giữa các ngành có vòng quay hàng tồn kho nhanh hoặc các ngành phụ thuộc nhiều vào nợ ngắn hạn. Một tỷ số CA bằng hoặc lớn hơn 1 thường được xem là dấu hiệu của khả năng thanh toán xuất sắc, trong khi một tỷ số dưới 0,5 có thể chỉ ra một tình trạng thanh khoản tiền mặt đầy rủi ro, khi nợ ngắn hạn vượt trội so với lượng tiền mặt và các khoản tương đương tiền. Công thức tính như sau:

2.2. Tỷ suất sinh lời tại doanh nghiệp Luận văn: Tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp ngành thép.

2.2.1. Khái niệm tỷ suất sinh lời tại doanh nghiệp

Theo Farrell (1957), việc đánh giá hiệu quả kinh doanh cần dựa trên các chỉ tiêu tương đối, bởi chúng cho phép so sánh thuận tiện giữa các đơn vị kinh doanh khác nhau. TSSL chính là những chỉ tiêu tương đối này, được xây dựng dựa trên các tỷ số kết hợp giữa yếu tố đầu vào và đầu ra của đơn vị kinh doanh. Phương pháp này giúp phân tích một cách có hệ thống về lượng lợi nhuận thu được trên mỗi đơn vị nguồn lực bỏ ra, từ đó tối ưu hóa việc sử dụng các yếu tố đầu vào và tạo ra sản phẩm đầu ra chất lượng, mang lại lợi ích cao nhất cho doanh nghiệp.

Khi tiếp cận doanh nghiệp như một đơn vị sản xuất hay cung cấp dịch vụ, Benston (1965) đã chỉ ra rằng các yếu tố đầu vào bao gồm tài sản vật lý như lao động, không gian, vật liệu và hệ thống thông tin, cùng với các chi phí liên quan. Các sản phẩm đầu ra là dịch vụ hoặc sản phẩm cung cấp cho khách hàng. Từ góc độ này, TSSL đo lường mức độ hiệu quả mà các doanh nghiệp chuyển đổi những yếu tố đầu vào này thành các đầu ra có giá trị kinh tế và khả năng sinh lời.

TSSL là một phạm trù kinh tế cốt lõi, phản ánh khả năng của doanh nghiệp trong việc tạo ra lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh và các nguồn lực đã đầu tư. Nó thể hiện mối quan hệ định lượng giữa kết quả kinh doanh đạt được (lợi nhuận) và các yếu tố đầu vào (chi phí, tài sản, vốn) đã sử dụng để tạo ra kết quả đó (Nguyễn Tấn Bình, 2022). Về bản chất, TSSL chính là thước đo hiệu quả tài chính tối cao, cho biết mức độ thành công của doanh nghiệp trong việc chuyển hóa hoạt động thành lợi nhuận.

Ngô Thế Chi và Nguyễn Trọng Cơ (2022) đã khẳng định TSSL chính là biểu hiện tập trung và cao nhất của hiệu quả hoạt động kinh doanh. Họ lập luận rằng, khả năng sinh lời chỉ có thể có được khi doanh nghiệp hoạt động tốt, thể hiện qua việc quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Do đó, việc phân tích TSSL là trọng tâm để đánh giá khả năng sinh lời được tạo ra từ các nguồn lực trong HĐKD của doanh nghiệp, xác định liệu tổ chức có kinh doanh hiệu quả và bền vững về mặt tài chính hay không.

Tóm lại, trong luận văn này thì TSSL tại doanh nghiệp được hiểu là các chỉ số định lượng phản ánh khả năng của doanh nghiệp trong việc sử dụng tối ưu các yếu tố đầu vào (như lao động, cơ sở vật chất, vốn và các nguồn lực khác) để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ có giá trị, qua đó sinh ra lợi nhuận. Nói cách khác, TSSL hình thành khi các doanh nghiệp có khả năng tối ưu hóa các nguồn lực của mình để hoạt động kinh doanh tạo ra lợi nhuận tương xứng với quy mô hoặc xây dựng được năng lực cạnh tranh vượt trội so với các đối thủ trong ngành.

2.2.2. Các phương pháp đo lường tỷ suất sinh lời trong hoạt động kinh doanh tại doanh nghiệp Luận văn: Tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp ngành thép.

2.2.2.1. Đo lường biên lợi nhuận

Phương pháp đo lường biên lợi nhuận tập trung vào việc phân tích mức độ lợi nhuận thu được từ mỗi đồng doanh thu, thể hiện khả năng kiểm soát chi phí và hiệu quả trong từng khâu hoạt động. Theo Berger và DeYoung (1997), phương pháp này cho phép doanh nghiệp đánh giá sự thay đổi của lợi nhuận khi có một đơn vị đầu vào thay đổi. Mặc dù yêu cầu sự nghiêm ngặt trong thu thập dữ liệu và mô hình hóa dưới dạng hàm số, biên lợi nhuận vẫn là một chỉ số quan trọng để đánh giá hiệu suất chuyển đổi doanh thu thành lợi nhuận.

Biên lợi nhuận gộp: Tỷ số này phản ánh khả năng của doanh nghiệp tạo ra lợi nhuận trực tiếp từ sản phẩm hoặc dịch vụ sau khi trừ giá vốn hàng bán. Được tính bằng cách lấy lợi nhuận gộp chia cho doanh thu thuần (tính theo tỷ lệ phần trăm), biên lợi nhuận gộp là chỉ báo quan trọng về hiệu quả của quá trình sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ cơ bản.

Biên lợi nhuận hoạt động: Chỉ số này thể hiện mỗi 100 đồng doanh thu thuần sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế, sau khi đã trừ đi tất cả các chi phí hoạt động liên quan đến kinh doanh. Biên lợi nhuận hoạt động cho phép đánh giá rõ hơn hiệu quả quản lý chi phí và hoạt động kinh doanh tổng thể của doanh nghiệp, không bao gồm các yếu tố tài chính hoặc thuế.

Biên lợi nhuận ròng: Đây là chỉ số toàn diện nhất, cho biết mỗi 100 đồng doanh thu sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Biên lợi nhuận ròng phản ánh khả năng của doanh nghiệp để tạo ra lợi nhuận cuối cùng sau khi trừ tất cả các loại chi phí (giá vốn, chi phí hoạt động, chi phí tài chính, thuế). Chỉ số này đặc biệt quan trọng đối với các chủ doanh nghiệp và nhà đầu tư, vì nó trực tiếp thể hiện thu nhập ròng hoặc tiềm năng cổ tức.

2.2.2.2. Đo lường tỷ suất sinh lời Luận văn: Tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp ngành thép.

Ngoài các biên lợi nhuận, các tỷ suất sinh lời đo lường hiệu quả sử dụng vốn và tài sản cũng là công cụ then chốt. Theo Trần Ngọc Thơ (2018), các tỷ suất như ROA, ROE, và NIM (đối với ngành tài chính) được sử dụng để đánh giá lợi nhuận ròng được tạo ra từ các nguồn lực của doanh nghiệp, bao gồm tổng tài sản hoặc vốn chủ sở hữu. Các chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả của việc mỗi đồng tài sản hay mỗi đồng vốn chủ sở hữu đã tạo ra bao nhiêu lợi nhuận. Chúng thường được tính toán và báo cáo định kỳ để theo dõi sự tăng trưởng và hiệu quả HĐKD.

Tóm lại, trong hai nhóm phương pháp trên, các phương pháp đo lường biên lợi nhuận tuy cung cấp cái nhìn chi tiết về hiệu quả từng khâu, nhưng đôi khi phức tạp trong việc thiết lập mô hình hàm số liên quan đến đầu vào và đầu ra. Ngược lại, phương pháp tỷ suất sinh lời dựa trên các số liệu có sẵn từ báo cáo tài chính của doanh nghiệp, giúp việc thu thập và phân tích trở nên thuận tiện hơn. Do đó, luận văn này sẽ kế thừa và tập trung sử dụng phương pháp tỷ suất sinh lời dựa trên các báo cáo tài chính để đại diện cho hiệu quả HĐKD của các doanh nghiệp tại Việt Nam.

2.2.3. Các hệ số đo lường tỷ suất sinh lời tại doanh nghiệp

Các TSSL là chỉ số cốt yếu về sức khỏe tài chính và khả năng sinh lời của doanh nghiệp (Lesakova, 2007). Các tỷ suất này cho phép đánh giá hiệu quả việc sử dụng các nguồn lực khác nhau để tạo ra lợi nhuận. Ngô Thế Chi và Nguyễn Trọng Cơ (2022) đã làm rõ vai trò của tỷ suất lợi nhuận ròng trên tài sản bình quân (ROA) như một công cụ đo lường khả năng sinh lời tổng thể của doanh nghiệp. ROA đặc biệt hữu ích trong việc đánh giá mức độ hiệu quả của toàn bộ quá trình tổ chức và quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh. Cụ thể hơn, chỉ tiêu này định lượng rằng bình quân cứ mỗi đồng tài sản được doanh nghiệp sử dụng sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Bên cạnh đó, tỷ suất lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu bình quân (ROE) cũng được Ngô Thế Chi và Nguyễn Trọng Cơ (2022) nhấn mạnh là một thước đo quan trọng về khả năng sinh lời. ROE phản ánh trực tiếp năng lực sử dụng hiệu quả đồng vốn chủ sở hữu trong quá trình HĐKD để tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp. Việc phân tích chỉ tiêu này giúp các nhà quản lý xác định rõ ràng: khi doanh nghiệp bỏ ra một đồng vốn chủ sở hữu, sẽ thu về bao nhiêu đồng lợi nhuận. Sự hiểu biết này là căn cứ để định hướng mục tiêu kinh doanh, dù là tối đa hóa lợi nhuận hay tối đa hóa quy mô.

Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản bình quân (ROA): Tỷ số này được thiết kế để đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng tài sản. Tỷ số này phản ánh một đồng tài sản bình quân của doanh nghiệp sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Tỷ số này phụ thuộc vào kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp và đặc điểm của ngành. Tỷ số này thường cao đối với các doanh nghiệp hoạt động trong ngành dịch vụ, du lịch, thương mại, …. Trong khi đó, tỷ số này thường thấp đối với các doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp chế tạo, hàng không, đóng tàu, công nghiệp nặng, …. Tỷ số này được xác định bằng cách: Luận văn: Tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp ngành thép.

Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu bình quân (ROE): Tỷ số này đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng vốn cổ phần phổ thông. Tỷ số này cho biết bình quân mỗi đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. ROE phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, quy mô và khẩu vị rủi ro. Tỷ số này phản ánh một cách chính xác khả năng sinh lời từ toàn bộ vốn cổ đông đóng góp, ngoài ra còn bao gồm cả lợi nhuận dành cho các quỹ phát triển kinh doanh, chênh lệch phát hành. Trên thị trường chứng khoán, các nhà đầu tư thường quan tâm đến chỉ số này để đưa ra quyết định hợp lý nhất cho việc tìm ra những cổ phiếu tăng trưởng ổn định. Tỷ số này lớn có nghĩa là doanh nghiệp này sử dụng đồng vốn có hiệu quả, lợi ích dành cho các cổ đông ngày càng nhiều, việc thu hồi vốn khả thi và giá cổ phiếu của doanh nghiệp này trên sàn giao dịch chứng khoán càng cao. Ngược lại, tỷ số này thấp có nghĩa là doanh nghiệp đang sử dụng VCSH không hiệu quả, lợi ích các cổ đông suy giảm và giá của cổ phiếu có thể thấp hơn. Tỷ số này được xác định bằng cách:

Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu (ROS): Tỷ suất suất này phản ánh mức lợi nhuận ròng sau thuế trên doanh thu, cho biết một đồng doanh thu thuần mà doanh nghiệp thực hiện trong kỳ sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Hay nói cách khác, tỷ lệ này càng cao có nghĩa là doanh thu thuần tạo ra được thêm nhiều lợi nhuận ròng.

Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn đầu tư (ROI): Tỷ suất này phản ánh mức độ sinh ra lợi nhuận ròng của tổng vốn đầu tư. Hay tỷ suất này cho biết mức độ hiệu quả của vốn đầu tư tại doanh nghiệp để tạo ra lợi nhuận ròng sau thuế. Do đó, tỷ suất này càng lớn có nghĩa là doanh nghiệp hoạt động càng hiệu quả với vốn đầu tư của mình huy động được.

Tóm lại, tại luận văn này thì tác giả sử dụng ROE để phản ánh cho TSSL của doanh nghiệp, vì chỉ tiêu này phản ánh mức độ sử dụng hiệu quả VCSH để tạo ra lợi nhuận ròng cho doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp hoạt động kinh doanh thì việc sử dụng nợ vay hay VCSH để tạo ra lợi nhuận là rất quan trọng. Thông thường các nguồn vốn từ nợ vay có choi phí rẻ nhưng lại tạo ra áp lực thanh toán gốc lãi cho các doanh nghiệp. VCSH thường được xem là nguồn vốn dài hạn, giúp cho các doanh nghiệp giảm được áp lực đó nhưng chi phí sử dụng nó thường sẽ cao hơn chi phí sử dụng nợ. Vì vậy, tỷ suất ROE phản ánh mức sử dụng hiệu quả nguồn vốn từ các cổ đông của doanh nghiệp để tạo ra lợi nhuận ròng, hơn là các nguồn vay nợ. Hay nói cách khác, chỉ tiêu này phản ánh cho mức lợi ích mà các cổ đông kỳ vọng sẽ nhận được từ lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết.

2.3. Các lý thuyết liên quan đến sự tác động của yếu tố thanh khoản đến tỷ suất sinh lời tại doanh nghiệp Luận văn: Tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp ngành thép.

2.3.1. Lý thuyết đánh đổi

Lý thuyết đánh đổi là một trong những trụ cột giải thích mối quan hệ nghịch đảo tiềm tàng giữa việc duy trì một mức độ thanh khoản cao và khả năng đạt được TSSL tối đa. Theo quan điểm này, việc doanh nghiệp ưu tiên giữ một lượng lớn tài sản có tính thanh khoản cao, như tiền mặt hoặc các khoản đầu tư ngắn hạn có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt, sẽ giúp đảm bảo khả năng thanh toán các nghĩa vụ tài chính tức thời và giảm thiểu đáng kể rủi ro mất khả năng thanh toán. Tuy nhiên, bản chất của các tài sản này là thường mang lại TSSL thấp hoặc thậm chí không sinh lời, đại diện cho một chi phí cơ hội đáng kể. Ngược lại, để gia tăng TSSL, doanh nghiệp thường phải chấp nhận đầu tư vào các tài sản có tính thanh khoản thấp hơn nhưng lại hứa hẹn tiềm năng lợi nhuận cao hơn, chẳng hạn như các dự án đầu tư dài hạn, máy móc thiết bị chuyên dụng hoặc các khoản phải thu kéo dài.

Lý thuyết đánh đổi lập luận rằng, mỗi doanh nghiệp cần phải tìm ra một điểm cân bằng tối ưu trong cơ cấu tài sản của mình, nơi mà rủi ro thiếu hụt thanh khoản được cân đối một cách khéo léo với chi phí cơ hội của việc nắm giữ quá nhiều tài sản kém sinh lời. Điều này đòi hỏi ban lãnh đạo doanh nghiệp phải thường xuyên đánh giá và điều chỉnh mức độ thanh khoản, đảm bảo vừa có đủ dòng tiền để duy trì hoạt động và đáp ứng các cam kết tài chính, vừa không bỏ lỡ các cơ hội đầu tư mang lại lợi nhuận hấp dẫn. Một sự tập trung thái quá vào thanh khoản có thể khiến doanh nghiệp bỏ lỡ các cơ hội mở rộng và phát triển, trong khi việc quá ưu tiên lợi nhuận mà bỏ qua thanh khoản có thể đẩy doanh nghiệp vào tình trạng nguy hiểm khi đối mặt với các cú sốc dòng tiền bất ngờ. Sự cân bằng này là minh chứng cho sự phức tạp của quản trị tài chính hiện đại (Singh và Pandey, 2008).

2.3.2. Lý thuyết trật tự ưu tiên Luận văn: Tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp ngành thép.

Mặc dù trọng tâm ban đầu của lý thuyết trật tự ưu tiên, được phát triển bởi Myers và Majluf (1984), là giải thích cấu trúc vốn của doanh nghiệp, nó cũng có những hàm ý sâu sắc về vai trò của thanh khoản trong việc duy trì và tác động đến TSSL, đặc biệt thông qua cơ chế tài trợ. Lý thuyết này xuất phát từ giả định về sự tồn tại của thông tin bất đối xứng giữa đội ngũ quản lý nội bộ và các nhà đầu tư bên ngoài. Do đó, các doanh nghiệp thường có xu hướng ưu tiên sử dụng nguồn tài chính theo một trật tự nhất định để giảm thiểu chi phí và tín hiệu tiêu cực gửi ra thị trường.

Trật tự ưu tiên cụ thể là: đầu tiên là nguồn vốn nội bộ (bao gồm lợi nhuận giữ lại và dòng tiền từ hoạt động), tiếp theo là nợ vay (thường là nợ có tài sản đảm bảo hoặc các khoản vay có rủi ro thấp), và cuối cùng mới là vốn chủ sở hữu (thông qua việc phát hành cổ phiếu mới ra thị trường). Theo lý thuyết này, các doanh nghiệp có TSSL cao thường có khả năng tạo ra một lượng tiền mặt và lợi nhuận giữ lại dồi dào. Nguồn lực nội bộ này cho phép họ tự tài trợ cho các hoạt động đầu tư, chi phí vận hành và quan trọng hơn là duy trì một vị thế thanh khoản mạnh mẽ mà không cần phải tìm kiếm nguồn tài trợ từ bên ngoài. Việc tự chủ về tài chính giúp doanh nghiệp tránh được các chi phí phát hành chứng khoán và đặc biệt là tránh được những tín hiệu tiêu cực mà việc phát hành cổ phiếu mới có thể gửi tới thị trường (ví dụ: làm giảm giá cổ phiếu hiện tại). Điều này cho thấy rằng, một doanh nghiệp với khả năng sinh lời cao không chỉ có lợi nhuận tốt mà còn có vị thế thanh khoản nội bộ vững chắc, giảm sự phụ thuộc vào các nguồn tài trợ bên ngoài và từ đó có thể tối ưu hóa cơ cấu vốn của mình một cách hiệu quả hơn.

2.3.3. Lý thuyết nguồn lực dựa vào doanh nghiệp

Lý thuyết nguồn lực dựa vào doanh nghiệp (RBV), được phát triển bởi các học giả như Wernerfelt (1984) và Barney (1991), tập trung vào việc giải thích nguồn gốc của lợi thế cạnh tranh bền vững của một doanh nghiệp. Lý thuyết này cho rằng, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp không chỉ đến từ vị trí trên thị trường mà còn từ việc sở hữu và khai thác hiệu quả các nguồn lực và năng lực độc đáo, có giá trị, hiếm có, khó bắt chước và không thể thay thế (thường được gọi là tài sản VRIN/O). Trong bối cảnh này, việc quản lý thanh khoản, vốn dĩ thường được xem là một chức năng tài chính thuần túy, có thể được nâng tầm thành một năng lực cốt lõi và là nguồn gốc quan trọng của lợi thế cạnh tranh, từ đó tác động tích cực đến TSSL.

Trong khuôn khổ của RBV, khả năng quản lý tiền mặt và thanh khoản một cách xuất sắc không chỉ là một nghiệp vụ tài chính mà còn là một nguồn lực chiến lược vô hình. Một doanh nghiệp có năng lực quản lý thanh khoản hiệu quả sẽ có khả năng duy trì đủ tiền mặt để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính một cách linh hoạt, đồng thời sẵn sàng nắm bắt các cơ hội kinh doanh bất ngờ. Năng lực này mang lại nhiều lợi ích cụ thể: doanh nghiệp có thể giảm thiểu chi phí vay vốn nhờ có hồ sơ tín dụng tốt, tận dụng các khoản chiết khấu khi thanh toán sớm cho nhà cung cấp, đầu tư nhanh chóng vào các dự án có tiềm năng sinh lời cao, hoặc thực hiện các thương vụ mua lại chiến lược khi thị trường xuất hiện điều kiện thuận lợi. Hơn nữa, khả năng thanh khoản vững vàng giúp doanh nghiệp chống chịu tốt hơn trước các cú sốc bên ngoài mà không làm gián đoạn chuỗi cung ứng hoặc hoạt động sản xuất kinh doanh cốt lõi. Những lợi ích này trực tiếp góp phần vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động, tối ưu hóa việc sử dụng vốn và cuối cùng là cải thiện đáng kể TSSL của doanh nghiệp về lâu dài. Do đó, quản lý thanh khoản không chỉ là phòng ngừa rủi ro mà còn là một yếu tố then chốt để xây dựng và duy trì lợi thế cạnh tranh bền vững.

2.4 Tác động của các yếu tố thanh khoản đến tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp Luận văn: Tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp ngành thép.

2.4.1. Cân bằng giữa rủi ro thanh khoản và chi phí cơ hội

Lý thuyết đánh đổi cho rằng tác động của thanh khoản đến TSSL thông qua mối quan hệ nghịch biến. Khi một doanh nghiệp duy trì một lượng lớn tài sản có tính thanh khoản cao (ví dụ: tiền mặt dồi dào, chứng khoán thị trường tiền tệ), họ đang ưu tiên khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn một cách linh hoạt, giảm thiểu rủi ro phá sản do mất khả năng thanh toán. Tuy nhiên, bản chất của các tài sản này là mang lại TSSL thấp hoặc thậm chí không sinh lời, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp phải chịu một chi phí cơ hội đáng kể từ việc bỏ lỡ các khoản đầu tư có khả năng sinh lời cao hơn.

Ngược lại, để tối đa hóa TSSL, doanh nghiệp thường phải dịch chuyển cơ cấu tài sản sang các khoản đầu tư có tiềm năng lợi nhuận cao hơn nhưng lại kém thanh khoản hơn, ví dụ như các dự án đầu tư dài hạn, nghiên cứu và phát triển, hay tài sản cố định chuyên biệt. Những tài sản này mặc dù hứa hẹn lợi nhuận lớn trong tương lai, nhưng lại khó chuyển đổi thành tiền mặt một cách nhanh chóng khi cần, từ đó gia tăng rủi ro thiếu hụt thanh khoản và khả năng không thể đáp ứng các nghĩa vụ nợ tức thời. Do đó, tác động của thanh khoản đến TSSL trong khuôn khổ lý thuyết này nằm ở việc các nhà quản trị phải liên tục tìm kiếm một điểm cân bằng tối ưu. Việc giữ quá ít thanh khoản có thể dẫn đến phá sản, làm mất hoàn toàn TSSL tiềm năng, trong khi giữ quá nhiều thanh khoản lại làm giảm TSSL do chi phí cơ hội của việc giữ tài sản kém sinh lời. Sự thành công của doanh nghiệp phụ thuộc vào khả năng đánh giá chính xác rủi ro thanh khoản và cân đối nó với mục tiêu sinh lời, đảm bảo rằng việc duy trì thanh khoản không trở thành gánh nặng làm suy giảm hiệu quả kinh doanh.

2.4.2. Thanh khoản nội bộ và chi phí vốn Luận văn: Tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp ngành thép.

Lý thuyết trật tự ưu tiên của Myers và Majluf (1984) cho rằng tác động của thanh khoản đến TSSL, chủ yếu thông qua cơ chế tài trợ và chi phí vốn. Lý thuyết này giả định rằng do sự bất cân xứng thông tin giữa doanh nghiệp và các nhà đầu tư bên ngoài, doanh nghiệp sẽ ưu tiên sử dụng các nguồn vốn theo một trật tự nhất định: đầu tiên là nguồn vốn nội bộ (lợi nhuận giữ lại, dòng tiền từ hoạt động), sau đó là nợ vay, và cuối cùng mới là vốn chủ sở hữu mới. Theo đó, một doanh nghiệp có TSSL cao sẽ tạo ra một lượng lớn lợi nhuận giữ lại và dòng tiền từ hoạt động. Nguồn vốn nội bộ này không chỉ là một nguồn tài trợ có chi phí thấp nhất (do không phát sinh chi phí phát hành hay chi phí thông tin bất đối xứng) mà còn đóng vai trò là một vị thế thanh khoản nội bộ vững chắc. Khi doanh nghiệp có đủ thanh khoản từ nguồn nội bộ, họ sẽ ít phải phụ thuộc vào các nguồn tài trợ bên ngoài như nợ vay hay phát hành cổ phiếu mới. Điều này trực tiếp tác động tích cực đến TSSL vì:

Giảm chi phí vay vốn: Việc ít phải vay nợ hơn đồng nghĩa với việc giảm bớt gánh nặng chi phí lãi vay, từ đó làm tăng lợi nhuận ròng sau thuế và các TSSL khác.

Tránh chi phí phát hành vốn chủ sở hữu: Phát hành cổ phiếu mới thường tốn kém chi phí (phí bảo lãnh phát hành, phí tư vấn) và có thể gửi tín hiệu tiêu cực đến thị trường, làm giảm giá cổ phiếu hiện tại. Việc có thanh khoản nội bộ dồi dào giúp doanh nghiệp tránh được những chi phí và tác động bất lợi này, bảo vệ TSSL trên vốn chủ sở hữu.

Linh hoạt trong đầu tư: Thanh khoản nội bộ cao cho phép doanh nghiệp nhanh chóng nắm bắt các cơ hội đầu tư sinh lời mà không phải chờ đợi quá trình huy động vốn từ bên ngoài, vốn có thể tốn thời gian và chi phí.

Như vậy, TSSL cao tạo ra thanh khoản nội bộ mạnh mẽ, và thanh khoản mạnh mẽ này lại giúp tối ưu hóa chi phí vốn, từ đó tiếp tục củng cố và nâng cao TSSL của doanh nghiệp. Đây là một mối quan hệ tương hỗ chặt chẽ trong mô hình tài trợ của doanh nghiệp.

2.4.3. Gia tăng tăng lực cốt lõi

Lý thuyết nguồn lực dựa vào doanh nghiệp (RBV) của Wernerfelt (1984) và Barney (1991) cho rằng tác động của thanh khoản đến TSSL là hiển nhiên. RBV lập luận rằng lợi thế cạnh tranh bền vững của một doanh nghiệp bắt nguồn từ việc sở hữu và khai thác các nguồn lực và năng lực độc đáo. Trong bối cảnh này, khả năng quản lý thanh khoản xuất sắc có thể được xem xét như một năng lực cốt lõi (core competence), mang lại lợi thế cạnh tranh và từ đó tác động trực tiếp đến TSSL. Khi một doanh nghiệp phát triển được năng lực quản lý thanh khoản hiệu quả, nó sở hữu một tài sản vô hình có giá trị. Năng lực này cho phép doanh nghiệp duy trì đủ tiền mặt để: Luận văn: Tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp ngành thép.

Giảm thiểu chi phí tài chính: Một hồ sơ thanh khoản mạnh mẽ giúp doanh nghiệp có được xếp hạng tín nhiệm tốt hơn, từ đó dễ dàng tiếp cận các khoản vay với lãi suất ưu đãi hơn. Việc giảm chi phí lãi vay trực tiếp làm tăng lợi nhuận ròng và các TSSL.

Tận dụng chiết khấu và tối ưu hóa chi phí: Doanh nghiệp có thanh khoản dồi dào có thể thanh toán sớm cho nhà cung cấp để nhận các khoản chiết khấu thương mại, từ đó làm giảm giá vốn hàng bán và tăng biên lợi nhuận gộp.

Nắm bắt cơ hội đầu tư: Thanh khoản giúp doanh nghiệp phản ứng nhanh chóng với các cơ hội đầu tư hấp dẫn trên thị trường (ví dụ: mua lại tài sản giá rẻ, đầu tư vào công nghệ mới) mà các đối thủ cạnh tranh thiếu tiền mặt không thể thực hiện. Việc đầu tư kịp thời vào các dự án sinh lời sẽ trực tiếp thúc đẩy TSSL trong tương lai.

Tăng cường khả năng chống chịu: Trong các giai đoạn suy thoái kinh tế hoặc khủng hoảng ngành, các doanh nghiệp có năng lực quản lý thanh khoản vượt trội có thể duy trì hoạt động ổn định hơn, tránh được tình trạng gián đoạn chuỗi cung ứng hay phải bán tháo tài sản, từ đó bảo vệ TSSL và thậm chí gia tăng thị phần khi các đối thủ yếu hơn gặp khó khăn.

Như vậy, từ góc độ RBV, việc xây dựng và duy trì một năng lực quản lý thanh khoản vượt trội không chỉ là một chiến lược phòng ngừa rủi ro mà còn là một động lực mạnh mẽ để nâng cao hiệu quả hoạt động và TSSL bền vững của doanh nghiệp.

Tóm lại, tại luận văn này thì quan điểm về sự tác động của tính thanh khoản và TSSL là tích cực. Các khoản phải thu, vòng quay hàng tồn kho, chu kì chuyển đổi tiền mặt đều có tác động đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong ngành đường theo hướng tích cực, tiêu cực hoặc tác động vừa phải. Vì vậy, khả năng thanh khoản và khả năng sinh lời đều có liên quan với nhau. Một doanh nghiệp nếu có khả năng thanh khoản cao và khả năng sinh lời thấp sẽ không tạo ra đủ nguồn lực để mở rộng sản xuất kinh doanh, mua tài sản, không có thể chi trả các khoản nợ vay. Khi một doanh nghiệp tận dụng được đặc điểm thanh khoản nhanh và mạnh của mình, doanh nghiệp đó sẽ cải thiện được lợi nhuận của tổ chức, còn tình hình thanh toán thấp của doanh nghiệp có nghĩa là doanh nghiệp không có đủ tài sản lưu động, thanh khoản để đáp ứng các yêu cầu ngắn hạn của doanh nghiệp. Như vậy khả năng thanh khoản là một dấu hiệu để xem xét tình hình sức khoẻ của doanh nghiệp.

2.5. Tổng quan các công trình nghiên cứu trước Luận văn: Tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp ngành thép.

2.5.1. Các nghiên cứu nước ngoài

Bolek và Wilinski (2012) khi nghiên cứu mối quan hệ giữa tính thanh khoản và lợi nhuận, đã sử dụng dữ liệu từ các báo cáo tài chính đã được kiểm toán của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Warsaw trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến năm 2010. Phương pháp nghiên cứu là định lượng, áp dụng để phân tích định lượng mối quan hệ giữa các biến. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng quy mô của doanh nghiệp và tốc độ tăng trưởng của GDP dường như có tác động cùng chiều đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp (đo bằng ROA). Trong khi đó, các yếu tố về cấu trúc tài sản, cấu trúc vốn, kỳ thu tiền bình quân và tỷ số khả năng thanh toán nhanh lại có tác động nghịch chiều với ROA.

Rehman (2013) khi nghiên cứu về sự tác động của thanh khoản đến TSSL của 9 doanh nghiệp thuộc ngành hóa học niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán Pakistan, đã sử dụng dữ liệu trong giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2009. Biến số được phân tích là ROA (tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản), đại diện cho khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Nghiên cứu đã sử dụng các yếu tố thanh khoản như tỷ số khả năng thanh toán nhanh, tỷ số khả năng thanh toán ngắn hạn, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu và tỷ lệ nợ trên tổng tài sản. Kết quả từ mô hình hồi quy cho thấy rằng các tỷ số khả năng thanh toán (nhanh và ngắn hạn) có tác động tiêu cực và rất lớn đến ROA, khẳng định rằng tính thanh khoản, khả năng thanh toán và lợi nhuận có mối quan hệ chặt chẽ, nơi một yếu tố tăng có thể làm giảm yếu tố kia.

Yameen và cộng sự (2019) khi nghiên cứu các doanh nghiệp dược phẩm, đã sử dụng dữ liệu bảng cân bằng của 82 doanh nghiệp trong khoảng thời gian 10 năm, từ 2008 đến 2017, niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Bombay. Dữ liệu được trích xuất từ dữ liệu Prowess IQ. Kết quả nghiên cứu cho thấy Tỷ số thanh khoản hiện hành và tỷ số thanh toán nhanh có mối quan hệ tích cực và đáng kể tác động đến lợi nhuận của các doanh nghiệp dược phẩm (được đánh giá bằng lợi nhuận trên tài sản). Trong khi đó, các biến kiểm soát như đòn bẩy, quy mô doanh nghiệp và tuổi đời lại có tác động tiêu cực đến lợi nhuận.

Akinleye và Ogunleye (2019) khi nghiên cứu các doanh nghiệp sản xuất tại Nigeria, đã sử dụng dữ liệu thứ cấp thu thập từ báo cáo thường niên của các doanh nghiệp này từ năm 2007 đến năm 2016. Phương pháp nghiên cứu bao gồm OLS, mô hình hiệu ứng cố định, mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên, kiểm định Hausman và kiểm định đồng tích hợp bảng. Kết quả nghiên cứu đã phát hiện ra rằng tỷ lệ thanh toán nhanh có tác động tiêu cực nhưng không đáng kể đến lợi nhuận sau thuế, trong khi đó, tỷ lệ tiền mặt lại có tác động tích cực đáng kể đến lợi nhuận sau thuế. Nghiên cứu kết luận rằng tính thanh khoản giúp cải thiện hiệu suất tài chính của các doanh nghiệp sản xuất được lựa chọn tại Nigeria và khuyến nghị các doanh nghiệp nên cố gắng giảm các khoản phải thu để tăng lợi nhuận. Luận văn: Tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp ngành thép.

Li và cộng sự (2020) khi nghiên cứu mối quan hệ giữa tính thanh khoản và hiệu suất của các doanh nghiệp phi tài chính ở Ghana, đã sử dụng dữ liệu bảng được suy ra từ báo cáo thường niên của 15 doanh nghiệp trong giai đoạn 2008 – 2017. Phương pháp nghiên cứu là hồi quy bình phương tối thiểu tổng quát hiệu ứng ngẫu nhiên (GLS). Các ước tính cho thấy tính thanh khoản có tác động tiêu cực đáng kể đến lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, khi tính thanh khoản được thay thế bằng tỷ lệ dòng tiền, nó lại có tác động tích cực nhưng không đáng kể đến ROE. Cuối cùng, thử nghiệm dựa trên quan hệ nhân quả đã phát hiện ra rằng, ngoại trừ tỷ lệ thanh toán hiện hành và ROE có mối liên hệ hai chiều, không có mối liên hệ nhân quả nào khác được chứng minh giữa các biến còn lại. Nghiên cứu khuyến nghị triển khai các hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả để củng cố các nguyên tắc cơ bản về tính thanh khoản và tìm kiếm sự hướng dẫn chuyên nghiệp để áp dụng các chính sách quản lý tài sản.

Chima và cộng sự (2021) khi nghiên cứu các doanh nghiệp xi măng, đã dựa trên việc lựa chọn dữ liệu từ bốn doanh nghiệp xi măng niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Nigeria trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến năm 2019. Phương pháp nghiên cứu là hồi quy bảng hiệu ứng cố định. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thanh toán nhanh có tác động tiêu cực nhưng không đáng kể đến ROA. Trong khi đó, tỷ lệ thanh toán hiện thời có mối quan hệ tích cực, mặc dù không đáng kể, với ROA.

Hameed và cộng sự (2021) khi phân tích tác động của quản lý thanh khoản đến hoạt động của các doanh nghiệp dệt may, đã nghiên cứu 15 doanh nghiệp thuộc ngành dệt may niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Pakistan (PSE) trong giai đoạn 5 năm. Dữ liệu thứ cấp được lấy từ báo cáo thường niên của các doanh nghiệp này. Phương pháp nghiên cứu là phân tích tương quan và hồi quy. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thanh toán hiện thời và thời gian thanh toán cho chủ nợ có tác động tiêu cực và đáng kể đến tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA). Luận văn: Tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp ngành thép.

Almakura và cộng sự (2024) khi nghiên cứu các doanh nghiệp dầu khí, đã sử dụng dữ liệu từ các báo cáo thường niên được kiểm toán của 9 doanh nghiệp dầu khí Nigeria từ năm 2012 đến năm 2021. Dữ liệu được phân tích bằng thống kê mô tả và phân tích hồi quy thông qua phần mềm Eview 9.0, sử dụng hồi quy tuyến tính bội dạng bảng, hồi quy hiệu ứng cố định (FE) và hiệu ứng ngẫu nhiên (RE). Kết quả phân tích cho thấy tỷ lệ thanh toán nhanh và tỷ lệ tiền mặt có tác động tích cực không đáng kể đến ROCE, trong khi đó, tỷ lệ thanh toán hiện hành lại có tác động tiêu cực đến ROCE. Nghiên cứu cũng khuyến nghị rằng các nhà quản lý của doanh nghiệp dầu khí nên áp dụng các chính sách quản lý thanh khoản hiệu quả để đảm bảo mức thanh khoản tối ưu, giúp cải thiện lợi nhuận và cho phép họ hoạt động với biên độ hợp lý hơn.

Iliyasu và cộng sự (2024) khi nghiên cứu các doanh nghiệp hàng tiêu dùng niêm yết ở Nigeria, đã thu thập dữ liệu thứ cấp từ năm 2013 đến năm 2022. Phương pháp nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng và mô hình hồi quy hiệu ứng cố định. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nợ và tỷ lệ thanh toán hiện hành có tác động tích cực và đáng kể đến tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA). Ngược lại, quy mô doanh nghiệp không có mối quan hệ trực tiếp với tỷ suất sinh lợi trên tài sản.

2.5.2. Các nghiên cứu trong nước

Võ Xuân Vinh và Nguyễn Minh Nguyệt (2017) đã nghiên cứu về sự tác động của thanh khoản và biến động lợi nhuận đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Với việc sử dụng phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS) và bộ dữ liệu từ các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) trong giai đoạn 2006–2015, kết quả nghiên cứu của các tác giả đã chỉ ra một mối quan hệ đồng biến giữa thanh khoản của doanh nghiệp và tỷ suất sinh lợi cổ phiếu. Kết quả cho thấy doanh nghiệp có vị thế thanh khoản tốt hơn có xu hướng mang lại lợi nhuận cao hơn cho các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán. Ngược lại, biến động lợi nhuận lại được tìm thấy có mối quan hệ nghịch biến với tỷ suất sinh lợi cổ phiếu, cho thấy sự bất ổn trong kết quả kinh doanh có thể làm giảm sức hấp dẫn của cổ phiếu.

Vương Thị Hương Giang và cộng sự (2024) đã xem xét sự tác động của hoạt động tạo thanh khoản đến khả năng sinh lợi của các NHTM Việt Nam, với mẫu nghiên cứu bao gồm 308 quan sát từ 28 NHTM Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 2012 đến năm 2022, nhóm tác giả đã áp dụng các mô hình ước lượng đa dạng như hiệu ứng ngẫu nhiên (REM), hiệu ứng cố định (FEM) và bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (FGLS). Kết quả ước lượng cho thấy một cách nhất quán rằng hoạt động tạo thanh khoản có tác động tiêu cực đến khả năng sinh lợi của các NHTM tại Việt Nam. Phân tích sâu hơn đã chỉ rõ rằng cả ba khía cạnh của tạo thanh khoản – tạo thanh khoản bên phía tài sản (LCA), tạo thanh khoản bên phía nợ phải trả và vốn chủ sở hữu (LCC) và tạo thanh khoản bên phía các khoản mục ngoại bảng (LCOBS) – đều có mối quan hệ nghịch chiều với tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng, gợi ý rằng việc gia tăng các hoạt động tạo thanh khoản có thể đi kèm với chi phí cao hơn hoặc rủi ro nhất định làm suy giảm lợi nhuận. Luận văn: Tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp ngành thép.

Nghiên cứu của Vũ Trọng Hiền và cộng sự (2025) đã đưa ra một phát hiện khác về mối quan hệ giữa tạo thanh khoản ngân hàng và khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Bằng cách sử dụng phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất tổng quát (GLS) trên dữ liệu của 30 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2009-2023, nhóm tác giả đã chỉ ra rằng tạo thanh khoản ngân hàng có tác động cùng chiều đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại. Ngoài ra, kết quả này cho thấy trong một số điều kiện hoặc với cách tiếp cận tạo thanh khoản nhất định, việc tăng cường khả năng cung ứng thanh khoản của ngân hàng không những không làm suy giảm mà còn có thể hỗ trợ nâng cao hiệu quả sinh lời, có thể do việc tạo thanh khoản giúp tăng cường sự ổn định, thu hút tiền gửi hoặc mở rộng hoạt động tín dụng một cách có kiểm soát và hiệu quả.

  • Bảng 2.1: Tóm tắt kết quả nghiên cứu từ các công trình

2.5.3. Khoảng trống nghiên cứu

Thứ nhất đó là sự thiếu nhất quán và đôi khi mâu thuẫn rõ ràng trong các kết quả thực nghiệm đã được công bố. Tại Việt Nam, nghiên cứu của Võ Xuân Vinh và Nguyễn Minh Nguyệt (2017) cho thấy thanh khoản có mối quan hệ đồng biến với tỷ suất sinh lợi cổ phiếu. Tuy nhiên, khi nhìn vào ngành ngân hàng, Vương Thị Hương Giang và cộng sự (2024) lại tìm thấy tác động tiêu cực của hoạt động tạo thanh khoản đến lợi nhuận, trong khi Vũ Trọng Hiền và cộng sự (2025) lại báo cáo tác động cùng chiều. Tình trạng tương tự cũng diễn ra trên bình diện quốc tế, nơi các nghiên cứu như của Bolek và Wilinski (2012) hay Rehman (2013) gợi ý mối quan hệ tiêu cực, nhưng Yameen và cộng sự (2019) lại chỉ ra điều ngược lại. Sự bất đồng này đòi hỏi các nghiên cứu tương lai phải tập trung vào việc xác định các yếu tố điều tiết (moderating factors) như đặc thù ngành, chu kỳ kinh tế, chính sách quản lý, hoặc các biến trung gian (mediating factors) như hiệu quả quản trị nội bộ, cấu trúc quản trị doanh nghiệp. Việc làm rõ vai trò của những yếu tố này sẽ giúp lý giải tại sao cùng một mối quan hệ lại mang lại những kết quả khác nhau tùy theo bối cảnh, từ đó cung cấp một cái nhìn toàn diện và chính xác hơn về tác động của thanh khoản.

Khoảng trống thứ hai nằm ở sự hạn chế về phạm vi ngành và quy mô doanh nghiệp được đưa vào phân tích trong các công trình hiện có. Phần lớn các nghiên cứu trong nước và quốc tế thường tập trung vào một số ngành cụ thể như tài chính ngân hàng, xây dựng, hoặc các doanh nghiệp niêm yết do tính sẵn có của dữ liệu công khai. Điều này tạo ra một sự thiếu hụt nghiêm trọng trong việc hiểu biết về mối quan hệ giữa thanh khoản và TSSL ở các ngành khác có đặc thù vận hành, cơ cấu tài sản và chu kỳ kinh doanh riêng biệt, ví dụ như ngành công nghệ thông tin, bán lẻ, dịch vụ hoặc nông nghiệp. Đặc biệt, doanh nghiệp ngành thép – vốn chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế Việt Nam – lại ít được nghiên cứu chuyên sâu, dù chúng thường đối mặt với những thách thức đặc thù về quản lý dòng tiền và khả năng tiếp cận vốn. Nghiên cứu của Lê Thị Lan Hương (2019) là một khởi đầu đáng khích lệ cho nhóm đối tượng này, nhưng cần có thêm nhiều công trình mở rộng để cung cấp cái nhìn đầy đủ và đa dạng hơn về tác động của thanh khoản trong các phân khúc doanh nghiệp khác nhau.

  • TÓM TẮT CHƯƠNG 2

Tại chương này thì luận văn tóm tắt và luận giải các nét đặc trưng về lý thuyết liên quan đến TSSL tại các doanh nghiệp và lựa chọn ROE là chỉ tiêu phản ánh cho TSSL. Mặt khác, chương này lập luận thông qua các lý thuyết về sự tác động của tính thanh khoản đến TSSL tại các doanh nghiệp, để tạo sự chắc chắn thì với các lược khảo nghiên cứu, luận văn nhận ra nét tương đồng giữa thực nghiệm và lý thuyết. Tuy nhiên, luận văn cũng xác định các khoảng trống từ các công trình để tạo điều kiện đề xuất với bối cảnh các doanh nghiệp ngành thép tại TTCK Việt Nam về mô hình và giả thuyết nghiên cứu phù hợp tại chương 3. Luận văn: Tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp ngành thép.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: PPNC Tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp ngành thép

One thought on “Luận văn: Tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp ngành thép

  1. Pingback: Luận văn: KQNC Tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp ngành thép

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *