Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát về địa bàn và quá trình tổ chức khảo sát thực trạng
2.1.1. Khái quát vài nét về huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
- Điều kiện tự nhiên
Huyện Đắk Glong đươc thành lâp theo Nghị định số 82/2011/NĐ-CP, ngày 27/6/2011 của Chính phủ “Về việc thành lập thị xã Gia nghĩa; thành lập các phường, xã thuộc thị xã Gia Nghĩa và đổi tên huyện Đắk Nông thành huyện Đắk Glong, tỉnh ĐắkNông”. Huyện Đắk Glong có tổng diện tích tự nhiên là: 144.776,02ha. Sau khi chia tách, thành lập mới huyện Đắk Glong có 07 đơn vị hành chính bao gồm các xã: Quảng Khê, ĐắkSom, ĐắkPlao, Đắk R’Măng, Quảng Sơn, Quảng Hòa, Đắk Ha (07/07 xã đều là xã đặc biệt khó khăn) với 61 thôn, bon (trong đó có 30 bon đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ với 30 thành phần dân tộc sinh sống (có 3 dân tộc thiểu số chiếm phần lớn dân số trong toàn huyện là dân tộc H’Mông với: 3.132 hộ, 18.832 khẩu chiếm: 25,85% dân số toàn huyện, dân tộc Mạ với: 1.619 hộ, 7.167 khẩu chiếm: 9,84% dân số toàn huyện, dân tộc M’Nông với: 1.313 hộ, 6.038 khẩu chiếm: 8,29% dân số toàn huyện, trong đó dân tộc H’Mông có số lượng lớn nhất huyện sống xen kẻ ở tất cả 07 xã trong huyện là dân tộc thiểu số mới di cư từ miền núi phía Bắc chuyển vào đang dần ổn định cuộc sống nơi quê mới huyện Đắk Glong [49].
Huyện Đắk Glong nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Đắk Nông, cách trung tâm thị xã Gia Nghĩa khoảng 28 km theo Quốc lộ 28. Trung tâm huyện được quy hoạch ở cạnh đường Quốc Lộ 28 trên địa bàn xã Quảng Khê, có ranh giới như sau:
- Phía Đông giáp huyện Lắk của tỉnh Đắk Lăk và huyện Đam Rông, huyện Lâm Hà của tỉnh Lâm Đồng.
- Phía Tây giáp huyện ĐắkR’Lấp, huyện ĐắkSong và thị xã Gia Nghĩa
- Phía Nam giáp huyện Di Linh, huyện Bảo Lâm của tỉnh Lâm Đồng
- Phía Bắc giáp huyện Krông Nô
Dân số toàn huyện khoảng 72.825 khẩu (số liệu tính đến tháng 11/2025), số liệu thông qua việc rà soát, điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2025 của huyện Đắk Glong, đồng bào dân tộc thiểu số là 43.703 người chiếm khoảng 60,01% so với dân số toàn huyện. Về hộ nghèo, toàn huyện có 7.876 hộ với 37.944 khẩu chiếm 49,56%; hộ cận nghèo là: 1.719 hộ với 7.415 khẩu chiếm 10,82% [49]. Luận văn: Thực trạng giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS.
Tuy vậy, là huyện mới được chia tách,thành lập chưa được bao lâu nên còn khá nhiều xã khó khăn, huyện ít được kế thừa các cơ sở hạ tầng của huyện Đắk Nông cũ, địa bàn của huyện khá rộng, địa hình cách trở, trải dài, dân cư không tập trung, giao thông đi lại hết sức khó khăn nhất là vào mùa mưa, chủ yếu là dân di cư tự do các đồng bào dân tộc thiểu số từ miền núi Phía Bắc chuyển vào, ổn định dân di cư cũng là một bài toán hết sức nan giải của huyện… một số thôn của các xã vùng sâu, vùng xa của huyện chưa có điện phục vụ sinh hoạt, đời sống của người dân vì vậy sẽ còn nhiều khó khăn trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn tiếp theo do vậy các trường đóng chân trên địa bàn này công tác dạy và học còn gặp nhiều khó khăn.
- Điều kiện kinh tế – xã hội
Về tăng trưởng và cơ cấu kinh tế: Tổng giá trị sản xuất (theo giá cố định 2016): Nông – lâm – thủy sản ước đạt: 1.350 tỷ đồng/ kế hoạch 1.332,97 tỷ đồng, công nghiệp – xây dựng ước đạt 330 tỷ đồng/ kế hoạch 317,63 tỷ đồng, thương mại dịch vụ ước đạt 410 tỷ đồng/kế hoạch 401,6 tỷ đồng. Thu nhập bình quân đầu người ước đạt 19,2 triệu đồng (số liệu báo cáo năm 2026) [49]
Phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật: 100% đường từ huyện đến trung tâm xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa; 79,6% đường từ trung tâm xã đến thôn, buôn được nhựa hóa, cứng hóa đạt; 7,6% đường liên thôn, liên buôn được cứng hóa. 91,8% thôn, buôn có lưới điện quốc gia. 70,2 % số dân trong toàn huyện được sử dụng nước đảm bảo vệ sinh. Đảm bảo tưới tiêu trên 66% diện tích cây trồng các loại có nhu cầu sử dụng nước.
Về nông – lâm nghiệp: Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đạt 69,2% diện tích đủ điều kiện. Ổn định diện tích đất canh tác đạt 27.352,5 ha, trong đó: Diện tích cây trồng hàng năm là 7.273,5 ha, diện tích đất trồng cây lâu năm là 20,079 ha. Tổng đàn gia súc, gia cầm là 170.776 con. Tỷ lệ che phủ rừng là 49,8% diện tích toàn huyện [49].
Về tăng thu ngân sách: Tổng thu ngân sách của huyện và thụ hưởng từ ngân sách cấp trên trên địa bàn huyện trong năm 2024 ước đạt: 233,679 tỷ đồng (trong đó phần thu ngân sách của huyện ước đạt: 42,071 tỷ đồng). Tổng chi ngân sách trên địa bàn huyện trong năm 2024 thực hiện được 360,314 tỷ đồng trong đó: chi đầu tư phát triển là: 69,723 tỷ đồng, chi thường xuyên là: 242,798 tỷ đồng. Ngân sách của huyện nhìn chung phần lớn là được thụ hưởng từ ngân sách cấp trên. Là một huyện nghèo thuộc diện 30a nên đầu tư lớn, trong đó phần thu ngân sách của huyện còn quá ít so với nhu cầu [49].
Về phát triển độ thị nông thôn mới: Các công trình đã hoàn thành tại Khu trung tâm huyện gồm: Trụ sở Công an huyện; Trụ sở Cơ quan Quân sự huyện; phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện, Trụ sở HĐND-UBND huyện,Trụ sở làm việc Huyện ủy và Nhà làm việc các đoàn thể; Trụ sở Bảo hiểm xã hội huyện; Trụ sở Chi cục Thuế huyện; Tòa án huyện, Trung tâm văn hóa huyện… Các công trình đã hoàn thành và đưa vào sử dụng: Hoàn thành đề án và đang dần xây dựng để công nhận xã Quảng Khê là đô thị loại V; phấn đấu đến năm 2025 có 2/7 xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới. Hiện nay toàn huyện chưa có xã nào đạt chuẩn nông thôn mới. Nhìn chung, nguồn ngân sách hỗ trợ trực tiếp cho chương trình nông thôn mới của huyện còn hạn chế. Số liệu tính đến cuối năm 2024 tổng số tiêu chí nông thôn mới đối với 7 xã trên toàn huyện mới đạt là: 53 tiêu chí.
Về Y tế: 7/7 xã đã có Trạm y tế đạt 100%; 7/7 Trạm y tế có bác sỹ, đạt 100%; 71,14% (5/7 xã) xã đạt bộ tiêu chí Quốc gia về y tế; tỷ lệ suy dinh dưỡng (cân nặng theo tuổi) trẻ em dưới 5 tuổi xuống còn 22%; 7/7 xã có thôn, buôn đạt thôn buôn văn hóa.
Về văn hóa – giáo dục: Số hộ gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa đạt 69%; số thôn, buôn đạt danh hiệu thôn, buôn văn hóa đạt 60,65%. Tỉ lệ cơ quan văn hóa đạt: 89%. 96,6% trẻ em 5 tuổi đi học mẫu giáo, củng cố và duy trì kết quả đã đạt phổ cập tiểu học và THCS. Luận văn: Thực trạng giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS.
Về quốc phòng – an ninh: Xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh toàn diện, thực hiện tuyển quân hàng năm đạt 100% chỉ tiêu; hoàn thành tổ chức cuộc diễn tập phòng thủ đối với 07/07 xã. Thường xuyên duy trì nghiêm chế độ trực và làm tốt công tác dự bị động viên.
Điều kiện kinh tế – xã hội của huyện nhà còn nhiều khó khăn, nguồn thu còn quá ít trong khi các nhu cầu đầu tư cho giáo dục còn quá lớn, trong khi đó nguồn thu của huyện chủ yếu thụ hưởng từ ngân sách cấp trên, tình hình dân di cư tự do luôn gây ra áp lực lớn cho huyện nói chung và ngành giáo dục nói riêng do vậy ảnh hưởng rất lớn đến giáo dục và phát triển hệ thống giáo dục của địa phương.
- Tình hình giáo dục huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
Huyện Đắk Glong đã tập trung củng cố, phát triển một cách cơ bản hệ thống giáo dục phổ thông phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương. Tính đến năm 2026 toàn huyện có 08 trường THCS (có 01 trường phổ thông dân tộc bán trú – THCS), 01 trường Tiểu học và THCS; 01 trường THCS và trung học phổ thông dân tộc nội trú. Các trường THCS trên địa bàn huyện Đắk Glong bao gồm: THCS Nguyễn Du, THCS Quảng Hòa, THCS Hoàng Văn Thụ, THCS Đắk R’Măng, THCS Chu Văn An. THCS Phân Chu Trinh, THCS Đắk Nang, THCS Đắk Plao [50].
Nhìn chung sau 14 năm thành lập và đi vào hoạt động huyện Đắk Glong đã có một hệ thống giáo dục về cơ bản tương đối hoàn chỉnh, điều này tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân trong huyện và đồng bào các dân tộc trong đó có các dân tộc thiểu số và nhất là học sinh có đầy đủ điều kiện được tiếp xúc với môi trường học tập tốt nhất có thể. Việc triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước đến địa phương được thực hiện kịp thời. Quy mô trường lớp của huyện được thể hiện cụ thể: Luận văn: Thực trạng giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS.
- Bảng 2.1. Quy mô giáo dục THCS huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
Hưởng ứng cuộc vận động “hai không” với 04 nội dung của Bộ GD&ĐT phát động, các năm qua ngành GD&ĐT huyện Đắk Glong đã chú trọng đến chất lượng giáo dục toàn diện, dạy đúng, dạy đủ các môn học theo qui định của ngành, đẩy mạnh các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động dưới sân cờ, trải nghiệm sáng tạo nhằm bổ trợ cho các hoạt động dạy và học trên lớp, sử dụng các phương pháp và hình thức dạy học theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh, lấy học sinh làm trung tâm của quá trình giảng dạy và học tập, phòng chống các tệ nạn xã hội, giáo dục pháp luật, an toàn giao thông, giáo dục bảo vệ môi trường, biển đảo, lồng ghép tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, giáo dục an ninh quốc phòng, phòng chống tai nạn thương tích, đuối nước… Xây dựng và định hướng cho học sinh có động cơ, thái độ học tập đúng đắn, nghiêm túc, cùng phương pháp và hình thức dạy học hiệu quả, tích cực.
Với việc thực hiện các chủ trương, chính sách và pháp luật đối với giáo dục trong suốt thời gian qua, ngành giáo dục huyện nhà đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Chất lượng đại trà của học sinh THCS được cải thiện qua từng năm học. Về mặt kiến thức đó là tỷ lệ học sinh hoàn thành tốt, hoàn thành được nâng cao, tỷ lệ học sinh chưa hoàn thành có xu hướng giảm. Về mặt năng lực và phẩm chất của học sinh có tỷ lệ học sinh tốt và đạt về năng lực, phẩm chất không ngừng được nâng lên qua hành năm, tỷ lệ học sinh có năng lực, phẩm chất cần cố gắng có xu hướng ngày càng giảm xuống. Công tác bồi dưỡng học sinh xuất sắc toàn diện và học sinh có năng khiếu được tạo điều kiện và đã đạt được những thành tích đáng khích lệ [50].
2.1.2. Khái quát về quá trình tổ chức khảo sát thực trạng Luận văn: Thực trạng giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS.
- Mục đích
Thu thập số liệu, thông tin chính xác, cụ thể về thực tế quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
- Nội dung
- Thực trạng hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
- Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
- Đối tượng, địa bàn
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã tiến hành điều tra bằng phiếu hỏi 60 CBQL và giáo viên ở 8 trường (THCS Nguyễn Du, THCS Quảng Hòa, THCS Hoàng Văn Thụ, THCS Đắk R’Măng, THCS Chu Văn An. THCS Phân Chu Trinh, THCS Đắk Nang, THCS Đắk Plao) trên địa bàn huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông, với các thành phần có ảnh hưởng trực tiếp đến công tác giáo dục giá trị sống. Cụ thể như sau:
- Phương pháp khảo sát
- Khảo sát qua phiếu hỏi, bảng biểu thống kê
- Dự giờ, quan sát.
- Phân tích số liệu, tổng hợp báo cáo
- Tiêu chí và thang đánh giá thực trạng
Dựa trên cách quy điểm của thống kê toán trong nghiên cứu khoa học để đánh giá kết quả nghiên cứu. Lượng hóa bằng điểm theo nguyên tắc cụ thể như sau:
- Bảng 2.2. Quy ước tiêu chí và điểm đánh giá
2.2. Kết quả khảo sát về hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học cơ sở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông Luận văn: Thực trạng giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS.
2.2.1. Thực trạng nhận thức của cán bộ, giáo viên về giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học cơ sở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
Để có cơ sở đánh giá quá trình nhận thức của giáo viên về hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh, tác giả đã khảo sát 12 cán bộ quản lý và 48 giáo viên. Kết quả khảo sát về vấn đề này được thể hiện như số liệu bảng 2.3.
- Bảng 2.3. Bảng thống kê kết quả khảo sát nhận thức của giáo viên về sự cần thiết của các hình thức giáo dục giá trị sống trong trường THCS
Qua bảng thống kê trên chúng ta thấy, các cán bộ quản lý và các giáo viên ở các trường THCS được khảo sát đã đánh giá ở mức độ tuyệt đối với công tác giáo dục giá trị sống thông qua việc xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh. Họ đều cho rằng, việc giáo dục giá trị sống hiệu quả nhất phải xuất phát chính từ môi trường giáo dục với mối quan hệ giữa đồng nghiệp với đồng nghiệp, giữa thầy với trò và giữa học trò với nhau bởi đó là giáo dục thiết thực thể hiện bằng những hành động cụ thể chứ không phải chỉ từ lí thuyết suông. Mức độ rất cần thiết thể hiện thấp nhất ở mục 4 – giáo dục giá trị sống từ chính những trải nghiệm trong thực tế cuộc sống. Những người được khảo sát cho rằng, giáo dục giá trị sống từ những trải nghiệm trong thực tế cuộc sống là một hoạt động còn quá trừu tượng và chưa thực sự có hiệu quả trong nhà trường vì hoạt động này diễn ra ở một môi trường rộng, khả năng theo sát và định hướng giáo dục của giáo viên không thể phủ khắp. Lúc này cần có sự phối hợp của các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường.
2.2.2. Thực trạng thực hiện mục tiêu giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học cơ sở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
GDGTS cho học sinh THCS là quá trình giúp học sinh tiếp thu, lĩnh hội được những giá trị phổ quát của xã hội, biến thành những giá trị đặc trưng của bản thân mỗi học sinh, giúp cho các em có suy nghĩ, thái độ và hành động tích cực, hiệu quả, phù hợp với bản thân và đáp ứng mong đợi của cộng đồng, xã hội. Đối với học sinh THCS, nội dung giáo dục giá trị sống cần hệ thống hoá những giá trị sống phổ quát, nhưng mở rộng và nâng nội dung lên một tầm cao đáp ứng yêu cầu của cuộc sống đương đại. Hướng các em vươn tới nhân cách lý tưởng mang những giá trị phổ quát của một thanh niên thời đại, không chỉ của dân tộc mà còn của nhân loại trong một thế giới mở. Để có cơ sở tìm hiểu về việc thực hiện mục tiêu giáo dục giá trị sống, tác giả đã tiến hành khảo sát 60 cán bộ, giáo viên trên địa bàn nghiên cứu. Kết quả được thể hiện qua bảng 2.4:
- Bảng 2.4. Bảng thống kê kết quả khảo sát ý kiến cán bộ quản lý và giáo viên về việc thực hiện mục tiêu giáo dục giá trị sống Luận văn: Thực trạng giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS.
Qua kết quả khảo sát có thể thấy: các mục tiêu giáo dục giá trị sống đã được nhà trường quan tâm và được đánh giá ở mức độ khá tốt. Trong đó, hai mục tiêu được đánh giá đạt mức độ tốt là thụ kiến thức về các giá trị sống và gây dựng niềm tin, trau dồi nhân cách sống. Tuy nhiên việc rèn luyện kỹ năng, hành vi tương ứng là chưa thực sự tốt. Đây cũng là một thực trạng cần lưu ý, khắc phục trong công tác quản lý giáo dục.
2.2.3. Thực trạng thực hiện nội dung giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học cơ sở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
Để đánh giá thực trạng thực hiện nội dung giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học cơ sở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông, chúng tôi tiếp tục tiến hành khảo sát 12 CBQL và 48 giáo viên về việc thực hiện các nội dung giáo dục giá trị sống trong trường THCS. Kết quả thể hiện ở bảng 2.5.
- Bảng 2.5. Bảng thống kê kết quả khảo sát ý kiến cán bộ quản lý và giáo viên về việc thực hiện nội dung giáo dục giá trị sống
Kết quả khảo sát cho thấy, về cơ bản các nội dung giáo dục giá trị sống đã được thực hiện khá tốt. Giá trị Hòa bình và Tự do là hai giá trị được đánh giá thực hiện ở mức độ tốt cao nhất. Tuy nhiên giá trị Hợp tác, Trung thực và Trách nhiệm tỉ lệ đánh giá ở mức độ trung bình còn khá cao (trên 10%) trong khi chúng ta thấy đây cũng là những giá trị rất quan trọng cần giáo dục cho học sinh để giúp các em hình thành những kỹ năng sống cần thiết của người công dân trong thời đại mới. Kết quả khảo sát đã thể hiện trung thực thực trạng đang diễn ra trong các trường THCS, với các em học sinh ở lứa tuổi này, tính cá nhân đang được đề cao vì vậy sự hợp tác và ý thức trách nhiệm với tập thể cũng là điều mà các thầy cô giáo, các cán bộ quản lý cần lưu tâm và có biện pháp giáo dục phù hợp. Luận văn: Thực trạng giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS.
2.2.4. Thực trạng thực hiện các hình thức giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học cơ sở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
Có 3 biện pháp cơ bản để thực hiện công tác giáo dục giá trị sống cho học sinh đó là:
- Giáo dục giá trị thông qua những bài học cơ bản về giá trị. Khi dạy các bài học cơ bản về giá trị, cần tuân thủ cơ chế hình thành giá trị với các bước cơ bản ở các cấp độ sau: Cấp độ nhận thức; Cấp độ tình cảm; Cấp độ hành động.
- Giáo dục giá trị thông qua việc tích hợp, liên hệ, vận dụng giá trị trong các lĩnh vực học tập, giáo dục. Qua văn học, nghệ thuật và các môn khoa học; Qua tất cả các hoạt động giáo dục; Trong môi trường nhà trường.
- Giáo dục giá trị thông qua những trải nghiệm từ chính cuộc sống.
Khảo sát thực trạng việc thực hiện các con đường giáo dục này trên 60 giáo viên có kết quả như sau:
- Bảng 2.6. Bảng thống kê kết quả khảo sát ý kiến cán bộ quản lý và giáo viên về việc thực hiện các hình thức giáo dục giá trị sống của giáo viên
Như vậy, chúng ta thấy giáo viên có ý thức và có những hiểu biết căn bản về 3 biện pháp thực hiện công tác giáo dục giá trị sống cho học sinh, công tác giáo dục giá trị sống được tiến hành thường xuyên. Tuy nhiên, khi giáo dục giá trị thông qua những bài học cơ bản về giá trị để đạt được ở cấp độ hành động thì tỉ lệ % chưa cao. Đây chính là khâu quan trọng để đưa các giá trị sống hình thành nên các kỹ năng sống cần thiết. Bên cạnh đó, con đường thứ 3 trong việc thực hiện công tác giáo dục giá trị sống là giáo dục giá trị thông qua những trải nghiệm từ chính cuộc sống cũng chưa đạt tới tỉ lệ cao ở cấp độ thường xuyên do đây là một hoạt động đòi hỏi phải có sự phối kết hợp giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng tạo ra môi trường để học sinh có cơ hội lựa chọn và trải nghiệm giá trị. Hơn nữa, con đường giáo dục giá trị này có đạt được hiệu quả cao hay không còn phụ thuộc lớn vào nhận thức, cảm nhận và khả năng vận dụng giá trị vào thực tế sống của chính người học. Kết quả khảo sát trên về cơ bản đã phản ánh đúng thực trạng của việc thực hiện các biện pháp giáo dục giá trị sống hiện nay của các trường THCS huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông. Luận văn: Thực trạng giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS.
2.2.5. Thực trạng sử dụng các phương tiện, thiết bị, các điều kiện cơ sở vật chất trong giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học cơ sở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
Hệ thống các phương tiện, thiết bị, các điều kiện cơ sở vật chất trong hoạt động giáo dục nói chung và trong hoạt động giáo dục giá trị sống nói riêng hiện nay phần lớn chưa đáp ứng được yêu cầu khách quan cũng như sự mong muốn chủ quan của nhà trường, giáo viên và học sinh. Tuy nhiên, trên cơ sở nền tảng các phương tiện, thiết bị, các điều kiện cơ sở vật chất đã có, cán bộ quản lý, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn đã khai thác và sử dụng tương đối tốt. Để tìm hiểu và đánh giá đúng việc sử dụng các phương tiện và các điều kiện hỗ trợ hoạt động giáo dục giá trị sống, chúng tôi đã tiến hành điều tra trên 60 giáo viên ở các trường THCS trên địa bàn huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông. Kết quả thể hiện trong bảng 2.7:
- Bảng 2.7. Bảng thống kê kết quả khảo sát ý kiến cán bộ quản lý và giáo viên về việc việc sử dụng các phương tiện thiết bị, các điều kiện cơ sở vật chất trong hoạt động giáo dục giá trị sống
Tìm hiểu kết quả tự đánh giá của giáo viên về việc sử dụng các phương tiện, các điều kiện hỗ trợ hoạt động giáo dục giá trị sống chúng ta thấy về cơ bản các trường đã biết khai thác, sử dụng các điều kiện bên trong nhà trường như cơ sở vật chất, đồ dùng dạy học, cảnh quan môi trường sư phạm và biết ứng dụng công nghệ thông tin trong việc tổ chức hoạt động giáo dục giá trị sống cho các em học sinh. Tuy nhiên, việc khai thác, sử dụng các phương tiện các điều kiện hỗ trợ bên ngoài nhà trường như việc tham quan các viện bảo tàng, các khu di tích lịch sử, các công trình văn hóa công cộng… chưa có hiệu quả. Thực tế, việc tổ chức cho học sinh đi tham quan các cơ sở trên là rất hữu ích trong việc giáo dục giá trị sống, từ trực quan sinh động các em sẽ rút ra cho mình những ý nghĩa, những giá trị nhân văn. Thế nhưng, đây không phải là một việc dễ dàng và có thể tiến hành thường xuyên vì việc đảm bảo an ninh khi đi tham quan và kinh phí tổ chức cũng là một vấn đề nan giải cần có sự phối hợp phụ huynh học sinh và của chính quyền địa phương.
2.3. Kết quả khảo sát thực trạng quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học cơ sở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
2.3.1. Thực trạng công tác lập kế hoạch giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học cơ sở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông Luận văn: Thực trạng giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS.
Xây dựng kế hoạch là khâu đầu tiên và rất cần thiết trong quá trình quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh. Để tìm hiểu thực trạng việc xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục giá trị sống, tác giả đã tiến hành khảo sát bằng phiếu đối với 60 cán bộ quản lý và giáo viên. Kết quả khảo sát được thể hiện ở bảng 2.8:
- Bảng 2.8. Bảng thống kê kết quả khảo sát ý kiến cán bộ quản lý và giáo viên về thực trạng xây dựng kế hoạch giáo dục giá trị sống
Kết quả khảo sát tại bảng 2.8 cho thấy các trường trong địa bàn huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông đã chủ động xây dựng kế hoạch giáo dục giá trị sống cho học sinh trong cả năm học, cho từng học kỳ nhưng chưa được cụ thể trong từng tháng, từng tuần (với ĐTB được đánh giá là 2,86/4 điểm). Và kế hoạch này cũng được triển khai xây dựng tốt ở các tổ, nhóm chuyên môn còn đối với từng môn học thì mới chỉ dừng lại ở các môn Khoa học xã hội, tập trung chủ yếu ở các môn: Giáo dục công dân, Ngữ văn, Lịch sử. Thực trạng này đặt ra vấn đề với các cấp quản lý là phải cụ thể hóa hơn nữa trong công tác xây dựng kế hoạch để đạt hiệu quả giáo dục giá trị sống cao hơn.
2.3.2. Thực trạng công tác tổ chức thực hiện giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học cơ sở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
Để tìm hiểu thực trạng công tác tổ chức thực hiện giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông, tác giả đã điều tra khảo sát 60 cán bộ, giáo viên. Kết quả khảo sát như sau:
- Bảng 2.9. Bảng thống kê kết quả khảo sát ý kiến cán bộ quản lý và giáo viên về thực trạng công tác tổ chức thực hiện giáo dục giá trị sống
Qua điều tra thực tế, chúng tôi nhận thấy việc tổ chức hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh ở các trường THCS được thực hiện như sau: Luận văn: Thực trạng giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS.
Hầu hết các tiêu chí đều được đánh giá ở mức tương đối tốt, trong đó tiêu chí “Tổ chức các chuyên đề, hội thảo, chia sẻ kinh nghiệm” được đánh giá cao nhất với điểm trung bình là 3,63/4 điểm (với 68,33% người được hỏi đánh giá tốt, 26,67% đánh giá khá và có 5,00% đánh giá trung bình, không có người đánh giá yếu). Các tiêu chí còn lại được đánh giá với mức điểm tương đương là 3,40 và 3,42/5 điểm. Kết quả khảo sát đã cho thấy: Hiệu trưởng chỉ đạo đội ngũ nòng cốt trong nhà trường tổ chức tốt các hoạt động chuyên đề, hội thảo trong từng tháng, từng học kỳ; thông qua hội đồng sư phạm để tiếp tục lắng nghe ý kiến đóng góp của các thành viên. Hiệu trưởng cũng đã tổ chức phân công, sắp xếp nhân lực cho hoạt động giáo dục giá trị sống phù hợp với các con đường giáo dục cơ bản được triển khai trong Nhà trường. Kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện cho các hoạt động giáo dục giá trị sống cũng đã được huy động bảo đảm triển khai hiệu quả các hoạt động GDKNS cho học sinh của các trường THCS trên địa bàn huyện.
2.3.3. Thực trạng chỉ đạo thực hiện giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học cơ sở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
Để tìm hiểu thực trạng chỉ đạo thực hiện giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông, tác giả đã điều tra khảo sát 60 cán bộ, giáo viên. Kết quả khảo sát như sau:
- Bảng 2.10. Bảng thống kê kết quả khảo sát ý kiến cán bộ quản lý và giáo viên về thực trạng chỉ đạo công tác giáo dục giá trị sống cho học sinh
Qua kết quả khảo sát ở bảng 2.10 cho thấy: các tiêu chí được đánh giá tương đối tốt từ 3,37 điểm đến 3,57/4 điểm. Tiêu chí “Chỉ đạo giáo dục giá trị sống thông qua hoạt động giảng dạy bộ môn trên lớp” được đánh giá cao nhất với 3,57/4. Kết quả này cho thấy việc chỉ đạo giáo dục giá trị sống thông qua hoạt động giảng dạy trên lớp là quan trọng và thường xuyên nhất (vì các nội dung giáo dục giá trị sống được lồng ghép trong nội dung dạy học các bộ môn, đặc biệt rõ nét ở các bộ môn: Giáo dục công dân, văn học, lịch sử, âm nhạc, mĩ thuật…). Tiếp đến là tiêu chí “Chỉ đạo giáo dục giá trị sống thông qua môi trường giáo dục chung của nhà trường” được xếp ở vị trí thứ 2 với điểm đánh giá trung bình là 3,43/4 điểm. Vị trí thứ 3 là “Chỉ đạo giáo dục giá trị sống thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp” với điểm tương đương là 3,42/4 điểm. Còn thực trạng “Chỉ đạo việc phối hợp các lực lượng giáo dục giá trị sống” xếp ở vị trí cuối cùng. Các đối tượng tham gia khảo sát đều cho rằng việc phối hợp hầu như mới chỉ được thực hiện giữa các tổ chức trong nhà trường còn với các lực lượng giáo dục khác chưa thực sự có hiệu quả.
2.3.4. Thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học cơ sở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
Kiểm tra, đánh giá là một khâu quan trọng trong quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh. Để làm rõ thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông, tác giả đã tiến hành khảo sát qua 60 phiểu hỏi đối với cán bộ quản lý và giáo viên, kết quả thể hiện trên bảng 2.11.
- Bảng 2.11. Bảng thống kê kết quả khảo sát ý kiến cán bộ quản lý và giáo viên về thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh Luận văn: Thực trạng giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS.
Kết quả khảo sát cho thấy, đánh giá về việc kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục giá trị sống cho THCS huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông có sự biến động điểm từ 3,07 đến 3,62/4 điểm. Trong đó, tiêu chí “Kiểm tra, đánh giá cả năm” được đánh giá cao nhất với điểm trung bình là 3,62/4 điểm, tiêu chí “Kiểm tra, đánh giá từng học kỳ” cũng được đánh giá tốt với mức điểm 3,52/4 điểm. Hai tiêu chí còn lại được đánh giá ở mức độ khá là “Kiểm tra, đánh giá hàng tháng” và “Kiểm tra, đánh giá hàng tuần” với điểm trung bình đánh giá lần lượt là 3,23 và 3,07/4 điểm. Kết quả khảo sát đã khẳng định chủ yếu là theo từng học kỳ và cả năm học. Trong khi đó, việc kiểm tra, đánh giá hoạt động này theo từng tuần, từng tháng chưa được tiến hành thường xuyên. Do đó phần nào ảnh hưởng đến chất lượng công tác giáo dục giá trị sống cho học sinh. Chính vì vậy, Ban Giám hiệu các nhà trường cần có kế hoạch đánh giá hoạt động giáo dục giá trị sống học sinh thường xuyên hơn để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động này.
2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học cơ sở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
Để tìm hiểu thực trạng yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông, tác giả đã điều tra khảo sát 60 cán bộ, giáo viên. Kết quả khảo sát như sau:
- Bảng 2.12. Bảng thống kê kết quả khảo sát ý kiến cán bộ quản lý và giáo viên về thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
Kết quả khảo sát về các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông cho thấy cả 5 yếu tố đề xuất đều ảnh hưởng hoặc rất ảnh hưởng đến công tác này tại các nhà trường.
Yếu tố “Nhận thức của giáo viên, học sinh và xã hội” là yếu tố có sự ảnh hưởng nhiều nhất đến quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông với điểm trung bình đánh giá là 3,72/4 điểm. Tiếp đến là yếu tố “Năng lực của cán bộ quản lý, đội ngũ giáo viên” với điểm trung bình được đánh giá là 3,65/4 điểm và tiêu chí “Ảnh hưởng của gia đình và quan hệ xã hội” với 3,62/4 điểm. Hai yếu tố còn lại là “Sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội” và “Tác động của xã hội đối với giáo dục giá trị sống” được đánh giá ở mức 3,50 và 3,30/4 điểm. Có thể nói, thời gian qua, do Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông triển khai nghiêm túc và sát sao đổi mới chương trình giáo dục, đổi mới phương pháp và hình thức dạy học tại các trường THPT đã giúp đội ngũ cán bộ quản lý, đội ngũ giáo viên và học sinh nhận thức được tầm quan trọng của giá trị sống, giáo dục giá trị sống cho học sinh. Đặc biệt đối với các em học sinh nữ và học sinh dân tộc thiểu số thì sự quan tâm, giáo dục giá trị sống càng cấp thiết hơn. Chính vì thế, yếu tố nhận thức được đánh giá là ảnh hưởng nhất đến hoạt động này. Hoạt động quản lý giáo dục giá trị sống muốn triển khai hiệu quả thì năng lực đội ngũ quản lý, chủ thể chỉ đạo và giáo viên, chủ thể thực hiện có ảnh hưởng rất lớn đến công tác này. Tại các trường THCS trên địa bàn huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông việc nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên được quan tâm triển khai.
2.5. Đánh giá chung về quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học cơ sở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông Luận văn: Thực trạng giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS.
2.5.1. Kết quả đạt được
Trong những năm qua, việc quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông có được sự quan tâm và thực hiện tương đối đồng bộ. Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông được áp dụng về cơ bản là phù hợp lí luận về quản lý, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của từng trường trong huyện và đã đem lại một số hiệu quả nhất định. Nhận thức về vai trò của hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông cũng đã được nâng lên tạo nên sự chủ động trong hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh của cán bộ, giáo viên và phụ huynh học sinh.
Đó là những mặt tích cực trong công tác quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh các Trường THCS huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông. Bên cạnh những mặt tích cực đó, qua việc khảo sát thực trạng chúng tôi nhận thấy còn hạn chế cơ bản. Đó là đa phần học sinh nhận thức được về giá trị sống và ý nghĩa của giá trị sống trong cuộc sống nhưng còn hời hợt, chưa sâu sắc vì thế chưa thể tạo nên nền tảng để hình thành những kỹ năng sống cần thiết. Nguy hiểm hơn, một bộ phận học sinh chưa nhận thức đúng đắn, đầy đủ sự cần thiết của giá trị sống đối với bản thân và có những biểu hiện hành vi lệch chuẩn.
Công tác xây dựng kế hoạch giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông đã được chú trọng quan tâm khá cơ bản trong từng năm, từng tháng và trong từng bộ phận, từng thành viên có trách nhiệm.
Công tác tổ chức thực hiện chương trình giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông đảm bảo tính đồng bộ và thống nhất theo kế hoạch và nhiệm vụ. Cán bộ, giáo viên nhân viên có trách nhiệm trong công việc có tinh thần đoàn kết xây dựng tập thể văn hoá nhà trường có thái độ ứng xử phù hợp với đối tượng, là tấm gương cho học sinh noi theo. Trong công tác tổ chức giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông đã có những biện pháp, hình thức tổ chức thu hút được sự tham gia của học sinh, cơ bản qua đó đã khích lệ, phát huy và xây dựng được những giá trị nền tảng cho học sinh như: yêu thương; khoan dung, hợp tác, chia sẻ…. Luận văn: Thực trạng giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS.
Công tác chỉ đạo của Hiệu trưởng các Nhà trường đã được triển khai phù hợp với thực tiễn của Nhà trường, sát sao theo kế hoạch đạt ra, bảo đảm việc tổ chức thực hiện thường xuyên trong giáo dục giá trị sống cho học sinh các trường THCS trong Nhà trường.
Sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục trong nhà trường để triển khai các nội dung giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông bước đầu đã thu được kết quả. Bên cạnh đó, mặc dù còn có nhiều hạn chế, song trường đã có sự quan tâm thu hút các nguồn lực bên ngoài từ các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường tham gia vào hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh. Hội cha mẹ học sinh bước đầu đã có nhận thức về hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh trong nhà trường, bước đầu đã quan tâm tham gia, hỗ trợ về vật chất và tinh thần cho các hoạt động giáo dục.
2.5.2. Hạn chế và nguyên nhân
- Hạn chế
Việc xây dựng kế hoạch, tổ chức chỉ đạo và đánh giá cũng chưa được thường xuyên, các hình thức giáo dục giá trị sống chưa sinh động, phong phú, chưa thu hút được học sinh tích cực tham gia ở các nhà trường. Công tác xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục giá trị sống chưa đồng bộ. Nội dung kế hoạch mang tính chung chung, hình thức, xa rời thực tế của cơ sở giáo dục và của địa phương; một số nội dung kế hoạch được đề ra bị bỏ qua không thực hiện.
Giáo viên đã thực hiện giáo dục lồng ghép giá trị sống cho học sinh thông qua hoạt động dạy học nhưng cũng chưa thường xuyên. Chưa có sự gắn kết giữa nhà trường với các đoàn thể xã hội chưa nhiều.
Nội dung giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông hiện nay đơn thuần chỉ là những tiểu nội dung được tích hợp hữu hạn thông qua các môn học chính khóa hoặc lồng ghép qua các hoạt động tập thể, hoạt động ngoài giờ lên lớp, tính mục tiêu và hướng đích về giá trị sống bị lấn át thậm chí bị đồng nhất thiếu cơ sở với mục tiêu của các hoạt động trên. Bên cạnh đó thiếu những hoạt động giáo dục mang tính định hướng, tư vấn cho học sinh lựa chọn cho mình giá trị sống còn thiếu. Việc tìm hiểu, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của học sinh bị coi nhẹ.
Môi trường giáo dục bó hẹp trong không gian là lớp học, khuôn viên trường, xa rời thực tiễn và trải nghiệm; hình thức giáo dục chưa chú trọng tác động, định hướng để người học bộc lộ năng lực, thể nghiệm và hình thành kỹ năng.
Cơ sở vật chất phục vụ dạy giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông còn thiếu thốn, nhà trường chưa đủ tiềm lực tài chính để tài trợ cho những hoạt động mang tính thực tế, trải nhiệm nhằm tăng cường giá trị sống cho học sinh. Việc huy động sự giúp đỡ từ các lực lượng giáo dục bên ngoài còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu.
- Nguyên nhân Luận văn: Thực trạng giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS.
Thế giới đang bước vào thiên niên kỷ mới, với những đặc trưng tiến bộ của của cách mạng khoa học công nghệ, của nền văn minh hậu công nghiệp với nền kinh tế tri thức, đang đặt ra những cho giáo dục những thời cơ mới và thách thức mới, trong đó phải đào tạo ra được một đội ngũ những người lao động có tay nghề cao, có kiến thức, kỹ năng và thái độ hành vi tương xứng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội và vì một thế giới phát triển bền vững.
GDGTS cho học sinh THCS huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông, quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông nhằm hình thành và phát triển nhân cách cho các em, giúp các em thấy được những giá trị tốt đẹp của con người với những chuẩn mực của cuộc sống đương đại để các em lĩnh hội thành của chính mình và để rồi các em được thể hiện ra bằng chính hành vi tương ứng của mình để hướng tới một cuộc sống tốt đẹp, một xã hội văn minh, đáp ứng mục tiêu giáo dục THCS trong giai đoạn hiện nay.
Người lớn chưa gương mẫu trong hành vi và lối sống, ảnh hưởng đến nhận thức của học sinh về những giá trị sống cơ bản. Đây là nguyên nhân có sự kết hợp giữa hai yếu tố xã hội và gia đình. Phương pháp giáo dục nêu gương có ảnh hưởng rất lớn đến người học. Trong thực tế cuộc sống, cha mẹ chưa chuẩn mực trong các mối quan hệ, trong nhận thức, hành vi và lối sống có tác động rất mạnh mẽ đối với con cái bởi gia đình chính là các nôi của sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ thơ. Bên cạnh đó, khi tham gia các mối quan hệ xã hội, các em học sinh cũng chịu sự tác động lớn từ môi trường sống xung quanh mình. Những quan điểm, hành vi lối sống của mọi người đặc biệt là của những người lớn tuổi đã tác động đến nhận thức của các em. Chính vì vậy, đây được coi là nguyên nhân lớn thứ 2 trong việc kết quả hoạt động giáo dục giá trị sống chưa đạt hiệu quả cao.
Do những biến đổi tâm sinh lý phức tạp của học sinh cấp THCS. Ở lứa tuổi này, các em học sinh có sự phát dục, cơ thể phát triển nhanh chóng làm thay đổi nhận thức, thái độ của các em về bản thân. Giai đoạn này, tình cảm của các em chưa bền vững, không ổn định, khả năng làm chủ bản thân và sức đề kháng kém, bản lĩnh còn yếu trước những tác động xấu từ môi trường bên ngoài… cho nên dễ phát sinh mặc cảm, sự bồng bột, cả tin… Điều này tạo cơ hội cho những hiện tượng tiêu cực trong xã hội thâm nhập vào đời sống tinh thần của các em. Luận văn: Thực trạng giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS.
Phụ huynh chưa quan tâm và chưa phối hợp hiệu quả với nhà trường trong công tác giáo dục giá trị sống. Những người được khảo sát đều cho rằng phần lớn phụ huynh học sinh mới chỉ quan tâm nhắc nhở và giáo dục con em mình học tập, lĩnh hội những kiến thức khoa học đặc biệt là các môn học liên quan đến việc thi vào cấp 3 chứ họ chưa thực sự quan tâm và chưa phối hợp hiệu quả với nhà trường trong việc giáo dục giá trị sống cho con em mình.
Ban Giám hiệu các nhà trường chưa thực sự quan tâm đúng mức đến công tác quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống; chưa xây dựng chuyên đề cụ thể đối với từng bộ môn học và từng tháng, từng tuần; những nội dung giáo dục giá trị sống chưa được khai thác triệt để, còn mang tính bề nổi, thiếu chiều sâu; hình thức giáo dục giá trị sống chưa phong phú nên thiếu sức hấp dẫn.
Việc kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục giá trị sống của các tổ chức, cá nhân trong nhà trường chưa thường xuyên, chưa gắn chặt hoạt động này với công tác khen thưởng, kỷ luật cán bộ, giáo viên và học sinh. Tất cả mới chỉ dừng lại ở hình thức lồng ghép trong các môn văn hóa và một vài hoạt động ngoại khóa.
Tiểu kết chương 2
Quá trình khảo sát và phân tích thực trạng hoạt động giáo dục giá trị sống và quản lí hoạt động giáo dục giá trị sống ở các trường THCS huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông đã cho thấy thấy: công tác quản lí hoạt động giáo dục giá trị sống đã được các cấp, các ban ngành, các nhà trường quan tâm và đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên tính hiệu quả của hoạt động này chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của xã hội, chưa tương ứng với ý nghĩa, giá trị của nó trong công tác giáo dục. Trên thực tế điều tra, còn nhiều học sinh, phụ huynh học sinh chưa nhận thức, đánh giá đúng vai trò của giáo dục giá trị sống; nhiều học sinh chưa có kỹ năng sống cần thiết do chưa có gốc nền tảng giá trị sống. Bên cạnh đó, một bộ phận học sinh có biểu hiện về hành vi, lối sống lệch chuẩn. Có rất nhiều nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan dẫn đến hiện tượng này trong đó chúng ta không thể không kể đến nguyên nhân từ góc độ quản lý. Để khắc phục tình trạng này, CBQL phải tìm tòi, nghiên cứu tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục giá trị sống cho học sinh. Đó cũng là nội dung tác giả của luận văn trình bày ở chương 3. Luận văn: Thực trạng giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS
