Luận văn: Thực trạng Quản lý văn hóa nhà trường THCS Sóc Sơn

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng Quản lý văn hóa nhà trường THCS Sóc Sơn hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng công tác quản lý văn hoá nhà trường ở các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát đặc điểm tình hình địa phương và ngành Giáo dục và Đào tạo huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội

2.1.1. Khái quát về Huyện Sóc Sơn – Thành phố Hà Nội

Sóc Sơn là huyện ngoại thành nằm ở phía Bắc của thủ đô Hà Nội, phía Bắc giáp huyện Phổ Yên thuộc tỉnh Thái Nguyên; Phía Đông giáp huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang và huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh; Phía Tây bắc giáp thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc; Phía Nam giáp các huyện Mê Linh và Đông Anh.

Huyện có 26 đơn vị hành chính gồm Thị Trấn Sóc Sơn và 25 xã với nhiều tuyến đường giao thông quan trọng như: Quốc lộ 2; Quốc lộ 3; Quốc lộ 18, đường Bắc Thăng Long Nội Bài, Quốc lộ 3 mới Hà Nội – Thái Nguyên, đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai… Đặc biệt, Sóc Sơn có Cảng hàng không Quốc tế Nội Bài và nhiều khu công nghiệp: đó là những điều kiện hết sức thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội của Sóc Sơn và của Hà Nội trong tương lai.

2.1.2. Ngành Giáo dục – Đào tạo huyện Sóc Sơn

Năm học 2025-2026, hệ thống các trường trung học cơ sở của huyện là: có 27 trường trung học cơ sở với 551 lớp và 22.497 học sinh. – Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên trong các trường học cơ bản đảm bảo về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, chuẩn hoá về văn bằng đào tạo và chuẩn nghề nghiệp. Do vậy cấp Trung học cơ sở có những thuận lợi, khó khăn:

  • Các nhà trường được huyện quan tâm đầu tư xây mới, nâng cấp, sửa chữa; đầu tư trang thiết bị hiện đại. Qua đó, cơ sở vật chất các nhà trường được cải thiện đáng kể, các phòng chức năng được trang bị, quang cảnh sư phạm sạch đẹp, thoáng mát, nhiều cây xanh, đảm bảo nhu cầu học tập cũng như sinh hoạt tại trường của các em học sinh.
  • Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ tốt.

Đội ngũ giáo viên có trình độ chuẩn và trên chuẩn, yêu nghề, mến trẻ ham học hỏi, nghiệp vụ sư phạm vững vàng, nhiều giáo viên đạt danh hiệu dạy giỏi cấp Thành phố. Đa phần các em học sinh thông minh, ham học, cha mẹ học sinh quan tâm và phối kết hợp thường xuyên với nhà trường làm tốt công tác giáo dục học sinh. Nhiều tập thể và cá nhân được nhận các danh hiệu cao, nhiều Bằng khen, Giấy khen của UBND thành phố, UBND huyện trao tặng.

Địa bàn huyện rộng, dân cư đông, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, các loại hình trường lớp ngoài công lập chưa phát triển. Chất lượng đội ngũ chưa đồng đều, được đào tạo từ nhiều loại hình, trường lớp khác nhau.

Do lịch sử để lại nên khuôn viên một số trường còn nhỏ hẹp, chưa đủ diện tích theo chuẩn, thiếu sân chơi bãi tập, thiếu khu thể chất… chưa đáp ứng tốt nhất cho việc tổ chức dạy học 2 buổi/ngày, một số trường còn có điểm lẻ.

Sĩ số học sinh một số trường còn khá cao, khó khăn cho việc đổi mới phương pháp dạy học, đặc biệt là việc đổi mới kiểm tra, đánh giá. Chất lượng đội ngũ giữa các trường chưa thật đồng đều.

Khối lượng công việc nhiều, đòi hỏi mỗi cán bộ, giáo viên phải kiêm nhiệm thêm công việc. Năm học 2024 – 2025 cũng là năm học thực hiện nhiều đổi mới như thi vào lớp 10 THPT;

2.2. Giới thiệu khảo sát Luận văn: Thực trạng Quản lý văn hóa nhà trường THCS Sóc Sơn.

2.2.1. Mục đích khảo sát

Mục đích khảo sát nhằm đánh giá thực trạng Văn hóa nhà trường ở các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Sóc Sơn và thực trạng quản lý Văn hóa nhà trường từ đó đề xuất các biện pháp quản lý văn hóa nhà trường mang tính khả thi, phù hợp với thực tế quản lý giáo dục ở Trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Sóc Sơn, qua đó góp phần nâng cao chất lượng quản lý nhà trường và chất lượng giáo dục toàn diện nhân cách người học trong điều kiện hiện nay.

2.2.2. Nội dung khảo sát

Thực trạng Văn hóa nhà trường ở trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Sóc Sơn gồm: Nhận thức của Cán bộ quản lý, GV và HS về vai trò của xây dựng Văn hóa nhà trường; nhận thức của Cán bộ quản lý, GV về giá trị cốt lõi và hệ thống chuẩn mực văn hóa của nhà trường và các mối quan hệ giữa các thành viên nhà trường trong công tác xây dựng Văn hóa nhà trường; nhận thức của Cán bộ quản lý và GV về biểu hiện của các hành vi văn hóa của cán bộ, GV, NV và HS nhà trường; thực trạng các nội dung giáo dục Văn hóa nhà trường; thực trạng các con đường giáo dục Văn hóa nhà trường.

Thực trạng quản lý Văn hóa nhà trường ở trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Sóc Sơn gồm:

  • Hình thành (xây dựng) Văn hóa nhà trường;
  • Duy trì Văn hóa nhà trường và phát triển Văn hóa nhà trường.

2.2.3. Phương pháp khảo sát Luận văn: Thực trạng Quản lý văn hóa nhà trường THCS Sóc Sơn.

Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: thu thông tin về thực trạng, nhu cầu xây dựng văn hóa nhà trường của Cán bộ quản lý, GV, HS các trường được khảo sát bằng phiếu hỏi.

Phương pháp đàm thoại: thu thông tin về thực trạng, nhu cầu xây dựng văn hóa nhà trường của Cán bộ quản lý, GV, HS các trường thông qua trò chuyện, trao đổi trực tiếp.

Phương pháp quan sát: Thông qua quan sát hoạt động, cảnh quan, thái độ, của giáo viên, HS, … để đánh giá một số khía cạnh Văn hóa nhà trường.

Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến công tác quản lý Văn hóa nhà trường ở trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Trên cơ sở các tài liệu nghiên cứu và thực tiễn công tác quản lý Văn hóa nhà trường tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, phân tích, hệ thống, đánh giá những ưu điểm và tồn tại, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm.

2.2.4. Đối tượng khảo sát

Với đối tượng là Cán bộ quản lý, GV có số lượng tổng thể nghiên cứu nhỏ, tác giả chọn đối tượng nghiên cứu bằng số lượng thực tế. Cụ thể: Cán bộ quản lý là 10 người; GV: 50 người.

2.3. Kết quả khảo sát

2.3.1. Thực trạng văn hóa nhà trường ở các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay

2.3.1.1. Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh về tầm quan trọng của xây dựng Văn hóa nhà trường

Để tìm hiểu nhận thức của Cán bộ quản lý, GV, HS về tầm quan trọng của Văn hóa nhà trường, tác giả đã sử dụng phiếu điều tra với 10 Cán bộ quản lý, 50 GV, NV và 500 HS. Luận văn: Thực trạng Quản lý văn hóa nhà trường THCS Sóc Sơn.

  • Bảng 2.1. Nhận thức về tầm quan trọng của Văn hóa nhà trường của Cán bộ quản lý, GV, HS trường Trung học cơ sở địa bàn huyện Sóc Sơn

Qua bảng 2.1 tổng hợp kết quả khảo sát thực trạng nhận thức của Cán bộ quản lý, GV và HS về tầm quan trọng của Văn hóa nhà trường cho thấy: Đa số Cán bộ quản lý, GV, HS đều cho rằng việc xây dựng Văn hóa nhà trường là rất quan trọng và quan trọng. Bên cạnh đó vẫn còn một bộ phận chỉ đánh giá Văn hóa nhà trường là tương đối quan trọng. Điều đó cho thấy Cán bộ quản lý có nhận thức tốt về tầm quan trọng của Văn hóa nhà trường, tuy nhiên vẫn cần thiết phải nâng cao hơn nữa nhận thức của GV và HS trong việc xây dựng và phát triển Văn hóa nhà trường.

2.3.1.2 Nhận thức của giáo viên, học sinh về ảnh hưởng của văn hóa nhà trường đến giáo viên và học sinh

Tiến hành tìm hiểu nhận thức của GV về ảnh hưởng của Văn hóa nhà trường đến GV, tác giả đã tiến hành phát phiếu điều tra đến 50 GV của trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Sóc Sơn.

  • Bảng 2.2. Nhận thức của GV về ảnh hưởng của Văn hóa nhà trường đến GV
  • Bảng 2.2 cho thấy: Những nội dung khác nhau của Văn hóa nhà trường ảnh hưởng đến GV ở các mức độ khác nhau:

Các biểu hiện của Văn hóa nhà trường ảnh hưởng đến GV được phần lớn đánh giá ở mức độ tốt Tuy nhiên vẫn còn một số biểu hiện được GV đánh giá ở mức độ chưa tốt chiếm tỉ lệ tương đối cao. Điều đó cho thấy mặc dù GV sẵn sàng hợp tác, chia sẻ và học hỏi lẫn nhau nhưng nhiều GV vẫn chưa quan tâm đến công việc của nhau, vẫn “việc ai nấy làm”. Bên cạnh đó phần lớn GV chưa cảm thấy thoải mái dễ dàng thảo luận về những vấn đề hay khó khăn mà họ gặp phải và bầu không khí cởi mở, tin cậy, tôn trọng lẫn nhau tạo động lực để GV quan tâm cải tiến nâng cao chất lượng dạy và học còn hạn chế.

Cùng với việc khảo sát ảnh hưởng của Văn hóa nhà trường đến GV, tác giả đã tiến hành phát phiếu khảo sát đến 500 HS của 5 trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.

  • Bảng 2.3. Nhận thức của HS về ảnh hưởng của Văn hóa nhà trường đến HS

Kết quả khảo sát qua bảng 2.3 cho thấy: Các biểu hiện của Văn hóa nhà trường ảnh hưởng đến HS được HS đánh giá ở các mức độ khác nhau. Đa số HS đánh giá cả 10 biểu hiện ảnh hưởng nêu trên ở mức độ trung bình, trong đó biểu hiện “HS được cởi mở và chấp nhận các nhu cầu và hoàn cảnh khác nhau” chiếm tỉ lệ cao nhất và biểu hiện “HS nỗ lực đạt thành tích học tập tốt nhất.

Qua đó có thể thấy rằng HS còn chưa tích cực trong việc tìm tòi, khám phá tri thức, các hoạt động trải nghiệm còn hạn chế, sự tương tác giữa GV và HS, giữa HS với nhau còn chưa cao. Các nội dung khác thể hiện mức độ ảnh hưởng chưa tốt đến HS có tỷ lệ nhỏ hơn. Luận văn: Thực trạng Quản lý văn hóa nhà trường THCS Sóc Sơn.

2.3.1.3 Nhận thức của Cán bộ quản lý, giáo viên về các mối quan hệ giữa các thành viên nhà trường

Để tìm hiểu thực trạng nhận thức của Cán bộ quản lý, GV về các mối quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường trong các hoạt động xây dựng Văn hóa nhà trường ở các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Sóc Sơn hiện nay, tác giả tiến hành phát phiếu điều tra đến 10 Cán bộ quản lý, 50 GV của các nhà trường với nội dung: “Xin thầy/cô cho biết mối quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường là mối quan hệ như thế nào?”.

  • Bảng 2.4: Nhận thức của Cán bộ quản lý, GV về mối quan hệ giữa các thành viên trong công tác xây dựng Văn hóa nhà trường

Kết quả khảo sát ở bảng 2.4 cho thấy: Tỷ lệ Cán bộ quản lý, GV cho rằng mối quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường trong công tác xây dựng Văn hóa nhà trường là quan hệ mang tính chất quản lý, nguyên tắc. Điều này cho thấy quan hệ giữa Cán bộ quản lý với GV, giữa GV với nhau, giữa GV và HS dựa trên các quy định có tính bắt buộc, đòi hỏi mọi người phải tuân thủ các quy định quản lý của cấp trên và các nội quy được thống nhất trong tập thể. Vì vậy, các nội dung phải được triển khai thật chặt chẽ, cụ thể, tỉ mỉ; quá trình thực hiện phải đảm bảo đúng quy trình, kỹ thuật, đúng tiến độ thực hiện, có theo dõi, kiểm tra, đôn đốc thường xuyên… Qua quan sát và tìm hiểu của tác giả được biết, mối quan hệ giữa các thành viên trong nhà còn sử dụng nhiều mệnh lệnh hành chính. Điều đó rất tốt trong quá trình triển khai những quy định có tính bắt buộc chung cho tất cả mọi người, bao gồm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và các quy định, quy chế chuyên môn của ngành mà tất cả mọi người phải tuân theo. Tuy nhiên, vì các quy định mang tính nguyên tắc nhưng không phải ai cũng nắm vững, hiểu rõ nên rất dễ tạo ra không khí làm việc căng thẳng, là điều kiện thuận lợi để xảy ra mâu thuẫn, xung đột trong nội bộ nhà trường.

Bên cạnh đó có GV cho rằng quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường là quan hệ hợp tác, chia sẻ và giúp đỡ lẫn nhau. Thực trạng về mối quan hệ này rất có ý nghĩa vì nó góp phần quan trọng vào việc xây dựng tập thể vững mạnh, tạo sự đồng bộ thống nhất cao để thực hiện nhiệm vụ cốt lõi của nhà trường là dạy tốt, học tốt.

Tuy nhiên, số thành viên cho rằng mối quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường còn độc đoán, áp đặt, thiếu tính dân chủ trong các hoạt động của nhà trường. Chỉ có một số ít cho rằng các mối quan hệ trong nhà trường là dân chủ, cởi mở, tin cậy và tôn trọng lẫn nhau. Luận văn: Thực trạng Quản lý văn hóa nhà trường THCS Sóc Sơn.

Nhận thấy việc giải quyết đúng đắn các mối quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường có ý nghĩa quyết định trong việc xây dựng Văn hóa nhà trường và là vấn đề có tính nhạy cảm. Tác giả đã trực tiếp trò chuyện với một số Cán bộ quản lý, GV và HS nhà trường để tìm hiểu thêm về vấn đề này và nhận thấy:

Quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường được thể hiện ở nhiều khía cạnh. Nhà trường đã thực hiện tương đối tốt các mối quan hệ trong quản lý mang tính nguyên tắc song cũng cần có sự vận dụng linh hoạt vào từng hoàn cảnh cụ thể của từng đối tượng quản lý để có cách ứng xử phù hợp, sẽ đem lại hiệu quả cao hơn. Bên cạnh đó, nhà trường đã quan tâm đến sự đoàn kết, gắn bó chặt chẽ, khích lệ GV, HS dạy tốt, học tốt, thực tế đạt được ở mức khá, song người quản lý cần tôn trọng tập thể, phát huy tính dân chủ trong các hoạt động của nhà trường hơn nữa, hạn chế việc quản lý bằng mệnh lệnh hành chính khô cứng mà cần phải tăng cường các biện pháp năng động linh hoạt mềm dẻo có hiệu quả, tạo bầu không khí dân chủ cởi mở khích lệ động viên mọi người, quan tâm lắng nghe ý kiến nguyện vọng và tâm tư của đội ngũ GV và của HS, tránh các việc làm độc đoán, gia trưởng áp đặt của người quản lý với cấp dưới, với HS, hạn chế tối đa và triệt tiêu sự đố kỵ, ghen ghét giữa các thành viên, gây mất đoàn kết nội bộ.

Để tìm hiểu sâu hơn về mối quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường, tác giả tiến hành khảo sát đánh giá mức độ biểu hiện mối quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường bằng cách phát phiếu hỏi đối với 10 Cán bộ quản lý và 50 GV và 500 HS.

  • Bảng 2.5: Đánh giá của Cán bộ quản lý, GV, HS các trường Trung học cơ sở huyện Sóc Sơn về mức độ biểu hiện của các mối quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường

Kết quả khảo ở bảng 2.5 cho thấy: Nhìn chung các biểu hiện mối quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường được Cán bộ quản lý, GV, HS đánh giá là tương đối tốt, vì tỷ lệ đánh giá ở mức tốt chiếm tỷ lệ cao hơn so với mức trung bình, tỷ lệ đánh giá mối quan hệ là chưa tốt hay không rõ là rất ít. Không có sự khác biệt lớn giữa sự đánh giá của Cán bộ quản lý, GV và HS. Trong tất cả các tiêu chí đánh giá, tỉ lệ đánh giá ở mức độ tốt đối với Cán bộ quản lý từ 50% đến 70%; GV từ 37% đến 86% và HS từ 44 % đến 78%.

Về mối quan hệ giữa Cán bộ quản lý và GV có thể nhận thấy việc chia sẻ quyền lực, mạnh dạn trao quyền chưa được thực hiện tốt, có 37% GV đánh giá ở mức độ tốt và 56 ở mức trung bình, điều đó có nghĩa là các Cán bộ quản lý chưa hoàn toàn yên tâm, tin tưởng khi giao một số công việc nào đó cho GV hoặc còn có tâm lý e dè, chưa mạnh dạn trao quyền cho họ. Bên cạnh đó chỉ có 41% GV tích cực hợp tác, tham gia đóng góp ý kiến với lãnh đạo nhà trường để thực hiện mục tiêu giáo dục đã đề ra. Số còn lại (58%) đóng góp ý kiến ở mức độ trung bình. Luận văn: Thực trạng Quản lý văn hóa nhà trường THCS Sóc Sơn.

Mối quan hệ giữa GV và HS có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng bởi nó ảnh hưởng không nhỏ đến việc nâng cao chất lượng giáo dục. Thực trạng nêu trên có cả nguyên nhân chủ quan và khách quan, cần phải được đánh giá đầy đủ, chính xác, trên cơ sở đó đề ra các biện pháp hữu hiệu để làm cho mối quan hệ này ngày càng tốt đẹp hơn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, đồng thời giữ gìn phát huy được truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta.

Về mối quan hệ giữa HS với HS: Biểu hiện được đa số Cán bộ quản lý, GV, HS đánh giá ở mức độ tốt đó là “HS chấp thuận các nhu cầu và hoàn cảnh khác nhau của HS”, điều đó cho thấy các em đã có sự cảm thông, chia sẻ với các bạn có hoàn cảnh khác nhau, biết chấp nhận những khác biệt về nhu cầu và sở thích cá nhân, ít có sự phân biệt giàu, nghèo… Bên cạnh đó có 75% Cán bộ quản lý và 54% GV; 62% HS đánh giá HS đoàn kết, thân ái, hợp tác, thân thiện ở mức độ tốt. Điều đó rất thuận lợi trong việc tạo dựng môi trường văn hóa học đường lành mạnh. Ngoài ra, tỷ lệ 50% Cán bộ quản lý, 44% GV cho rằng HS học hỏi, hiểu biết lẫn nhau, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ ở mức độ tốt. Như vậy, có thể nhận thấy vẫn còn tỷ lệ lớn HS được đánh giá chưa chịu khó học hỏi và giúp đỡ lẫn nhau để cùng tiến bộ. Qua thực tế quan sát và tìm hiểu của tác giả được biết đa số các HS trong nhà trường có mối quan hệ đoàn kết, bình đẳng, hợp tác và thân thiện, song bên cạnh đó vẫn có một số HS còn những biểu hiện cá nhân, ích kỷ, thậm chí thiếu văn hóa: nói tục, chửi bậy, gây mất đoàn kết, gây gổ đánh nhau ngay trong trường…điều đó làm cho mối quan hệ giữa các HS chưa thực sự tốt đẹp. Việc GD đạo đức, lối sống, kỷ cương, nề nếp học đường cho HS đôi lúc còn chưa được quan tâm đúng mức. Thực trạng trên đòi hỏi nhà trường phải tăng cường các biện pháp giáo dục đạo đức, lý tưởng cho HS, giáo dục kỹ năng sống và tăng cường các biện pháp đảm bảo kỷ cương, nề nếp học đường, ngăn chặn đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực trong HS.

Nhìn chung mối quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường được đa số Cán bộ quản lý, GV đánh giá tốt, tỷ lệ đánh giá mối quan hệ này chưa tốt hay không rõ là không nhiều. Tuy nhiên ở một số tiêu chí mức độ trung bình vẫn chiếm tỷ lệ cao, đòi hỏi nhà trường cần quan tâm hơn nữa đến công tác xây dựng mối quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường, tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng Văn hóa nhà trường ngày càng lành mạnh, tích cực và thân thiện hơn. Đồng thời có các biện pháp để ngăn chặn, đẩy lùi, xóa bỏ các hiện tượng tiêu cực trong nhà trường cũng như sự xâm nhập của các tệ nạn xã hội vào nhà trường.

2.3.1.4 Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh về giá trị cốt lõi và hệ thống chuẩn mực văn hóa của nhà trường.

Để tìm hiểu nhận thức của Cán bộ quản lý, GV về giá trị cốt lõi và hệ thống chuẩn mực văn hóa của nhà trường, tác giả tiến hành điều tra bằng phiếu hỏi đối với 10 Cán bộ quản lý và 50 GV của nhà trường, kết quả được so sánh trong biểu đồ dưới đây:

  • Biểu đồ 2.1. Mức độ nhận thức của Cán bộ quản lý và GV, HS về giá trị cốt lõi và hệ thống chuẩn mực văn hóa của nhà trường Luận văn: Thực trạng Quản lý văn hóa nhà trường THCS Sóc Sơn.

Kết quả khảo sát về mức độ nhận thức của Cán bộ quản lý, GV và HS về giá trị cốt lõi và hệ thống chuẩn mực văn hóa của nhà trường cho thấy:

Có sự khác nhau rõ rệt giữa nhận thức của Cán bộ quản lý, GV và HS. Tỷ lệ biết rất rõ về giá trị cốt lõi và hệ thống các chuẩn mực văn hóa của nhà trường đối với Cán bộ quản lý, GV . Thực trạng trên cho thấy nhận thức của đa số GV, HS nhà trường không rõ ràng về giá trị cốt lõi và hệ thống các chuẩn mực văn hóa mà nhà trường hướng tới.

2.3.1.5 Mức độ biểu hiện của các hành vi vi phạm các chuẩn mực, nội quy của học sinh nhà trường

Để đánh giá mức độ biểu hiện của các hành vi văn hóa của HS nhà trường, tác giả tiến hành điều tra bằng phiếu hỏi về mức độ vi phạm các chuẩn mực, nội quy của nhà trường đối với 500 HS.

  • Bảng 2.6. Mức độ biểu hiện của các hành vi vi phạm chuẩn mực, nội quy của HS nhà trường

Kết quả ở bảng 2.6 cho thấy: Công tác quản lý về giờ giấc, nề nếp ra vào lớp của nhà trường được thực hiện tốt, HS có ý thức trong việc thực hiện nhiệm vụ này. Tuy nhiên, cũng cần quan tâm đến việc vẫn có HS thường xuyên đi học muộn.

Về hiện tượng một số HS đi học muộn được ghi nhận nhiều nhất trong sổ trực tuần của Đội và Sổ đầu bài của các lớp. Số HS thường xuyên đi học muộn (từ 03 lần trở lên/tháng) không nhiều. Những HS này đa số nhà ở xa trường nhiều khi bị ảnh hưởng bởi thời tiết không thuận lợi dẫn đến việc đi lại khó khăn nên các em thường xuyên đi học muộn.

Về hiện tượng HS nói tục, chửi bậy, gây gổ đánh nhau trong và ngoài nhà trường, qua quan sát của tác giả thấy rằng trong khi đùa nghịch, giao tiếp giữa HS với nhau một số em đôi lúc còn nói tục, chửi bậy một cách vô ý thức, nhất là các HS nam. Bên cạnh đó vẫn còn một bộ phận nhỏ HS chưa thật sự có ý thức tốt, còn có thái độ thiếu tôn trọng đối với GV và bài giảng của thầy, cũng như thiếu lịch sự và lễ độ trong giao tiếp với GV, nhất là đối với GV trẻ.

Về trang phục và cách ăn mặc, kiểu tóc của HS. Hiện nay nhà trường đã có quy định bắt buộc HS mặc đồng phục đến trường. Nhìn chung, hầu hết các em có ý thức tốt thực hiện. Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận HS nam, không tuân theo quy định của nhà trường, mặc không đúng đồng phục hoặc áo bỏ ngoài quần, không sơ vin gọn gàng, tóc để quá dài hoặc nhuộm màu không tự nhiên. Luận văn: Thực trạng Quản lý văn hóa nhà trường THCS Sóc Sơn.

Về các biểu hiện vi phạm nề nếp học tập, qua nghiên cứu sổ ghi đầu bài của các lớp, hầu hết trong các tuần học lớp nào cũng có HS bị GV ghi vào sổ nhắc nhở về ý thức, thái độ học tập. Các lỗi vi phạm thường gặp là HS còn mất trật tự, làm việc riêng trong giờ học, chưa chuẩn bị bài cũ trước khi đến lớp, chưa tích cực, tự giác trong học tập… Thực tế những lỗi trên HS hay mắc phải nhưng lại chưa có một biện pháp hữu hiệu nào để giải quyết triệt để các vấn đề nêu trên, có nhiều nguyên nhân dẫn đến các hiện tượng trên nhưng trên hết vẫn là do ý thức cá nhân của mỗi HS chưa có sự cố gắng, nỗ lực vươn lên trong học tập và rèn luyện. Cần có các biện pháp nhằm nâng cao nhận thức cho cá nhân mỗi HS, đặc biệt là các HS vi phạm khuyết điểm, giúp các em có động lực để phấn đấu vươn lên. Giải quyết tốt các vấn đề tồn tại trong học tập là điều kiện tốt để xây dựng và phát triển Văn hóa nhà trường.

2.3.1.6 Thực trạng các nội dung giáo dục văn hóa nhà trường.

Tiến hành nghiên cứu thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, GV, HS về các nội dung giáo dục Văn hóa nhà trường, tác giả tiến hành phát phiếu hỏi với 10 cán bộ quản lý, 50 GV, 500 HS của trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội với nội dung câu hỏi: “Trong các nội dung giáo dục Văn hóa nhà trường, nội dung nào quan trọng nhất ?”.

  • Bảng 2.7: Nhận thức của Cán bộ quản lý, GV, HS trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Sóc Sơn về các nội dung giáo dục Văn hóa nhà trường

Kết quả ở bảng 2.7 cho thấy: Tất cả các nội dung giáo dục Văn hóa nhà trường đều được các đối tượng khảo sát quan tâm nhưng ở các mức độ khác nhau. Nội dung được xác định là quan trọng nhất ở các đối tượng cụ thể như sau:

Đối với Cán bộ quản lý: 50% cho rằng nội dung giáo dục GV, HS thực hiện các chuẩn mực, giá trị, niềm tin trong nhà trường là quan trọng nhất, tiếp đến là nội dung giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống cho GV, HS (chiếm 30%), và nội dung giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp và ứng xử sư phạm (chiếm 20%).

Đối với GV: 48% cho rằng nội dung giáo dục GV, HS thực hiện các chuẩn mực, giá trị, niềm tin trong nhà trường là quan trọng nhất, tiếp theo là đến nội dung giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống cho GV, HS (chiếm 24%), và nội dung giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp và ứng xử sư phạm (chiếm 18%), giáo dục truyền thống, nghi thức, nghi lễ của nhà trường (chiếm 4%) và cuối cùng là giáo dục lịch sử và các câu chuyện được lưu truyền của nhà trường (chiếm 4%).

Về phía HS: Đối với GV: 44% cho rằng nội dung giáo dục GV, HS thực hiện các chuẩn mực, giá trị, niềm tin trong nhà trường là quan trọng nhất, tiếp theo là đến nội dung giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống cho GV, HS (chiếm 35%), nội dung giáo dục truyền thống, nghi thức, nghi lễ của nhà trường (chiếm 10%); Giáo dục lịch sử và các câu chuyện được lưu truyền của nhà trường (chiếm 6%) và nội dung giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp và ứng xử sư phạm (chiếm 7%).

Như vậy, nội dung giáo dục GV, HS thực hiện các chuẩn mực, giá trị, niềm tin trong nhà trường đều được 3 đối tượng trên đánh giá là quan trọng nhất với tỉ lệ cao nhất, tính chung là 44%, tiếp đến là nội dung giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống cho GV, HS chiếm tỉ lệ chung là 35%. Có sự khác biệt về mức độ quan trọng của các nội dung tiếp theo nhưng mức độ không nhiều. Các kết quả này phản ánh nhận thức về mức độ quan trọng của các nội dung giáo dục Văn hóa nhà trường của cán bộ quản lý, GV, HS là khác nhau không nhiều. Điều quan trọng là nhà trường cần phải quan tâm đến tất cả các nội dung giáo dục Văn hóa nhà trường, song cần quan tâm hơn cả đến các nhu cầu được đa số Cán bộ quản lý, GV, HS đánh giá là quan trọng nhất và chú ý đến những đánh giá của HS vì đây là chủ thể quan trọng nhất, là cái đích cuối cùng mà nhà trường hướng đến.

2.3.1.7 Thực trạng các con đường giáo dục văn hóa nhà trường.

Để thấy được thực trạng nhận thức của Cán bộ quản lý, GV và HS về các con đường giáo dục văn hóa nhà trường, chúng tôi tiến hành trưng cầu ý kiến 10 Cán bộ quản lý, 50 GV và 500 HS với câu hỏi: “Trong các con đường giáo dục Văn hóa nhà trường, theo anh/chị con đường nào là quan trọng nhất?”.

  • Bảng 2.8: Nhận thức của Cán bộ quản lý, GV, HS về các con đường giáo dục Văn hóa nhà trường

Như vậy có thể thấy cả Cán bộ quản lý, GV và HS đều cho rằng nhà trường là con đường giáo dục quan trọng nhất (chiếm tỷ lệ 66,2%), điều này phù hợp với yêu cầu giáo dục Văn hóa nhà trường và con đường giáo dục xã hội ít quan trọng nhất (4,3%) (cả 3 chủ thể đều đánh giá thấp hơn các con đường giáo dục khác). Song có điểm đáng lưu ý là tỷ lệ Cán bộ quản lý, GV, HS cho rằng con đường giáo dục tự học tập, rèn luyện quan trọng nhất chiếm 15,2% đã thể hiện vị trí, vai trò trách nhiệm của HS trong việc xây dựng Văn hóa nhà trường. Nhà trường cần phải quan tâm đến cả 4 con đường giáo dục Văn hóa nhà trường nêu trên một cách đồng bộ, có sự phối hợp giữa các con đường giáo dục một cách hợp lý, hiệu quả nhất.

2.3.2. Thực trạng quản lý văn hóa nhà trường ở các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay Luận văn: Thực trạng Quản lý văn hóa nhà trường THCS Sóc Sơn.

2.3.2.1 Thực trạng hình thành (xây dựng) văn hóa nhà trường

Để tìm hiểu công tác xây dựng Văn hóa nhà trường, tác giả tiến hành nghiên cứu các tài liệu thu thập được từ nhà trường bao gồm: Chiến lược phát triển của nhà trường giai đoạn 2016 – 2021, tầm nhìn đến năm 2026; kế hoạch của từng năm học; các báo cáo tổng kết năm học; báo cáo tự đánh giá của nhà trường hàng năm; báo cáo đánh giá ngoài của Sở GD&ĐT Hà Nội, kết hợp với quan sát thực tế ở nhà trường.

Các trường đã xây dựng được Chiến lược phát triển của nhà trường giai đoạn 2016 – 2021, tầm nhìn đến năm 2026 trong đó có thể hiện một số nội dung cơ bản của xây dựng Văn hóa nhà trường, bao gồm: tầm nhìn, sứ mệnh và hệ thống các giá trị cơ bản mà nhà trường hướng tới, xác định các vấn đề ưu tiên trong đó có vấn đề giáo dục thái độ, động cơ học tập; giáo dục đạo đức, kỹ năng sống cho HS, xây dựng thương hiệu và tín nhiệm của xã hội đối với nhà trường… Tuy nhiên chiến lược này lại không được công khai trên các phương tiện thông tin của nhà trường.

Trong khuôn viên nhà trường có trang trí logo – biểu tượng về nhà trường; có treo các nội quy, quy định đối với CB, GV, NV và HS; các tiêu chuẩn về cơ quan, đơn vị văn hóa mà nhà trường hướng tới; có bảng chuẩn mực đạo đức của GV và HS.

Trong các kế hoạch năm học cũng như các báo cáo tổng kết năm học không có nội dung riêng nào về xây dựng Văn hóa nhà trường. Trong các văn bản này ít nhiều có đề cập đến các nội dung nhận thức, tu dưỡng rèn luyện và thực hiện các hành vi, chuẩn mực về đạo đức lối sống, thực hiện nhiệm vụ chuyên môn dạy và học, xây dựng tình thần đoàn kết trong tập thể sư phạm… để xây dựng tập thể sư phạm nhà trường vững mạnh, các tiêu xây dựng chất lượng đội ngũ, chất lượng học lực và hạnh kiểm của HS, việc xây dựng cảnh quan môi trường sư phạm của nhà trường.

Hiện nay các văn bản “pháp lý” mang tính chế tài nhằm điều chỉnh các hành vi văn hóa trong phạm vi nội bộ nhà trường còn thiếu và chưa đồng bộ. Chẳng hạn như chưa có chiến lược phát triển Văn hóa nhà trường hay kế hoạch cụ thể trong việc định hướng thực hiện xây dựng Văn hóa nhà trường. Vì vậy, trong công tác thực hiện còn nhiều vấn đề bất cập, cách hiểu và cách làm của các thành viên trong nhà trường chưa thống nhất và đồng bộ, còn mang tính tự phát, dẫn đến hiệu quả chưa cao.

Để tìm hiểu về thực trạng các con đường hình thành Văn hóa nhà trường, tác giả tiến hành điều tra bằng phiếu hỏi đối với 10 Cán bộ quản lý, 50 GV và 500 HS nhà trường với câu hỏi: “Theo thầy/cô/HS, Văn hóa nhà trường hiện nay được hình thành chủ yếu thông qua con đường nào?”. Luận văn: Thực trạng Quản lý văn hóa nhà trường THCS Sóc Sơn.

  • Bảng 2.9. Thực trạng các con đường hình thành Văn hóa nhà trường

Kết quả ở bảng 2.9 cho thấy: Các con đường hình thành Văn hóa nhà trường rất đa dạng và phong phú, sự đánh của các đối tượng khác nhau có sự khác biệt không nhiều:

Đối với Cán bộ quản lý: 50% cho rằng Văn hóa nhà trường hiện tại được hình thành chủ yếu từ việc xây dựng và thực hiện các chuẩn mực và nội quy; 30% cho rằng Văn hóa nhà trường hình thành từ kinh nghiệm tích lũy được qua thời gian, biểu tượng và truyền thống của nhà trường và 20% đánh giá Văn hóa nhà trường hình thành từ cách xử lý công việc và việc xây dựng các mối quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường.

Đối với GV: Có 32% cho rằng Văn hóa nhà trường hiện tại được hình thành chủ yếu từ việc xây dựng và thực hiện các chuẩn mực và nội quy; tiếp đến là từ kinh nghiệm tích lũy được qua thời gian, biểu tượng và truyền thống của nhà trường (26%); từ cách xử lý công việc và việc xây dựng các mối quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường (14%); từ các mục tiêu, chính sách và sự nhất quán trong việc thực hiện những chính sách ấy (13%); từ những giá trị và niềm tin, các loại thái độ, cảm xúc và ước muốn cá nhân (10%) và cuối cùng là từ những nghi thức, hành vi và đồng phục của nhà trường (5%).

Đối với HS: Các kết quả đánh giá có tỉ lệ theo thứ tự từ cao xuống thấp lần lượt là: Tỉ lệ HS cho rằng Văn hóa nhà trường hiện tại được hình thành chủ yếu từ việc xây dựng và thực hiện các chuẩn mực và nội quy là 40%; tiếp đến là từ kinh nghiệm tích lũy được qua thời gian, biểu tượng và truyền thống của nhà trường là (26%); từ những giá trị và niềm tin, các loại thái độ, cảm xúc và ước muốn cá nhân (16%); từ các mục tiêu, chính sách và sự nhất quán trong việc thực hiện những chính sách ấy (8%); từ cách xử lý công việc và việc xây dựng các mối quan hệ giữa các thành viên trong nhà trường (5%); và cuối cùng là từ những nghi thức, hành vi và đồng phục của nhà trường (4%). Thứ tự này có sự khác biệt tương đối rõ rệt so với sự đánh giá của Cán bộ quản lý và GV ở nội dung có STT 5 và 3 trong bảng khảo sát.

Kết quả đánh giá chung của Cán bộ quản lý, GV và HS: Phần lớn (40%) cho rằng Văn hóa nhà trường hiện tại được hình thành chủ yếu từ việc xây dựng và thực hiện các chuẩn mực và nội quy, sau đó là từ kinh nghiệm tích lũy được qua thời gian, biểu tượng và truyền thống của nhà trường (26%), các nội dung khác dao động từ 4 % đến 15% và chênh lệch nhau không nhiều.

2.3.2.2 Thực trạng duy trì văn hóa nhà trường

Tiến hành tìm hiểu thực trạng duy trì Văn hóa nhà trường ở các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội tác giả tiến hành quan sát thực tế, nghiên cứu các tài liệu về nhà trường. Kết quả thu được như sau:

Trong những năm qua, để duy trì Văn hóa nhà trường cấp ủy, lãnh đạo các nhà trường đã chỉ đạo, tổ chức triển khai việc duy trì các kết quả đã đạt được trong tất cả các hoạt động xây dựng Văn hóa nhà trường, Cụ thể:

Hàng năm các nhà trường đều xây dựng kế hoạch năm học trong đó có đề ra các nhiệm vụ trọng tâm và các chỉ tiêu và biện pháp chủ yếu thực hiện trong năm học như: Công tác xây dựng đội ngũ, kế hoạch tổ chức các hoạt động giáo dục, công tác xây dựng cơ sở vật chất, cảnh quan môi trường sư phạm; công tác phối hợp với cha mẹ học sinh, các tổ chức, đoàn thể, cá nhân để giáo dục HS về truyền thống lịch sử, văn hoá dân tộc và huy động các nguồn lực xây dựng cơ sở vật chất cho nhà trường; Các chỉ tiêu về kết quả xếp GV, xếp loại học lực, hạnh kiểm của HS; kế hoạch thực hiện các phong trào thi đua, các cuộc vận động trong năm học… Chỉ đạo thực hiện tốt các mục tiêu, chỉ tiêu trong Chiến lược phát triển nhà trường cũng như các nội dung đặt ra trong kế hoạch mỗi năm học. Thực hiện chính sách toàn diện đối với các đối tượng là thành viên của nhà trường và các mối quan hệ giữa các thành viên đó. Luận văn: Thực trạng Quản lý văn hóa nhà trường THCS Sóc Sơn.

Thường xuyên quán triệt việc thực hiện đạo đức nhà giáo, ở đó tăng cường bồi dưỡng về nhận thức vị trí vai trò của người thầy; tổ chức tốt việc đánh giá chuẩn Hiệu trưởng và chuẩn nghề nghiệp GV. Tổ chức tốt việc thực hiện kỷ luật lao động, quy chế chuyên môn. Phổ biến và hướng dẫn kịp thời cho CBGV học tập và thực hiện đúng theo quy chế đánh giá xếp loại HS Bộ mới ban hành. Tổ chức thực hiện tốt cuộc vận động “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”. Đề ra quy định về trang phục của GV khi lên lớp, tư thế tác phong, nếp sống, ứng xử mẫu mực; thương yêu giúp đỡ HS. Mỗi GV nhà trường không ngừng học tập, nâng cao trình độ về mọi mặt, phong trào rèn luyện đạo đức nhà giáo thể hiện ở các mặt: 100% GV đều có ý thức tổ chức kỷ luật, trách nhiệm với công việc và tinh thần phục vụ nhân dân trong các hoạt động giáo dục, chống lại các biểu hiện sai trái, tiêu cực trong giáo dục. Các thầy cô luôn yêu ngành, yêu nghề, yên tâm công tác và hết lòng thương yêu HS. Đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp cùng hoàn thành tốt nhiệm vụ. Nhà trường thường xuyên đôn đốc, nhắc nhở và kịp thời uốn nắn các hành vi chưa chuẩn mực của Mỗi cán bộ lãnh đạo thực sự là những tấm gương tiêu biểu vễ đạo đức, lối sống. Phong trào tự học và sáng tạo đối với GV đã thể hiện việc tự học vừa là quá trình để tự hoàn thiện mình vừa để nêu gương cho HS, các GV không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ mà còn tự học tin học, ngoại ngữ, đáp ứng yêu cầu về chuẩn nghề nghiệp. Sáng tạo của các thầy cô chủ yếu thể hiện trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy qua từng bài học, đổi mới trong cách quản lý và giáo dục HS và sáng tạo trong vận dụng tri thức và công nghệ mới vào quá trình giảng dạy.

Các Nhà trường đã xây dựng tốt nền nếp kỷ cương đối với HS, xây dựng nội quy HS; Đoàn trường xây dựng kế hoạch hoạt động và đánh giá thi đua các tập thể HS ngay từ đầu năm học. Thực hiện tốt việc phối hợp quản lý giáo dục HS giữa các lực lượng: GV chủ nhiệm, đội cờ đỏ của đoàn trường, gia đình HS. Tổ chức bồi dưỡng cán bộ lớp, cán bộ chi đoàn xây dựng tập thể tự quản; tổ chức tốt các hoạt động giáo dục, nâng cao chất lượng các tiết sinh hoạt tập thể, sinh hoạt lớp, sinh hoạt chi đoàn lớp; tăng cường giáo dục pháp luật, giáo dục kỹ năng sống…, đồng thời tổ chức nhiều hoạt động theo kế hoạch giáo dục và chủ đề, chủ điểm hàng tháng trong năm học; đẩy mạnh phong trào thể dục thể thao, văn nghệ, tổ chức các cuộc thi, sáng tạo kỹ thuật… Cuối mỗi tuần Hiệu trưởng họp giao ban với các thành phần chủ chốt trong nhà trường để đánh giá tình hình HS tuần và kiển khai kế hoạch tuần tiếp Sau mỗi tuần Đoàn trường đều có đánh giá thi đua các tập thể lớp, đánh giá thi đua cuối kỳ, cuối năm học.

Tổ chức tốt phong trào thi đua “Dạy tốt – Học tốt” tiếp tục được phát huy và đi vào chiều sâu và góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và giáo dục mũi nhọn thu hút 100% CB, GV, HS tham Các hình thức nhằm đẩy mạnh phong trào thi đua “Hai tốt” được tập trung vào việc đổi mới phương pháp giảng dạy phù hợp với chương trình phân ban và trình độ của HS, nâng cao chất lượng sinh hoạt chuyên môn ở các tổ, nhóm chuyên môn. Tích cực dự giờ thăm lớp, trao đổi kinh nghiệm trong tổ nhóm chuyên môn, tiến hành hội giảng vào các dịp 20/10, 20/11, 08/3; 26/3. Nhiều giờ hội giảng với chủ đề đổi mới phương pháp dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học được thực hiện. Thông qua các giờ hội giảng đó mỗi thầy cô giáo thấy được những mặt mạnh, mặt yếu trong công tác giảng dạy, biết ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, đáp ứng yêu cầu của giáo dục hiện đại. Trong mỗi năm học, nhà trường đều tổ chức thi GV giỏi cấp trường cho một số các bộ môn, tạo không khí thi đua sôi nổi trong phong trào thi đua dạy tốt tại đơn vị. Công đoàn đã làm tốt công tác vận động đoàn viên tích cực hưởng ứng tham gia cuộc thi, động viên tinh thần tạo điều kiện về thời gian… cho các GV tham gia thi.

Thực hiện phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, HS tích cực” của ngành GD, hướng tới xây dựng trường chuẩn quốc gia, nhà trường đã chú trọng đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, khuôn viên nhà trường luôn đảm bảo an toàn, sạch sẽ, có nhiều cây xanh, thoáng mát và ngày càng đẹp hơn. Lớp học đủ ánh sáng, bàn ghế phù hợp với lứa tuổi Có đủ nhà vệ sinh cho GV, HS và được giữ gìn sạch sẽ. HS tích cực tham gia bảo vệ cảnh quan môi trường sư phạm. Tổ chức dạy và học có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và điều kiện của địa phương, giúp các em tự tin trong học tập. Tăng cường giáo dục đạo đức và rèn luyện kỹ năng sống cho các em HS thông qua các buổi sinh hoạt tập thể, hoạt động ngoài giờ lên lớp. Thường xuyên tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể thao. Tổ chức các trò chơi dân gian trong các dịp lễ hội…

Phong trào xây dựng “Cơ quan, đơn vị văn hoá”, “Gia đình văn hoá” đã được chú trọng, cuộc vận động xây dựng gia đình nhà giáo văn hoá được đông đảo CB, GV, NV hưởng ứng và thực hiện có kết quả 100% các gia đình nhà giáo đều là gia đình văn hoá. Nhà trường đã làm tốt việc phối kết hợp với chính quyền phát động các phong trào thi đua, thực hiện dân chủ hoá trường học, quan tâm tới đời sống, cơ sở vật chất và tinh thần của CB, GV, NV nhà trường, xây dựng mối đoàn kết tập thể, tích cực xây dựng cơ quan văn hoá. Luận văn: Thực trạng Quản lý văn hóa nhà trường THCS Sóc Sơn.

Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý, đặc biệt là sử dụng các phần mềm quản lý như phần mềm quản lý chuyên môn, phần mềm quản lý nhân sự EMIS, PMIS, quản lý tài chính, quản lý thư viện… Tích cực bồi dưỡng nâng cao khả năng ứng dụng công nghệ thông tin cho các cán bộ phụ trách các bộ phận; duy tu, bảo dưỡng và mua sắm thêm hệ thống máy vi tính mới, bảng tương tác. Thành lập duy trì và nâng cao khả năng hoạt động của phòng công nghệ thông tin. Hàng năm nhà trường đều tổ chức bồi dưỡng tin học và ứng dụng công nghệ thông tin cho cán bộ GV để thực hiện việc soạn giảng, xây dựng đề kiểm tra, tổ chức trình chiếu phục vụ giáo dục tập thể, tổ chức các hoạt động ngoại khóa cho HS.

Phối hợp tốt với các tổ chức đoàn thể, các lực lượng trong và ngoài nhà trường tham gia cùng giáo dục HS, đặc biệt là cha mẹ HS.

Nhìn chung, trong những năm qua, cùng với việc thực hiện nhiệm vụ chính của nhà trường là công tác dạy và học, công tác duy trì Văn hóa nhà trường tuy không được tách thành nội dung riêng nhưng đã được thể hiện trong tất cả các mặt hoạt động của nhà trường, từ việc xây dựng các mục tiêu, kế hoạch, chính sách, các chuẩn mực, nội quy đến việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ, cũng như công tác chỉ đạo, kiểm tra tại đơn vị. Có thể thấy các nội dung về Văn hóa nhà trường đã được thực hiện một cách nghiệm túc, phát huy được sức mạnh của các tổ chức và cá nhân trong nhà trường, xây dựng khối đoàn kết nhất trí cao trong tập thể nhà trường góp phần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của nhà trường qua mỗi năm học.

2.3.2.3 Phát triển văn hóa nhà trường

Để phát triển Văn hóa nhà trường, nhà trường đã xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển trong tương lai, xây dựng được tầm nhìn – định hướng để phát triển Văn hóa nhà trường: “Là một trong những trường có chất lượng cao của tỉnh mà HS lựa chọn để học tập và rèn luyện, nơi GV và HS cảm thấy tự hào, vững tin và luôn có khát vọng vươn lên”. Sứ mệnh của nhà trường là “Tạo dựng được môi trường học tập về nề nếp, kỷ cương có chất lượng giáo dục cao, để mỗi HS đều có cơ hội phát triển tài năng và tư duy sáng tạo”. Xác định các giá trị cốt lõi làm cơ sở cho sự thành công của nhà trường bao gồm: “Tình đoàn kết; tinh thần trách nhiệm; lòng tự trọng; tính trung thực; lòng nhân ái; sự hợp tác; tính sáng tạo và khát vọng vươn lên”.

Tuy nhiên, công tác đánh giá văn hóa hiện tại và xác định những yếu tố văn hóa nào cần thay đổi là một việc làm khó khăn vì văn hóa thường tiềm ẩn, khó thấy, do vậy chưa được tiến hành đầy đủ. Chưa có các biện pháp cụ thể để thu hẹp khoảng cách của những giá trị văn hóa hiện có và văn hóa của nhà trường trong tương lai.

Việc xác định vai trò của lãnh đạo trong việc dẫn dắt thay đổi và phát triển Văn hóa nhà trường còn mờ nhạt, chưa có các nỗ lực để tuyên truyền cho mọi thành viên trong nhà trường nhận thức đúng tầm nhìn, từ đó tạo sự tin tưởng, xóa đi các ngờ vực, lo âu và cùng nỗ lực thực hiện. Luận văn: Thực trạng Quản lý văn hóa nhà trường THCS Sóc Sơn.

Chưa có một kế hoạch, một phương án hành động cụ thể, chi tiết tới từng việc, từng người để thực thi việc phát triển Văn hóa nhà trường. Công tác đánh giá Văn hóa nhà trường còn hạn chế.

Để tìm hiểu sự tự hào, niềm tin của các thành viên đối với tổ chức nhà trường, là điều kiện quan trọng trong việc phát triển Văn hóa nhà trường, tác giả đã tiến hành khảo sát ý kiến của 10 Cán bộ quản lý, 50 GV và 500 HS.

  • Bảng 2.10. Đánh giá mức độ tự hào và niềm tin của các thành viên vào tổ chức nhà trường

Kết quả khảo sát ở bảng 2.10 cho thấy: Đa số Cán bộ quản lý, GV, HS đều cho thấy sự tự hào mình là một thành viên của tổ chức nhà trường và tin tưởng vào sự phát triển của nhà trường trong tương lai. Có 38% HS rất tự hào về nhà trường, trong khi đó tỉ lệ này thấp hơn đối với GV (26%) và Cán bộ quản lý (30%). Bên cạnh đó một tỉ lệ tương đương đặt niềm tin vào nhà trường. Có 100% Cán bộ quản lý, 90% GV và 94% HS tin tưởng đến rất tin tưởng; Tuy nhiên cũng cần phải chú ý đến tỉ lệ 14% GV và 8% HS chưa cảm thấy tự hào và 10% GV và 6% HS chưa tin tưởng về nhà trường. Dù tỉ lệ đó là nhỏ song điều đó cho thấy trong công tác xây dựng và phát triển nhà trường, cần quan tâm toàn diện đến tất cả các mặt hoạt động, đặc biệt là công tác tuyên truyền để mọi thành viên trong nhà trường hiểu, đồng thuận, tạo động lực để phấn đấu vươn lên.

Thực tế trên cho thấy, việc phát triển Văn hóa nhà trường là công việc của cả tập thể nhưng Hiệu trưởng nhà trường có vai trò hết sức quan trọng: Là người xác định tầm nhìn cho nhà trường, dẫn dắt nhà trường thực hiện tầm nhìn đó, đồng thời là người tổ chức lập kế hoạch chiến lược, định hướng Văn hóa nhà trường… Hoạt động của Hiệu trưởng mang tính toàn diện, quán xuyến tất cả các phương diện của một nhà trường, từ kế hoạch chiến lược phát triển nhà trường, đội ngũ CB, GV, hoạt động dạy học – giáo dục… cho đến cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, mối quan hệ nhà trường với cộng đồng. Việc xây dựng và phát triển Văn hóa nhà trường có ảnh hưởng quyết định của người đứng đầu nhà trường – người Hiệu trưởng. Nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục của nhà trường thì việc xây dựng và phát triển Văn hóa nhà trường là một nội dung quan trọng cần được Hiệu trưởng quan tâm.

2.4. Đánh giá thực trạng Luận văn: Thực trạng Quản lý văn hóa nhà trường THCS Sóc Sơn.

2.4.1. Điểm mạnh

Đội ngũ cán bộ, GV, NV các nhà trường được biên chế đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng. Các CB, GV, NV có trình độ chuyên môn đạt chuẩn và trên chuẩn. Các thầy cô luôn yêu nghề, yên tâm công tác, nhiệt tình có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc và luôn mong muốn nhà trường phát triển. Có nhận thức tốt về tầm quan trọng của Văn hóa nhà trường, sẵn sàng hợp tác, học hỏi và chia sẻ với nhau trong công việc và cuộc sống.

HS nhà trường đa số chăm ngoan, có tinh thần, ý thức cao trong học tập và rèn luyện; đoàn kết, thân thiện và hợp tác, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Chất lượng giáo dục của nhà trường ngày càng được nâng cao, uy tín của nhà trường ngày càng được khẳng định.

Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của các nhà trường từng bước được đầu tư xây dựng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.

Với bề dày truyền thống xây dựng và phát triển, công tác quản lý Văn hóa nhà trường có nhiều thuận lợi. Ban lãnh đạo các nhà trường đã xây dựng được kế hoạch dài hạn, trung hạn và ngắn hạn phát triển nhà trường có tính khả thi, sát thực tế. Công tác tổ chức triển khai kiểm tra đánh giá sâu sát, thực chất và có nhiều đổi mới. Kế hoạch năm, học kỳ, tháng, tuần phù hợp với thực tế. Lãnh đạo các nhà trường được sự tin tưởng cao của CB, GV, NV và HS. Quan điểm chỉ đạo của Ban lãnh đạo là “Dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm”.

Công tác dạy và học đã đi vào chiều sâu, nhà trường luôn tổ chức tốt các phong trào thi đua, các cuộc vận động gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ năm học.

2.4.2. Điểm yếu

Nhận thức của một bộ phận Cán bộ quản lý, GV, HS nhà trường về vị trí, vai trò của công tác quản lý Văn hóa nhà trường còn hạn chế dẫn đến một bộ phận HS chưa có cố gắng trong học tập và rèn luyện, còn lười học, chưa tự giác, hay vi phạm nội quy, chuẩn mực đạo đức của nhà trường.

Công tác quản lý Văn hóa nhà trường còn chưa được quan tâm đúng mức, nội dung quản lý Văn hóa nhà trường chưa được cụ thể hóa, chưa có định hướng chiến lược và các biện pháp hữu hiệu nên quá trình thực hiện còn mang tính tự phát nên chưa phát huy được vai trò chủ thể của các cá nhân trong nhà trường và hiệu quả đạt được chưa cao.

Cơ sở vật chất chưa đồng bộ và hiện đại, còn thiếu nhà đa năng để phục vụ các hoạt động tập thể của nhà trường và luyện tập thể dục, thể thao cho GV, HS.

Công tác kiểm tra, đánh giá chưa chặt chẽ và chưa thường xuyên, còn mang nặng tính phong trào, chưa đi vào thực chất của vấn đề. Vì vậy chưa phát huy được hiệu quả, sức mạnh đặc thù của Văn hóa nhà trường. Công tác thông tin tuyên truyền chưa mang lại hiệu quả mong muốn và chưa thực sự được chú trọng.

2.4.3. Thuận lợi Luận văn: Thực trạng Quản lý văn hóa nhà trường THCS Sóc Sơn.

Các nhà trường luôn được sự quan tâm của sâu sắc lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo, thành phố Hà Nội, Huyện ủy, HĐND, UBND Huyện Sóc Sơn, lãnh đạo địa phương, sự hỗ trợ của các ban ngành, đoàn thể, đặc biệt sự quan tâm phối kết hợp của các bậc cha mẹ HS.

Nhân dân huyện Sóc Sơn có truyền thống hiếu học, có nhiều HS thành đạt qua các thời kỳ. Công tác xã hội hóa giáo dục được thực hiện tốt, giúp nhà trường có thêm điều kiện xây dựng cảnh quan môi trường sư phạm luôn sạch đẹp.

Đời sống và thu nhập của người dân ngày càng được nâng lên; ý thức đối với sự nghiệp giáo dục ngày càng cao, đa số cha mẹ HS đều xác định và quan tâm đầu tư cho con em học tập.Nhà trường đã tạo được uy tín với HS, phụ huynh và nhân dân trong khu vực.

2.4.4. Khó khăn

Đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng giáo dục của cha mẹ HS và xã hội trong thời kỳ hội nhập.

Yêu cầu về chất lượng chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, khả năng sáng tạo và thích ứng của đội ngũ Cán bộ quản lý, GV, NV ngày càng cao mới đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục.

Tình trạng xuống cấp về đạo đức bên ngoài xã hội và tư tưởng thực dụng đang có nguy cơ ngăn cản bước tiến của nhà trường. Môi trường xã hội xung quanh ảnh hưởng không nhỏ đến tư tưởng học tập của HS như: các điểm internet, trò chơi điện tử, tệ nạn xã hội… thiếu sự kiểm soát chặt chẽ của các cơ quan chức năng và sự phối kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội.

Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng Quản lý văn hóa nhà trường THCS Sóc Sơn.

Qua nghiên cứu thực trạng Văn hóa nhà trường và thực trạng công tác quản lý Văn hóa nhà trường ở các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội có thể thấy:

Trong những năm qua các nhà trường đã có nhiều cố gắng, nỗ lực trong việc thực hiện nhiệm vụ trên tất cả các mặt hoạt động, trong đó có công tác quản lý Văn hóa nhà trường. Nhà trường đã xây dựng được Chiến lược phát triển trong đó nêu rõ tầm nhìn, sứ mạng, hệ thống các giá trị cơ bản mà nhà trường thực hiện và hướng đến trong tương lai. Đây là văn bản “pháp lý” có tính định hướng rõ nét nhất về công tác quản lý Văn hóa nhà trường.

Tuy nhiên, việc quản lý Văn hóa nhà trường chưa được thể hiện một cách rõ nét, chưa có tính hệ thống, chuyên sâu và chưa được quan tâm đúng mức, còn bất cập với yêu cầu tác quản lý giáo dục trong giai đoạn hiện nay cũng như với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng và sự phát triển của khoa học và công nghệ. Vẫn tồn tại một bộ phận HS có các hành vi vi phạm chuẩn mực và nội quy của trường, của ngành; còn một số cán bộ GV chưa nhận thức rõ, đầy đủ về tầm quan trọng của quản lý Văn hóa nhà trường, về nội dung, phương thức, con đường, về mối quan hệ giữa các thành viên nhà trường trong công tác quản lý Văn hóa nhà trường; các nội dung, hình thức tổ chức các hoạt động còn riêng lẻ, đơn điệu mờ nhạt, chưa phối kết hợp chặt chẽ giữa các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường; vai trò của các tổ chức đoàn thể và đội ngũ GV chủ nhiệm chưa được phát huy cao, trong khi đó một số thành viên trong nhà trường lại chưa thực sự tích cực, tự giác, sáng tạo trong việc tổ chức các hoạt động có tính chất xây dựng Văn hóa nhà trường ở đơn vị mình.

Nhận thức quản lý Văn hóa nhà trường là một nhiệm vụ quan trọng, góp phần khẳng định thương hiệu và uy tín của nhà trường, để khắc phục những hạn chế nêu trên cần phải xây dựng một hệ thống các biện pháp đầy đủ, đồng bộ, rõ nét và có tác dụng thiết thực, giúp công tác quản lý của nhà trường ngày càng hoàn thiện và hiệu quả. Luận văn: Thực trạng Quản lý văn hóa nhà trường THCS Sóc Sơn.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp Quản lý văn hóa nhà trường THCS Sóc Sơn

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *