Luận văn: Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các ngân hàng

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các ngân hàng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT

  1. Tên đề tài: Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các NHTM Việt Nam
  2. Tóm tắt:

Luận văn này tập trung nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nợ xấu (NPL) trong hệ thống NHTM Việt Nam, với dữ liệu được thu thập từ 28 NHTM trong giai đoạn 2011–2024. Các biến giải thích được lựa chọn dựa trên lý thuyết và kết quả lược khảo, bao gồm: quy mô ngân hàng (SIZE), tăng trưởng tín dụng (LGR), khả năng sinh lời đo bằng tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), hiệu quả quản lý chi phí (ME), tỷ lệ an toàn vốn (CAR), tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP), và lạm phát (CPI). Ngoài ra, luận văn cũng xem xét ảnh hưởng của độ trễ trong nợ xấu thông qua biến trễ L.NPL.

Đề tài sử dụng phương pháp hồi quy dành cho dữ liệu bảng. Trong đó, sau khi lựa chọn và kiểm định mô hình, phương pháp GMM hệ thống hai bước (System GMM) là phương pháp phù hợp nhất nhằm xử lý vấn đề nội sinh và đặc điểm động trong dữ liệu bảng. Phương pháp này cho phép kiểm soát sai số chuẩn hiệu chỉnh và khai thác tối đa thông tin từ biến công cụ, qua đó nâng cao tính chính xác và độ tin cậy của các ước lượng.

Kết quả hồi quy cho thấy nhiều yếu tố có ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến biến phụ thuộc. Cụ thể, các biến quy mô, tăng trưởng tín dụng, chi phí hoạt động và chỉ số giá tiêu dùng có tác động thuận chiều. Nói cách khác, khi các yếu tố này tăng lên, chỉ số NPL cũng có xu hướng gia tăng. Ngược lại, hệ số CAR, tỷ suất sinh lời ROE và tăng trưởng GDP có tác động nghịch chiều đến tỷ lệ nợ xấu, cho thấy vai trò tích cực của năng lực tài chính và môi trường vĩ mô trong gia tăng chất lượng tài sản qua giảm NPL. Những phát hiện từ nghiên cứu không chỉ góp phần làm rõ tác động của các yếu tố bên trong NHTM và môi trường trong thực tiễn Việt Nam để làm cơ sở thực tiễn quan trọng để các chủ thể có liên quan xây dựng chính sách tín dụng hợp lý.

  1. Từ khóa: nợ xấu, ngân hàng thương mại, GMM

ABSTRACT

  1. Title: Determinants of Non-Performing Loans in Vietnamese Commercial Banks
  2. Abstract:

This thesis investigates the factors influencing the non-performing loan (NPL) ratio in the Vietnamese commercial banking sector, using panel data from 28 banks over the period 2011–2024. The explanatory variables are selected based on theoretical foundations and practical aspects of banking management, including bank size (SIZE), credit growth (LGR), profitability measured by return on equity (ROE), cost efficiency (ME), capital adequacy ratio (CAR), economic growth rate (GDP), and inflation (CPI). Additionally, the study incorporates the dynamic nature of NPLs through the inclusion of the lagged NPL variable (L.NPL).

Methodologically, the study employs panel data regression models. Following a series of specification tests, the two-step System Generalized Method of Moments (System GMM) is identified as the most appropriate technique to address potential endogeneity and the dynamic structure of the panel data. This method allows for robust standard error estimation and the effective utilization of instrumental variables, thereby improving the precision and reliability of the parameter estimates.

The regression results reveal that several variables exhibit statistically significant effects on the NPL ratio. Specifically, bank size, credit growth, operating costs, and inflation are positively associated with NPLs, indicating that an increase in these factors tends to raise credit risk. In contrast, CAR, ROE, and GDP growth show negative relationships with NPLs, highlighting the mitigating role of strong financial performance and favorable macroeconomic conditions in reducing credit risk. These findings contribute to a better understanding of the link between financial and macroeconomic variables and credit risk in the Vietnamese context. Moreover, they provide practical implications for commercial banks and regulatory authorities in designing appropriate credit risk management strategies. Luận văn: Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các ngân hàng.

  1. Keywords: non-performing loans, commercial banks, GMM

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1.1 Tính cấp thiết về mặt thực tiễn

Tính cấp thiết của các đề tài về nợ xấu là không thể phủ nhận. Rein-hart & Rogoff (2010) đã chỉ ra rằng tỷ lệ nợ xấu được cho là sự khởi đầu của các cuộc khủng hoảng ngân hàng. Trong bối cảnh ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, vấn đề về nợ xấu trở thành vấn đề bức bối nhất mà các ngân hàng thương mại phải thường xuyên đối mặt. Kiểm soát nợ xấu không chỉ là yếu tố sống còn đối với sự ổn định của các ngân hàng thương mại mà còn tác động đến sức khỏe của nền kinh tế của một nước (Badar, Javid& Zulfiquar, 2013).

Nợ xấu từ lâu được xem là một “điểm nghẽn” mang tính hệ thống trong hoạt động của các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam, bởi đây không chỉ là chỉ tiêu phản ánh chất lượng tài sản của từng ngân hàng mà còn là thước đo quan trọng về mức độ an toàn của toàn bộ hệ thống tài chính. Khi nợ xấu gia tăng, khả năng thu hồi vốn của ngân hàng suy giảm, chi phí trích lập dự phòng rủi ro tăng lên, lợi nhuận bị bào mòn và năng lực mở rộng tín dụng cho nền kinh tế bị hạn chế. Đáng chú ý, theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) mà nghiên cứu tham chiếu, tính đến hết năm 2023, quy mô nợ xấu của toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam đạt 194.994 tỷ đồng, tăng 41% so với cuối năm 2022. Mức tăng mạnh này cho thấy rủi ro tín dụng đang có xu hướng tích tụ nhanh, tiềm ẩn khả năng lan truyền sang các khu vực khác của nền kinh tế thông qua kênh tín dụng, làm suy yếu sức khỏe doanh nghiệp, gia tăng chi phí vốn và ảnh hưởng tiêu cực đến ổn định vĩ mô. Trong bối cảnh nền kinh tế chịu tác động đồng thời của biến động chu kỳ, rủi ro thị trường và áp lực tuân thủ an toàn vốn, việc nhận diện và lượng hóa các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu của ngân hàng thương mại Việt Nam trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Kết quả nghiên cứu không chỉ giúp các ngân hàng thương mại nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro, hoàn thiện quy trình thẩm định –giám sát – thu hồi nợ, mà còn đưa ra các hàm ý gợi ý chính sách để các cơ quan quản lý điều hành chính sách tiền tệ và giám sát an toàn hệ thống theo hướng chủ động, phòng ngừa, qua đó góp phần củng cố sự ổn định của hệ thống ngân hàng và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững

1.1.2  Tính cấp thiết về mặt khoa học Luận văn: Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các ngân hàng.

Chủ đề này từ lâu đã thu hút sự quan tâm của các học giả, bởi nợ xấu không chỉ phản ánh hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng ở cấp ngân hàng mà còn là biến số trung tâm liên kết giữa hành vi cho vay, chất lượng quản trị nội bộ, điều kiện kinh tế vĩ mô và khuôn khổ giám sát – chính sách. Thông qua các nghiên cứu định lượng, giới học thuật và nhà quản lý có cơ sở tiếp cận một cách hệ thống, từ đó hiểu sâu hơn về các nguyên nhân, yếu tố môi trường cũng như những bất cập trong chính sách và quản lý tài chính đã góp phần làm gia tăng nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam (Nguyễn Thị Như Quỳnh & ctg., 2018). Trên nền tảng đó, nhiều công trình tiêu biểu đã được công bố, có thể kể đến các nghiên cứu của Lê Thị Tuyết Mai (2019), Nguyễn Thị Lan Hương (2021), Cấn Văn Lực (2022), và Bùi Quang Tuấn (2023). Dù các nghiên cứu này đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm và xác định tương đối phong phú các nhóm nhân tố tác động đến nợ xấu, mỗi công trình lại phát triển các hàm ý chính sách và gợi ý giải pháp theo những cách tiếp cận khác nhau, phản ánh sự đa dạng về mô hình, dữ liệu, thước đo biến và bối cảnh nghiên cứu. Đáng lưu ý, một khoảng trống khoa học vẫn hiện hữu khi nhiều nghiên cứu chưa cập nhật dữ liệu trong giai đoạn gần đây— thời kỳ mà môi trường kinh doanh, cấu trúc thị trường tín dụng và yêu cầu an toàn hệ thống thay đổi mạnh. Đồng thời, kết quả về chiều hướng và mức độ tác động của một số nhân tố cũng chưa hoàn toàn thống nhất giữa các nghiên cứu, làm nổi bật nhu cầu tiếp tục kiểm định lại các mối quan hệ nhân quả trên bộ dữ liệu mới, với cách đo lường và phương pháp ước lượng phù hợp hơn. Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu, cập nhật và đối chiếu bằng chứng thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu không chỉ giúp củng cố nền tảng khoa học cho lĩnh vực quản trị rủi ro tín dụng, mà còn góp phần chuẩn hóa lập luận và tăng độ tin cậy của các khuyến nghị chính sách đối với hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh mới. Trên cơ sở cập nhật dữ liệu và sử dụng phương pháp nghiên cứu phù hợp, tác giả thực hiện đề tài nhằm xác định nhân tố và mức độ tác động của mỗi nhân tố đến tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng thương mại. Từ đó, tác giả đưa ra hàm ý chính sách phù hợp để hỗ trợ các nhà quản lý ra giải pháp nhằm kiểm soát nợ xấu trong thời gian tới.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Luận văn: Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các ngân hàng.

1.2.1 Mục tiêu tổng quát

Đề tài được thực hiện nhằm xác định nhân tố và mức độ ảnh hưởng của nhân tố đến NPL của ngân hàng thương mại Việt Nam, từ đó đưa ra các hàm ý gợi ý về các quản trị và chính sách nhằm giảm thiểu rủi ro nợ xấu của các ngân hàng thương mại Việt Nam.

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

Các mục tiêu này được thực hiện cụ thể như sau:

  • Thứ nhất, xác định cụ thể các nhân tố ảnh hưởng đến NPL tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam.
  • Thứ hai, xác định chiều hướng và mức độ tác động của các nhân tố đến tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
  • Thứ ba, dựa trên kết quả nghiên cứu, đề tài đưa ra một số hàm ý chính sách phù hợp nhằm giảm thiểu nợ xấu của các ngân hàng thương mại trong thời gian tới.

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài tập trung trả lời 3 câu hỏi sau:

  • Thứ nhất, các nhân tố nào ảnh hưởng đến NPL tại các ngân hàng thương mại Việt Nam?
  • Thứ hai, chiều hướng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng thương mại Việt Nam như thế nào?
  • Thứ ba, các hàm ý chính sách nhằm giảm thiểu nợ xấu tại các ngân hàng thương mại trong thời gian tới?

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1. Đối tượng nghiên cứu Luận văn: Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các ngân hàng.

Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các ngân hàng thương mại.

1.4.2. Phạm vi nghiên cứu

1.4.2.1 Phạm vi không gian nghiên cứu

Luận văn này sử dụng dữ liệu 28 ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Chi tiết được trình bày trong phụ lục. Việc lựa chọn này dựa trên cơ sở các ngân hàng này có dữ liệu đầy đủ và liên tục cho đến năm 2024. Các dữ liệu được thu thập dựa trên thông tin công bố của FiinPro, bao gồm cả số liệu về nợ xấu, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu thập thông tin đại diện cho toàn hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam. 28 ngân hàng thương mại được đưa vào mẫu nhằm bảo đảm tính đại diện cao cho cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam, phản ánh tương đối đầy đủ mẫu dữ liệu theo quy mô tổng tài sản, từ đó, đảm bảo kết quả ước lượng có khả năng khái quát.

1.4.2.2. Phạm vi thời gian nghiên cứu

Dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu này được tổng hợp từ các báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại trong giai đoạn 2011 – 2024. Việc lựa chọn mốc thời gian này nhằm phản ánh ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu giai đoạn 2008 – 2010 đến nợ xấu và cập nhật những biến động gần đây nhất. Dữ liệu tài chính được thu thập từ phần mềm Fiin Pro, đảm bảo độ tin cậy. Dữ liệu vĩ mô được lấy từ báo cáo hàng năm của Tổng cục Thống kê.

1.5. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phân tích định lượng được dùng để đo lường các yếu tố tác động đến nợ xấu bao gồm từ vi mô đến vĩ mô. Cụ thể, đề tài đã sử dụng phần mềm chạy định lượng Stata 17 để thực hiện quá trình tính toán. Phương pháp hồi quy được sử dụng là phương pháp hồi quy dữ liệu bảng gồm OLS, FEM, REM, FGLS và GMM. Các lựa chọn và kiểm định mô hình được thực hiện nhằm đảm bảo tính tin cậy và tính vững của kết quả nghiên cứu. Trong đó, phương pháp hồi quy GMM hệ thống 2 bước là phương pháp phù hợp nhất để xử lý nội sinh và các khuyết tật khác trong mô hình.

1.6. Đóng góp của đề tài Luận văn: Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các ngân hàng.

1.6.1 Đóng góp về mặt khoa học

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là bằng chứng thực nghiệm bổ sung thêm để kiểm định các lý thuyết về nhân tố tác động đến nợ xấu của các ngân hàng thương mại. Thông qua quá trình khảo lược, các kết quả nghiên cứu của các công trình trước không hoàn toàn thống nhất với nhau về chiều hướng và độ tin cậy của kết quả. Do đó, đề tài là minh chứng thực nghiệm cần thiết để kiểm chứng lại lý thuyết và cập nhật dữ liệu nhằm hỗ trợ quá trình ra quyết định của các chủ thể liên quan.

1.6.2 Đóng góp về mặt thực tiễn

Kết quả đề tài và các đề xuất trong đề tài là cơ sở thực nghiệm hỗ trợ các quản lý có biện pháp phù hợp nhằm kiểm soát nợ xấu. ngân hàng thương mại kinh doanh gắn liền với môi trường vĩ mô và những đặc điểm vi mô khác biệt. Thông qua đề tài, các nhân tố được xác định củng cố thêm bằng chứng khoa học để các chủ thể ra quyết định có cơ sở thực hiện điều chỉnh chính sách quản trị và chính sách quản lý liên quan đến hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại nói chung.

1.7. Kết cấu của đề tài nghiên cứu

Luận văn sẽ được triển khai tổng cộng có 5 chương, cụ thể như sau:

  • Chương 1: Giới thiệu đề tài

Trong chương 1 này, tác giả giải thích lý do chọn đề tài nghiên cứu này, mục tiêu bài nghiên cứu này hướng tới và các nội dung khác mang tính giới thiệu luận văn.

  • Chương 2: Cơ sở lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại ngân hàng thương mại và tổng quan các nghiên cứu trước

Đây là chương sẽ tổng hợp lý thuyết cho nghiên cứu, bao gồm các khía cạnh quan trọng như tác động của các yếu tố vi mô, vĩ mô đến vấn đề nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. Tất cả nội dung của chương này sẽ bao phủ sự hiểu biết cơ bản về các yếu tố vi mô như là quy mô thuộc ngân hàng thương mại, yếu tố về tăng trưởng tín dụng, khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại, NPL của năm trước, khả năng sinh lời trên VCSH; các yếu tố vĩ mô như là tốc độ tăng trưởng kinh tế, lạm phát tác động đến nợ xấu. Đồng thời, tổng quan các nghiên cứu trước làm cơ sở xây dựng mô hình.

  • Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương này tập trung chi tiết vào các phương pháp định tính, định lượng được sử dụng để kiểm định các giả thuyết trong mô hình nghiên cứu. Luận văn: Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các ngân hàng.

  • Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương này sẽ dùng kết quả từ chương 3 để nghiên cứu và phân tích các tác động của các yếu tố vi mô và vĩ mô đến NPL tại các ngân hàng thương mại Việt Nam.

  • Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách

Trong chương 5, tác giả trình bày các kết luận và đề xuất một số các hàm ý gợi ý chính sách cho các ngân hàng thương mại nhằm kiểm soát sự gia tăng của NPL tại các ngân hàng thương mại và nền kinh tế.

  • KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1 tập trung giới thiệu về chủ đề nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam” từ đó chương này làm nổi bật tính cần thiết và ý nghĩa thực tiễn của đề tài này. Ngoài ra chương này cũng để cập tới các phương pháp cũng như tóm tắt các dữ liệu dùng để nghiên cứu. Luận văn sẽ có tổng cộng là 5 chương và các chương tiếp theo dưới đây sẽ đi sâu vào từng phần để phân tích chi tiết hơn về chủ đề nghiên cứu đang làm nhức nhối các ngân hàng thương mại Việt Nam này.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu của ngân hàng thương mại và tổng quan các nghiên cứu trước

2.1. Cơ sở lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu của ngân hàng thương mại

2.1.1. NHTM

2.1.1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại

NHTM là một loại hình tổ chức tài chính được cấp phép kinh doanh theo luật định, thực hiện đa dạng nhất các dịch vụ tài chính – tiền tệ đến các chủ thể trong nền kinh tế. Các hoạt động chính của ngân hàng thương mại bao gồm huy động vốn, cấp tín dụng, cung cấp dịch vụ thanh toán, và nhiều dịch vụ liên quan khác. Ở Việt Nam, ngân hàng thương mại được định nghĩa và điều chỉnh theo luật các tổ chức tín dụng (luật TCTD) do Nhà nước ban hành, nhằm quản lý và phát triển thị trường tài chính một cách bền vững và dưới sự kiểm soát chặt chẽ của ngân hàng nhà nước Việt Nam.

Như vậy, ngân hàng thương mại đóng vai trò như một trung gian tài chính, kết nối những người có tiền dư thừa (người gửi tiền) với những người cần vốn (người vay). Luận văn: Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các ngân hàng.

2.1.1.2. Các chức năng chính của một ngân hàng thương mại

Mỗi một ngân hàng thương mại sẽ có nhiều chức năng và nhiệm vụ khác nhau tùy thuộc vào kết cấu, lĩnh vực của từng ngân hàng thương mại. Tổng hợp từ Rose và Hudgin (2008), nhìn chung, ngân hàng thương mại có 4 chức năng chính gồm: huy động vốn, cấp tín dụng, cung cấp dịch vụ tài chính và quản lý rủi ro. Cụ thể:

Về huy động vốn: ngân hàng thương mại thu hút nguồn vốn từ các cá nhân và doanh nghiệp thông qua việc nhận tiền gửi với nhiều loại kỳ hạn khác nhau từ khách hàng dưới nhiều hình thức như tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi kỳ hạn, tiền gửi thanh toán… để tạo ra nguồn vốn cho các hoạt động cho vay và đầu tư. Điều này giúp ngân hàng thương mại tích lũy một lượng vốn lớn từ xã hội để tài trợ cho các hoạt động kinh doanh khác như là cho vay.

Về cấp tín dụng: Đây là một trong những nghiệp vụ chính, mang lại phần lớn lợi nhuận cho các ngân hàng thương mại. Việc cấp tín dụng được thực hiện theo các quy trình nghiêm ngặt để đánh giá người đi vay cũng như là quản lý rủi ro tín dụng cho bản thân của ngân hàng thương mại đó.

Về cung cấp các dịch vụ thanh toán và trung gian tài chính: ngân hàng thương mại đóng vai trò như trung gian trong các giao dịch thanh toán giữa người mua và người bán. Các dịch vụ thanh toán hiện đại như thẻ tín dụng, chuyển khoản, thanh toán điện tử đang được phát triển mạnh mẽ, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại điện tử và tiêu dùng không dùng tiền mặt giúp cho việc giao dịch trở nên nhanh chóng và tiện lợi hơn.

Về quản lý rủi ro: ngân hàng thương mại cung cấp dịch vụ như bảo hiểm, tư vấn đầu tư và các sản phẩm phái sinh nhằm giúp khách hàng quản lý tài sản và giảm thiểu các rủi ro về biến động lãi suất, tỷ giá, hay thị trường hiệu quả.

2.1.2. Nợ xấu của ngân hàng thương mại Luận văn: Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các ngân hàng.

  • Khái niệm nợ xấu của ngân hàng thương mại

Nợ xấu là khái niệm chỉ các khoản vay mà người đi vay không có khả năng trả nợ và/hoặc không có ý định trả nợ đúng hạn theo như thỏa thuận ban đầu trong hợp đồng tín dụng. Nợ xấu còn được biết đến qua các thuật ngữ như “Non-performing loans” (NPL), “bad debt”, “doubtful debt” chỉ các khoản nợ khó đòi (Fofack, 2005). Thông thường, nợ xấu là các khoản nợ chậm trả gốc và lãi từ 90 ngày trở lên (Rose, 2004) và ngân hàng thương mại khó thu hồi cả vốn lẫn lãi. Nợ xấu được coi là một trong những rủi ro lớn nhất mà các ngân hàng thương mại phải đối mặt trong quá trình hoạt động, tác động ngược chiều đến hiệu quả của ngân hàng thương mại nói riêng và là “cục máu đông” làm giảm hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế nói chung (Nguyễn Thị Minh Huệ, 2015).

Như vậy, nợ xấu là các khoản nợ chậm trả từ ngày thứ 91 trở lên, thuộc các nhóm nợ từ nhóm 3 trở lên – các nhóm nợ mức độ rủi ro cao về khả năng thu hồi vốn và lãi theo phân loại nợ của Việt Nam.

  • Phân loại các nhóm nợ của các ngân hàng thương mại

Có nhiều tiêu chí phân loại khác nhau theo tùy theo quy định của mỗi quốc gia. Do phạm vi nghiên cứu tập trung ở Việt Nam, nên đề tài tập trung tổng hợp quy định phân loại dựa trên quy định của Việt Nam. Theo khoản 1 điều 10 Thông tư 11/2021/TT-NHNN, các ngân hàng thương mại phải thực hiện phân loại nợ (trừ các khoản trả thay theo cam kết ngoại bảng) bắt buộc theo 05 nhóm, cụ thể:

Nợ nhóm 1 (Nhóm nợ đủ tiêu chuẩn): Đây là các khoản nợ đang được trả đúng hạn, không có bất cứ vấn đề nào về việc thu hồi lại nợ. Nợ được trả đầy đủ với thời gian quá hạn từ 10 ngày trở xuống bắt đầu tính từ ngày tới hạn phải thanh toán cũng được ngân hàng thương mại phân loại vào nợ đủ tiêu chuẩn

Nợ nhóm 2 (Nhóm nợ cần chú ý): là các khoản vay quá hạn từ 11 ngày đến 90 ngày bắt đầu tính từ ngày tới hạn phải thanh toán cho ngân hàng thương mại. Các món vay có dấu hiệu về các rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra, liên quan đến điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu với điều kiện vẫn còn trong thời hạn trả nợ.

Nợ nhóm 3 (Nhóm nợ dưới tiêu chuẩn): Đây là các khoản vay đã quá hạn thanh toán từ 91 ngày đến 180 ngày tính từ ngày tới hạn phải thanh toán ngân hàng thương mại bắt đầu gặp khó khăn trong việc thu hồi vốn lẫn lãi từ khách hàng. Các khoản nợ được gia hạn nợ lần đầu còn trong kỳ hạn trả nợ, các khoản nợ được ngân hàng thương mại chấp nhận được miễn lãi hoặc giảm lãi cho các khách hàng không đủ khả năng trả tiền lãi đầy đủ theo thỏa thuận trong hợp đồng vay mượn.

Nợ nhóm 4 (Nhóm nợ nghi ngờ): Tất cả các khoản nợ vay đã bị quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày tính từ ngày tới hạn thanh toán, khả năng ngân hàng thương mại mất vốn là rất cao. Các khoản nợ được ngân hàng thương mại cơ cấu lại lần đầu quá hạn từ ngày cơ cấu đến 90 ngày, khoản nợ còn trong hạn được ngân hàng thương mại cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần Các khoản nợ chưa thể thu hồi được theo quyết định phải thu hồi từ các kết luận thanh tra, kiểm tra, quyết định của tòa án từ ngày ra quyết định đến 60 ngày. Luận văn: Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các ngân hàng.

Nợ nhóm 5 (Nhóm nợ có khả năng mất vốn): Bao gồm các khoản vay đã quá hạn trên 360 ngày kể từ ngày đến hạn thanh toán, trong đó ngân hàng thương mại hầu như không còn khả năng thu hồi vốn đã cấp; các khoản nợ được cơ cấu lại thời gian trả nợ lần đầu nhưng đã chậm thanh toán từ ngày thứ 91 trở đi so với thời hạn mới được thỏa thuận cũng được phân loại vào nhóm này. Tương tự, nếu khoản vay đã được cơ cấu thời gian trả nợ lần hai nhưng vẫn không được thanh toán đúng hạn, hoặc đã trải qua lần cơ cấu thứ ba trở lên mà khách hàng chưa hoàn tất nghĩa vụ trả nợ, thì cũng sẽ bị xếp vào nhóm nợ tương tự.

2.1.3. Các lý thuyết luận giải các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu của ngân hàng thương mại

2.1.3.1 Lý thuyết chu kỳ kinh tế

Theo Samuelson (1952), chu kỳ kinh tế phản ánh sự biến động mang tính lặp lại của các chỉ số kinh tế vĩ mô như tăng trưởng, lạm phát, thường trải dài trong khoảng mười năm. Chu kỳ này bao gồm hai pha chủ yếu: mở rộng và suy thoái. Giai đoạn mở rộng phản ánh sự phục hồi và tăng trưởng, trong khi suy thoái thể hiện sự sụt giảm kéo dài về mặt kinh tế. Khi nền kinh tế giảm tốc, thu nhập cá nhân bị ảnh hưởng tiêu cực và doanh nghiệp bị thu hẹp lợi nhuận – các yếu tố này thường dẫn đến sự gia tăng nợ xấu trong hệ thống ngân hàng thương mại. Trái ngược, trong giai đoạn tăng trưởng, người vay có thể khả năng trả nợ do thu nhập tăng và môi trường tín dụng thuận lợi hơn. Điều này cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa chu kỳ kinh tế và rủi ro tín dụng của các tổ chức tài chính.

2.1.3.2 Lý thuyết về lợi thế quy mô

Boyd và Gertler (1994) đề cập đến quy mô thông qua thuật ngữ “Too big to fail” để nhấn mạnh vai trò của quy mô. Quy mô của các ngân hàng thương mại có ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng thương mại đó. Trong hoạt động cho vay, những ngân hàng thương mại quy mô lớn, dưới áp dụng của việc tạo ra lợi nhuận cũng như vị thế trên thị trường, các ngân hàng thương mại này thường chấp nhận rủi ro lớn hơn do kỳ vọng vào sự can thiệp của Nhà nước khi có biến động. Việc theo đuổi tốc độ mở rộng tài sản quá mức có thể dẫn đến việc nới lỏng quy định cấp tín dụng. Tuy nhiên, Salas và Saurina (2002) cho thấy các ngân hàng thương mại lớn cũng có khả năng đa dạng hóa danh mục tín dụng, phân tán rủi ro và cải thiện hiệu quả hoạt động, từ đó có thể kiểm soát nợ xấu tốt hơn. Do vậy, tồn tại tác động của quy mô đến nợ xấu nhưng tác động này không hoàn toàn thống nhất trong các mẫu nghiên cứu.

2.1.3.3 Lý thuyết thông tin bất cân xứng Luận văn: Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các ngân hàng.

Lý thuyết “Thị trường quả chanh” của Akerlof (1970) nhấn mạnh rằng sự chênh lệch thông tin giữa bên bán và bên mua là nguyên nhân dẫn đến lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức. ngân hàng thương mại khi cấp tín dụng thường không thể xác minh đầy đủ mức độ rủi ro thực sự của người vay. Điều này tạo ra tình trạng bất cân xứng thông tin, khiến ngân hàng thương mại có nguy cơ phân bổ tín dụng sai lệch và dẫn đến nợ xấu. Vì lý do đó, các ngân hàng thương mại thường bù đắp một phần rủi ro trong lãi vay. Rủi ro gia tăng, lãi suất các khoản cho vay cũng tăng ngoài bù đắp các chi phí hoạt động còn bù đắp mức độ rủi ro của khoản vay và lợi nhuận kỳ vọng của ngân hàng.

2.1.3.4. Lý thuyết hiệu quả và chất lượng quản trị

Theo nghiên cứu của Berger và DeYoung (1997), sự thiếu hiệu quả trong quản trị chi phí là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng của nợ xấu. Khi ngân hàng thương mại không thực hiện tốt việc đánh giá rủi ro, thẩm định tài sản đảm bảo, hoặc giám sát quá trình sử dụng vốn vay thì chất lượng tín dụng suy giảm. Việc ngân hàng thương mại cắt giảm chi phí hoạt động bằng cách giản lược quá trình đánh giá tín dụng cũng là nguyên nhân làm cho nợ có vấn đề tăng lên. Mặc dù điều này có thể mang lại hiệu quả ngắn hạn, nhưng về dài hạn sẽ tạo ra khoảng trống trong quản trị rủi ro, dẫn đến sự tích lũy nợ xấu.

2.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Luận văn: Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các ngân hàng.

Dựa trên lý thuyết được tổng hợp, đề tài tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu của ngân hàng thương mại được chia thành 2 nhóm là nhân tố vĩ mô và nhân tố vi mô như các công trình khoa học trước đây.

  • Nhóm nhân tố vĩ mô

Môi trường kinh tế vĩ mô đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nợ kém chất lượng. Các chỉ tiêu phản ánh môi trường vĩ mô được sử dụng trong các nghiên cứu là tốc độ tăng trưởng kinh tế và lạm phát. Cụ thể:

  • Tốc độ tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng GDP có ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng của các khoản vay vì nó có thể tác động rất tích cực đến các cá nhân đi vay. Kinh tế vĩ mô tăng trưởng thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh, từ đó nâng cao khả năng thanh toán của người vay và giảm NPL. Kết quả ngược chiều trong tác động tăng trưởng GDP và nợ xấu tại các ngân hàng thương mại được chứng minh bởi Fofack (2005), Ghosh (2015), Do và Nguyen (2013), Trong các cuộc khủng hoảng kinh tế, sự khó khăn về tài chính của các gia đình và các doanh nghiệp làm cho tình hình nợ xấu càng trở nên căng thẳng do tính tiêu cực của nền kinh tế chung theo Louzis và cộng sự (2010). Khi tốc độ tăng trưởng kinh tế âm hoặc thấp, chi tiêu hay các hoạt động kinh tế cũng sẽ chậm lại làm cho khả năng trả nợ của các cá nhân và tổ chức sẽ bị ảnh hưởng theo chiều hướng tiêu cực làm cho NPL tại các ngân hàng thương mại tăng cao.

  • Lạm phát

Lạm phát có thể gây ra sự giảm nhu cầu tiêu dùng, khó khăn cho các doanh nghiệp ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của họ. Khi lạm phát xảy ra, lãi suất tại các ngân hàng thương mại đều đồng loạt thả nổi theo các chính sách của ngân hàng nhà nước, các cá nhân và doanh nghiệp đi vay cũng phải chịu mức lãi suất cao được áp vào khoản vay của mình, từ đó thấy được khả năng trả nợ sẽ gặp nhiều khó khăn. Người vay gặp khó khăn tài chính nên không trả được nợ. ngân hàng thương mại thì bắt buộc phải thả nổi lãi suất do các chính sách kiềm chế lạm phát của ngân hàng nhà nước. Do đó, nếu INF càng cao thì có thể dẫn đến NPL của các ngân hàng thương mại tăng cao (Nguyen & Dinh, 2016). Lạm phát tăng kéo theo giá trị thực các khoản nợ sụt giảm nếu lãi suất không điều chỉnh kịp theo tốc độ lạm phát. Giá trị của đồng tiền hiện tại sẽ ngày càng giảm đi, làm cho các khoản vay cũ (đặc biệt là các khoản vay dài hạn với lãi suất cố định) trở nên rẻ hơn. Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp và cá nhân vay dài hạn trả nợ dễ hơn. Vì vậy tác động của lạm phát đến nợ xấu có thể là cùng chiều hoặc cũng có thề là ngược chiều nhau (Nkusu, 2011).

  • Nhóm yếu tố vi mô phản ánh đặc trưng ngân hàng thương mại

Các yếu tố nội tại vi mô của ngân hàng thương mại cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phát sinh hoặc giảm thiểu nợ xấu. Quy mô ngân hàng thương mại, khả năng sinh lời, NPL năm trước, ROE, tăng trưởng tín dụng có thể ảnh hưởng đến mức độ nợ xấu của ngân hàng thương mại. Mỗi yếu tố này có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến nợ xấu, tùy thuộc vào cách thức vận hành của mỗi ngân hàng thương mại.

  • Hệ số an toàn vốn Luận văn: Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các ngân hàng.

Theo nghiên cứu của Keeton và Morris (1987), tỷ lệ an toàn vốn phản ánh khả năng tự phòng ngừa rủi ro của ngân hàng thương mại thông qua quy mô vốn chủ sở hữu. Việc duy trì hệ số này ở mức hợp lý giúp các tổ chức tín dụng gia tăng khả năng chống chịu trước các biến động tín dụng. Ngược lại, nếu ngân hàng thương mại không đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, rủi ro nợ xấu sẽ gia tăng đáng kể. Khi các ngân hàng thương mại đẩy mạnh hoạt động tín dụng, đặc biệt là tập trung vào các khoản vay có độ rủi ro cao, bằng cách sử dụng nguồn vốn tự có, hệ số CAR sẽ bị suy giảm. Sự sụt giảm này làm gia tăng các loại chi phí như chi phí vốn, chi phí hoạt động và chi phí liên quan đến rủi ro tín dụng, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại. Nhận định này cũng được củng cố bởi các nghiên cứu của Berger và DeYoung (1997) cũng như Salas và Saurina (2002), khi cho rằng sự thiếu vững chắc về vốn là yếu tố làm gia tăng rủi ro tín dụng trong hệ thống ngân hàng thương mại.

  • Quy mô của ngân hàng thương mại

Salas và Saurina (2002), Swamy (2012), Nguyễn Thị Như Quỳnh và cộng sự (2021) cho thấy có quy mô có tác động ngược chiều đến NPL của ngân hàng thương mại. Những ngân hàng thương mại có quy mô lớn thường có nhiều khả năng đầu tư vào việc cải thiện quy trình tín dụng chất lượng cao, chất lượng quản trị rủi ro của các bộ phận chuyên môn và có nguồn nhân lực đa dạng. Đồng thời, quy mô lớn cũng giúp ngân hàng thương mại đa dạng hóa hoạt động tín dụng, có nhiều kinh nghiệm hơn trong việc phân tích và xử lý các vấn đề về rủi ro đạo đức (moral hazard) làm giảm rủi ro tập trung. Trong khi đó, ngân hàng thương mại quy mô nhỏ thường chịu áp lực tăng trưởng và mở rộng các hoạt động cho vay để thu về nhiều lợi nhuận. Do đó, các ngân hàng thương mại nhỏ phải chấp nhận rủi ro tín dụng cao hơn để thu hút khách hàng, tăng khả năng cạnh tranh nên rủi ro tín dụng gia tăng. Trái ngược, Ghosh (2015), Do và Nguyen (2013) chứng minh được rằng quy mô của ngân hàng thương mại có tác động cùng chiều đến NPL. Theo đó, quy mô ngân hàng thương mại càng lớn thì tham vọng cho vay đối với các ngân hàng thương mại này sẽ rất lớn, tập trung vào các doanh nghiệp lớn hoặc các tập đoàn lớn. Do đó, các ngân hàng thương mại cũng thường xuyên đơn giản hóa các thủ tục cho vay, từ đó có thể làm tăng mạnh NPL.

  • Yếu tố tăng trưởng tín dụng

Nguyễn Tuấn Kiệt và Đinh Hùng Phú (2016) chứng minh tồn tại tác động nghịch chiều của tăng trưởng tín dụng đến NPL. Để theo đuổi tăng trưởng tín dụng mức cao, các ngân hàng thương mại thường phải nới lỏng chính sách cho vay, từ đó, dư nợ được tăng nhanh hơn mức tăng của nợ xấu, do đó làm giảm NPL. Ngược lại, Do và Nguyen (2013) và Nguyen (2015) lại phát hiện mối quan hệ thuận chiều giữa tăng trưởng tín dụng và NPL. Luận giải là do khi các ngân hàng thương mại theo đuổi tăng trưởng tín dụng cao thường nới lỏng tín dụng quá mức, giảm tiêu chuẩn về khoản vay và giám sát khoản vay, dẫn đến dễ xảy ra các khoản nợ có vấn đề, làm tăng NPL. Luận văn: Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các ngân hàng.

  • Khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại

Khả năng sinh lời của một ngân hàng thương mại thường phản ánh hiệu quả của hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại đó. Nguyen và Dinh (2016) cho thấy có tác động nghịch chiều của ROE lên NPL. Khi ngân hàng thương mại sinh lời tốt thường ít chịu áp lực phải hạ tiêu chuẩn cấp tín dụng, đồng thời, kiểm soát chặt chẽ chất lượng tài sản nên giảm được NPL. Trong khi đó, hiệu quả kinh doanh thấp buộc ngân hàng thương mại phải chấp nhận cho vay có rủi ro cao để gia tăng thu nhập lãi, kéo theo khả năng tăng NPL.

  • Khả năng quản lý chi phí

Khả năng quản lý chi phí phản ánh qua tỷ lệ chi phí hoạt động là chỉ tiêu phản ánh mức độ hiệu quả trong việc sử dụng tài nguyên của ngân hàng thương mại để tạo ra thu nhập. Tỷ lệ này được tính bằng tổng chi phí hoạt động chia cho tổng tài sản hoặc tổng thu nhập, qua đó đo lường mức độ tốn kém để duy trì hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại. Nếu tỷ lệ này ở mức cao, điều đó cho thấy ngân hàng thương mại đang gặp khó khăn trong việc kiểm soát chi phí hoặc khai thác tài sản chưa hiệu quả. Berger & DeYoung (1997) cho thấy các ngân hàng thương mại có khả năng kiểm soát chi phí kém phản ánh qua tỷ lệ chi phí hoạt động cao thường gặp rủi ro lớn hơn trong việc quản lý tín dụng, dẫn đến khả năng hình thành nợ xấu cao hơn. Chi phí hoạt động là một cấu phần quan trọng trong việc xác định lãi suất cho vay. Khi chi phí hoạt động cao, để bù đắp chi phí, lãi suất cấp tín dụng của ngân hàng thương mại đó phải cao, làm cho các ngân hàng thương mại này khó tiếp cận cho vay các khách hàng có mức độ rủi ro tín dụng thấp. Nói cách khác, ngân hàng thương mại phải mở rộng tín dụng với các khách hàng có mức độ rủi ro cao tương ứng với mức lãi suất cho vay của họ. Tóm lại, tỷ lệ chi phí hoạt động hay khả năng quản lý chi phí là một chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kiểm soát chi phí của ngân hàng thương mại, đồng thời cũng là yếu tố có khả năng dự báo NPL trong hoạt động ngân hàng thương mại.

2.2. Tổng quan các bài nghiên cứu trước về các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu của ngân hàng thương mại Luận văn: Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các ngân hàng.

2.2.1. Một số nghiên cứu nước ngoài

Antony và Suresh (2023) đã khai thác dữ liệu từ 31 ngân hàng trong giai đoạn 2012–2021 để đánh giá ảnh hưởng của khả năng sinh lời cùng với các yếu tố kinh tế vĩ mô và vi mô đến rủi ro tín dụng. Nghiên cứu sử dụng mô hình dữ liệu bảng để trả lời câu hỏi nghiên cứu. Họ phát hiện rằng ROE có tác động âm đến rủi ro tín dụng, trong khi tuổi đời ngân hàng, loại hình sở hữu và GDP lại có ảnh hưởng tích cực. Ngược lại, quy mô ngân hàng, INF và hiệu quả hoạt động lại làm giảm rủi ro tín dụng và tỷ lệ nợ xấu.

Žunić và cộng sự (2021) đã nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố bất thường là dịch bệnh Covid-19 đến nợ xấu của các ngân hàng thương mại ở Bosnia và Herzegovina. Dựa trên dữ liệu từ năm 2003 đến 2020, nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích chuỗi thời gian và hồi quy đa biến. Kết quả chứng tỏ Covid-19 đã làm tăng nguy cơ chuyển nợ vay ngắn hạn và dài hạn thành nợ xấu, đồng thời gây ra sự suy giảm trong tăng trưởng GDP.

Hazimi và William (2020) thực hiện nghiên cứu tại Indonesia trong giai đoạn 2014–2018 để làm rõ tác động của các yếu tố vĩ mô và vi mô đến rủi ro tín dụng. Kết quả nhấn mạnh rằng yếu tố nội tại ngân hàng có sức ảnh hưởng lớn hơn so với các biến kinh tế vĩ mô. Trong đó, khả năng tạo lợi nhuận của ngân hàng thương mại tăng làm cho NPL giảm, trong khi tăng trưởng tín dụng, lãi suất cho vay, tỷ giá hối đoái, tốc độ tăng trưởng kinh tế và lạm phát đều có mối liên hệ tích cực với nợ xấu.

Manz (2019) đã cung cấp bằng chứng về các yếu tố tác động đến NPL của các ngân hàng thương mại bằng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng. Kết quả cho thấy những yếu tố như chi phí hoạt động, quy mô ngân hàng, chính sách tiền tệ và nợ công đều có xu hướng làm gia tăng NPL. Ngược lại, các chính sách tín dụng, chiến lược quản trị và điều kiện kinh doanh ổn định lại giúp kiểm soát các khoản nợ có chất lượng kém.

Với phạm vi là các ngân hàng thương mại ở Ethiopia, Tole và cộng sự (2019) đã thu thập dữ liệu thứ cấp trong giai đoạn 2003–2017 để kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng. Áp dụng các mô hình hồi quy như OLS, FEM và REM, nhóm tác giả nhận thấy rằng khả năng sinh lời, thanh khoản và nợ xấu của kỳ tác động thuận chiều đến NPL hiện tại. Ngược lại, tăng trưởng tín dụng, tăng trưởng GDP và CAR có tác động bất lợi đến NPL.

Nghiên cứu của Louzis, Vouldis và Metaxas (2012) tại Hy Lạp lấy dữ liệu từ năm 2003 đến năm 2009 tại ngân hàng thương mại Hy Lạp. Dữ liệu nghiên cứu bao gồm thông tin nội tại về các khoản nợ xấu theo loại (tiêu dùng, doanh nghiệp và bất động sản) cùng với các biến kinh tế vĩ mô như lãi suất và tăng trưởng GDP. Nhóm tác giả phát hiện NPL trong tín dụng tiêu dùng và bất động sản chịu ảnh hưởng mạnh và cùng chiều bởi tỷ lệ thất nghiệp, trong khi các khoản vay doanh nghiệp khó thu hồi lại bị ảnh hưởng chủ yếu bởi lãi suất. Từ đó, nhóm tác giả đề xuất giảm tỷ lệ thất nghiệp, kiểm soát lãi suất hợp lý là hai yếu tố quan trọng nhằm nâng cao chất lượng tài sản của các ngân hàng thương mại ở Hy Lạp.

Beck, Jakubik và Piloiu (2013) sử dụng dữ liệu tại các quốc gia thuộc khu vực Eurozone giai đoạn 1997 – 2011. Nhóm tác giả sử dụng phương pháp phân tích hồi quy đa biến để nghiên cứu các yếu tố tác động đến nợ xấu trong hệ thống ngân hàng thương mại tại các quốc gia thuộc khu vực Eurozone. Dữ liệu nghiên cứu bao gồm NPL, lãi suất, tỷ lệ thất nghiệp, tăng trưởng GDP, và giá bất động sản trong khu vực Eurozone. Kết quả chỉ ra rằng, các yếu tố như lãi suất cao, tỷ lệ thất nghiệp tăng và giá bất động sản giảm đều làm tăng NPL. Trong khi, GDP tăng lên sẽ làm NPL giảm xuống. Do đó, các chính sách kinh tế cần tập trung vào việc ổn định thị trường lao động và bất động sản, đồng thời kiểm soát lãi suất để hỗ trợ hệ thống ngân hàng thương mại trong việc giảm NPL.

2.2.2. Một số nghiên cứu trong nước Luận văn: Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các ngân hàng.

Nguyễn Đào Trâm Anh và cộng sự (2023) đã nghiên cứu chủ đề này trong giai đoạn 2012 – 2020. Bằng phương pháp hồi quy bảng, đặc biệt là FGLS, và 22 ngân hàng thương mại cổ phần, kết quả nhấn mạnh trích lập dự phòng, tăng trưởng tín dụng và mức sinh lời trên vốn chủ sở hữu cần phải hài hòa để kiểm soát NPL. Quy mô ngân hàng thương mại càng lớn thì NPL của ngân hàng thương mại đó càng cao, lạm phát có tác động đáng kể đến NPL, cho thấy sự suy thoái kinh tế có khả năng làm gia tăng nợ xấu tại các ngân hàng thương mại. Tác giả kết luận rằng cần quan tâm hơn nữa trong việc quản trị chặt chẽ các rũi ro từ phía các ngân hàng thương mại, cải thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế Basel II là điều cần thiết để nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại. Ngoài ra các ngân hàng thương mại cần thận trọng trong việc mở rộng quá mức hoạt động tín dụng và xây dựng chính sách trích lập dự phòng hợp lý để giảm thiểu nợ xấu và thúc đẩy sự phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng thương mại. Trần Thảo Vân (2022) thực hiện nghiên cứu về NPL với dữ liệu thu thập từ 26 ngân hàng thương mại cổ phần giai đoạn 2010 – 2020. Mô hình FEM sau kiểm định Hausman cho thấy là mô hình phù hợp nhất. Kết quả cho thấy NPL năm trước, quy mô ngân hàng thương mại và dự phòng rủi ro tín dụng tác động cùng chiều với NPL tại các ngân hàng thương mại. Ngược lại, tỷ lệ thất nghiệp, INF và tỷ giá hối đoái có tác động ngược chiều đến NPL của các ngân hàng thương mại. Đồng thời, GDP, lợi nhuận ngân hàng thương mại, ROE, tăng trưởng tín dụng và lãi suất danh nghĩa không có ý nghĩa trong mô hình nghiên cứu. Từ kết quả này, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm kiểm soát NPL. Cụ thể, ngân hàng thương mại cần tuân thủ đúng các tiêu chuẩn cấp tín dụng, chặt chẽ thực hiện quy trình cấp tín dụng cho khách hàng, mạnh tay trích lập dự phòng và đặc biệt là tăng cường giám sát và bổ sung nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ cũng như nhân viên để nâng cao tay nghề thẩm định nhằm hạn chế NPL tại các ngân hàng thương mại. Ngoài ra, Quốc hội và ngân hàng nhà nước nên quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi hỗ trợ trong việc xử lý nợ xấu để giảm thiểu NPL tại các ngân hàng thương mại Việt Nam.

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng nợ xấu của Nguyễn Thị Ánh Hoa (2020) tại các ngân hàng thương mại Việt Nam từ 2012 đến 2020. Phương pháp phân tích hồi quy dữ liệu bảng được dùng để kiểm định các yếu tố tác động đến NPL của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Dữ liệu được nghiên cứu là 22 ngân hàng thương mại đang hoạt động tại Việt Nam, các yếu tố tác động được nghiên cứu là quy mô ngân hàng thương mại, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, tỷ lệ trích lập dự phòng, tốc độ tăng trưởng tín dụng, tốc độ tăng trưởng GDP, INF. Kết quả nghiên cứu cho thấy tốc độ tăng trưởng kinh tế không có tác động đến nợ xấu tại các ngân hàng thương mại, trích lập nhiều dự phòng khi cho vay của các ngân hàng thương mại sẽ làm giảm đáng kể đến NPL. Đặc biệt, với các biến như là tăng trưởng tín dụng, lạm phát cao, quy mô ngân hàng thương mại lớn và ngân hàng thương mại muốn tăng nhiều lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu sẽ làm tăng NPL tại các ngân hàng thương mại. Kết luận của nghiên cứu này khuyến nghị các ngân hàng thương mại nên có những bước cải thiện chất lượng tín dụng từ bên trong nội bộ, xây dựng và hoàn thiện hệ thống quản lý theo chuẩn quốc tế Basel II, đẩy mạnh các biện pháp trong công tác thu hồi nợ từ các khách hàng bằng sự chủ động từ ngân hàng thương mại để tránh phần thiệt thòi về mình. Về phần vĩ mô thì chính phủ nên điều chỉnh chính sách tiền tệ một cách linh hoạt hơn để giảm thiểu rủi ro nợ xấu.

Trần Trọng Phong và cộng sự (2015) đã khai thác dữ liệu mảng và áp dụng ba mô hình hồi quy để nghiên cứu các yếu tố là mô hình hồi quy gộp (pooled OLS), mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM) và mô hình ảnh hưởng cố định (FEM). Sau khi tiến hành các kiểm định, cuối cùng FEM là mô hình cho kết quả phù hợp nhất. Dựa trên dữ liệu từ 15 ngân hàng thương mại lớn tại Việt Nam và dữ liệu vĩ mô Việt Nam, kết quả cho thấy khi các yếu tố vĩ mô như lạm phát tăng và tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản của ngân hàng thương mại tăng có tác động ngược chiều với nợ xấu, trong khi các yếu tố nội tại như sự kém hiệu quả quản lý, NPL kỳ trước và tổng tài sản ngân hàng thương mại lại có tác động cùng chiều đến NPL. Nghiên cứu khuyến nghị các ngân hàng thương mại giám sát khoản vay chặt chẽ, đặc biệt là trong các điều kiện kinh tế không ổn định thì các ngân hàng thương mại cần duy trì mức đòn bẩy tài chính hợp lý để giảm thiểu rủi ro tín dụng.

Nguyễn Thị Như Quỳnh và cộng sự (2018) tập trung vào việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2006 đến hết năm 2016. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 25 ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam còn hoạt động bình thường ít nhất đến hết năm 2016, cùng với các nguồn dữ liệu vĩ mô từ World Bank và IMF. Phương pháp nghiên cứu được nhóm tác giả sử dụng là các mô hình Pooled OLS, FEM và REM. Kết quả lựa chọn mô hình cho thấy FEM là mô hình phù hợp nhất. Áp dụng phương pháp hồi quy bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (FGLS) để xử lý hiện tượng phương sai sai số thay đổi, nhóm nghiên cứu phát hiện tăng trưởng tín dụng, GDP và tỷ lệ thất nghiệp có tác động ngược chiều với NPL, trong khi NPL năm trước và INF lại có tác động cùng chiều với NPL hiện tại của ngân hàng thương mại. Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc ngân hàng nhà nước kiểm soát lạm phát, kích cầu và hỗ trợ nền kinh tế tăng trưởng ổn định. Còn về bản thân các ngân hàng thương mại thì nên tăng cường quản lý trong công tác thẩm định, bên cạnh đó cần xử lý nợ xấu thông minh và tích cực thu hổi nợ từ khách hàng để giảm thiểu rủi ro nợ xấu tại các ngân hàng thương mại mình. Luận văn: Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các ngân hàng.

Nghiên cứu của Nguyễn Thành Đạt (2018) về vấn đề nợ xấu trong ngành ngân hàng tại Việt Nam đã sử dụng tập dữ liệu từ 23 ngân hàng thương mại cổ phần trong giai đoạn từ năm 2009 đến hết năm 2017, bao gồm 207 quan sát. Tác giả sử dụng các mô hình dữ liệu bảng, cụ thể là FEM, REM. Kết quả kiểm định Hausman cho thấy mô hình RE không phù hợp, do đó mô hình FEM được lựa chọn để phân tích sâu hơn. Các biến độc lập được xây dựng từ thông tin tài chính như báo cáo kế toán, lý thuyết tín dụng và GDP, tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát. Qua phân tích, nghiên cứu cho thấy các yếu tố như nợ xấu kỳ trước, chi phí thành lập dự phòng và lãi suất có tác động làm gia tăng rủi ro tín dụng. Khi một số chỉ tiêu này tăng lên, khả năng hình thành nợ xấu tại các ngân hàng sẽ lớn hơn. Trái lại, các yếu tố như ROE, quy mô chi nhánh, ứng dụng công nghệ và tốc độ phát triển kinh tế lại có xu hướng làm giảm NPL.

Nguyễn Tuấn Kiệt và Đinh Hùng Phú (2016) tiếp cận nghiên cứu bằng cách sử dụng dữ liệu từ 32 ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong giai đoạn 2007–2013. Các tác giả áp dụng mô hình dữ liệu bảng gồm FEM, REM và GMM để phân tích các yếu tố vi mô và vĩ mô ảnh hưởng đến nợ xấu. Dữ liệu được thu thập từ báo cáo thường niên và số liệu thống kê từ Ngân hàng Nhà nước. Nghiên cứu phát hiện tốc độ gia tăng tín dụng, nợ xấu kỳ trước và tỷ lệ nợ xấu của năm trước đều có ảnh hưởng cùng chiều đến rủi ro tín dụng. Trái lại, các yếu tố như hiệu quả hoạt động, quy mô ngân hàng và khả năng sinh lời lại cho thấy tác động làm giảm rủi ro tín dụng. Dựa trên kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đề xuất hàm ý chính sách phù hợp.

  • Bảng 2.3. Tóm tắt các nghiên cứu liên quan đến đề tài nợ xấu tại Việt Nam

2.2.3. Khoảng trống nghiên cứu

Các bài nghiên cứu về cùng chủ đề mang lại những hiểu biết quan trọng về nguyên nhân và hậu quả của nợ xấu. Việc nghiên cứu chuyên sâu vào đề tài này sẽ góp phần có thêm nhiều góc nhìn cho các nhà quản lý ngân hàng thương mại có thể đưa ra nhiều quyết định đúng đắn và sáng suốt hơn cho bản thân ngân hàng thương mại mình có thể cạnh tranh phát triển cũng như chống chịu lại các rũi ro mà nợ xấu gây ra. Luận văn: Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các ngân hàng.

Qua quá trình tìm hiểu và nghiên cứu những bài nghiên cứu thực nghiệm chủ đề nghiên cứu, tác giả xác định được những khoản trống nghiên cứu như sau:

Thứ nhất, số lượng các bài nghiên cứu kiểm định mối quan hệ giữa yếu tố tỷ lệ thất nghiệp ảnh hưởng tới nợ xấu hầu như ở nghiên cứu Việt Nam và ở nước ngoài đều có nhưng kết quả chỉ thể hiện rõ ở các nghiên cứu nước ngoài còn các nghiên cứu ở Việt nam hầu như là không có ý nghĩa thống kê. Giải thích cho điều này vì tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam dữ liệu không được chuẩn bằng những dữ liệu nghiên cứu ở nước ngoài vì vậy tác giả sẽ không đưa yếu tố thất nghiệp vào mô hình nghiên cứu cũng như yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các ngân hàng thương mại. Nợ xấu kỳ trước có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nợ xấu của các ngân hàng thương mại nhưng được ít nghiên cứu dùng làm biến để nghiên cứu và thường được thực hiện ở nước ta nhiều hơn các nghiên cứu ở nước ngoài.

Thứ hai, ở các bài nghiên cứu trước về nợ xấu có rất nhiều yếu tố với kết quả nghiên cứu được các tác giả kết luận gần như đồng nhất với nhau như là quy mô, tăng trưởng tín dụng, ROE, tăng trưởng kinh tế, lãi suất, lạm phát. Tuy nhiên, biến nghiên cứu về nợ xấu kỳ trước thì kết quả nghiên cứu thường không đồng nhất và có nhiều ý kiến trái chiều về biến này. Thông qua bảng 2.3 được tác giả tổng hợp, có thể thấy tiêu biểu như nghiên cứu của Nguyễn Tuấn Kiệt và Đinh Hùng Phú (2016) đã kết luận rằng với mức ý nghĩa thống kê là 1% thì kết quả ước lượng trong mô hình động cho thấy nợ xấu của kỳ trước tác động ngược chiều đến nợ xấu kỳ sau của ngân hàng thương mại. Còn nghiên cứu khác tiêu biểu như nghiên cứu của Nguyễn Thị Như Quỳnh và cộng sự (2018) đã đưa ra kết luận cùng chiều rằng nợ xấu của năm trước mà cao thì sẽ kéo theo chất lượng tín dụng của năm sau cũng sẽ có xu hướng giảm, điều này cũng phù hợp với một số nghiên cứu ở ngoài nước như Do và Nguyen (2013), Nguyen (2015).

Tóm lại, tác giả nhận thấy cần thực hiện một nghiên cứu để cập nhật và kiểm định thêm về biến nợ xấu năm trước để nhằm nêu lên chính xác nhất về kết quả ảnh hưởng của biến này đến NPL của các ngân hàng thương mại.

  • KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Chương 2 trình bày tổng hợp khung lý thuyết các khái niệm liên quan về nợ xấu cũng như các yếu tố vi mô và vĩ mô có ảnh hưởng tới NPL tại các ngân hàng thương mại ở nước ngoài và Việt Nam. Từ khung lý thuyết bên trên, tác giả xác định được các khoảng trống nghiên cứu cũng như phục vụ cho các nội dung trong chương tiếp theo. Luận văn: Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các ngân hàng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: PPNC nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các ngân hàng

One thought on “Luận văn: Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các ngân hàng

  1. Pingback: Luận văn: KQNC nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các ngân hàng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *