Luận văn: Thực trạng phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục ở tỉnh Bắc Ninh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Những yếu tố tác động đến phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục ở tỉnh Bắc Ninh

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hoá – xã hội tỉnh Bắc Ninh

Bắc Ninh là vùng đất “Địa linh, nhân kiệt”. Trong hàng nghìn năm Bắc thuộc, vùng đất Luy Lâu đã trở thành trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục của nước ta. Bắc Ninh nằm trong phạm vi từ 20o58’ đến 20o16’ vĩ độ Bắc và 105 o54’ đến 106 o19’ kinh độ đông. Phía bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía tây và tây nam giáp thủ đô Hà Nội, phía nam giáp tỉnh Hưng Yên, phía đông giáp tỉnh Hải Dương.

Thành phố Bắc Ninh chỉ cách trung tâm Thủ đô Hà Nội 30km, cách sân bay quốc tế Nội bài 30km, cách Hải Phòng 110km. Vị trí địa kinh tế liền kề với Thủ đô Hà Nội, Bắc Ninh chính là địa bàn mở gắn với phát triển của thủ đô Hà Nội, theo định hướng xây dựng các thành phố vệ tinh và là mạng lưới gia công cho các xí nghiệp của thủ đô trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Diện tích toàn tỉnh Bắc Ninh là 822,7 km2. Bắc Ninh có diện tích tự nhiên chỉ chiếm 0,2% diện tích tự nhiên cả nước và là địa phương có diện tích tự nhiên nhỏ nhất trong 63 tỉnh, thành phố. Dân số Bắc Ninh là 1.153.600 người, trong đó, nam 568.055 người chiếm 49,20% và nữ 586.605 người chiếm 50,80%; khu vực thành thị 330.219 người, chiếm 28,60% dân số toàn tỉnh và khu vực nông thôn 824.441 người, chiếm 71,40%. Mật độ dân số trung bình là 1.403 người/km2. Bắc Ninh còn là một trong 8 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, khu vực có mức tăng trưởng kinh tế cao, giao lưu kinh tế mạnh của cả nước, có nhiều lợi thế về phát triển kinh tế – thương mại và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, có vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng.

Với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội nêu trên, tỉnh bắc ninh có nhiều tiềm lực phát triển nền kinh tế thị trường trong xu thế hội nhập. Mặt khác, các điều kiện này cũng tác động đa chiều tới nội dung cải cách hành chính của Tỉnh mà công tác quản lí nhà nước trong lĩnh vực giáo dục là một bộ phận, yêu cầu giáo dục, đã tạo ra sự quá tải của UBND cấp xã, các phòng GD&ĐT, UBND cấp huyện trên địa bàn Tỉnh và do vậy, áp lực quản lí giáo dục và phân cấp quản lí về giáo dục được đặt ra. Đồng thời với sự tăng trưởng kinh tế, tốc độ tăng dân số trên địa bàn Tỉnh rất cao. Do vậy việc đầu tư cho giáo dục cũng tăng rất cao. Tất cả những vấn đề trên tạo nên áp lực đễn lĩnh vực giáo dục.

2.1.2. Các quy định, kế hoạch của Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhan dân tỉnh về quản lý giáo dục các cấp Luận văn: Thực trạng phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục.

Trên cơ sở các văn bản của Trung ương và xuất phát từ đặc điểm và tình hình thực tế tại địa phương, tỉnh Bắc Ninh đã ban hành ra một số văn bản phục vụ cho hoạt động quản lý giáo dục. Năm 2021 Uỷ ban nhân dân tỉnh đã ban hành quyết định số: 223/2021/QĐ-UBND về việc ban hành Quy định phân cấp quản lý công tác tổ chức, biên chế, cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước; cán bộ, công chức cấp xã và công tác tổ chức, cán bộ ở các doanh nghiệp Nhà nước tỉnh Bắc Ninh. Năm 2022 Tỉnh uỷ Bắc Ninh ban hành nghị quyết số: 12-NQ/TU về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2022-2030, định hướng đến năm 2040. Năm 2022 Uỷ ban nhân dân tỉnh đã ban hành kế hoạch số: 77-KH-UBND thực hiện nghị quyết số 12-NQ/TU của ban chấp hành đảng bộ tỉnh khoá XVIII về đổi mơí căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2022-2030, định hướng đến năm 2040.

Trên đây là những căn cứ pháp lý về phân cấp quản lý giáo dục ở tỉnh Bắc Ninh. Như vậy các văn bản chỉ đạo của Tỉnh thực hiện đúng những quan điểm, đường lối, mục tiêu về giáo dục và đào tạo của Đảng và Nhà nước; quán triệt sâu sắc tư tưởng “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, công tác quản lý của nhà nước về giáo dục. Trong những năm qua chính quyền các cấp ở Bắc Ninh luôn thể hiện sự chăm lo tốt nhất cho giáo dục. Trong các chủ trương, chính sách thì việc đầu tư cho giáo dục luôn được quan tâm hàng đầu và đi trước một bước so với các lĩnh vực khác.

Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo làm tốt công tác tuyên truyền để tạo ra sự đồng thuận cao từ chính quyền đến nhân dân trong tỉnh và tạo môi trường giáo dục lành mạnh, an toàn, thuận tiện. Giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân.

Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các cơ sở giáo dục phải chủ động, tích cực tham mưu cho Đảng, chính quyền các cấp, tăng cường sự phối hợp với các ngành, các tổ chức đoàn thể thực hiện các chương trình, kế hoạch cụ thể và các nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục và đào tạo.

Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh tập trung chỉ đạo tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm nổi trội; tăng cường nguồn lực, chỉ đạo quyết liệt; các cấp quản lý giáo dục phải chủ động, tích cực đề xuất với các cấp có thẩm quyền những vấn đề đảm bảo cho phát triển giáo dục.

Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh phải bám sát cơ sở; giải quyết dứt điểm những vướng mắc, phát sinh trong giáo dục.

2.1.3. Hệ thống giáo dục và hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục ở tỉnh Bắc Ninh

  • Hệ thống giáo dục ở tỉnh Bắc Ninh Luận văn: Thực trạng phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục.

Trong những năm gần đây quy mô trường, lớp trong tỉnh không ngừng phát triển được đa dạng ở tất cả các bậc học, cấp học đã đáp ứng được những yêu cầu cơ bản trong phát triển giáo dục. các loại hình trường lớp tiếp tục được củng cố, phát triển rộng khắp trên đạ bàn tỉnh. Trong tỉnh có 02 trường đại học, 07 trường cao đẳng, 05 trường trung học chuyên nghiệp, có 09 trung tâm giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên, có 30 trường THPT (trong đó có 01 trường THPT chuyên), 134 trường Trung học cơ sở (trong đó có 08 trường Trung học cơ sở trọng điểm), 135 trường TH, 136 trường MN.

Quy mô giáo dục và mạng lưới cơ sở giáo dục phát triển đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của nhân dân. Chất lượng giáo dục ở các cấp học và trình độ đào tạo có tiến bộ; công bằng xã hội trong tiếp cận giáo dục đã được cải thiện, con em các gia đình chính sách, gia đình nghèo, ngày càng được quan tâm. Công tác quản lý giáo dục có bước chuyển biến tích cực theo hướng khắc phục các tiêu cực trong ngành, chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; đổi mới cơ chế tài chính giáo dục; tăng cường phân cấp quản lý giáo dục, quyền tự chủ và trách nhiệm của cơ sở giáo dục; ứng dụng công nghệ thông tin. Hình thành giám sát xã hội đối với chất lượng giáo dục; xây dựng hệ thống quản lý chất lượng từ tỉnh đến các cơ sở giáo dục, cải cách hành chính trong toàn ngành giáo dục; mở rộng môi trường giáo dục thân thiện, khuyến khích tính tích cực, chủ động trong học sinh; đổi mới, tăng cường giáo dục truyền thống và văn hóa dân tộc. Đội ngũ nhà giáo đủ về số lượng và dần nâng cao chất lượng. Ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục tăng nhanh. Công tác xã hội hóa giáo dục đạt kết quả khả quan; cơ sở vật chất các nhà trường được cải thiện đáng kể.

  • Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục ở tỉnh Bắc Ninh

Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh chịu trách nhiệm quản lý về giáo dục cao nhất ở địa phương theo phân cấp của chính phủ.

Sở Giáo dục và Đào tạo là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo ở địa phương theo quy định của pháp luật và theo phân công hoặc ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Sở Giáo dục và Đào tạo có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng; chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

UBND cấp huyện có trách nhiệm thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giáo dục trên địa bàn huyện; chịu trách nhiệm trước UBND cấp tỉnh về phát triển giáo dục mầm non, tiểu học, trung học cơ sở và xây dựng xã hội học tập trên địa bàn huyện.

Phòng Giáo dục và Đào tạo là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện; giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo phân công hoặc ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện và theo quy định của pháp luật. Phòng Giáo dục và Đào tạo có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng; chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Ủy ban nhân dân cấp huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Sở Giáo dục và Đào tạo.

2.2. Khái quát thực trạng phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục ở tỉnh Bắc Ninh Luận văn: Thực trạng phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục.

Để nghiên cứu sâu về thực trạng phân cấp Quản lý nhà nước về giáo dục, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả chỉ đề cập đến thực trạng công tác phân cấp quản lý về giáo dục giữa UBND tỉnh Bắc Ninh với sở GD&ĐT, giữa UBND tỉnh với UBND cấp huyện và giữa UBND cấp huyện với phòng GD&ĐT, UBND cấp huyện với các cơ sở giáo dục thông qua hình thức ủy quyền trực tiếp theo các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể được quy định tại luật giáo dục năm 2017, Nghị định 115/2018/NĐ-CP của chính phủ, quyết định 223/2021/QĐ-UBND của UBND tỉnh Bắc Ninh về việc ban hành Quy định phân cấp quản lý công tác tổ chức, biên chế, cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước và kế hoạch 77/2022/KH-UBND của UBND tỉnh Bắc Ninh về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo tỉnh Bắc Ninh, giai đoạn 2022-2030, định hướng đến năm 2040 và xem xét thực trạng phân cấp Quản lý nhà nước trên cơ sở định hướng quản lý giáo dục theo đúng mục tiêu xã hội để đưa ra các luận cứ nhằm nhận xét, đánh giá xác thực tại tỉnh Bắc Ninh

2.2.1. Phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục giữa UBND tỉnh Bắc Ninh với Sở GD&ĐT và với UBND cấp huyện

Chủ trương về phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục với định hướng “Phân cấp cho Uỷ ban nhân dân tỉnh quản lý toàn diện giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục trung học chuyên nghiệp và dạy nghề, có thể cả một số trường cao đẳng” đã được đề ra trong Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII). được nhấn mạnh trong nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc khoá IX với định hướng “Thực hiện mạnh mẽ phân cấp quản lý giáo dục; phát huy tính chủ động, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục, trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố và các quận, huyện trong việc thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục” .Việc phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục đã thực hiện tương đối toàn diện theo Nghị định số: 115/2018/NĐ – CP ngày 24 tháng 12 năm 2018 của Chính phủ “Quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục”. Việc thực hiện Nghị định này đã làm rõ một số vấn đề về phân cấp trung ương – địa phương trong quản lý nhà nước về giáo dục.

Theo quyết định số: 223/2021/QĐ- UBND của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh “về việc ban hành quy định phân cấp quản lý công tác tổ chức biên chế , cán bộ, công chức, viên chức tại tỉnh Bắc Ninh”; theo nghị quyết số: 12-NQ/TU của Tỉnh uỷ Bắc Ninh và kế hoạch số: 77-KH-UBND của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2022-2030, định hướng đến năm 2040, việc thực hiện các văn bản này cũng đã làm rõ các vấn đề phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục. Trên cơ sở kết hợp các văn bản trên, có thể thấy, UBND tỉnh đã ủy quyền cho sở GD&ĐT, UBND cấp huyện thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục với những nhiệm vụ và quyền hạn sau:

2.2.1.1. Tham mưu cho UBND tỉnh quản lý nhà nước về giáo dục

Trong những năm qua trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, giáo dục giữ vai trò chủ đạo. Với địa bàn tuy nhỏ nhưng mật độ dân cư lớn do vậy giáo dục luôn xảy ra hiện tượng quá tải, tiêu cực, chưa đáp ứng được nhu cầu của người học, gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước về giáo dục cụ thể : Luận văn: Thực trạng phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục.

  • Đối với Sở GD&ĐT:

Hiện nay, do thực hiện theo luật giáo dục năm 2017 và Nghị định 115/2018/NĐ-CP của chính phủ một phần quản lý nhà nước về giáo dục cơ sở được chuyển sang UBND cấp huyện phần nào thuận lợi cho cấp giáo dục MN, TH, Trung học cơ sở. Tuy nhiên, do luật giáo dục không quy định cụ thể về quản lý chuyên môn nên thực tế vẫn xảy ra nhiều vấn đề gây tranh cãi. Có quan điểm cho rằng nên để việc quản lý giáo dục về chuyên môn do Sở GD&ĐT toàn quyền quyết định, có ý kiến cho rằng Sở GD&ĐT là cấp tham mưu cho UBND tỉnh. Trước thực trạng này Sở GD&ĐT đã thực hiện công tác quản lý giáo dục như sau:

  • Về chuyên môn, nghiệp vụ:

Trình Uỷ ban nhân dân tỉnh: dự thảo quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, chính sách phát triển giáo dục trên địa bàn; dự thảo các quyết định, chỉ thị khác về lĩnh vực giáo dục thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh để phát triển giáo dục;

Trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh: dự thảo quyết định thành lập, cho phép thành lập, sáp nhập, chia, tách, giải thể các cơ sở giáo dục trực thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện và các văn bản khác về lĩnh vực giáo dục thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

Hướng dẫn, tuyên truyền, phổ biến và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục; quy hoạch, kế hoạch, đề án, chương trình và các nội dung khác về giáo dục sau khi đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Hướng dẫn, tổ chức thực hiện công tác chuyên môn, nghiệp vụ; công tác phổ cập giáo dục, chống mù chữ và xây dựng xã hội học tập trên địa bàn; công tác tuyển sinh, thi cử, cấp phát văn bằng, chứng chỉ, kiểm định chất lượng giáo dục đối với các Phòng Giáo dục và Đào tạo, các cơ sở giáo dục trực thuộc.

Giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh quản lý nhà nước đối với các tổ chức dịch vụ đưa người đi đu học tự túc ở ngoài nước theo quy định của pháp luật.

Thực hiện thống kê, thông tin, báo cáo theo định kỳ và hàng năm về tổ chức và hoạt động giáo dục của địa phương với Uỷ ban nhân dân tỉnh.

Chủ trì hướng dẫn, tổng hợp kế hoạch biên chế sự nghiệp giáo dục của địa phương hàng năm để cơ quan quản lý biên chế cùng cấp ở địa phương trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; phân bổ biên chế sự nghiệp giáo dục cho các cơ sở giáo dục trực thuộc sở, sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt; hướng dẫn, tổ chức thực hiện, kiểm tra, thanh tra việc tuyển dụng, sử dụng, luân chuyển, biệt phái, đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng, thực hiện chính sách đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trên địa bàn.

Giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật về giáo dục trong việc bảo đảm các điều kiện thành lập trường, hoạt động giáo dục, mở ngành đào tạo, công khai chất lượng giáo dục, công khai điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục, việc đào tạo gắn với nhu cầu xã hội.

  • Về tổ chức, nhân sự: Luận văn: Thực trạng phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục.

Quyết định bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, luân chuyển, cách chức, giáng chức người đứng đầu, cấp phó người đứng đầu, công nhận hội đồng trường các cơ sở giáo dục trực thuộc; công nhận, không công nhận hội đồng quản trị, chủ tịch hội đồng quản trị, hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các cơ sở giáo dục ngoài công lập thuộc quyền quản lý.

  • Về tài chính và ngân sách:

Chủ trì xây dựng để cụ thể hóa các tiêu chuẩn, định mức kinh phí giáo dục tại địa phương; lập dự toán ngân sách giáo dục đối với các cơ sở giáo dục trực thuộc sở; quyết định phân bổ, giao dự toán ngân sách được giao cho giáo dục đối với các cơ sở giáo dục trực thuộc sở sau khi đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; phối hợp với Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư xác định, cân đối ngân sách nhà nước chi cho giáo dục hàng năm của địa phương, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc sử dụng ngân sách nhà nước và các nguồn thu hợp pháp khác cho giáo dục trên địa bàn tỉnh.

Hướng dẫn, tổ chức thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục, huy động các nguồn lực để phát triển giáo dục; ban hành các quy định để bảo đảm quyền tự chủ, nghĩa vụ tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục trực thuộc; quản lý tài chính, tài sản, cơ sở vật chất được giao theo quy định của pháp luật.

Thực hiện cải cách hành chính, thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng, lãng phí, công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị có liên quan đến giáo dục, xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật đạt hiệu quả.

Giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh quản lý các cơ sở giáo dục trực thuộc, gồm: trường cao đẳng, trường trung cấp chuyên nghiệp của tỉnh, trường trung học phổ thông, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm ngoại ngữ, tin học, trung tâm giáo dục – hướng nghiệpvà các cơ sở giáo dục trực thuộc khác thuộc thẩm quyền quản lý của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

Như vậy, qua thời gian thực hiện những quy định mới đã khắc phục được một số vấn đề chồng chéo trong quản lý giáo dục của sở GD&ĐT đối với các cơ sở giáo dục trưc thuộc mang tính hiệu quả thực tiễn hơn.

  • Đối với UBND các huyện, thị xã, thành phố

Tại hầu hết các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh công tác quản lý giáo dục được chỉ đạo sát sao và đi vào nề nếp . Các huyện, thị xã, thành phố đều có những cải tiến nhất định trong quy trình quản lý giáo dục.

UBND các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh Bắc Ninh có trách nhiệm thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giáo dục trên địa bàn; chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh về phát triển giáo dục mầm non, tiểu học, trung học cơ sở và xây dựng xã hội học tập trên địa bàn:

  • Về chuyên môn, nghiệp vụ:

Xây dựng quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án phát triển sự nghiêp giáo dục trên địa bàn trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; chỉ đạo, kiểm tra tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án giáo dục đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Luận văn: Thực trạng phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục.

Chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện và kiểm tra giám sát các cơ sở giáo dục thuộc thẩm quyền quản lý trong việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục. Chỉ đạo, hướng dẫn kiểm tra Phòng Giáo dục và Đào tạo, các cơ sở giáo dục thuộc thẩm quyền quản lý của UBND cấp huyện trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục trên địa bàn.

Thực hiện phổ cập giáo dục, chống mù chữ và xây dựng xã hội học tập trên địa bàn.Thực hiện công tác thống kê, thông tin, báo cáo theo định kỳ và hàng năm về tổ chức và hoạt động giáo dục theo hướng dẫn của UBND tỉnh và Sở Giáo dục và Đào tạo.

  • Về tổ chức, nhân sự:

Quyết định thành lập, cho phép thành lập, sáp nhập, chia, tách, đình chỉ hoạt động, giải thể đối với các cơ sở giáo dục mầm non, trường tiểu học, trung học cơ sở, trường phổ thông có nhiều cấp học, trung tâm học tập cộng đồng và các cơ sở giáo dục khác thuộc thẩm quyền quản lý của UBND cấp huyện.

Bảo đảm đủ biên chế công chức cho Phòng Giáo dục và Đào tạo, biên chế sự nghiệp cho các cơ sở giáo dục; chỉ đạo, tổ chức thực hiện việc xây dựng, phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách của Nhà nước, ban hành các chủ trương, biện pháp để chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục thuộc thẩm quyền quản lý trên địa bàn.

  • Về tài chính và ngân sách:

Bảo đảm các điều kiện về tài chính, tài sản, cơ sở vật chất để phát triển giáo dục trên địa bàn; thực hiện xã hội hóa giáo dục, huy động các nguồn lực xã hội để phát triển giáo dục; ban hành các quy định để bảo đảm quyền tự chủ, nghĩa vụ tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục thuộc thẩm quyền quản lý trên địa bàn; hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện.

Chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện công tác cải cách hành chính, công tác thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng, lãng phí; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị và xử lý vi phạm về giáo dục theo quy định của pháp luật; kiểm tra, giám sát việc thực hiện công khai chất lượng giáo dục, công khai điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục, công khai tài chính của các cơ sở giáo dục thuộc thẩm quyền quản lý của UBND cấp huyện.

2.2.1.2. Trực tiếp thực hiện nhiệm vụ Quản lý nhà nước về giáo dục

Trên cơ sở điều tra khảo sát được tiến hành tại các Huyện, Thị xã, Thành Phố trong Tỉnh bao gồm: Thành phố Bắc Ninh, Thị Xã Từ Sơn, Huyện Gia Bình, Huyện Lương Tài, Huyện Quế Võ, Huyện Thuận Thành, Huyện Tiên Du, Huyện Yên Phong. Việc điều tra khảo sát không chỉ tiến hành đối với cán bộ, viên chức công tác trong ngành giáo dục và đào tạo mà còn được tiến hành với các chuyên viên của Uỷ ban nhân dân tỉnh, Uỷ ban nhân dân các Huyện, phòng Tài Chính, Phòng Nội vụ…để thu thập và chia sẻ thông tin về hiện trạng và khuyến nghị phân cấp quản lý giáo dục và đào tạo thông qua công cụ cơ bản là Phiếu điều tra.

Mặc dù còn một số hạn chế như số phiếu thu được từ Uỷ ban nhân dân tỉnh quá thấp (3 phiếu) một số phiếu trả lời của các cơ quan như Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Sở Nội vụ, chưa thật đầy đủ, nhưng các dữ liệu thu thập được là phong phú và có giá trị, đã nêu rõ thực trạng và khuyến nghị về phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục, nhìn chung có thể xem xét thực trạng phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục trên các mặt sau đây:

Quản lý nhà nước về chuyên môn, nghiệp vụ:

  • Về công tác lập kế hoạch: Luận văn: Thực trạng phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục.

Về lập kế hoạch phát triển giáo dục, các Huyện, Thị xã, Thành phố đều theo quy trình sau: Trên cơ sở đánh giá việc thực hiện kế hoạch phát triển giáo dục năm trước và mục tiêu, nhiệm vụ đề ra cho năm kế hoạch mới, từng đơn vị trường xây dựng kế hoạch phòng và Uỷ ban nhân dân cấp huyện là các đơn vị tổng hợp, xem xét, điều chỉnh để hoàn thiện và tham mưu trình Uỷ ban nhân dân tỉnh, ra quyết định phê duyệt. Nói cách khác, quy trình lập kế hoạch phát triển giáo dục hiện nay được thực hiện từ cấp thấp lên cao (Trường –Phòng – Sở Giáo dục và Đào tạo) (73,1% hoàn toàn và 11% phần nào nhất trí).

Tuy nhiên, trong thực tế thì việc lập kế hoạch phát triển giáo dục địa phương còn phần nào mang tính hình thức (46% nhất trí so với 40,2% chưa nhất trí). Nguyên nhân chính là tại một số nơi do việc lập kế hoạch tại các trường và Phòng Giáo dục và Đào tạo thường là chậm và nhiều khi số liệu vênh so với số liệu tại Sở Giáo dục và Đào tạo, nên Sở thường phải song song chủ động lập kế hoạch phát triển giáo dục cho cả tỉnh để kịp phê duyệt chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế. Ví dụ: Tại các huyện Tiên Du, Quế Võ, Yên phong Việc lập kế hoạch của các trường cao hơn thực tế, dẫn đến tình trạng vênh số liệu giữa các bên quản lý, trong khi đó Phòng Giáo dục và Đào tạo mới là nơi nắm chắc thông tin về cơ cấu tuổi trẻ em tại địa phương. Điều này ảnh hưởng đến công tác lập kế hoạch và độ chính xác thực tế của kế hoạch, đặc biệt là khi kế hoạch của các huyện chỉ mới chú trọng tới đầu tư cơ bản mà chưa chú trọng tới mục tiêu phát triển các cấp học.

Trong khâu lập kế hoạch, giáo dục và đào tạo các trường thường gặp khó khăn là: Thiếu các văn bản hướng dẫn cụ thể từ sở, của phòng Giáo dục và Đào tạo sao cho kế hoạch phát triển thực sự gắn kết với các điều kiện thực hiện kế hoạch, đặc biệt là cơ chế phối hợp giữa các cơ quan giáo dục và cơ quan chức năng của xã hoặc huyện…Vì vậy, sở, phòng Giáo dục và Đào tạo cần cung cấp đầy đủ các văn bản hướng dẫn xây dựng và thực hiện kế hoạch, trong đó quy định cụ thể cơ chế phối hợp giữa các bên liên quan như: ngành giáo dục cần chủ trì trong khâu này, còn các ngành khác là phối hợp, thì mới tốt được và đặc biệt là cần đưa các tiêu chí phân loại vào khâu lập kế hoạch.

Mặc dù trách nhiệm thực hiện kế hoạch giáo dục được đánh giá là đã gắn với quyền hạn về nhân sự (36,5% ý kiến hoàn toàn và 25,4% ý kiến phần nào nhất trí) cũng như tài chính (39,2% ý kiến phần nào nhất trí) nhưng trong thực tế ý kiến này khác nhau trong một số huyện.

Đánh giá chung về việc thực hiện chủ trương và chính sách phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục cho cấp huyện, hầu hết các ý kiến đều cho rằng: Hiện nay việc chuyển giao quyền quản lý toàn diện từ ngành giáo dục sang Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố cần được cụ thể hóa bằng việc giao quyền quản lý về tổ chức, cán bộ và tài chính cho các cơ quan quản lý giáo dục địa phương, đồng thời tăng quyền chủ động về quản lý tới tận cấp thực hiện – cấp trường (tuy nhiên, trước mắt cần tùy theo năng lực của từng trường mà thực hiện).

  • Về nội dung, chương trình, sách giáo khoa: Luận văn: Thực trạng phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục.

Về nội dung, chương trình giáo dục, các ý kiến có phần ngả về việc đánh giá rằng công tác xây dựng chương trình giáo dục hiện nay trên toàn tỉnh đã thể hiện các trường tự xây dựng chương trình giáo dục phù hợp trên khung phân phối chương trình của bộ (100% ý kiến nhất trí )

Về sách giáo khoa, đa số ý kiến cho rằng còn thiếu sự đa dạng sự đổi mới của cơ sở vật chất chưa song hành với sách giáo khoa, cơ chế thi cử trong tỉnh còn nhiều xa cách với sách giáo khoa (53,4% ý kiến hoàn toàn nhất trí và 18,5% ý kiến phần nào nhất trí). Ví dụ: Các ý kiến từ phỏng vấn tại các huyện Lương Tài, huyện Quế Võ, thị xã Từ Sơn, thành phố Bắc Ninh đều thống nhất là việc thành lập hội đồng biên soạn sách giáo khoa cần có sự tham gia rộng rãi hơn của các chuyên gia tại địa phương vào quá trình biên soạn nhằm nâng cao tính phù hợp và thích nghi của sách.

Về thiết bị dạy học, có nhiều ý kiến hơn chút ít khi đánh giá rằng đã có quy định rõ ràng về trách nhiệm của từng cấp quản lý ( Sở, Phòng GD&ĐT) trong vấn đề xây dựng danh mục, thẩm định mẫu, mua sắm, cung cấp, sử dụng, quản lý trang thiết bị dạy học (43,4% ý kiến nhất trí so với 40,7% ý kiến chưa nhất trí). Tuy nhiên, các đề nghị cần cho các trường quyền tự mua sắm tài liệu và thiết bị dạy học bằng nguồn ngân sách.

Về đánh giá chất lượng giáo dục, đa số ý kiến nhất trí đánh giá rằng đã có quy định rõ ràng về trách nhiệm đánh giá chất lượng giáo dục giữa các cấp quản lý ( Sở, Phòng, Trường) 42,3% ý kiến hoàn toàn nhất trí và 23,8% ý kiến phần nào nhất trí) và sự phân công trách nhiệm hiện nay giữa các cấp quản lý trong việc ra đề thi coi thi, chấm thi, duyệt kết quả thi là chưa hợp lý (58,7% ý kiến hoàn toàn nhất trí và 17,4% ý kiến phần nào nhất trí) vì đã phân cấp tổ chức thi và cấp bằng cho khối trung học phổ thông cần giao cho Sở giáo dục và đào tạo chịu trách nhiệm, còn Phòng Giáo dục và Đào tạo tổ chức kiểm tra, đánh giá và cấp chứng nhận cho khối trung học cơ sở, trường tiểu học chứng nhận học hết chương trình tiểu học do vậy để đánh giá chính xác thì cấp nào phải ra đề thi, kiểm tra của cấp ấy nhưng sở giáo dục vẫn ra đề thi học kỳ cho cấp học trung học cơ sở .

Về đào tạo giáo viên, tuy đã có quy định tỉnh chịu trách nhiệm đào tạo giáo viên trung học cơ sở trở xuống (do các trường cao đẳng sư phạm của Tỉnh đảm nhiệm theo chỉ tiêu do Bộ Giáo dục và Đào tạo giao), nhưng hầu hết ý kiến vẫn cho rằng chưa có quy định cụ thể về trách nhiệm của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Uỷ ban nhân dân các cấp trong việc đào tạo giáo viên (49,2% ý kiến nhất trí so với 13,7% ý kiến chưa nhất trí). Đây có thể là một trong các nguyên nhân dẫn đến việc đào tạo giáo viên hiện nay chưa đồng bộ theo cơ cấu giáo viên, đào tạo tràn lan không theo nhu cầu sử dụng nên chất lượng giáo viên ngày càng thấp, đặc biệt trường cao đẳng tuyển dụng đầu vào quá thấp cứ như vậy trong tương lai giáo dục Bắc Ninh sẽ phát triển như thế nào?

Về bồi dưỡng giáo viên, đa số ý kiến đánh giá là đã quy định rõ ràng trách nhiệm (32,8% ý kiến hoàn toàn nhất trí và 28,6% ý kiến phần nào nhất trí) và quyền hạn của Uỷ ban nhân dân các cấp, Sở và Phòng Giáo dục và Đào tạo trong vấn đề bồi dưỡng giáo viên (56,6% ý kiến nhất trí so với 28% ý kiến chưa nhất trí). Tuy nhiên việc xin kinh phí cho việc bồi dưỡng giáo viên rất khó khăn. Luận văn: Thực trạng phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục.

Về giải pháp cho việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, hầu hết các huyện đều nhất trí là việc đào tạo (giáo viên Trung học cơ sở trở xuống) và bồi dưỡng giáo viên trong phạm vi tỉnh cần giao cho Uỷ ban nhân dân cấp huyện quản lý (kể cả kinh phí) và thực hiện thì mới nâng cao được chất lượng giáo dục tại địa phương và khắc phục được khó khăn trên

Quản lý nhà nước về tổ chức, nhân sự:

  • Công tác tổ chức bộ máy

Qua khảo sát về chức năng, nhiệm vụ của Uỷ ban nhân dân cấp huyện cho thấy có 67,7% ý kiến cho rằng: Chức năng, nhiệm vụ chưa đi đôi quyền hạn; 20% ý kiến cho thấy chức năng, nhiệm vụ chưa được quy định rõ ràng, cụ thể;12,3 % ý kiến cho thấy chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn còn chồng chéo với các cơ quan chức năng khác. Cơ cấu tổ chức của các Sở khác nhau

Về quản lý các trường, cơ sở giáo dục: Trước đây, Uỷ ban nhân dân cấp huyện được giao nhiệm vụ quản lý trực tiếp một số đơn vị sự nghiệp như trường trung học phổ thông, Trung tâm GDTX, Trung tâm Kỹ thuật Tổng hợp – Hướng nghiệp. Tuy nhiên, tại điều 7 Nghị định 115/2018/NĐ-CP ngày 24/12/2018 quy định một cách rõ ràng: “Uỷ ban nhân dân cấp huyện giúp Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quản lý các cơ sở giáo dục trực thuộc, gồm: trường cao đẳng, trường trung cấp chuyên nghiệp (không bao gồm các trường cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp công lập của các Bộ đóng trên địa bàn), trường cán bộ quản lý giáo dục tỉnh (nếu có), trường trung học phổ thông, trường phổ thông có nhiều cấp học (trong đó có cấp trung học phổ thông), trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm ngoại ngữ, tin học, trung tâm giáo dục – hướng nghiệp; trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú và các cơ sở giáo dục trực thuộc khác (nếu có) thuộc thẩm quyền quản lý của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh”.

  • Công tác quản lý nhân sự

Tại tỉnh Bắc Ninh công tác quản lý nhân sự của ngành giáo dục chủ yếu thuộc quyền quyết định của Sở Nội vụ. Kết quả khảo sát cho thấy:

  • 100% số người được hỏi cho rằng hiện tại Sở Nội vụ quyết định phê duyệt kế hoạch chỉ tiêu biên chế
  • 90% số người được hỏi cho rằng hiện tại Sở Nội vụ quyết định phê duyệt tuyển dụng nhân sự, trong khi chỉ có 10 % số người được hỏi là Uỷ ban nhân dân cấp huyện có vai trò đó.

Việc Uỷ ban nhân dân tỉnh giao cho Sở Nội vụ chịu trách nhiệm chính trong vấn đề duyệt biên chế, sở giáo dục và Uỷ ban nhân dân các huyện tuyển dụng nhân sự cho ngành giáo dục và đào tạo cũng có sự thuận lợi về việc bố trí, cân đối cán bộ trong phạm vi các Huyện, nhất là trong điều kiện số lượng biên chế eo hẹp. Tuy nhiên do Uỷ ban nhân dân các huyện giao cho phòng nội vụ tuyển dụng nắm không sâu được yêu cầu đặc thù của ngành giáo dục và đào tạo, nên điều đó cũng gây một số bất cập cho cơ quan quản lý giáo dục: Cơ cấu cán bộ không đồng bộ, không sát yêu cầu, chất lượng không đảm bảo, không đáp ứng kịp thời về cán bộ cho cơ sở. Công tác tuyển dụng viên chức ngành giáo dục của các huyện trong tỉnh tổ chức thi cùng ngày nên không có nhiều cơ hội cho các thí sinh. Luận văn: Thực trạng phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục.

Tỷ lệ người được hỏi cho rằng trên thực tế hiện tượng do cơ quan quản lý giáo dục địa phương không được quyền chủ động trong quản lý nhân sự dẫn đến tình trạng đội ngũ cán bộ không bảo đảm về cơ cấu, chất lượng, số lượng ảnh hưởng đến việc triển khai thực hiện kế hoạch phát triển của ngành, diễn ra không thường xuyên (15% ý kiến) và khá thường xuyên (65% ý kiến). Tỷ lệ này ở cán bộ lãnh đạo phòng giáo dục và đào tạo, Uỷ ban nhân dân cấp huyện tương ứng là (5% ý kiến) và (57% ý kiến), cao hơn hẳn so với tỷ lệ ở cán bộ lãnh đạo các ngành ngoài giáo dục và đào tạo là (10% ý kiến) và (8% ý kiến)

Đánh giá chung về quyền hạn nhân sự tại các Huyện cho thấy nhìn chung là giống nhau tuy nhiên có sự khác nhau về giao quyền quản lý nhân sự theo 8 huyện: Thành phố Bắc Ninh quyền quản lý nhân sự được giao cho Phòng giáo dục là chủ yếu. Huyện Quế Võ, huyện Thuận Thành, thị xã Từ Sơn thì quyền quản lý nhân sự được giao toàn bộ cho phòng nội vụ. Các huyện còn lại vai trò quyền quản lý nhân sự của phòng nội vụ và phòng giáo dục được giao cùng trách nhiệm.

Hàng năm, trên cơ sở kế hoạch của Phòng Nội vụ, Uỷ ban nhân dân cấp huyện chủ động xây dựng kế hoạch biên chế cho tất cả cấp học, chi tiết tới từng chủng loại giáo viên báo cáo Sở Nội vụ tham mưu cho Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt; ngoài ra, tại một số nơi do sự hiệp y không tốt giữa phòng Nội vụ và phòng Giáo dục và Đào tạo trong việc xây dựng kế hoạch biên chế, nên gây rất nhiều khó khăn cho ngành giáo dục và đào tạo trong việc xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển giáo dục. Tuy nhiên, tất cả các ý kiến đều nhất trí là cần giao cho ngành giáo dục chủ trì trong việc phối hợp với ngành nội vụ xây dựng kế hoạch biên chế giáo dục, sau đó trình Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt.

Về quy trình tuyển dụng giáo viên, nhìn chung hầu hết các Huyện theo quy trình sau: Sở nội vụ thông báo nhu cầu tuyển dụng của các Huyện và Uỷ ban nhân dân cấp huyện sau đó thành lập Hội đồng tuyển dụng do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các Huyện hoặc Giám đốc Uỷ ban nhân dân cấp huyện làm Chủ tịch Hội đồng, sau đó Sở Nội vụ phê duyệt kết quả tuyển dụng, Uỷ ban nhân dân huyện, Uỷ ban nhân dân cấp huyện ra quyết định phân công về trường trực thuộc. Cách làm sau có thể dẫn đến chất lượng giáo viên không đáp ứng được yêu cầu chuyên môn, do phòng nội vụ khi tham mưu với Uỷ ban nhân dân huyện ra quyết định còn bị hạn chế.

Một khó khăn khác là trong toàn Tỉnh do ngành giáo dục không được toàn quyền quyết định phân bổ chỉ tiêu nhân sự của ngành, dẫn đến phòng, Uỷ ban nhân dân cấp huyện luôn phải giữ quan hệ tốt với phòng, Sở Nội vụ, mà làm giáo dục không thể chỉ cầu may bởi các mối quan hệ, nên gây khó khăn rất nhiều cho việc sử dụng, quản lý nhân sự ngành giáo dục. Tình trạng này là một trong các nguyên nhân dẫn đến cơ cấu giáo viên không đồng bộ, nơi thừa, nơi thiếu, ví dụ: Tại Thành Phố Bắc Ninh hiện đang thừa 50 giáo viên ở các trường trung tâm và cũng lại thiếu 50 giáo viên các trường vùng ven thành phố; vấn đề đó cũng xảy ra đối với hầu hết các huyện thị xã còn lại trong tỉnh.

Giải pháp cho khâu tuyển dụng giáo viên là cần giao cho Uỷ ban nhân dân cấp huyện quyết định phân chỉ tiêu biên chế của ngành (đã được phê duyệt) cho các Phòng Giáo dục và Đào tạo và các trường trực thuộc, các Phòng tiếp tục phân cho các trường Trung học cơ sở, Tiểu học và Mầm non trên địa bàn; và sau đó, khâu tuyển dụng có thể thực hiện theo 2 phương án:

(1) cần có sự hiệp y giữa ngành giáo dục và ngành nội vụ như trên; (2) đối với các trường đủ năng lực, đặc biệt là các trường điểm, cần thí điểm cho phép Ban giám hiệu trường được quyền trực tiếp tuyển giáo viên, theo các chuẩn về giáo viên do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định, dưới sự giám sát của ngành giáo dục và ngành nội vụ.

  • Về quy trình thuyên chuyển giáo viên trong phạm vi tỉnh, hầu hết các tỉnh theo quy trình sau:

Giáo viên trung học phổ thông: Giám đốc sở giáo dục ra quyết định điều động thuyên chuyển trên cơ sở biên bản của của Hội đồng xét thuyên chuyển của ngành; Luận văn: Thực trạng phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục.

Giáo viên Trung học chuyên nghiệp: Sở Nội vụ ra quyết định điều động trên cơ sở xin chuyển của giáo viên và sự đồng ý của ngành chủ quản;

Giáo viên Trung học cơ sở, Tiểu học, Mầm non: Do Uỷ ban nhân dân huyện quyết định có nơi có hiệp y với ngành giáo dục, có nơi không, nên dẫn đến tình trạng ngành giáo dục không nắm được thông tin gây khó khăn rất nhiều cho việc xây dựng kế hoạch giáo dục, đặc biệt là chất lượng giáo viên nhiều khi không đáp ứng được nhu cầu thực tế, mặt khác, gây phiền hà cho giáo viên muốn chuyển trường . Nhìn chung các ý kiến đều đề nghị là: Việc thuyên chuyển giáo viên Trung học cơ sở, Tiểu học và Mầm non nên ủy quyền quyết định cho Phòng giáo dục và đào tạo, còn việc thuyên chuyển hiệu trưởng/ hiệu phó do Uỷ ban nhân dân huyện quyết định.

Về quy trình thuyên chuyển giáo viên ra ngoài phạm vi tỉnh, theo quy trình sau: Trên cơ sở biên bản của Hội đồng xét thuyên chuyển của Uỷ ban nhân dân huyện trình Sở Nội vụ ra quyết định. Khi tiếp nhận giáo viên từ tỉnh khác chuyển về, Sở Nội vụ căn cứ đề nghị của Uỷ ban nhân dân huyện để ra quyết định.

  • Về quy trình thuyên chuyển giáo viên ngoài ngành trong tỉnh theo quy trình sau:

Giáo viên Trung học phổ thông, Trung học cơ sở, Tiểu học, Mầm non: Từ ngành khác chuyển về hoặc từ ngành giáo dục xin chuyển sang ngành khác do Sở Nội vụ quyết định trên cơ sở đồng ý của Giám đốc Sở giáo dục và đào tạo, Uỷ ban nhân dân các Huyện.

Giáo viên Trung học chuyên nghiệp từ ngành khác chuyển về hoặc từ ngành giáo dục và đào tạo xin chuyển ngành khác do Sở Nội vụ quyết định trên cơ đồng ý của Giám đốc sở giáo dục và ngành chủ quản.

  • Về quy trình bổ nhiệm Giám đốc Sở, Trưởng phòng giáo dục và đào tạo trong tỉnh theo mô hình sau:

Giám đốc Sở giáo dục và đào tạo: Tập thể cán bộ quản lý giáo dục của tỉnh bỏ phiếu tín nhiệm, sau đó thông qua thường vụ tỉnh ủy và cuối cùng Sở Nôi vụ tham khảo ý kiến của Bộ giáo dục và đào tạo trình Uỷ ban nhân dân tỉnh ra quyết định;

Trưởng phòng giáo dục và đào tạo: Tập thể cán bộ quản lý giáo dục của huyện bỏ phiếu tín nhiệm, Uỷ ban nhân dân huyện ra quyết định trên cơ sở tham khảo ý kiến của Sở nội vụ bằng văn bản. Về quy trình bổ nhiệm Hiệu trưởng, phần lớn các trường trong tỉnh theo mô hình sau:

Hiệu trưởng trường trung học phổ thông: Tập thể giáo viên của trường bỏ phiếu tín nhiệm: Sở giáo dục và đào tạo ra quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức.

Hiệu trưởng trường Trung học cơ sở, Tiểu học, Mầm non: Tập thể giáo viên của trường bỏ phiếu tín nhiệm, Sở giáo dục và đào tạo huyện, thị xã, thành phố ra quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm cách chức (có nơi tham khảo có nơi không tham khảo ý kiến của ngành giáo dục và đào tạo). Hầu hết các ý kiến đều cho rằng, nếu không tham khảo ý kiến của ngành giáo dục và đào tạo dễ dẫn đến vì người xếp việc, không phải vì việc xếp người. Luận văn: Thực trạng phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục.

Nhận xét chung về quản lý nhân sự, các ý kiến đều thống nhất là: Nếu Sở giáo dục và đào tạo quản lý toàn diện sẽ điều tiết được nhân sự, xếp người phù hợp với đặc thù của ngành Sở giáo dục và đào tạo và chủ động xây dựng và thực hiện tốt kế hoạch phát triển giáo dục. Tuy nhiên, do mạng lưới ngành giáo dục lớn nên thường phó thác cho Trưởng phòng giáo dục và đào tạo vì vậy dễ dẫn đến chỉ tập trung thành phố/thị trấn mà coi nhẹ nông thôn; còn phân cấp như hiện nay cho huyện, thị xã, thành phố sẽ làm giáo dục gần gũi với dân hơn, dễ thực hiện xã hội hóa giáo dục tốt hơn.

Vì vậy, giải pháp cho quản lý nhân sự trong bối cảnh hiện nay là: Cần quy định cụ thể vai trò trách nhiệm và quyền hạn giữa ngành Giáo dục và ngành nội vụ để phối hợp cho tốt. Cụ thể là: Cần để cho Sở giáo dục và đào tạo được chủ trì phối hợp với Sở Nội vụ trong việc xây dựng, điều chỉnh kế hoạch phát triển nhân sự, trước khi trình Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt; sau đó Sở giáo dục và đào tạo cần được toàn quyền phân bổ chỉ tiêu biên chế ngành giáo dục và đào tạo (đã được phê duyệt); tiếp theo chủ trì phối hợp với Sở Nội vụ tổ chức tuyển dụng cán bộ và giáo viên trong phạm vi tỉnh để phân cho các trường, hoặc với các trường đủ năng lực thì giao cho trường tự tuyển dụng theo biên chế được phân, dưới sự giám sát của Sở giáo dục và đào tạo, Sở Nội vụ về việc thuyên chuyển cán bộ thì các cấp được phân cấp cần phải hiệp y với ngành giáo dục.

  • Quản lý nhà nước về tài chính và ngân sách

Trong công tác quản lý tài chính, nhìn chung các Huyện đều cho rằng có quyền hạn tài chính khi thực hiện kế hoạch giáo dục. Tuy nhiên, cần hiểu quyền hạn về tài chính giáo dục ở trên chỉ giới hạn trong khâu lập kế hoạch và phân bổ ngân sách, vì trong thực tế thực hiện luật ngân sách phải phân cấp cho Uỷ ban nhân dân huyện quản lý, Uỷ ban nhân dân cấp huyện vẫn quản lý một phần kinh phí chi chung cho ngành giáo dục. Nhìn chung, phân cấp cho huyện sẽ dẫn đến khó khăn cho ngành giáo dục và đào tạo trong việc lập kế hoạch phát triển giáo dục (khi mà các thông tin về ngân sách giáo dục không được công khai) và quản lý, chỉ đạo phát triển giáo dục (nếu không được chủ trì việc lập kế hoạch ngân sách giáo dục và nắm được quyền phân bổ ngân sách giáo dục).

Về quy trình xây dựng và phê duyệt kế hoạch ngân sách, trong tỉnh theo quy trình sau: Uỷ ban nhân dân cấp huyện phối hợp với Sở Tài chính xây dựng dự thảo kế hoạch ngân sách cho các trường trực thuộc sở, phòng giáo dục và đào tạo phối hợp với phòng tài chính xây dựng dự thảo ngân sách cho các trường Trung học cơ sở, Tiểu học, Mầm non sau đó trình sau đó trình sở tài chính cuối cùng sở tài chính trình Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt. Quy trình này gây khó khăn cho ngành giáo dục vì nó rất phụ thuộc vào mức độ phối hợp hay mối quan hệ của ngành giáo dục với các ngành chức năng, nơi nào có quan hệ tốt thì có lợi cho ngành giáo dục, còn không thì ngược lại.

Về quy trình phân cấp ngân sách theo mô hình sau: Sở Tài chính cấp kinh phí cho khối trường trực thuộc thông quan Sở Giáo dục và Đào tạo, còn lại giao cho Uỷ ban nhân dân huyện quản lý, sau đó cơ quan tài chính phân bổ cho Phòng Giáo dục và Đào tạo để phân cho các trường Trung học cơ sở, Tiểu học, Mầm non

Như vậy, kinh phí được cấp phát trực tiếp từ các cơ quan tài chính có thể dẫn tới kinh phí cho giáo dục bị cắt xén chi cho các mục tiêu khác so với cấp qua ngành giáo dục và đào tạo. Thêm vào đó, cấp ủy quyền Uỷ ban nhân dân huyện cũng có điểm thuận lợi là do ngành giáo dục và đào tạo có mạng lưới rộng nên bộ máy tài chính địa phương quản lý tốt hơn so với ngành giáo dục và đào tạo. Không có bộ máy quản lý tài chính đồng thời gắn được trách nhiệm địa phương vào việc huy động nguồn lực phát triển giáo dục (chính sách xã hội hóa giáo dục); nhưng bản thân cách này có hạn chế là nếu sự phối hợp giữa ngành tài chính với ngành giáo dục không tốt thì sẽ ảnh hưởng đến phát triển giáo dục.

Ngoài ra, còn có một số khó khăn khác đối với quản lý tài chính hiện nay là về thủ tục ngân sách, đa số ý kiến cho rằng các quy định hiện nay về dự toán, phân bổ, cấp phát ngân sách gây khó khăn cho Sở giáo dục và đào tạo và trường trong việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao (79,4% nhất trí so với 20,6% chưa nhất trí)

Hầu hết các ý kiến đều nhất trí giải pháp để khắc phục các khó khăn của các thủ tục trên là: Cần xác định vấn đề quan trọng là khâu kế hoạch, dự toán ngân sách và việc kiểm tra thu chi dự toán, chứ không phải là ở khâu cấp phát, nên giao cho ngành giáo dục được chủ trì phối hợp với ngành tài chính để làm tốt khâu lập dự toán chi tiết cho từng trường, sau đó ngành tài chính cấp thẳng cho các trường qua kho bạc, các trường sẽ chịu trách nhiệm thu chi theo dự toán được phê duyệt dưới sự kiểm soát của ngành tài chính và ngành giáo dục thì sẽ khắc phục được các hạn chế nêu trên. Phải quản lý bằng kế hoạch và dự toán ngân sách thì mới gắn được quản lý ngành với địa bàn. Luận văn: Thực trạng phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục.

  • Ngoài ra, các ý kiến từ phỏng vấn nhóm trọng tâm đều nhất trí nêu lên các khó khăn và giải pháp cho quản lý tài chính là:

Ngành giáo dục thường không biết trước tổng kinh phí hoạt động của mình theo năm (trừ quỹ lương), nên rất khó chủ động lập kế hoạch phát triển giáo dục. Vì vậy, cần công khai kinh phí được phân bổ sớm.

Khi lập kế hoạch kinh phí, Sở Giáo dục và Đào tạo, các phòng giáo dục và đào tạo thường chú trọng nhiều hơn đến kinh phí xây dựng và thiết bị dạy học so với kinh phí hoạt động gây khó khăn cho các hoạt động giáo dục ở cấp dưới. Vì vậy, cần có cơ chế khoán kinh phí hoạt động tính trên đầu học sinh, có điều tiết có lợi cho các vùng khó khăn, cần đưa tiêu chí tính trên đầu học sinh vào lập kế hoạch kinh phí hoạt động, có tính đến đặc thù của các vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa.

Qua phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục một cách sâu sắc nghành giáo dục Bắc Ninh đã được sự quan tâm, chăm lo, đầu tư của các cấp, các ngành và nhân dân các địa phương trong tỉnh, sự nghiệp giáo dục Bắc Ninh tiếp tục phát triển, đạt được những thành tựu quan trọng, tương đối toàn diện và có kết quả nổi bật, đi trước đón đầu về đích sớm trên một số lĩnh vực, nhiều chỉ tiêu hoàn thành vượt mức kế hoạch đề ra.

2.2.1.3. Hướng dẫn và thanh tra, kiểm tra công tác quản lý nhà nước về giáo dục

Cho đến nay hoạt động này được xem là khá phức tạp trong công tác quản lý nhà nước về giáo dục. Khi có văn bản mới được ban hành Sở GD&ĐT, UBND cấp huyện phải thực hiện khâu hướng dẫn trực tiếp cho người thực hiện công tác quản lý giáo dục theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định; thẩm quyền quản lý giáo dục; phân cấp thẩm quyền cho Phòng giáo dục và các cơ sở giáo dục trên địa bàn; hướng dẫn việc giải quyết các vụ việc phức tạp trong quản lý giáo dục.

Ban hành các công văn trao đổi kiến, trả lời thắc mắc, kiến nghị của các cơ quan hữu quan đến công tác giáo dục.

Trong những năm qua, Sở giáo dục dưới sự ủy quyền của UBND tỉnh thường xuyên tiến hành thanh tra, kiểm tra công tác quản lý nhà nước về giáo dục tại các phòng giáo dục và các cơ sở giáo dục trong tỉnh nhằm nắm bắt khó khăn, kịp thời phát hiện và chấn chỉnh những sai sót trong nghiệp vụ quản lý.

2.2.1.4. Tổng hợp thống kê và báo cáo

Hoạt động này mang tính chất định kỳ trong quản lý giáo dục. với tính chất riêng biệt của giáo dục, công tác tổng hợp, thống kê, báo cáo về kết quả giáo dục là rất quan trọng, đảm bảo đánh giá, khắc phục kịp thời những vấn đề phát sinh. Do vậy, công tác tổng hợp, thống kê, báo cáo đã được Sở GD&ĐT tiến hành hết sức nghiêm túc, đúng tiến độ theo định kỳ.

UBND cấp huyện, các phòng GD&ĐT tổng hợp từng chuyên mục từng chuyên mục gửi cho văn phòng Sở GD&ĐT tổng hợp và báo cáo cho UBND tỉnh. Trên cơ sở báo cáo, Sở tiến hành họp giao ban, rút ra nhứng yếu kém, vứng mắc trong công tác quản lý giáo dục.

Báo cáo năm được thực hiện dựa trên cơ sở báo cáo năm của UBND cấp huyện, các phòng giáo dục và kết quả kiểm tra chéo cuối năm mà Sở chủ trì thực hiện để giữa các Phòng giáo dục kiểm tra lẫn nhau, từ đó kịp thời phát hiện những sai trái, những vứng mắc trong năm. Luận văn: Thực trạng phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục.

2.2.2. Phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục giữa UBND cấp huyện với Phòng GD&ĐT, UBND cấp xã và các cơ sở giáo dục

2.2.2.1 Chỉ đạo hoạt động quản lý nhà nước về giáo dục của phòng GD&ĐT, UBND cấp xã

Trong quản lý nhà nước về giáo dục, theo quy định 115/2018/NĐ-CP, UBND cấp huyện được phân cấp hướng dẫn, chỉ đạo quản lý giáo dục của phòng GD&ĐT, UBND cấp xã và các cơ sở giáo dục trực thuộc trên địa bàn như sau: Phòng Giáo dục và Đào tạo các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh Bắc Ninh có trách nhiệm tham mưu giúp UBND cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giáo dục trên địa bàn.

  • Đối với Phòng GD&ĐT:

Phòng Giáo dục và Đào tạo là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện; giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo phân công hoặc ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện và theo quy định của pháp luật cụ thể như sau:

  • Về chuyên môn, nghiệp vụ:

Trình UBND cấp huyện: dự thảo các văn bản hướng dẫn thực hiện cơ chế, chính sách, pháp luật, các quy định của UBND tỉnh về hoạt động giáo dục trên địa bàn; dự thảo các quyết định, chỉ thị, quy hoạch, kế hoạch phát triển giáo dục, chương trình cải cách hành chính về lĩnh vực giáo dục trên địa bàn, dự thảo các văn bản khác về lĩnh vực giáo dục thuộc thẩm quyền quản lý của UBND cấp huyện.

Trình Chủ tịch UBND cấp huyện: dự thảo quyết định thành lập, cho phép thành lập, sáp nhập, chia, tách, giải thể các cơ sở giáo dục trực thuộc Phòng Giáo dục và Đào tạo và các văn bản cá biệt khác về lĩnh vực giáo dục thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp huyện.

Hướng dẫn, tổ chức thực hiện công tác chuyên môn, nghiệp vụ; công tác tuyển sinh, thi cử, cấp phát văn bằng, chứng chỉ; công tác phổ cập giáo dục, chống mù chữ và xây dựng xã hội học tập trên địa bàn; cho phép hoạt động giáo dục đối với các cơ sở giáo dục được quy định tại khoản 6 Điều 8 Nghị định này.

Thực hiện công tác thống kê, thông tin, báo cáo về tổ chức và hoạt động giáo dục định kỳ và hàng năm theo hướng dẫn của Sở Giáo dục và Đào tạo và UBND cấp huyện. Luận văn: Thực trạng phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục.

  • Về tổ chức, nhân sự:

Chủ trì xây dựng, tổng hợp kế hoạch biên chế sự nghiệp giáo dục của các cơ sở giáo dục trực thuộc theo hướng dẫn của Sở Giáo dục và Đào tạo UBND cấp huyện; quyết định phân bổ biên chế sự nghiệp các cơ sở giáo dục trực thuộc sau khi đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; hướng dẫn, tổ chức thực hiện và kiểm tra, thanh tra việc tuyển dụng, sử dụng, luân chuyển, biệt phái, đào tạo, bồi dưỡng, thực hiện chính sách đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trên địa bàn huyện.

Quyết định bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, luân chuyển, cách chức, giáng chức đối với người đứng đầu, cấp phó người đứng đầu, công nhận hội đồng trường các cơ sở giáo dục trực thuộc; công nhận, không công nhận hội đồng quản trị, chủ tịch hội đồng quản trị, hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các cơ sở giáo dục ngoài công lập thuộc quyền quản lý của UBND cấp huyện.

  • Về tài chính, ngân sách:

Chủ trì xây dựng, lập dự toán ngân sách giáo dục hàng năm đối với các cơ sở giáo dục trực thuộc; quyết định phân bổ, giao dự toán chi ngân sách giáo dục cho các cơ sở giáo dục trực thuộc khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt; phối hợp với cơ quan tài chính, kế hoạch cùng cấp xác định, cân đối ngân sách nhà nước chi cho giáo dục hàng năm của địa phương, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; hướng dẫn, kiểm tra việc sử dụng ngân sách nhà nước và các nguồn thu hợp pháp khác cho giáo dục trên địa bàn huyện.

Thực hiện cải cách hành chính, công tác thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng, lãng phí, công tác kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về giáo dục theo quy định của pháp luật; kiểm tra, giám sát việc công khai chất lượng giáo dục, công khai điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục, công khai tài chính của các cơ sở giáo dục trực thuộc.

  • Đối với UBND cấp xã:

Giúp UBND cấp huyện quản lý các cơ sở giáo dục trực thuộc, gồm: cơ sở giáo dục mầm non, trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường phổ thông có nhiều cấp học (trong đó không có cấp trung học phổ thông) và các cơ sở giáo dục khác thuộc thẩm quyền quản lý của UBND cấp huyện.

UBND cấp xã có trách nhiệm thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo thẩm quyền về giáo dục trên địa bàn Xây dựng và trình hội đồng nhân dân cấp xã kế hoạch phát triển giáo dục ở địa phương; tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển giáo dục ở địa phương khi được phê duyệt; xây dựng quy hoạch về đất cho các cơ sở giáo dục trên địa bàn theo tiêu chuẩn quy định về trường chuẩn quốc gia do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Luận văn: Thực trạng phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục.

Cho phép thành lập nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập tư thục theo tiêu chuẩn do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định; bảo đảm và chịu trách nhiệm kiểm tra các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập tư thục trên địa bàn hoạt động đúng quy định pháp luật.

Thực hiện xã hội hóa giáo dục; xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, vận động nhân dân chăm lo cho giáo dục, phối hợp với nhà trường chăm lo giáo dục con em thực hiện nếp sống văn hóa mới, tham gia bảo vệ, tôn tạo các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, các công trình văn hóa, các công trình giành cho hoạt động học tập, vui chơi của học sinh; huy động các nguồn lực để phát triển giáo dục của xã.

Thực hiện chế độ thống kê, báo cáo định kỳ và hàng năm về tổ chức và hoạt động giáo dục trên địa bàn theo hướng dẫn của UBND cấp huyện và Phòng Giáo dục và Đào tạo. Phối hợp với các cơ sở giáo dục trên địa bàn tổ chức đăng ký, huy động tối đa người trong độ tuổi đi học để bảo đảm phổ cập giáo dục, chống mù chữ, tạo điều kiện cho mọi người được học tập thường xuyên, suốt đời.

Quản lý trung tâm học tập cộng đồng; phối hợp với Phòng Giáo dục và Đào tạo quản lý cơ sở giáo dục mầm non, trường tiểu học, trung học cơ sở trên địa bàn.

2.2.2.2. Kiểm tra, thanh tra Quản lý nhà nước về giáo dục của phòng GD&ĐT, UBND cấp xã và cơ sở giáo dục trên địa bàn

Công tác kiểm tra, thanh tra quản lý giáo dục của UBND cấp huyện đối với phòng GD& ĐT thông qua báo cáo hàng tháng của phòng GD&ĐT cho UBND cấp huyện.

Hiện tại, việc kiểm tra công tác quản lý giáo dục của các cơ sở giáo dục được UBND cấp huyện ủy quyền cho phòng giáo dục tiến hành thông qua báo cáo giáo dục, họp giao ban công tác giáo dục.

Phòng GD&ĐT với trách nhiệm được ủy quyền lên kế hoạch kiểm tra các cơ sở giáo dục ngay từ đầu năm học với kiểm tra chuyên nghành và kiểm tra chuyên đề, kiểm tra đột xuất các trường trực thuộc và các cơ sở giáo dục trên địa bàn một cách thường xuyên. Ngoài ra kiểm tra chéo nhau giữa các trường và các cơ sở giáo dục trên địa bàn với nhau, dưới sự giám sát, đánh giá, hướng dẫn nghiệp vụ và sự chỉ đạo của Phòng GD&ĐT.

2.2.2.3. Tổng hợp thống kê số liệu để báo cáo Sở GD&ĐT

Trong lĩnh vực giáo dục việc tổng hợp, báo cáo là một mảng quan trọng, thể hiện tính chuyên nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức và nhằm điều chỉnh những phát sinh có liên quan. Do vậy UBND huyện, thị xã, thành phố đã ủy quyền cho Phòng GD&ĐT, cụ thể:

Hàng tháng, Phòng GD&ĐT yêu cầu UBND cấp Xã, các trường, các cơ sở giáo dục có báo cáo giáo dục gửi về, trên cơ sở đó báo cáo UBND cấp huyện.

Hàng năm, giữa kỳ I, cuối kỳ I, giữa kỳ II, cuối năm học Phòng GD&ĐT tổng hợp số liệu báo cáo gửi Sở GD&ĐT và có kiến nghị, đề xuất.

2.3 Đánh giá thực trạng phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục ở tỉnh Bắc Ninh Luận văn: Thực trạng phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục.

2.3.1 Một số thành tựu và hạn chế trong phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục ở tỉnh Bắc Ninh

2.3.1.1 Thành tựu

Tiến trình đổi mới nền hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đang diễn ra mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực và đã mang lại những kết qur khả quan. Đặc biệt sau khi chính phủ ban hành Nghị định 115/2018/NĐ-CP ngày 24/12/2018 về phân cấp quản lý giáo dục đã dược UBND tỉnh mạnh dạn phân cấp. Một số thành tựu đạt được thể hiện tính đúng đắn về mặt lý luận khi áp dụng trong thực tiễn về phân cấp quản lý giáo dục cho chính quyền cấp dưới. Cũng như một số lĩnh vực khác, giáo dục là lĩnh vực mang tính thời sự cao thể hiện rõ nét hiệu quả trong công tác quản lý trên địa bàn tỉnh. Với đặc điểm của tỉnh mật độ dân cư đông đột biến, do vậy, tỉnh Bắc Ninh luôn là nơi có áp lực lớn trong quản lý giáo dục. Với nỗ lực thực hiện phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục bằng quyết định số 223 trên cơ sở sự phân cấp của Chính phủ theo nội dung Nghị định 115/2018/NĐ-CP tỉnh Bắc Ninh đã giải tỏa được áp lực và thực hiện có hiệu quả công tác quản lý nhà nước về giáo dục, cụ thể:

  • Đối với Sở GD&ĐT

Trên cơ sở sự phân cấp bằng hình thức ủy quyền, Sở GD&ĐT đã giúp UBND tỉnh thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về giáo dục . Kết quả cụ thể là việc thanh tra, kiểm tra, giám sát, hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ, công tác báo cáo… về giáo dục đã từng bước đi vào nề nếp, ít xảy ra sai phạm và nếu có sẽ được nhắc nhở, đôn đốc, bổ sung kịp thời nhằm khắc phục tốt nhất. Hiện tại, khắc phục tình trạng học hai ca và thiếu giáo viên. Mặt khác, việc phân cấp Quản lý nhà nước về giáo dục theo quyết định 223 tạo điều kiện cho Tỉnh phát huy hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước, đẩy mạnh sự gắn kết, đồng thời bổ trợ cho công tác quản lý nhà nước phát huy thêm hiệu quả khi quản lý chuyên nghành. Thêm nữa, tiến trình phân cấp này cũng tạo thế chủ động cho công tác phân cấp quản lý trên địa bàn thực hiện mạnh mẽ theo nhu cầu thực tiễn hoạt động giáo dục trong từng điều kiện cuả tỉnh.

  • Đối với UBND cấp huyện Luận văn: Thực trạng phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục.

Sau khi phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục tại hầu hết các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh công tác phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục đi vào nề nếp, tiến độ giải quyết những tồn đọng nhanh chóng, đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Các huyện, thị xã, thành phố đều cải tiến nhất định trong khâu quản khi phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục giáo dục tạo điều kiện thuận lợi hơn cho giáo dục hơn, cụ thể:

  • Phát huy được tính chủ động và chịu trách nhiệm của địa phương đối với sự nghiệp giáo dục, đặc biệt trong vấn đề huy động nguồn lực xã hội cho giáo dục đã góp phần thực hiện tốt chính sách xã hội hóa giáo dục;
  • Giúp địa phương có cơ sở và chủ động hơn trong việc lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội địa phương trong giai đoạn trước mắt và lâu dài;
  • Đã góp phần giúp cho Uỷ ban nhân dân cấp huyện tập trung hơn vào quản lý chuyên môn.

Công tác quản lý có nhiều đổi mới, chỉ đạo sát thực tế, tạo sự đồng thuận trong ngành và xã hội; Chấn chỉnh việc dạy thêm, học thêm, lạm thu trong trường học; Xây dựng Đề án “Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2022-2030, định hướng đến năm 2040” và được Tỉnh uỷ, UBND tỉnh phê duyệt và ra Nghị quyết số 12 về đổi mới giáo dục và đào tạo.

Quy mô, mạng lưới trường, lớp học tại các huyện, thị xã, thành phố ổn định, phù hợp, đáp ứng được nhu cầu học tập của con em nhân dân; công tác phổ cập giáo dục được chỉ đạo tích cực, đạt kết quả vững chắc; huy động học sinh trong các độ tuổi đến trường đạt tỷ lệ cao. Năm 2020, Bắc Ninh là tỉnh đầu tiên trong cả nước được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận hoàn thành phổ cập Giáo dục Mầm non cho trẻ 5 tuổi và là tỉnh thứ 2 trong cả nước hoàn thành phổ cập Giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức 2.

Chất lượng giáo dục toàn diện tại các huyện, thị xã, thành phố các có chuyển biến tiến bộ rõ rệt, đưa chất lượng trung của Tỉnh luôn đứng trong tốp 10 tỉnh có phong trào giáo dục phát triển mạnh của cả nước; chất lượng giáo dục mũi nhọn được giữ vững ở mức độ cao; Kết quả các kỳ thi quốc gia tăng lên rõ rệt luôn năm trong tốp đầu của cả nước; kỷ cương, kỷ luật trong quản lý và dạy học được tăng cường và có nhiều đổi mới, khoa học và hiệu quả.

Đội ngũ giáo viên các các huyện, thị xã, thành phố đủ về số lượng, cơ cấu tương đối hợp lý, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ trên chuẩn cao, cơ bản đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục; 100% giáo viên có trình độ đạt chuẩn, trình độ trên chuẩn đạt 74,8% (cao nhất cả nước).

Cơ sở vật chất trường học các các huyện, thị xã, thành phố được quan tâm đầu tư theo hướng chuẩn hoá và hiện đại, tỷ lệ phòng học kiên cố cao tầng đạt 98,2%, trường chuẩn quốc gia đạt 84,7%; tỷ lệ kiên cố hóa và trường chuẩn quốc gia tỉnh Bắc Ninh cao nhất cả nước; đầu tư xây dựng cụm trường chất lượng cao tại phường Suối Hoa (thành phố Bắc Ninh) và trường trung học phổ thông Chuyên theo hướng hiện đại; cảnh quan sư phạm của các nhà trường đã thay đổi mạnh mẽ, đảm bảo xanh- sạch- đẹp.

Công tác quản lý giáo dục tại các các huyện, thị xã, thành phố được tăng cường, hiệu quả bước đầu đã có chuyển biến tích cực. chỉ đạo sát thực tế, tạo sự đồng thuận trong ngành và xã hội; Chấn chỉnh việc dạy thêm, học thêm, lạm thu trong trường học

Công tác xã hội hoá giáo dục tại các các huyện, thị xã, thành phố có hiệu quả, phát huy được các nguồn lực xã hội để phát triển sự nghiệp Giáo dục của tỉnh. Luận văn: Thực trạng phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục.

  • Đối với các phòng GD&ĐT

Về chất lượng, công tác quản lý nhà nước về giáo dục được thực hiện đúng quy định của pháp luật, đáp ứng yêu cầu dạy và học. việc đưa công nghệ thông tin vào hoạt động chuyên môn của phòng GD&ĐT và các cơ sở giáo dục đã thúc đẩy mạnh, hỗ trợ có hiệu quả công tác quản lý, dạy và học.

Theo quy định của luật giáo dục, phòng GD&ĐT đã được xác định rõ là đơn vị sự nghiệp trực thuộc UBND cấp huyện về mặt nhà nước, trực thuộc sở GD&ĐT về mặt chuyên môn. Trên cơ sở quy định này, việc đẩy mạnh phân cấp trên địa bàn đã thúc đẩy quản lý nhà nước về giáo dục của phòng hiệu quả hơn. Mặt khác, xóa bỏ tư duy bao cấp hoàn toàn sẽ giảm được các khoản chi ngân sách.

Việc phân cấp quản lý giáo dục cho các Phòng GD&ĐT được đẩy mạnh, đặc biệt công tác quản lý về chất lượng đã được chú trọng. Đã hình thành các tổ nhóm chuyên trách về đánh giá và kiểm định chất lượng. Đã có nhiều chiến lược, dự án nhằm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý và nhà giáo, vì vậy đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên trong toàn Tỉnh đạt được kết quả cao cả về số lượng và chất lượng. Hàng năm, các Phòng GD&ĐT tham mưu cho UBND huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh tổ chức các đợt tập huấn nâng cao năng lực sư phạm cho cán bộ, giáo viên, sinh hoạt cụm chuyên môn, thi giáo viên giỏi các cấp được tổ chức theo định kỳ, tạo điều kiện cho giáo viên được học tập nâng cao trình độ, trao đổi kiến thức, kỹ năng, học hỏi kinh nghiệm giảng dạy. Đội ngũ giáo viên có ý thức vươn lên về chuyên môn, nghiệp vụ, tích cực trao đổi mới phương pháp dạy học.

  • Đối với UBND cấp xã

Việc phân cấp quản lý giáo dục đã tăng quyền chủ động cho cấp cơ sở trong sử dụng giáo viên, sử dụng ngân sách, tổ chức quy trình giáo dục, tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học, thực hiện chương trình sách giáo khoa phù hợp với đặc điểm đối tượng học sinh và điều kiện cụ thể.

Quy mô, mạng lưới giáo dục cơ sở được phát triển, đáp ứng nhu cầu học tập của xã hội. Chất lượng giáo dục ở các cấp đã có tiến bộ. Nội dung dạy học đã toàn diện hơn. Trình độ hiểu biết, năng lực tiếp cận tri thức mới của học sinh được nâng cao.

Công tác xã hội hóa giáo dục và việc huy động nguồn lực đã được triển khai sâu rộng ở tất cả các địa phương trong tỉnh, đạt được kết quả đáng khích lệ. các lưc lượng xã hội tham gia ngày càng tích cực vào việc huy động và giữ vững số lượng, giám sát, đánh giá chất lượng, xây dựng cơ sở vật chất trường học, đóng góp kinh phí cho giáo dục dưới nhiều hình thức khác nhau; cảnh quan môi trường , khuôn viên các trường luôn xanh-sạch-đẹp; cơ sở vật chất thiết bị được tăng cường, đầu tư mua sắm thiết bị phục vụ yêu cầu đổi mới giáo dục. Luận văn: Thực trạng phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục.

Công bằng giáo dục trong xã hội được cải thiện, đặc biệt tăng cơ hội học tập cho con em các gia đình hộ nghèo và trẻ khuyết tật. Việc miễn, giảm học phí và các chính sách hỗ trợ khác đã tạo điều kiện cho con em các gia đình hộ nghèo, gia đình chính sách được học tập.

2.3.1.2 Những tồn tại hạn chế trong phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục ở tỉnh Bắc Ninh

  • Đối với Sở GD&ĐT

Qua thời gian dài thực hiện, công tác phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục của UBND Tỉnh thông qua Sở GD&ĐT đối với hoạt động quản lý giáo dục của các Phòng GD&ĐT và các trường trực thuộc Sở chưa tạo ra cơ chế mở, chưa tạo ra sự đồng bộ, đang thực hiện kiểu quản lý nửa vời, cụ thể : Đối với các trường trực thuộc Sở, thì Sở quản lý toàn diện các mặt về chuyên môn, tổ chức cán bộ, tài chính, cơ sở vật chất. Còn đối với các Phòng GD&ĐT, thì Sở chỉ quản lý về chuyên môn, nghiệp vụ.

Việc thực hiện phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục còn gặp nhiều lúng túng, dẫn tới tình trạng cắt khúc, chia việc, chia sẻ quyền lực, thiếu sự liên thông, không đồng bộ.

  • Đối với UBND các huyện, thị xã, thành phố

Nhìn chung việc thực hiện phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục là không thống nhất, mỗi nơi làm một cách, nhất là với công tác tài chính và tổ chức cán bộ, dẫn đến việc quản lý vĩ mô của Tỉnh gặp nhiều khó khăn. Đặc biệt là tại một số Huyện.

Tại những nơi mà sự phối hợp giữa ngành giáo dục với các ngành liên quan chưa tốt đã làm cho ngành giáo dục thực hiện các chức năng chuyên môn hết sức khó khăn, do không có đủ các điều kiện đảm bảo về tài chính và nhân lực để thực hiện

Khi phân cấp chủ yếu thực hiện theo cơ chế ủy quyền của UBND cấp huyện cho phòng GD&ĐT, chưa tạo ra cơ chế khách quan trong quản lý. Hiện tượng phổ biến là phòng Giáo dục và Đào tạo thuần túy quản lý chuyên môn.

Điều này đã góp phần giảm tải công việc cho cấp sở, phòng. Tuy nhiên, việc tách rời quản lý chuyên môn với các điều kiện cần thiết về tài chính và nhân sự, không điều hòa được lực lượng giáo viên, dẫn đến thừa – thiếu giả tạo, gây khó khăn cho việc xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển giáo dục.

2.3.2. Nguyên nhân của những tồn tại, yếu kém trong phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục ở tỉnh Bắc Ninh Luận văn: Thực trạng phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục.

Tư duy phân cấp Quản lý nhà nước về giáo dục còn có sự không thông suốt, dẫn đến sự yếu kém về tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước, thực hiện còn sai lệch những quan điểm đường lối mục tiêu về giáo dục của Đảng và nhà nước.

Phương pháp phân cấp quản lí nhà nước về giáo dục còn cứng nhắc, dập khuôn chưa mềm mỏng, linh hoạt dẫn đến tình trạng quản lí kém hiệu quả.

Chưa có quy chế đặc thù cho tỉnh Bắc Ninh khi thực hiện phân cấp, chưa tạo ra các quy định pháp lý cần thiết cho Tỉnh đi đầu trong thực hiện phân cấp. Chưa xây dựng được lộ trình phân cấp cho song song phù hợp với cải cách hành chính

Chưa xây dựng rõ nội dung phân cấp Quản lý nhà nước về giáo dục nên chưa có sự chỉ đạo thống nhất, cụ thể của Uỷ ban nhân dân tỉnh về phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo đặc biệt là những quy định rõ về chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ cũng như cơ chế phối hợp làm việc của Uỷ ban nhân dân cấp huyện, sở, ban, ngành có liên quan.

Các văn bản pháp quy về cơ chế phân cấp quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về giáo dục nói riêng chưa tiến hành đồng bộ với đổi mới cơ cấu tổ chức bộ máy. Việc nhận thức và nâng cao trình độ năng lực của một số công chức, viên chức quản lí nhà nước về giáo dục ở một số địa phương cấp huyện còn hạn chế. Luận văn: Thực trạng phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Giải pháp phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục

One thought on “Luận văn: Thực trạng phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục

  1. Pingback: Luận văn: Phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục ở tỉnh Bắc Ninh

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *