Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng lý luận chính trị cho học viên hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho học viên tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế – xã hội ở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
2.1.1. Khái quát về thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
2.1.1.1 Lịch sử và điều kiện tự nhiên
Thành phố Việt Trì được thành lập ngày 4 tháng 6 năm 1962 trên cơ sở khu công nghiệp Việt Trì, nằm trên hợp lưu của 3 dòng sông là: sông Hồng, sông Đà, sông Lô nên còn được gọi là “thành phố Ngã ba sông”. Từ năm 1968, Việt Trì đã trở thành trung tâm chính trị, kinh tế – văn hoá xã hội của tỉnh Vĩnh Phú (nay là tỉnh Phú Thọ). Với sự phát triển và lớn mạnh không ngừng đến tháng 10 năm 2010 thành phố Việt Trì được Chính phủ công nhận là đô thị loại II. Ngày 4/5/2018, thành phố Việt Trì được công nhận là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Phú Thọ.
Cùng với nhân dân trong Tỉnh và cả nước, trong sự nghiệp đấu tranh, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, Đảng bộ và nhân dân thành phố Việt Trì vinh dự được Đảng, Nhà nước và tỉnh trao tặng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương Độc lập các hạng Nhất, Nhì, Ba; Huân chương Lao động các hạng Nhất, Nhì, Ba; nhiều năm được tặng Cờ thi đua của Thủ tướng Chính phủ.
Thành phố Việt Trì nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Phú Thọ, có tọa độ địa lý là 21024’ vĩ độ Bắc, 106012’ kinh độ Đông; có diện tích tự nhiên 111,75km2, là cửa ngõ của vùng Tây Bắc Tổ quốc. Ngày 12/8/2015, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định xếp hạng Di tích lịch sử Đền Hùng là di tích quốc gia đặc biệt. Hiện nay theo thống kê, tổng diện tích tự nhiên toàn thành phố Việt Trì là hơn 11 nghìn ha. Trong đó: đất nông – lâm nghiệp – nuôi trồng thủy sản có 3.985 ha, chiếm 35,7% diện tích tự nhiên; đất dự trữ có 319,2 ha, chiếm 2,68% tổng số diện tích tự nhiên; đất xây dựng đô thị thành phố Việt Trì có 2.500 ha; bình quân 190m2/người.
Nhìn chung các điều kiện khí hậu, đất đai và nguồn tài nguyên, tự nhiên trên địa hình thành phố rất thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội, dân cư, hạ tầng đô thị và phát triển các ngành dịch vụ…
2.1.1.2 Tình hình kinh tế – xã hội
- Kinh tế Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng lý luận chính trị cho học viên.
Đảng bộ và nhân dân thành phố Việt Trì bước vào thực hiện nghị quyết đại hội lần thứ XX (nhiệm kỳ 2021 – 2026) trong bối cảnh có nhiều thuận lợi: Kinh tế cả nước tiếp tục tăng trưởng, lạm phát được kiềm chế; Chính phủ triển khai các giải pháp hỗ trợ, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, khuyến khích, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế phát triển ổn định; trên địa bàn thành phố, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ, xuất khẩu duy trì đà tăng trưởng; hệ thống cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống giao thông phát triển mạnh; công tác chỉnh trang, quản lý đô thị, vệ sinh môi trường được tăng cường.
Sản xuất công nghiệp – xây dựng – tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn thành phố phát triển ổn định. Sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng nông nghiệp đô thị, tập trung tăng diện tích, nhân rộng các mô hình sản xuất rau, quả an toàn theo tiêu chuẩn Viet GAP và hoa chất lượng cao.
Nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới của thành phố đã huy động được sức mạnh tổng hợp của cả Hệ thống chính trị và nhân dân thực hiện, đến giữa năm 2024, thành phố có 100% số xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, sớm hơn 2 năm so với kế hoạch. Công tác giảm nghèo đã đạt được kết quả rất đáng khích lệ, đời sống nông dân các xã được cải thiện rõ rệt.
- Văn hoá – xã hội
Theo kết quả điều tra dân số năm 2025, dân số của thành phố có 214.777 người, mật độ dân số trung bình toàn thành phố là 1.926 người/km2. Lĩnh vực văn hoá – xã hội tiếp tục được chỉ đạo thực hiện toàn diện, đồng bộ. Ngành giáo dục đào tạo thành phố luôn là một trong những lá cờ đầu của toàn tỉnh, chất lượng giáo dục và đào tạo tiếp tục được giữ vững; quy mô, mạng lưới trường lớp được mở rộng; cơ sở vật chất, thiết bị cho các trường học được tăng cường. Các trường trung học phổ thông, đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề trên địa bàn có nhiều cố gắng mở rộng các loại hình, tăng cường liên kết đào tạo các cấp học, ngành học, từng bước nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo, góp phần bổ sung nguồn nhân lực cho thành phố, tỉnh và khu vực. Các hoạt động văn hoá thông tin, thể thao được quan tâm chỉ đạo sâu rộng.
2.1.2. Giới thiệu về Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng lý luận chính trị cho học viên.
2.1.2.1 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy
- Vị trí, chức năng
Thực hiện Quyết định số 100-QĐ/TW của Ban Bí thư Trung ương (Khóa VII) về tổ chức Trung tâm Bồi dưỡng chính trị ở cấp huyện. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Phú Thọ ban hành Quyết định thành lập Trung tâm Bồi dưỡng chính trị cấp huyện. Các cấp ủy địa phương đã tiến hành thành lập Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Phú Thọ và tổ chức hoạt động theo chức năng nhiệm vụ quy định của Trung ương và của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Phú Thọ. Các Trung tâm Bồi dưỡng chính trị cấp huyện đi vào hoạt động nền nếp và ổn định, mang lại hiệu quả cao trong giáo dục Lý luận chính trị và đào tạo bồi dưỡng cán bộ, đảng viên cấp cơ sở.
Ngày 08 tháng 11 năm 2025, Ban Chấp hành Trung ương ban hành Quy định 208–QĐ/TW “Quy định về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Trung tâm chính trị cấp huyện” thay thế Quyết định số 185-QĐ/TW, ngày 03/9/2014 của Ban Bí thư khóa X. Theo đó Ban Bí thư quy định chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trung tâm chính trị cấp huyện như sau:
Trung tâm chính trị cấp huyện có chức năng tổ chức đào tạo, bồi dưỡng về Lý luận chính trị – hành chính; chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kiến thức quản lý nhà nước, kiến thức, kỹ năng và chuyên môn, nghiệp vụ về công tác xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội cho cán bộ, đảng viên trong Hệ thống chính trị ở cơ sở trên địa bàn cấp huyện, không thuộc đối tượng đào tạo, bồi dưỡng của Trường Chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng lịch sử Đảng và lịch sử đảng bộ của địa phương; tham gia phối hợp trong công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận theo yêu cầu của cấp ủy.
Trong đó chức năng của Giám đốc Trung tâm:
- Chịu trách nhiệm trước thường trực cấp ủy cấp huyện, ủy ban nhân dân cấp huyện về toàn bộ hoạt động của Trung tâm. Xây dựng và thực hiện nội quy, quy chế của Trung tâm theo quy định quản lý của Nhà nước và yêu cầu cụ thể của địa phương.
- Phối hợp với các ban xây dựng Đảng cấp huyện, xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng hàng năm và dài hạn cho cán bộ, đảng viên theo sự phê duyệt của cấp ủy cấp huyện.
- Có trách nhiệm thực hiện hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Tuyên giáo cấp tỉnh và các cơ quan chức năng cấp trên. Định kỳ hàng quý, trao đổi, phối hợp với Ban Tuyên giáo cấp huyện trong tổ chức, triển khai nhiệm vụ chuyên môn. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng lý luận chính trị cho học viên.
- Quản lý, theo dõi, chịu trách nhiệm về nội dung và chất lượng giảng dạy của Trung tâm.
- Thực hiện việc sơ kết, tổng kết công tác đào tạo, bồi dưỡng hàng năm của Trung tâm, không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng.
- Thực hiện chế độ đi nghiên cứu thực tế, tổng kết thực tiễn cơ sở.
- Đối với nhiệm vụ giảng dạy, yêu cầu thực hiện các nhiệm vụ trong quy trình giảng dạy: soạn bài; giảng bài; soạn đề; đáp án, kiểm tra; tổ chức thi, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học viên; tham gia tổ chức, quản lý lớp học.
Thực hiện đầy đủ, chất lượng quy định về cập nhật thông tin, nghiên cứu khoa học, chế độ đi nghiên cứu, tự học nâng cao trình độ, tổng kết thực tiễn ở cơ sở.
- Tổ chức bộ máy
Trung tâm chính trị cấp huyện có đội ngũ cán bộ gồm giám đốc (trưởng ban tuyên giáo cấp ủy cấp huyện là giám đốc trung tâm chính trị cấp huyện theo chế độ kiêm nhiệm), một số phó giám đốc và GV chuyên trách; biên chế từ 4 đến 6 người, thuộc biên chế của các cơ quan đảng; của cấp ủy cấp huyện, do ban thường vụ cấp ủy cấp huyện xem xét, quyết định trên cơ sở yêu cầu, nhiệm vụ, tổng số dân và cán bộ, đảng viên trên địa bàn.
Trung tâm chính trị cấp huyện được thực hiện chế độ GV kiêm nhiệm để phục vụ công tác giảng dạy. Bám sát Quy định 208–QĐ/TW, Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì tổ chức và hoạt động đúng theo vị trí, chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy Ban Chấp hành Trung ương quy định.
Hiện nay Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì gồm có: 01 Ủy viên Ban thường vụ Thành ủy – Trưởng ban Tuyên giáo kiêm Giám đốc Trung tâm, 01 Phó Giám đốc, 03 GV và 01 kế toán trong đó nội dung công việc, nhiệm vụ của từng bộ phận do Giám đốc phân công.
Nhiệm vụ:
- Đào tạo sơ cấp Lý luận chính trị – hành chính; bồi dưỡng các chương trình Lý luận chính trị cho các đối tượng theo quy định; chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên trên địa bàn huyện.
- Bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới về chuyên môn, nghiệp vụ công tác xây dựng Đảng, quản lý nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội và một số lĩnh vực khác cho cán bộ đảng (là cấp ủy viên cơ sở), cán bộ chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể ở cơ sở.
- BDCT cho đối tượng phát triển đảng; Lý luận chính trị cho đảng viên mới; nghiệp vụ công tác đảng cho cấp ủy viên cơ sở.
- Tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng và lịch sử đảng bộ địa phương.
- Tổ chức thông tin về tình hình thời sự, chính sách… cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên ở cơ sở.
- Tham gia phối hợp trong công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, nghiên cứu khoa học theo yêu cầu của cấp ủy và phục vụ giảng dạy, học tập.
- Thực hiện một số nhiệm vụ khác theo chỉ đạo của cấp ủy cấp huyện.
2.1.2.2 Cơ sở vật chất Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng lý luận chính trị cho học viên.
Trung tâm đã có được một hệ thống cơ sở vật chất khang trang với: 1 Hội trường lớn có sức chứa hơn 300 người; 3 hội trường nhỏ được trang bị đầy đủ các thiết bị phục vụ giảng dạy như tăng âm loa đài, máy chiếu, điều hòa… Ngoài ra trung tâm đã tích cực xây dựng tủ sách, phòng đọc và hiện nay đã có gần 300 đầu sách phục vụ cho giảng dạy và nghiên cứu.
2.1.2.3 Đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý
Căn cứ Quy định 208–QĐ/TW “Quy định về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Trung tâm chính trị cấp huyện” ngày 08 tháng 11 năm 2025 của Ban Chấp hành Trung ương và trình độ đào tạo và năng lực chuyên môn của đội ngũ GV và Cán bộ quản lý, hiện nay Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì gồm có: 01 Ủy viên Ban thường vụ Thành ủy – Trưởng ban Tuyên giáo kiêm Giám đốc Trung tâm, 01 Phó Giám đốc, 03 GV và 01 kế toán.
Về cơ cấu giới tính: Nam 02 đồng chí, nữ 04 đồng chí trong đó tham gia giảng dạy có 02 đồng chí nam và 03 đồng chí nữ.
Cơ cấu về độ tuổi: Dưới 40 tuổi có 02 đồng chí; từ 41 tuổi – 50 tuổi có 03 đồng chí; từ 51 tuổi – 60 tuổi có 01 đồng chí trong đó các đồng chí GV: Dưới 40 tuổi có 01 đồng chí; từ 41 tuổi – 50 tuổi có 03 đồng chí; từ 51 tuổi -60 tuổi có 01 đồng chí.
Cơ cấu về trình độ, trong tổng số cán bộ, GV tham gia giảng dạy hiện nay có 02 đồng chí GV đang theo học Thạc sĩ, 03 cử nhân, 03 đồng chí có trình độ cao cấp Lý luận chính trị, 02 đồng chí có trình độ trung cấp Lý luận chính trị, 05 đồng chí có chứng chỉ, bằng cấp về nghiệp vụ sư phạm. Ngoài ra có 13 đồng chí GV kiêm chức và các GV thỉnh giảng của Trường Chính trị tỉnh. Đối với các lớp chuyên đề bồi dưỡng Lý luận chính trị và nghiệp vụ cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội, GV tham gia giảng dạy nghiệp vụ là các đồng chí trưởng, phó các ban xây dựng Đảng và khối Đoàn thể…
Theo báo cáo của Trung tâm [50], có khoảng 70% số GV giảng dạy có chứng chỉ tin học A – B văn phòng. Trình độ ngoại ngữ: 100% GV có chứng chỉ Tiếng Anh A, 30% GV có chứng chỉ B Tiếng Anh. 60 % số GV giảng dạy tại Trung tâm có trình độ nghiệp vụ sư phạm ở mức khá, tốt; 40% ở mức trung bình.
2.2. Tổ chức nghiên cứu thực trạng Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng lý luận chính trị cho học viên.
2.2.1. Mục đích nghiên cứu thực trạng
Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng Lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì nhằm xây dựng cơ sở thực tiễn. Chỉ ra được ưu điểm, hạn chế trong bồi dưỡng từ đó định hướng các biện pháp quản lý nhằm góp phần nâng cao hiệu bồi dưỡng Lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên hiện nay.
2.2.2. Đối tượng, số lượng và thời gian khảo sát
- Khách thể khảo sát: Quản lý hoạt động bồi dưỡng Lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì.
- Đối tượng khảo sát: Cán bộ quản lý,
- Tổng số người khảo sát: 215 người. Cụ thể: 35 Cán bộ quản lý và GV tham gia giảng dạy tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì. 180 HV học tập tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì.
- Thời gian khảo sát: Công việc khảo sát được tiến hành trong thời gian từ tháng 12 năm 2025 đến tháng 2 năm 2026.
2.2.3. Nội dung nghiên cứu thực trạng Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng lý luận chính trị cho học viên.
- Khảo sát thực trạng hoạt động bồi dưỡng Lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì.
- Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng Lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì.
- Khảo sát thực trạng các yếu tố tác động tới quản lý hoạt động bồi dưỡng Lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì.
2.2.4. Phương pháp nghiên cứu thực trạng
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Sử dụng phương pháp này nhằm trưng cầu ý kiến của các đối tượng thông qua phiếu điều tra. Các nội dung cần trưng cầu ý kiến là các vấn đề có liên quan đến thực trạng cần nghiên cứu.
- Phương pháp quan sát: Trong quá trình giảng dạy, khảo sát chú ý quan sát HV về thái độ, ý thức học tập để nắm rõ tình hình.
- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn, tham khảo ý kiến Cán bộ quản lý của Trung tâm, phỏng vấn GV chuyên trách và kiêm chức để làm sáng tỏ biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng Lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì.
- Phương pháp nghiên cứu hồ sơ hoạt động: Nghiên cứu các quyết định quản lý, các tài liệu văn bản, các kế hoạch bồi dưỡng, báo cáo tổng kết công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng Lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì.
2.3. Thực trạng hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho học viên tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì
2.3.1. Thực trạng thực hiện mục tiêu, kế hoạch, chương trình bồi dưỡng lý luận chính trị
2.3.1.1 Thực trạng thực hiện mục tiêu, kế hoạch bồi dưỡng
Kết quả khảo sát 180 HV của Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì về thực hiện mục tiêu bồi dưỡng Lý luận chính trị như sau: Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng lý luận chính trị cho học viên.
- Bảng 2.1. Thực trạng thực hiện mục tiêu, kế hoạch bồi dưỡng Lý luận chính trị
Qua bảng khảo sát cho thấy hầu hết các HV đã xác định đúng đắn mục tiêu khi tham gia lớp bồi dưỡng Lý luận chính trị là học để đổi mới tư duy; Nâng cao nhận thức, trình độ Lý luận chính trị; Vận dụng kiến thức lý luận vào thực tiễn công tác để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị được giao; Nâng cao thái độ, trách nhiệm của người cán bộ, HV. Mức độ thực hiện các mục tiêu này đạt ở mức khá, tốt từ 80% – 90%. Trong đó mục tiêu nhằm nâng cao trình độ Lý luận chính trị chiếm tỷ lệ cao nhất là 90%. Như vậy có thể thấy HV luôn xác định mục tiêu đúng đắn khi tham gia các lớp bồi dưỡng Lý luận chính trị do Trung tâm tổ chức. Tuy nhiên còn một số mục tiêu như nâng cao thái độ, trách nhiệm của người cán bộ, HV đối với Hoạt động bồi dưỡng còn đạt tỷ lệ trung bình cao so với mục tiêu đặt ra (đạt tỷ lệ 12-16%). Thậm chí ở mục tiêu duy nhất chiếm tỷ lệ yếu trong khảo sát (2,8%). Nguyên nhân do nhận thức và thực hiện trách nhiệm nêu gương của một số cán bộ, đảng viên còn có những hạn chế, bất cập. Một số tổ chức Đảng, nhất là ở cấp cơ sở và không ít cán bộ, đảng viên phẩm chất, năng lực, phương pháp, tác phong công tác chưa ngang tầm với yêu cầu, đòi hỏi của tình hình mới. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ cấp chiến lược thiếu gương mẫu trong học tập, tu dưỡng, rèn luyện, thậm chí vi phạm nghiêm trọng kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Vì vậy cần phải có những biện pháp quản lý mục tiêu nâng cao trách nhiệm của cán bộ, đảng viên để hoàn thành mục tiêu chung của hoạt động bồi dưỡng Lý luận chính trị.
Về kế hoạch đáp ứng mục tiêu, yêu cầu bồi dưỡng theo khảo sát đánh giá tỷ lệ tốt 52,8%, khá 35,6%, trung bình 11,7%. Đây là tỷ lệ đánh giá ở mức khá tốt cho thấy việc xây dựng kế hoạch đáp ứng mục tiêu, yêu cầu bồi dưỡng có tác động tới các mục tiêu bồi dưỡng Lý luận chính trị. Nếu xây dựng kế hoạch tốt sẽ cho kết quả tương đương và ngược lại. Kế hoạch bồi dưỡng phù hợp với thực tế của Trung tâm được đánh giá tỷ lệ tốt 55%, khá 32,2%, trung bình 12,8%. Kết quả cho thấy kế hoạch bồi dưỡng được xây dựng bám khá sát với thực tế của Trung tâm. Nó xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của đối tượng được bồi dưỡng nên mục tiêu vận dụng kiến thức lý luận vào thực tiễn công tác để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị được giao cũng cho kết quả khá tốt.
2.3.1.2 Thực trạng thực hiện chương trình bồi dưỡng lý luận chính trị
Theo căn cứ chương trình bồi dưỡng Lý luận chính trị do Ban tuyên giáo Trung ương ban hành, hàng năm Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì luôn hoàn thành chương trình đào tạo, bồi dưỡng Lý luận chính trị do Thành ủy Việt Trì giao.
Kết quả khảo sát 35 Cán bộ quản lý và GV (chuyên trách và kiêm chức) của Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì về thực hiện chương trình bồi dưỡng Lý luận chính trị như sau: Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng lý luận chính trị cho học viên.
- Bảng 2.2. Thực trạng thực hiện chương trình bồi dưỡng Lý luận chính trị
Qua bảng khảo sát có thể thấy các chương trình bồi dưỡng lý luận cơ bản, chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ công tác đảng, đoàn thể được quan tâm duy trì thường xuyên. Số lớp và số HV tham gia các lớp luôn chiếm tỷ lệ cao trong toàn bộ chương trình, nội dung đào tạo như: Chương trình đào tạo, bồi dưỡng Lý luận chính trị cơ bản đánh giá tỷ lệ tốt 51,4%, khá 34,3%, trung bình 14,3%; Chương trình chuyên đề bồi dưỡng Lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân do Ban Tuyên giáo Trung ương biên soạn năm 2024 đánh giá tốt 54,3%, khá 31,5%, trung bình 14,3%; Bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho cán bộ thuộc đối tượng 3 và đối tượng 4, đạt tỷ lệ trên 80% mức độ khá, tốt. Tuy nhiên, kết quả đào tạo, bồi dưỡng ở các Trung tâm vẫn còn nhiều hạn chế, việc đào tạo trình độ Sơ cấp Lý luận chính trị là chương trình bắt buộc đối với cán bộ, đảng viên nhưng nhiều năm nay các Trung tâm không mở được lớp. Các lớp bồi dưỡng chuyên đề được mở hằng năm đạt rất thấp và ngày càng ít dần. Cá biệt một số chuyên đề không mở được lớp như: chuyên đề chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, lớp bồi dưỡng nghiệp vụ của Ban Tổ chức, Văn phòng … Các chương trình học tập các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước, đảng bộ, chính quyền địa phương; các hội nghị báo cáo viên hàng tháng; các nhiệm vụ chuyên môn theo chức năng không mở thường xuyên nên tỷ lệ trung bình thấp dưới 70%, tỷ lệ yếu đạt 2,9% -11,4%. Vì vậy, cần phải có một biện pháp quản lý thích hợp để việc thực hiện mục tiêu chương trình bồi dưỡng Lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì hiệu quả hơn.
2.3.2. Thực trạng phương pháp, hình thức tổ chức bồi dưỡng lý luận chính trị
Tiến hành khảo sát 215 người gồm: 180 HV và 35 Cán bộ quản lý và GV tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì và kết quả thể hiện ở bảng sau.
- Bảng 2.3. Thực trạng phương pháp, hình thức tổ chức bồi dưỡng Lý luận chính trị
Qua số liệu điều tra cho thấy một số nội dung được đánh giá khá tốt và có hiệu quả trong quá trình giảng dạy của đội ngũ GV như: Phương pháp GV hướng dẫn HV nắm chắc kiến thức đạt tỷ lệ tốt 45,1%, khá 46,0%, trung bình 8,8%. Phương pháp tổ chức cho HV thuyết trình trước lớp, dạy học nêu vấn đề, hỏi đáp, viết bài thu hoạch tỷ lệ tốt 41,4%, khá 44,6%, trung bình 14%.
Tuy nhiên, một số phương pháp đạt tỷ lệ đánh giá chưa cao như: Tăng thời lượng cho HV tham gia nghiên cứu thực tế đánh giá tốt 39,1%, khá 44,2%, trung bình 16,7%. Sử dụng thiết bị, phương tiện hiện đại trong dạy học mang lại hiệu quả thiết thực GV sử dụng ít hơn so với các phương pháp khác nên có tỷ lệ đánh giá tốt 38,1%, khá 40,5%, trung bình 21,4%.
Trong đó nội dung GV hướng dẫn thảo luận những nội dung cơ bản có liên hệ với thực tế công việc của HV tốt 36,3%, khá 39,5%; trung bình 11,6% thậm chí là nội dung duy nhất có đánh giá tỷ lệ yếu chiếm 12,6%. Phương pháp hướng dẫn thảo luận những nội dung cơ bản có liên hệ với thực tế công việc của HV có tác dụng khuyến khích HV tích cực tư duy, tích cực liên hệ thực tiễn và vận dụng kinh nghiệm đã có để tìm ra cách giải quyết vấn đề, qua đó đào sâu, nắm vững tri thức được bồi dưỡng là phương pháp rất phù hợp với đối tượng đã qua công tác, có nhiều kinh nghiệm được tích lũy từ thực tiễn nghề nghiệp. Tuy nhiên hiện nay phương pháp này được GV tại Trung tâm sử dụng chưa đạt hiệu quả cao.
Phương pháp thuyết trình là phương pháp được sử dụng nhiều nhất ở hầu hết các GV vì đây là phương pháp truyền thống, dễ sử dụng tuy nhiên chỉ đạt tỷ lệ tốt 40%, khá 47,9%, trung bình 12,1%. Bởi vì, phương pháp thuyết trình còn có những hạn chế, nếu sử dụng không đúng có thể: làm cho HV thụ động, làm cho HV thiếu tính tích cực trong việc thể hiện ý kiến cá nhân. Việc kết hợp các phương pháp là việc làm cần thiết tuy nhiên trên thực tế GV tại các Trung tâm ít sử dụng. Vì vậy, đây là những thông tin cần thiết để giúp các nhà quản lý, các GV điều chỉnh phương pháp bồi dưỡng của mình sao cho phù hợp với nội dung và đặc điểm, nhu cầu của đối tượng bồi dưỡng. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng lý luận chính trị cho học viên.
2.3.3. Thực trạng chất lượng đội ngũ giảng viên tham gia bồi dưỡng lý luận chính trị
Tiến hành khảo sát 215 người gồm: 180 HV và 35 Cán bộ quản lý và GV tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì và thu được kết quả như sau:
- Bảng 2.4. Thực trạng chất lượng GV tham gia bồi dưỡng Lý luận chính trị
Qua bảng khảo sát cho thấy chất lượng đội ngũ GV tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra so với một đơn vị thường được đánh giá là trung tâm hàng đầu của tỉnh. Cụ thể là:
Việc chuẩn bị giáo án trước khi lên lớp đạt tỷ lệ tốt 55,3%, khá 30,2%, trung bình 14,5% cho thấy việc chuẩn bị của GV chưa tốt. Thực hiện mục tiêu giảng dạy (kiến thức, kỹ năng, thái độ) đạt tỷ lệ tốt 45,6%, khá 49,7%, trung bình 4,7%. Đây là mức đánh giá có tỷ lệ khá tốt cao so với các nội dung khảo sát. Sau khi kết thúc bài giảng, GV đa phần đều đạt được mục đích, yêu cầu bài học đề ra.
Sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống (thuyết trình, hỏi đáp) đạt tỷ lệ tốt 36,7%, khá 29,3%, trung bình 30,3% và yếu 3,7%. Phương pháp dạy truyền thống là phương pháp dễ dàng sử dụng nhất đối với GV tuy nhiên đây là phương pháp mà các HV cho rằng dễ gây sự nhàm chán, buồn ngủ và HV khó lĩnh hội được bài giảng.
Sử dụng phương pháp giảng dạy tích cực đạt tỷ lệ tốt 41,4%, khá 19,1%, trung bình 28,3%, yếu 11,2%. Đây là nội dung có tỷ lệ yếu chiếm cao nhất vì đây là phương pháp đòi hỏi năng lực, kỹ năng của GV cao. Khi áp dụng các phương pháp giảng dạy tích cực như phương pháp tình huống, thảo luận nhóm GV gặp khó khăn vì đối tượng HV lên tới hàng trăm HV. Tuy nhiên nếu khéo léo áp dụng GV sẽ đem lại hiệu quả cao trong giảng dạy và gây được sự cuốn hút, hấp dẫn cho HV với bài giảng.
Soạn giảng bằng giáo án điện tử tỷ lệ đánh giá tốt 33,0%, khá 36,7%, trung bình 20,5%, yếu 9,8%. Kết quả đánh giá này khá thấp nhất là hiện nay việc ứng dụng công nghệ thông tin vào trong giảng dạy đang là xu thế.
Lên hệ thực tiễn trong giảng dạy đánh giá tỷ lệ tốt 29,3%, khá 34,4%, trung bình 29.8%, yếu 6,5%. Từ đó cho thấy việc liên hệ thực tiễn của GV vẫn còn hạn chế, nguyên nhân do đối tượng HV công tác ở nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau.
2.3.4. Thực trạng cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng lý luận chính trị cho học viên.
Tiến hành khảo sát 215 người gồm: 180 HV và 35 Cán bộ quản lý và GV tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì và thu được kết quả thể hiện ở bảng sau.
- Bảng 2.5. Thực trạng cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học phục vụ hoạt động bồi dưỡng Lý luận chính trị
Kết quả ở bảng trên cho thấy mức độ đáp ứng các điều kiện về cơ sở vật chất cho công tác bồi dưỡng Lý luận chính trị ở Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì còn rất khó khăn. Hội trường phục vụ hoạt động bồi dưỡng đạt tốt 41,4%, khá 44,7%, trung bình 6,5% vì được xây dựng lâu năm nên xuống cấp trầm trọng, tỷ lệ yếu 7,4%. Các trang thiết bị đạt tốt 52,6%, khá 41,4%, trung bình 6% do kinh phí hoạt động thấp nên các trang bị mua sắm không đảm bảo, dễ hỏng hóc và phải sửa chữa liên tục. Nguyên khác là do ý thức bảo quản các trang thiết bị của HV chưa cao, đạt tốt 47,9%, khá 34%, trung bình 12,1%. Sự hỗ trợ của HV về cơ sở vật chất, thiết bị của Trung tâm đạt tốt 67,4%, khá 23,7, trung bình 12,1%. Tài liệu bồi dưỡng nghèo nàn, thiếu kịp thời đạt tỷ lệ tốt 29,4%, khá 36,3%, trung bình 26,5% thậm chí đạt tỷ lệ yếu 8,3%. Ngoài tài liệu bồi dưỡng kết nạp Đảng và đảng viên mới được mua sắm đầy đủ cho cả GV và HV thì các tài liệu chuyên đề bồi dưỡng Lý luận chính trị và nghiệp vụ cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội thường chỉ cấp cho dành cho GV, còn HV phải tự ghi chép và không có tài liệu.
2.3.5. Kết quả bồi dưỡng lý luận chính trị
Kết quả bồi dưỡng Lý luận chính trị của Trung tâm Bồi dưỡng chính trị Việt Trì trong 5 năm (2021 – 2025) được thể hiện qua bảng sau:
- Bảng 2.6. Kết quả mở lớp bồi dưỡng Lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì từ năm 2021-2025
Nhìn chung, kết quả bồi dưỡng ở các Trung tâm Bồi dưỡng chính trị được duy trì qua các năm, nhận thức của cán bộ, đảng viên, năng lực thực tiễn trong công tác tại cơ sở được nâng lên. Kết quả cho thấy, trong 5 năm thực hiện mục tiêu bồi dưỡng Lý luận chính trị ở Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì tương đối ổn định; hàng năm, Trung tâm đã mở được số lớp bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên ở cơ sở. Cụ thể là lớp năm 2021, 2022 mở được 33 lớp, năm 2023 mở được 32 lớp, năm 2024 mở được 23 lớp, năm 2025 mở được 25 lớp. Chất lượng bồi dưỡng tại các Trung tâm đã được nâng lên, tỷ lệ chiêu sinh từ 2021 – 2025 đạt 23.016 HV lớp bồi dưỡng và 1.061 HV lớp đào tạo. Đối với các chương trình bồi dưỡng cơ bản như lớp bồi dưỡng đối tượng Đảng, lớp bồi dưỡng Đảng viên mới các Trung tâm đều tổ chức thi, kiểm tra nhận thức của HV; qua kiểm tra, đánh giá, xếp loại, các lớp bồi dưỡng cơ bản đạt yêu cầu, tỷ lệ khá, giỏi chiếm 70% trở lên. Các chương trình bồi dưỡng khác sau khi kết thúc lớp học đều có đánh giá, nhận xét tinh thần, thái độ học tập của HV.
Tuy nhiên qua bảng thống kê cho thấy kết quả mở lớp bồi dưỡng đang giảm dần qua các năm: năm 2025 giảm 24% so với năm 2021, 2022. Năm 2024 giảm 30% so với năm 2022, 2023. Về lớp đào tạo: Năm 2025 giảm 33% so với năm 2022, 2023, 2024. Đặc biệt với lớp Sơ cấp Lý luận chính trị là nhiệm vụ đào tạo chính của Trung tâm hiện nay không mở được do cán bộ, đảng viên trong thành phố gần như đạt chuẩn về trình độ Đại học. Chất lượng bồi dưỡng chưa được xem xét đánh giá đúng thực chất, hầu hết các chương trình được kiểm tra đánh giá nhận thức sau bồi dưỡng nhưng chưa thực sự phản ánh đúng mức độ nhận thức của HV; chưa có sự phối hợp với chính quyền địa phương trong việc theo dõi, đánh giá chất lượng cán bộ đảng viên sau đào tạo, khả năng vận dụng vào thực tiễn công tác ở các cơ quan, đơn vị và địa phương.
- Bảng 2.7. Thực trạng kết quả học tập Lý luận chính trị của HV tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì (2021-2025) Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng lý luận chính trị cho học viên.
Kết quả tổng hợp ở bảng 2.7 cho thấy các HV lớp bồi dưỡng Lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì đều hoàn thành 100% chương trình học tập. Tuy nhiên qua bảng thống kê cho thấy tỷ lệ HV tuy không có tỷ lệ yếu nhưng kết quả đạt khá tốt chưa cao so với yêu cầu đặt ra. Cụ thể là:
- Năm 2021, Trung tâm mở 33 lớp với số lượng 5260 HV. Kết quả tốt đạt 30,7%, khá 46,2%, trung bình 23,1%.
- Năm 2022, Trung tâm mở 33 lớp với số lượng 5308 HV. Kết quả tốt đạt 40,5%, khá 42,1%, trung bình 17,4%.
- Năm 2023, Trung tâm mở 32 lớp với số lượng 5307 HV. Kết quả tốt đạt 33,3%, khá 49,2%, trung bình 17,5%.
- Năm 2024, Trung tâm mở 23 lớp với số lượng 3741 HV. Kết quả tốt đạt 38,8%, khá 57,9%, trung bình 3,3%.
- Năm 2025, Trung tâm mở 23 lớp với số lượng 3400 HV. Kết quả tốt đạt 38,3%, khá 52,4%, trung bình 9,3%.
Như vậy nhìn chung qua các năm tỷ lệ HV đa số đạt kết quả khá, tốt, số HV đạt trung bình giảm đi qua các năm học tuy nhiên kết quả này chưa phản ánh đúng năng lực và trình độ của HV. Do nhiều đối tượng HV tham gia học tuổi đời cao như các lớp bồi dưỡng nghiệp đoàn thể như Hội Phụ nữ, Hội Cựu Chiến binh, … Vì vậy khi làm bài thu hoạch họ làm bài một cách miễn cưỡng cho xong chương trình. Hay một số HV lớp Đảng viên mới thường có tư tưởng “vào Đảng rồi” nên bài làm kết quả kém hơn nhiều so với kết quả học ở lớp bồi dưỡng Kết nạp Đảng. Nhiều HV lớp Bồi dưỡng kết nạp Đảng đạt loại Giỏi nhưng khi tham gia lớp Đảng viên mới lại đạt loại Khá. Vì vậy để nâng cao kết quả học tập một trong những biện pháp cần thiết là nâng cao nhận thức, ý thức học tập của HV.
2.4. Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho học viên tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
2.4.1. Thực trạng xây dựng kế hoạch bồi dưỡng lý luận chính trị
Khảo sát 35 Cán bộ quản lý và GV tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì thu được kết quả như sau:
- Bảng 2.8. Thực trạng xây dựng kế hoạch bồi dưỡng Lý luận chính trị
Qua bảng khảo sát cho thấy công tác xây dựng kế hoạch bồi dưỡng Lý luận chính trị ở trung tâm vẫn chưa được thực hiện tốt và có nhiều ý kiến đánh giá khác nhau. Thực hiện mục tiêu, nội dung chương trình đảm bảo kế hoạch đề ra đạt tốt 34,4%, tỷ lệ khá là 48,6%, trung bình 17,1%; Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng gắn với nhu cầu thực tiễn và đối tượng HV đạt 42,9%, tỷ lệ khá là 51,4%, trung bình 5,7%; Xây dựng kế hoạch thực hiện phân phối chương trình cho GV đạt tốt 31,4%, tỷ lệ khá là 45,7%, trung bình 22,9%; Xây dựng kế hoạch thực hiện chương trình đảm bảo tính thực tiễn, khả thi đạt tốt 37,1%, tỷ lệ khá là 42,9%, trung bình 20,0%; Phân công nhiệm vụ chuyên môn cho cán bộ, GV hợp lý đạt tốt 40,0%, tỷ lệ khá là 31,4%, trung bình 25,7% và đây là nội dung duy nhất có tỷ lệ yếu chiếm 2,9%. Như vậy có thể thấy kế hoạch phân công nhiệm vụ của Trung tâm chưa mang lại hiệu quả trong bồi dưỡng Lý luận chính trị. Một số GV được phân công bài giảng không phù hợp với năng lực chuyên môn dẫn tới việc giảng dạy đạt hiệu quả chưa cao. Qua đó nhà quản lý phải nhận thấy được phân công giảng dạy cho GV là công tác tổ chức và công tác cán bộ, Ban Giám đốc cần hiểu rõ ưu điểm, khuyết điểm, năng lực, hoàn cảnh của từng GV để phân công đúng năng lực sở trường của từng người, tạo niềm tin cho chính bản thân mỗi GV trong nghề nghiệp. Cụ thể đối với những GV tốt nghiệp chuyên ngành về lịch sử sẽ ưu tiên phân công giảng dạy những nội dung liên quan đến chuyên môn như bài 1 trong chương trình bồi dưỡng đối tượng kết nạp Đảng, bài 16, 17, 18 trong chương trình Sơ cấp Lý luận chính trị. GV tốt nghiệp chuyên ngành Triết học sẽ ưu tiên giảng bài 1 trong chương trình Đảng viên mới, bài 1, 2, 3, 4 trong chương trình sơ cấp Lý luận chính trị… Có phân công đúng chuyên môn nghiệp vụ sẽ là khâu then chốt để nâng cao chất lượng giảng dạy và phát huy đúng sở trường của GV.
2.4.2. Thực trạng quản lý mục tiêu, nội dung chương trình bồi dưỡng lý luận chính trị Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng lý luận chính trị cho học viên.
Tiến hành khảo sát 215 người gồm: 180 HV và 35 Cán bộ quản lý và GV tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì và thu được kết quả thể hiện ở bảng sau:
- Bảng 2.9. Thực trạng thực hiện mục tiêu, nội dung chương trình bồi dưỡng Lý luận chính trị
Qua bảng khảo sát có thể thấy việc quản lý mục tiêu, nội dung chương trình bồi dưỡng Lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị đang ở mức Trung bình khá, cụ thể là:
Xác định mục tiêu bồi dưỡng là trang bị kiến thức cho HV đạt tỷ lệ tốt 40,5%, khá 53,0%, trung bình 6,5%. Kết quả cho thấy mục tiêu trang bị kiến thức cho HV đang ở mức thụ động, một chiều.
Mục tiêu rèn luyện kỹ năng cho HV đạt tỷ lệ tốt 48,4%, khá 45,1%, trung bình 6,5%. Trong đó kỹ năng để HV vận dụng bài học và thực tiễn là vô cùng quan trọng nhưng lại chưa đạt yêu cầu.
Mục tiêu phát triển năng lực và phẩm chất người học đạt tỷ lệ tốt 37,7%, khá 42,3%, trung bình 14,4%, yếu 5,6%. Đây là nội dung quan trọng trong việc đào tạo cán bộ đảng viên trở thành người vừa có đức, vừa có tài cho xã hội nhưng lại chiếm tỷ lệ thấp và thậm chí có tỷ lệ yếu. Vì vậy đòi hỏi nhà quản lý và GV phải đề ra những biện pháp thực sự thiết thực nhằm cải thiện chất lượng này.
Cập nhật nội dung chương trình theo hướng đổi mới đạt tỷ lệ tốt 48,8%, khá 43,3%, trung bình 7,9%. Trong đó năm 2022 Ban Tuyên giáo Trung ương đã biên soạn lại Tài liệu lớp bồi dưỡng đối tượng kết nạp Đảng và Đảng viên mới, năm 2023 biên soạn lại 6 chuyên đề kèm theo Hướng dẫn cụ thể cho từng chuyên đề. Tuy nhiên còn một số GV nhất là GV kiêm chức vẫn chưa cập nhật nội dung mới; giáo án vẫn theo nội dung chương trình cũ.
Tổ chức xây dựng nội dung bồi dưỡng, phân chia nội dung phù hợp với mục tiêu đạt tỷ lệ tốt 40%, khá 28,4%, trung bình 22,8% và yếu 8,8%. Đây là nội dung chiếm tỷ lệ đánh giá thấp nhất trong cuộc khảo sát. Nguyên nhân do có nhiều bài nội dung quá dài nhưng lại phân chia thời lượng ngắn. Vì vậy GV khó khăn trong việc truyền đạt hết nội dung bài học từ đó ảnh hưởng đến mức độ lĩnh hội kiến thức của HV. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng lý luận chính trị cho học viên.
Thực hiện kế hoạch, thời khóa biểu: phân phối chương trình, lịch giảng dạy đạt tỷ lệ tốt 42,3%, khá 44,3%, trung bình 13,5%. Tỷ lệ này cho thấy việc thực hiện vẫn chưa đạt được hiệu quả, hợp lý. Cụ thể là các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho khối đảng và đoàn thể thường mở không đúng kế hoạch đề ra do phải phụ thuộc vào tình hình cụ thể của đơn vị.
2.4.3. Thực trạng quản lý phương pháp, hình thức bồi dưỡng lý luận chính trị
Tiến hành khảo sát 215 đối tượng gồm 35 Cán bộ quản lý, GV và 180 HV thu được kết quả sau:
- Bảng 2.10. Thực trạng quản lý phương pháp, hình thức bồi dưỡng Lý luận chính trị
Qua bảng khảo sát cho thấy quản lý phương pháp, hình thức bồi dưỡng Lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì chưa thực sự mang lại hiệu quả, cụ thể là:
Quản lý hình thức bồi dưỡng bán tập trung tỷ lệ đánh giá tốt 45,6%, khá 47,4%, trung bình 7%. Đây là hình thức bồi dưỡng mà đối tượng HV vừa có thể công tác vừa có thể tham gia học được (thường vào ngày cuối tuần) nên mang lại hiệu quả cao hơn so với các hình thức bồi dưỡng khác.
Quản lý hình thức bồi dưỡng tập trung tỷ lệ đánh giá tốt 34,9%, khá 39,1%. Đây là hình thức mang lại hiệu quả không cao vì đa số đối tượng HV đều đang công tác trên nhiều lĩnh vực khác nhau nên việc theo học tập trung sẽ rất khó. Đây là một trong hai nội dung quản lý có tỷ lệ yếu chiếm 2,3%.
Ngoài ra một số nội dung quản lý có mức độ đánh giá ở mức trung bình khá là: Hình thức bồi dưỡng theo chuyên đề tỷ lệ đánh giá tốt 47,4%, khá 38,6%, trung bình 14%; Phương pháp bồi dưỡng hướng vào hoạt động của người học tỷ lệ đánh giá tốt 35,8%, khá 43,3%, trung bình 20,9%.
Với nội dung quản lý phương pháp bồi dưỡng hướng tới đặc điểm của người học và phương pháp hướng vào đối tượng bồi dưỡng bên cạnh những chỉ số đánh giá tích cực thì tỷ lệ yếu chiếm khá cao từ 6,0 đến 6,5%. Nguyên nhân do đối tượng HV khá đông lên tới hàng trăm người với công tác trên nhiều lĩnh vực thì việc hướng nội dung tới một đối tượng HV cụ thể là rất khó cho nhà quản lý và GV.
Vì vậy để quản lý tốt phương pháp, hình thức bồi dưỡng Lý luận chính trị cho HV đòi hỏi người quản lý và GV phải biết phối hợp có hiệu quả hoạt động của đối tượng được bồi dưỡng với hoạt động của chủ thể bồi dưỡng trong các tình huống cụ thể. Đồng thời xử lý linh hoạt các tình huống nảy sinh nhằm điều khiển các hoạt động bồi dưỡng trong thực tiễn.
2.4.4. Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng lý luận chính trị cho học viên.
Tiến hành khảo sát 215 người gồm: 180 HV và 35 Cán bộ quản lý và GV tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì và thu được kết quả thể hiện ở bảng sau:
- Bảng 2.11. Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy Lý luận chính trị của GV
Qua bảng khảo sát cho thấy kết quả đánh giá quản lý hoạt động của GV tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị cụ thể như sau:
Về kiểm tra giáo án, tài liệu phục vụ bài giảng của GV tỷ lệ tốt 40,5%, khá 49,3%, trung bình 10,2%. Kết quả cho thấy việc kiểm tra giáo án, tài liệu của GV chưa được tiến hành thường xuyên. Vì vậy giáo án của GV thường mang tính hình thức, không có sự đổi mới qua các năm học.
Kiểm tra vở ghi chép nội dung các học phần của HV đạt tỷ lệ tốt 36,7%, khá 40,9%, trung bình 22,3% cho thấy HV vẫn chưa thực sự có ý thức ghi chép tốt. Điều này cũng thể hiện việc quản lý, bao quát lớp của GV trong quá trình giảng dạy vẫn chưa đạt yêu cầu đặt ra.
Kiểm tra hồ sơ sổ sách, quy chế chuyên môn tỷ lệ tốt đạt 32,1%, khá 36,3%, trung bình 19,1% và yếu 12,6%. Vận dụng kiến thức vào thực tiễn của HV tỷ lệ tốt đạt 34,0%, khá 38,1%, trung bình 8,4% và yếu 19,5%. Đây là hai nội dung có tỷ lệ yếu chiếm khá cao, cho thấy sự quản lý chưa thực sự hiệu quả. Nhất là về hồ sơ sổ sách GV thường có tư tưởng khi có kiểm tra, thanh tra mới chuẩn bị đầy đủ. Nếu nhà quản lý kiểm tra đột xuất GV thường bị thiếu hoặc hồ sơ lộn xộn, sắp xếp không khoa học.
Bênh cạnh đó các nội dung được đánh giá mức trung bình khá như: xây dựng chương trình, thực hiện nội dung, mục tiêu chương trình dạy học tỷ lệ tốt đạt 43,7%, khá 45,6%, trung bình 10,7% và thực hiện kế hoạch giảng dạy đúng tiến độ chương trình tỷ lệ tốt đạt 47%, khá 50,2%, trung bình 2,8%. Vì vậy để quản lý tốt hoạt động giảng dạy của GV, nhà quản lý cần xây dựng cơ chế quản lý, tạo các điều kiện đảm bảo chất lượng và duy trì các hoạt động thanh tra, kiểm tra qua đó đánh giá, điều chỉnh quá trình bồi dưỡng, từ đó làm cho mục đích quản lý được hiện thực hóa.
2.4.5. Thực trạng quản lý hoạt động học của học viên
Tiến hành khảo sát 215 người gồm: 180 HV và 35 Cán bộ quản lý và GV tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì thu được kết quả ở bảng sau: Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng lý luận chính trị cho học viên.
- Bảng 2.12. Thực trạng quản lý hoạt động học của HV
Kết quả điều tra cho thấy, quản lý hoạt động học của HV tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì đa số đạt mức trung bình khá. Cụ thể là:
Xây dựng và ban hành quy chế Quản lý HV đánh giá tốt 41,4%, khá 42,8%, trung bình 15,8%. Quy chế này được xây dựng dựa trên sự tham khảo Quy chế quản lý HV của Trường chính trị tỉnh nên nội dung khá chi tiết và đầy đủ. Tuy nhiên trong việc thực hiện vẫn gặp một số khó khăn do đối tượng HV chủ yếu vừa làm vừa học nên đôi lúc vẫn còn tình trạng đi muộn, về sớm hoặc nghỉ do công việc đột xuất.
Quản lý động cơ, ý thức học tập của HV và quản lý quá trình học tập của HV bên cạnh những đánh giá tích cực còn có tỷ lệ yếu chiếm lần lượt là 1,4% và 0,9%. Nhiều HV sau khi được điểm danh thường bỏ về trước khiến nhà quản lý và GV khó kiểm soát được quá trình học do số lượng HV đông. Bên cạnh đó việc vận dụng thực tiễn của HV chiếm tỷ lệ yếu cao nhất so với các nội dung quản lý (yếu 5,6%). Điều đó cho thấy việc truyền đạt của GV vẫn chưa thực sự hiệu quả khiến HV khó vận dụng lý luận vào thực tiễn công tác của mình. Ngoài ra các nội dung được đánh giá ở mức trung bình khá như: Quản lý phương pháp học tập của HV tỷ lệ tốt 42,3%, khá 34%, trung bình 23,7% và Quản lý kết quả học tập của HV tỷ lệ tốt đạt 44,2%, khá 42,8, trung bình 13%.
Có những HV thực sự do yêu cầu công tác phải nghỉ học hoặc do có sự trùng lặp giữa các chương trình đào tạo; có nguyên nhân từ nhận thức của HV về trách nhiệm học tập Lý luận chính trị chưa đúng đắn, ý thức tổ chức kỷ luật chưa tốt, lười học, tâm lý ỷ nại, trông chờ vào người khác trong thi cử. Một số GV và GV chủ nhiệm còn nể nang dễ dãi trong việc thực hiện quy chế đào tạo (việc ra, vào lớp không đúng giờ, điểm danh sĩ số học tập chưa nghiêm túc, chưa nghiêm khắc xử lý với các hiện tượng vi phạm của HV…). Chất lượng, phương pháp giảng dạy ở một số GV còn chậm được đổi mới, chưa thuyết phục, lôi cuốn HV.
Qua khảo sát đánh giá từ thực tế: Đa số HV các lớp (kể cả đào tạo, bồi dưỡng) đều có ý thức thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của Nhà trường, thái độ học tập nghiêm túc, đúng đắn, xác định động cơ học tập tốt, vì vậy kết quả học tập khá tốt, phản ánh trung thực trình độ nhận thức của HV. Bên cạnh đó, còn một số HV có những hạn chế trong quá trình học tập như: không cố gắng rèn luyện, phấn đấu thường xuyên, ra sớm vào muộn, nghỉ học không có lý do, không ghi chép bài đầy đủ, ít tham gia thảo luận trên lớp…
2.4.6. Thực trạng quản lý cơ sở vật chất – thiết bị dạy học phục vụ hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng lý luận chính trị cho học viên.
Tiến hành khảo sát 215 người gồm: 180 HV và 35 Cán bộ quản lý và GV tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì và thu được kết quả thể hiện ở bảng sau:
- Bảng 2.13. Thực trạng quản lý cơ sở vật chất – thiết bị dạy học phục vụ hoạt động bồi dưỡng Lý luận chính trị
Qua bảng khảo sát cho thấy thực trạng quản lý cơ sở vật chất – thiết bị dạy học phục vụ hoạt động bồi dưỡng Lý luận chính trị chưa được đánh giá cao cụ thể:
Xây dựng kế hoạch kiểm kê tài sản hàng năm theo khảo sát đánh giá tỷ lệ tốt đạt 52,1%, khá 42,8%, trung bình 5,1% và không có tỷ lệ yếu. Đây là nội dung được đánh giá kết quả cao nhất so với các nội dung khác. Tuy nhiên việc kiểm kê này vẫn còn mang tính hình thức, chủ yếu sao chép nội dung văn bản qua các năm mà chưa có sự kiểm tra trực tiếp về cơ sở vật chất và phương tiện dạy học tại Trung tâm.
Quản lý chất lượng cơ sở vật chất để có phương án bổ sung, sữa chữa, thay thế đánh giá tốt 40%, khá 48,4%, trung bình 11,6%. Vì công tác kiểm kê tài sản cuối năm chưa được thực hiện một cách đầy đủ nên dẫn tới việc xây dựng các phương án bổ sung, sữa chữa, thay thế các thiết bị hỏng hóc còn bị động. Từ đó ảnh hưởng tới chất lượng giảng dạy của GV tại Trung tâm.
Xây dựng nội quy bảo quản, sử dụng hội trường, thiết bị dạy học được đánh giá tốt 34,4%, khá 37,7%, trung bình 20% và yếu 7,9%. Đây là nội dung được đánh giá thấp nhất trong các nội dung khảo sát. Nguyên nhân do Trung tâm chưa xây dựng nội quy bảo quản một cách hoàn chỉnh dẫn tới việc thực hiện khó khăn.
Phân công nhiệm vụ, trách nhiệm cho cán bộ GV trong quản lý cơ sở vật chất đánh giá tỷ lệ tốt 40,9%, khá 44,2%, trung bình 14,9%. Đây là nội dung được đánh giá thực hiện ở mức trung bình khá do hiện nay việc phân công cho cán bộ GV Trung tâm chủ yếu là nữ (chiếm 4/5 cán bộ GV) nên việc am hiểu các thiết bị như âm thanh, loa đài còn hạn chế.
Quản lý ý thức bảo quản trang thiết bị của HV được đánh giá tỷ lệ tốt 49,3%, khá 38,6%, trung bình 12,1%. Đây là một tỷ lệ đánh giá ở mức khá tốt do đối tượng HV tại Trung tâm chủ yếu là cán bộ, đảng viên nên có ý thức tốt trong việc giữ gìn, sử dụng trang thiết bị của Trung tâm. Để hoạt động giảng dạy Lý luận chính trị đạt kết quả cao đòi hỏi hệ thống cơ sở vật chất phải đảm bảo nhất định về hội trường phòng học, trang thiết bị dạy học, điều kiện học tập của HV, thư viên… Làm tốt công tác này sẽ tạo ra các điều kiện thuận lợi cho hoạt động dạy học Lý luận chính trị được diễn ra đạt chất lượng tốt nhất.
2.4.7. Thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị
Tiến hành khảo sát 35 Cán bộ quản lý và GV tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì thu được kết quả ở bảng sau:
- Bảng 2.14. Thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động bồi dưỡng Lý luận chính trị
Kết quả khảo sát cho thấy thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động bồi dưỡng Lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì được đánh giá còn rất nhiều hạn chế. Một trong những nguyên nhân của nó là việc chỉ đạo hoạt động đổi mới kiểm tra đánh giá còn chưa hiệu quả. Cụ thể như sau: Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng lý luận chính trị cho học viên.
Các nội dung quản lý được đánh giá ở mức trung bình khá như: Quản lý chất lượng giảng dạy của GV đạt tỷ lệ tốt 48,6%, khá 42,9%, trung bình 8,6%. Nguyên nhân do sự phân công giảng dạy của nhà quản lý chưa thực sự đúng năng lực chuyên môn của GV. Bên cạnh đó GV vẫn còn thụ động trong công tác giảng dạy như hồ sơ sổ sách chuyên môn, giáo án chậm tiến độ. Nội dung quản lý chất lượng học tập của HV đạt tỷ lệ tốt 45,7%, khá 37,1%, trung bình 17,1%. Quản lý xây dựng, đổi mới hình thức kiểm tra, đánh giá đạt tỷ lệ tốt 31,4%, khá 40%, trung bình 28,6%.
Tuy nhiên có hai nội dung được đánh giá có tỷ lệ yếu khá cao là quản lý thực hiện chế độ kiểm tra, cho điểm theo quy định và quản lý ra đề thi, hình thức tổ chức thi (chiếm 8,6%). Qua nghiên cứu thực trạng việc kiểm tra đánh giá các đợt bồi dưỡng cho thấy tùy theo tính chất các đợt bồi dưỡng mà Trung tâm có kiểm tra, đánh giá hay không, kiểm tra đánh giá theo hình thức nào là phù hợp. Tại Trung tâm các chương trình bồi dưỡng cứng HV đều phải làm bài kiểm tra hoặc viết bài thu hoạch, GV chấm điểm và xếp loại tổng kết cuối đợt học để cấp giấy chứng nhận. Các lớp bồi dưỡng chuyên đề, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác chính quyền, đoàn thể không kiểm tra mà chỉ tiến hành nhận xét chung cuối khóa học. Nhìn chung cán bộ, hội viên ở cơ sở đi bồi dưỡng đều không thích việc kiểm tra, đánh giá cho nên việc kiểm tra đánh giá tại Trung tâm đều được tiến hành nhẹ nhàng chủ yếu HV các lớp bồi dưỡng cứng chỉ thực hiện một bài thu hoặc hoặc một bài kiểm tra viết khoảng 2 câu trong 120 phút tại Trung tâm, còn các lớp bồi dưỡng khác không tiến hành kiểm tra, đánh giá.
Như vậy, qua khảo sát về các hoạt động chỉ đạo đổi mới kiểm tra, đánh giá đều cho kết quả chưa cao. Các hoạt động chỉ đạo đổi mới kiểm tra đánh giá được đặt ra nhưng chung chung chưa đạt hiệu quả.
2.5. Thực trạng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động tới hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho học viên tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì
Kết quả điều tra vấn đề mức độ ảnh hưởng hưởng của các yếu tố tác động tổng số 215 người gồm: 180 HV và 35 Cán bộ quản lý và GV đang hoạt động tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 2.15. Thực trạng ảnh hưởng của các yếu tố tác động tới hoạt động bồi dưỡng Lý luận chính trị cho HV tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng lý luận chính trị cho học viên.
- Nhận xét:
Yếu tố tác động từ tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong và ngoài nước kết quả khảo sát cho thấy 30,2% ý kiến của Cán bộ quản lý, GV và HV cho rằng tác động rất mạnh, 33,5% cho rằng tác động mạnh, 31,6% cho rằng có tác động và 4,7 cho rằng tác động yếu. Điều này cho thấy tác động từ tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong và ngoài nước ở mức độ tương đối mạnh tới hoạt động bồi dưỡng Lý luận chính trị cho HV tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì.
Tác động từ sự phát triển khoa học và công nghệ cho thấy ý kiến của Cán bộ quản lý, GV và HV có 28,4% cho rằng rất mạnh, 36,7% cho rằng tác động mạnh, 31,2% cho rằng có tác động và 3,7% ở mức độ yếu. Kết quả khảo sát này chứng tỏ sự phát triển khoa học và công nghệ nhất là sự ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ tác động đến đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trên các phương diện như: mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; phương thức quản lý; mô hình tổ chức hoạt động dạy – học trong bồi dưỡng cán bộ; vai trò và phương pháp giảng dạy của người thầy; nội dung chương trình dạy học.
Tác động từ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác bồi dưỡng Lý luận chính trị có 37,7% đánh giá có tác động rất mạnh, 38,6% đánh giá tác động mạnh, 18,6% có tác động và 5,1% tác động yếu. Điều này cho thấy các Cán bộ quản lý, GV và HV đánh giá mức độ tác động của chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về bồi dưỡng Lý luận chính trị đang ở mức có tác động thậm chí là tác động yếu. Nguyên nhân do các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác bồi dưỡng Lý luận chính trị thường mang tính chung chung, chưa có sự hướng dẫn cụ thể, chi tiết để mang lại hiệu quả thiết thực trong công tác Bồi dưỡng Lý luận chính trị tại các Trung tâm Bồi dưỡng chính trị cấp huyện nói chung.
Tác động từ năng lực của đội ngũ GV và Cán bộ quản lý được các Cán bộ quản lý, GV và HV đánh giá mức độ tác động rất mạnh 46%, tác động mạnh 40,5%, có tác động 13,5% và không có đánh giá tác động yếu. Như vậy để cho thấy tác động từ trình độ, kỹ năng của đội ngũ GV và Cán bộ quản lý có tác động rất mạnh tới công tác bồi dưỡng Lý luận chính trị. Qua đó chứng tỏ vai trò tác động trực tiếp của GV và Cán bộ quản lý trong chỉ đạo, điều hành, giám sát, kiểm tra quá trình dạy học nhằm nâng cao kết quả bồi dưỡng Lý luận chính trị của HV.
Tác động từ động cơ, thái độ học tập của HV có 45,1% Cán bộ quản lý, GV và HV đánh giá mức độ tác động rất mạnh, 47% đánh giá mức độ mạnh và 7,9% đánh giá mức độ có tác động và không có ý kiến nào cho rằng tác động yếu. Như vậy để cho thấy động cơ, thái độ học tập của HV có vai trò hết sức quan trọng tới hoạt động bồi dưỡng Lý luận chính trị. Khi HV có động cơ, thái độ học tập tốt sẽ làm cho kết quả bồi dưỡng không ngừng nâng cao và ngược lại.
2.6. Đánh giá chung và nguyên nhân của thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng lý luận chính trị cho học viên tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng lý luận chính trị cho học viên.
2.6.1. Ưu điểm và nguyên nhân của thực trạng
- Ưu điểm
Thứ nhất, giáo dục Lý luận chính trị luôn được Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì thực hiện đầy đủ, vượt mức kế hoạch được giao, theo đúng chức năng, nhiệm vụ của mình và theo đúng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng của Thành ủy giao cho.
Thứ hai, nội dung chương trình giáo dục Lý luận chính trị được truyền tải đầy đủ thông qua các lớp đào tạo, bồi dưỡng và thông qua các hội nghị. Trên cơ sở hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Tuyên giáo tỉnh, đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì luôn chủ động bổ sung, phát triển chương trình dạy Lý luận chính trị, cập nhật thông tin, đảm bảo tính thời sự và thiết thực trong mỗi nội dung chương trình giáo dục Lý luận chính trị.
Thứ ba, phương pháp giảng dạy Lý luận chính trị không ngừng được đổi mới, phương tiện dạy học ngày càng hiện đại. Đặc biệt với sự chỉ đạo của Giám đốc Trung tâm yêu cầu đổi mới về phương pháp giảng dạy, năm 2024 có 100% GV chuyên trách của Trung tâm biết ứng dụng công nghệ thông tin vào trong giảng dạy và soạn, giảng bằng giáo án điện tử thành thạo.
Thứ tư, năng lực, trình độ, kỹ năng của người học được cải thiện rõ nét. HV luôn chủ động, tích cực và khắc phục khó khăn để hoàn thành tốt chương trình bồi dưỡng mà mình tham gia.
Thứ năm, công tác quản lý, sử dụng cơ sở vật chất, kinh phí đào tạo, bồi dưỡng thực hiện đúng mục đích, hiệu quả theo quy định của Nhà nước từ đó góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy tại Trung tâm.
- Nguyên nhân ưu điểm Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng lý luận chính trị cho học viên.
Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, chức năng của mình và luôn là đơn vị dẫn đầu trong hệ thống Trung tâm Bồi dưỡng chính trị cấp huyện của tỉnh Phú Thọ. Về giáo dục Lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân trong thành phố. Để có được những kết quả đó là nhờ những nguyên nhân sau:
Thứ nhất, công tác giáo dục Lý luận chính trị của Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì luôn nhận được quan tâm, lãnh đạo và chỉ đạo trực tiếp của Ban Thường vụ Thành ủy Việt Trì và Ủy ban nhân dân Thành phố.
Thứ hai, đội ngũ cán bộ quản lý tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì luôn làm tốt công tác tham mưu cho Thành ủy Việt Trì và phối hợp tốt với các ban, ngành, đoàn thể, các cơ quan chuyên môn của thành phố trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giáo dục Lý luận chính trị.
Thứ ba, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và GV của Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì luôn tâm huyết với nghề, chủ động, tích cực trong quá trình thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.
Thứ tư, đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên, nhất là giáo viên chủ nhiệm luôn quản lý học viên chặt chẽ về ý thức tổ chức kỷ luật nên tinh thần học tập của người học có sự thay đổi tích cực. HV luôn coi việc tham gia các lớp bồi dưỡng Lý luận chính trị là nhiệm vụ chính trị, là mục tiêu để hoàn thành khóa học.
Thứ năm, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho quá trình giảng dạy và học tập ở Trung tâm đã được Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố chú trọng, đầu tư, bổ sung ngân sách để sửa chữa, nâng cấp phòng học, phòng làm việc, trang thiết bị dạy và học ngày càng khang trang, hiện đại.
2.6.2. Hạn chế và nguyên nhân của thực trạng Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng lý luận chính trị cho học viên.
- Hạn chế
Bên cạnh những thành tựu nêu trên thì hiện nay quản lý hoạt động bồi dưỡng Lý luận chính trị của Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì cũng còn bộc lộ một số hạn chế.
Thứ nhất, quản lý nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng chưa đa dạng, mới chú trọng về Lý luận chính trị, chưa chú trọng về bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng cho người học. Chất lượng của một số chương trình chưa cao, chưa sát thực tiễn nên chưa thật sự tạo hứng khởi và làm cơ sở để người học vận dụng vào thực tiễn công việc.
Thứ hai, Quản lý hình thức, phương pháp giảng dạy ở Trung tâm vẫn còn hạn chế, chưa gắn kết, vận dụng tốt giữa lý luận và thực tiễn. Chất lượng giảng dạy của một số GV vẫn còn thông tin kiến thức một chiều, nặng về lý thuyết, ít liên hệ với thực tiễn.
Thứ ba, việc quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HV ở một số chương trình bồi dưỡng còn mang tính hình thức, chưa đánh giá đúng nhận thức của người học.
Thứ tư, ý thức tự giác cũng như tính kỷ luật của một số HV trong quá trình học tập Lý luận chính trị, đào tạo, bồi dưỡng chưa cao. Trong học tập còn có HV đến lớp học chưa thật sự học tập nghiêm túc, đến muộn, về sớm, chưa chú ý tập trung trong giờ học, nghỉ học không báo cáo… phải phụ đạo lại gây tốn kém thời gian và tiền bạc của HV và ảnh hưởng đến công tác quản lý HV của Trung tâm.
Thứ năm, cơ sở vật chất đã được quan tâm đầu tư, xong vẫn chưa thực sự đầy đủ, đồng bộ. Kinh phí hoạt động của Trung tâm hàng năm chủ yếu chỉ đảm bảo cho việc chi trả lương cho cán bộ, nhân viên và chi hoạt động thường xuyên; kinh phí chi cho đào tạo, bồi dưỡng còn hạn chế…
- Nguyên nhân hạn chế
Thứ nhất, một số chương trình đào tạo bồi dưỡng chậm được đổi mới, trùng lặp, gây nhiều khó khăn trong việc đào tạo, bồi dưỡng ở Trung tâm. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng lý luận chính trị cho học viên.
Thứ hai, công tác bồi dưỡng, đặc biệt là bồi dưỡng về phương pháp giảng dạy, cập nhật kiến thức mới, đi thực tế của cán bộ, GV chưa được quan tâm đúng mức, chưa có chế độ để khuyến khích cán bộ, GV nâng cao trình độ chuyên môn.
Thứ ba, đội ngũ GV một số chưa qua chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm theo quy định; đội ngũ GV kiêm chức ít tham gia giảng dạy và sinh hoạt chuyên môn, nghiệp vụ.
Thứ tư, một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa xác định đúng động cơ học tập, ý thức chưa cao; còn tình trạng ngại học hoặc tham gia cho chiếu lệ do vậy chất lượng học tập còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ thực tiễn.
Thứ năm, một số cấp ủy cơ sở, cơ quan, đơn vị chưa quan tâm đúng mức công tác giáo dục Lý luận chính trị, còn xem nhẹ việc đào tạo, bồi dưỡng Lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên.
Thứ sáu, kinh phí chi cho đào tạo, bồi dưỡng còn hạn hẹp, khó khăn. Một số trang thiết bị được đầu tư lâu năm xuống cấp phần nào cũng ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục Lý luận chính trị.
Thứ bảy, chưa có quy định, hướng dẫn về xây dựng Trung tâm Bồi dưỡng chính trị đạt chuẩn; vì vậy cơ sở vật chất của Trung tâm tùy thuộc vào sự quan tâm chỉ đạo của cấp ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp và sự năng động của Trung tâm.
Những hạn chế trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng, hiệu quả của công tác giáo dục Lý luận chính trị của Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, đòi hỏi phải có phương hướng, giải pháp khắc phục đúng đắn.
Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng lý luận chính trị cho học viên.
Nhìn chung trong chương 2 tác giả đã khảo sát, phân tích thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng Lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì gồm các nội dung như: Việc xây dựng hoạch bồi dưỡng, quản lý mục tiêu, chương trình bồi dưỡng, quản lý quá trình dạy và học của GV và HV, công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, quản lý về cơ sở vật chất… đã đánh giá chính xác những kết quả đạt được. Tuy nhiên bên cạnh những kết quả được đánh giá, trong quản lý bồi dưỡng Lý luận chính trị cho HV tại Trung tâm còn gặp nhiều khó khăn như biên chế của Trung tâm ít, khối lượng công việc nhiều, cán bộ và lãnh đạo của Trung tâm làm việc hầu hết là thực hiện phân công kiêm nhiệm nên chất lượng công việc khi triển khai chưa đạt hiệu quả cao, nhiều việc còn chồng chéo đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc quản lý bồi dưỡng Lý luận chính trị tại Trung tâm.
Từ những cơ sở lý luận và thực trạng quản lý bồi dưỡng Lý luận chính trị tại Trung tâm Bồi dưỡng chính trị thành phố Việt Trì, tác giả đã tiến hành nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp nhằm đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý hoạt động bồi dưỡng Lý luận chính trị tại Trung tâm trong thời gian tới. Nội dung các biện pháp được thể hiện trong chương 3 của luận văn. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng lý luận chính trị cho học viên.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp bồi dưỡng lý luận chính trị cho học viên
