Luận văn: Quản lý giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh trường TH bán trú trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT

GD ý thức cho học sinh nói chung, ý thức tự phục vụ cho HS ở trường TH trường bán trú nói riêng. Nhằm giúp các em nhận thức và hình thành một số thói quen, có thái độ tốt với công việc, các em nhận thức được những giá trị từ trong cuộc sống hàng ngày, thích nghi chung hòa với môi trường sống hàng ngày. GD ý thức tự phục vụ cho bản thân sẽ giúp các em có ý thức phục vụ bản thân tốt, giáo viên, cha mẹ và những người xung quanh cần khuyến khích, động viên để các em có thói quen tốt tự phục vụ bản thân. Mọi người lớn có sự nhìn nhận và không nên làm hộ các em mà nên tạo cơ hội cho các em được làm, để hình thành ý thức trong cuộc sống “Mình có thể làm được”, để giúp trẻ tự tin, tự chủ trong mọi hoạt động. Tuy nhiên lúc đầu các em có thể chưa ý thức được những điều đó, nhưng giáo viên, bảo mẫu có thể chỉ dẫn để giúp các em ý thức và tự làm những công việc phục vụ cho bản thân. Chính vì vậy thông qua các hoạt động hằng ngày, việc ở lại bán trú tại trường cũng như ở nhà của các em sẽ giúp các em có ý thức tự phục vụ cho các em rất tốt.

Qua khảo sát ý thức tự phục vụ cho học sinh 7 trường TH bán trú trên địa bàn huyện Dầu Tiếng cho thấy GV, CBQL nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của việc GD ý thức tự phục vụ cho học sinh tại các trường bán trú. Tuy nhiên một số phương pháp và hình thức giáo viên thực hiện còn hạn chế. Vì vậy hiệu quả GD ý thức tự phục vụ cho học sinh chưa cao, còn nhiều em chưa có ý thức tự phục vụ bản thân mà cần đến sự nhắc nhở. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này mặc dù giáo viên đã sự quan tâm đến GD ý thức tự phục vụ cho học sinh, nhưng vẫn còn mang tính chung chung, chưa tâm huyết trong công việc, chưa chú tâm đến việc GD ý thức tự phục vụ cho học sinh. Một số trường chưa tổ chức các hoạt động thi đua, tuyên dương về GD ý thức tự phục vụ cho học sinh. PHHS chưa có nhiều thời gian quan tâm đến việc GD các em ý thức tự phục vụ, chỉ hình vào kết quả học tập. Bên cạnh đó, một số PHHS quá nuông chiều, bao bọc dẫn đến các em không biết làm gì. Dó đó các em không có kỹ năng sống nói chung và ý thức tự phục vụ cho bản thân nói riêng.

Các biện pháp GD ý thức tự phục vụ cho HS trường tiểu học bán trú có tính khả thi cao phù hợp với đặc điểm phát triển ý thức cho HSTH gồm 6 biện pháp sau:

  • Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức đội ngũ CBQL, GV, PHHS về GD ý thức tự phục vụ cho HS trường TH bán trú.
  • Biện pháp 2: Kế hoạch hóa hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh tại các trường TH bán trú
  • Biện pháp 3: Cải tiến nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho HS
  • Biện pháp 4: Tăng cường công tác chỉ đạo tổ chức hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho HS
  • Biện pháp 5: Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho HS
  • Biện pháp 6: Phối hợp các lực lượng (nhà trường, gia đình, xã hội)

Các biện pháp trên có mối quan hệ mật thiết với nhau, ràng buộc lẫn nhau, bổ sung và hỗ trợ cho nhau nhằm đạt được kết quả của mục tiêu, nội dung GD tự phục vụ cho HSTH.

Các biện pháp đề xuất trên được đánh giá cao tính cần thiết và tính khả thi khi áp dụng vào thực tiễn trong công tác quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh tại các trường TH trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Có thể nói, trong cuộc sống hiện nay, trước sự phát triển, chuyển biến mạnh về khoa học công nghệ, kéo theo sự phát triển các ngành, nghề khác để đáp ứng yêu cầu và để đảm bảo sự tồn tại, sự phát triển trong bối cảnh đó, nền GD đã trở thành nhân tố quyết định đối với sự phát triển kinh tế – xã hội. Xu hướng chung của các nước trên thế giới đều coi GD là nhân tố hàng đầu quyết định sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi quốc gia.

Ở nước ta, Nghị quyết 29 – CT/TW ngày 04/11/2019 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện GD và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã được hội nghị trung ương 8 (khóa XI) thông qua đã nêu rõ: “Đối với GD phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng GD toàn diện, chú trọng GD lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, 2019). Luận văn: Quản lý giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

GD luôn gắn liền với sự phát triển của nhân loại, sự tồn tại và phát triển của xã hội chi phối của GD; GD là công cụ, phương tiện để cải tiến xã hội. Xã hội phát triển thì GD là động lực, mục tiêu cho việc phát triển xã hội. Những năm qua, đất nước ta đang chuyển biến mạnh mẽ trong công cuộc đổi mới sâu sắc và toàn diện. Trong công cuộc đổi mới, chúng ta có những thành tựu to lớn rất đáng tự hào về phát triển kinh tế – xã hội, văn hóa – GD. Tuy nhiên, bên cạnh những sự phát triển của xã hội thì đời sống vật chất cũng như tinh thần của con người cũng nâng lên, từ đó khả năng tự phục vụ của trẻ ngày càng giảm, càng thiếu tinh thần tự phục vụ.

Theo tổ chức Văn hoá, khoa học và GD của Liên Hiệp Quốc UNESCO, do Jacques Delors năm 1996 đề xuất bốn trụ cột chiến lược GD (GD) là “Học để biết; Học để làm; Học để tự khẳng định mình; Học để chung sống”. (Jacques Delors, 1996).

Luật GD Việt Nam sửa đổi 2025 đã đề ra mục tiêu GD toàn diện là “Mục tiêu GD nhằm phát triển toàn diện con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; có phẩm chất, năng lực và ý thức công dân; có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế”. ( Luật GD 2025 số 43/2025/QH14).

GD Việt Nam đã và đang cải cách, đổi mới ngày một tốt hơn đặc biệt là trong GD TH (TH). Kết hợp với việc GD kiến thức, GD ý thức tự phục vụ cho học sinh trường TH bán trú giúp học sinh phát triển cả thể chất lẫn trí tuệ. GD ý thức tự phục vụ cho học sinh trường TH bán trú phải bắt đầu từ việc định hướng cho HSTH những hành vi tốt, GD học sinh biết nhận thức, biết ý thức tự phục vụ cho bản thân, nên GD ý thức tự phục vụ cho học sinh trường TH bán trú cho HSTH là vấn đề cấp thiết cần đặt lên hàng đầu, khi trẻ tự nhận thức được khả năng của chính mình thì vận dụng các ý thức sống (KNS) khác một cách có hiệu quả.

Thực trạng hiện tại, trong dư luận đã phản ánh khá nhiều về tình trạng trẻ em thiếu ý thức tự phục vụ, tự thực hiện trong việc chuẩn bị những việc cá nhân các em cũng chưa thực hiện được tốt. Phần lớn các em sống chỉ biết quan tâm, nghĩ đến bản thân của mình và chỉ biết nhận, biết hưởng thụ mà không ý thức là phải làm giúp ai, làm điều gì… Trên thực tế hiện tại nhiều năm nay tại Trường TH trên địa bàn huyện Dầu Tiếng những năm gần đây cũng không phải là ngoại lệ các em được sự quan tâm chăm sóc hết sức chu đáo của phụ huynh vì sống trong gia đình ít con, hoàn cảnh kinh tế ổn định hoặc là những em sống trong gia đình khó khăn, phụ huynh bỏ mặc con cái. Chính từ những môi trường hoàn cảnh khác nhau ấy lại mang đến cho các em những thiếu sót lớn trong ý thức, nhất là trong ý thức tự phục vụ bản thân.

Trong tình hình chung của huyện Dầu Tiếng hiện nay việc GD ý thức tự phục vụ cho học sinh trường bán trú cũng bộc lộ những hạn chế nhất định. Việc GD ý thức tự phục vụ cho học sinh trường bán trú chưa được nghiên cứu sâu rộng, chỉ nói chung về KNS và một số kỹ năng, những ý thức cơ bản cần hình thành cho học sinh. Giáo viên (GV) chỉ GD kỹ năng nhưng chưa GD ý thức tự phục vụ cho học sinh trường TH bán trú cho học sinh sơ sài, không mang tính hệ thống. Khi dạy học sinh về ý thức tự phục vụ cho học sinh trường TH bán trú thì chủ yếu GV sẽ lồng ghép vào các hoạt động khác nhau hoặc chỉ sẽ nhắc nhở học sinh phải có ý thức tự phục vụ qua tất cả các hoạt động như: ăn, ngủ, đi vệ sinh, để giày dép,… mà ít khi GV dạy học sinh hình thành ý thức tự phục vụ cho học sinh cụ thể. Luận văn: Quản lý giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

GD ý thức tự phục vụ cho HS trường TH bán trú không chỉ như một mục tiêu GD mà còn như một nhiệm vụ GD cụ thể, vì ở lứa tuổi HSTH đã, đang hình thành cơ sở ban đầu của nhân cách. Việc GD ý thức tự phục vụ cho học sinh trường TH bán trú nhằm GD tính tự lập, ý thức về công việc, nhiệm vụ cho học sinh ngay từ những năm đầu của GD phổ thông. Tuy nhiên, trong công tác GD ý thức, người quản lý và GVCN chưa xây dựng cách tổ chức các hình thức học tập, sử dụng phương pháp dạy học (PPDH)… một cách hợp lý. Do đó, GV chỉ tập trung vào GD hành vi, chưa chú trọng vào khía cạnh nhận thức và thái độ của học sinh, làm giúp cho học sinh những công việc mà lẽ ra học sinh hoàn toàn có thể tự làm được khi được GD ý thức tự phục vụ cho học sinh trường TH bán trú. Bên cạnh đó, các bậc phụ huynh nhận thức việc GD ý thức tự phục vụ cho học sinh chưa đúng như: chỉ chú trọng dạy con ý thức tự học, chiều chuộng con cái không đúng, không chú trọng GD ý thức như thế nào, khả năng sử dụng những đồ dùng, vật dụng trong việc bán trú, từ ăn, uống, ngủ nghỉ, thay đồ, cất gối, gấp chăn, chải tóc ra sao khiến học sinh thiếu ý thức, thiếu KNS trong việc tự phục vụ cho mình.

Chính vì thế đã khiến cho học sinh thiếu tự tin, thiếu ý thức trong các hoạt động của chính bản thân mình, có xu hướng rụt rè, nhút nhát trong giao tiếp với những người xung quanh đặc biệt là trong đời sống xã hội hiện đại của chúng ta ngày nay. Thiếu ý thức tự phục vụ sẽ dẫn đến hệ lụy học sinh lười biếng, thụ động và khó khăn khi tham gia vào các hoạt động của tập thể, các hoạt động trong việc tự chăm sóc bản thân trong hoạt động bàn trú tại trường, tại lớp.

Đổi mới công tác quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh trường TH bán trú không phải là hoạt động đơn giản, cần có sự kiên trì và cần có sự đầu tư về mọi mặt. Vì vậy, cần phải có cách nhìn nhận đổi mới phương pháp quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh trường TH bán trú trong tư duy, nhận thức của cả hệ thống giáo dục và có sự tác động của nhiều yếu tố. Những vấn đề đặt ra trong thực hiện đổi mới phương pháp quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh trường TH bán trú, những cản trở quan sát được trong thực tế sẽ khó giải quyết nếu chỉ dựa vào sự tự giác, ý chí, điều kiện chủ quan của giáo viên mà bỏ qua nhiều yếu tố khác thuộc các cấp độ khác nhau như hệ thống quản lý từ giáo viên đến cán bộ quản lý nhà trường và các cấp quản lý ngành GD.

Với mục tiêu mong muốn nâng cao chất lượng GD ý thức tự phục vụ cho học sinh trường TH bán trú, tôi chọn đề tài “Quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh trường TH bán trú trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương” làm luận văn tốt nghiệp.

2. Mục đích nghiên cứu Luận văn: Quản lý giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

Trên cơ sở hệ thống hoá lý luận, khảo sát thực trạng quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh trường TH bán trú trên địa bàn huyện Dầu Tiếng tỉnh Bình Dương. Từ đó đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho HS trường TH bán trú trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu

  • Công tác quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho HS trường tiểu học.

3.2. Đối tượng nghiên cứu

Quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho HS trường TH bán trú trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

4. Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho HS trường TH bán trú.

Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho HS trường TH bán trú trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho HS trường TH bán trú trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất.

5. Giả thuyết khoa học

Công tác quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh trường tiểu bán trú đã được thực hiện và bước đầu đạt một số kết quả nhất định. Tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập trong nhận thức, trong việc xây dựng kế hoạch thực hiện, hoạt động tổ chức, chỉ đạo cũng như công tác kiểm tra đánh giá trong công tác tổ chức hay lồng ghép vào các tiết dạy. Nguyên nhân của thực trạng này có thể do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan trong công tác quản lý ở trường TH bán trú. Nếu đánh giá đúng thực trạng về quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ thì sẽ đề xuất được các biện pháp mang tính khà thi và từ đó góp phần nâng cao hiệu quả chất lượng GD nói chung và quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh tại trường TH bán trú trên địa bàn huyện Dầu Tiếng tỉnh Bình Dương hiện nay. Luận văn: Quản lý giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

6. Phạm vi nghiên cứu

6.1. Về nội dung

Đề tài tập trung nghiên cứu quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho HS trường TH bán trú trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

6.2. Về địa bàn nghiên cứu

Gồm 7 trường TH trên địa bàn huyện Dầu Tiếng: TH Long Tân; TH An Lập; TH Bến Súc; TH Thanh Tuyền; TH Thanh Tân; TH Ngô Quyền; TH Dầu Tiếng.

6.3. Về thời gian

Đề tài về quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho HS trường TH bán trú được nghiên cứu về thực trạng trong thời gian 02 năm học (Năm học 2024-2025; 2025-2026).

7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp luận

  • Quan điểm hệ thống – cấu trúc

Quan điểm hệ thống – cấu trúc nghiên cứu hiện tượng một cách toàn diện, trên nhiều mặt, dựa vào việc phân tích đối tượng thành các bộ phận. Xác định mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố của hệ thống để tìm quy luật phát triển. Qua cách tiếp cận quan điểm này, người nghiên cứu tìm hiểu được mối liên hệ chặt chẽ giữa quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh và quản lý các hoạt động sư phạm khác ở nhà trường. Thông qua việc nghiên cứu, quan điểm hệ thống – cấu trúc giúp người nghiên cứu tìm hiểu chính xác thực trạng công tác quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh ở các trường TH trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

  • Quan điểm lịch sử – logic Luận văn: Quản lý giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

Tìm hiểu sự hình thành và phát triển của công tác quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh nói chung, quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh TH nói riêng trên thế giới, tại Việt Nam và trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. Quan điểm này giúp người nghiên cứu xác định phạm vi không gian, thời gian và điều kiện hoàn cảnh cụ thể, để điều tra thu thập số liệu chính xác, đúng với mục đích nghiên cứu đề tài, trình bày công trình nghiên cứu theo một trình tự hợp lý.

  • Quan điểm thực tiễn

Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh ở các trường TH bán trú trên huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xuất phát từ thực tiễn của công tác quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh TH bán trú trên địa bàn tỉnh Bình Dương nói chung và huyện Dầu Tiếng nói riêng để tìm ra những tồn tại, khó khăn trong công tác quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh ở các cơ sở GD này, từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh phù hợp với thực tiễn.

7.2. Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích và tổng hợp các văn bản, tài liệu, sách báo và các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài; phân loại và hệ thống hoá những nội dung lý luận nói trên làm cơ sở lí luận về quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh ở các trường TH bán trú.

  • Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Để đánh giá khách quan về thực trạng quản lý hoạt động GD ý thức tự phục phụ cho học sinh ở các trường TH bán trú trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp sau đây:

  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Điều tra GD là phương pháp khảo sát một số lượng lớn các đối tượng nghiên cứu ở một hay nhiều khu vực, vào một hay nhiều thời điểm nhằm thu thập số liệu phục vụ cho mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.

Mục đích: Nhằm phối hợp với các phương pháp khác để thu lại kết quả khách quan nhất đồng thời chúng tôi cũng dùng phương pháp này để khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh ở các trường TH bán trú trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương mà đề tài đề xuất.

Nội dung: Nội dung xoay quanh về công quản lý, hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh (gồm câu hỏi đóng và câu hỏi mở ở 3 đối tượng: cán bộ quản lý (CBQL); Giáo viên; PHHS (PHHS) nhằm thu thập thông tin về thực trạng công tác quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh. Luận văn: Quản lý giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

  • Cách tiến hành: Xây dựng 2 phiếu khảo sát gồm:

Phiếu 1: Dành cho cán bộ quản lý (Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn) và giáo viên của 7 trường (phiếu) nghiên cứu nhằm tìm hiểu về công tác quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh.

Phiếu 2: Dành cho PHHS của 7 trường, nội dung câu hỏi về nhận thức của phụ huynh đối với việc GD ý thức tự phục vụ về GD ý thức tự phục vụ cho các em hiện nay.

  • Phương pháp phỏng vấn

Người nghiên cứu phỏng vấn các CBQL và GV nhằm thu thập dữ liệu làm rõ hơn trong kết quả nghiên cứu định lượng về quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh tại các trường TH bán trú. Các nội dung phỏng vấn bao gồm các ý kiến về mục tiêu, vai trò trong quá trình thực hiện hoạt động GD, cũng như trong công tác quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh tại các trường TH bán trú trên địa bàn huyện Dầu Tiếng. Trong đó, các câu hỏi được tập trung hỏi về thực hiện các nội dung GD ý thức tự phục vụ, xây dựng thực hiện kế hoạch, tổ chức chỉ đạo và kiểm tra đánh giá hoạt động GD này.

Để thực hiện tốt việc phỏng vấn, người nghiên cứu xác định đối tượng cần được phỏng vấn, lập danh sách và thông báo cho các đối tượng được phỏng vấn để họ có thời gian chuẩn bị, cũng như tiến hành phỏng vấn theo các câu hỏi đã được chuẩn bị trước tránh làm mất thời gian cho người được phỏng vấn; Mẫu phỏng vấn: bao gồm 7 Ban giám hiệu và 35 giáo viên công tác tại các trường TH tham gia khảo sát trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, Bình Dương.

  • Nhóm phương pháp xử lý số liệu

Sử dụng các công thức toán thống kê như số trung bình cộng, tần xuất, hệ số tương quan… để định lượng kết quả nghiên cứu của luận văn.

Kết quả thu thập thông tin từ nghiên cứu tài liệu, số liệu thống kê quan sát hoặc thực nghiệm tồn tại dưới 2 dạng: Thông tin định tính và thông tin định lượng. Các thông tin định tính và thông tin định lượng cần được xử lý để xây dựng các luận cứ, phục vụ cho việc chứng minh hoặc bác bỏ các giả thuyết khoa học (Vũ Cao Đàm, 1996).

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng ph ần mềm SPSS 20.0 để xử lý số liệu.

8. Ý nghĩa của đề tài Luận văn: Quản lý giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

Về lý luận: Đề tài góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho HS trường TH bán trú trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

Về thực tiễn: Nhận xét, đánh giá đúng thực trạng quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho HS trường TH bán trú thông qua hoạt động ngoại khóa tại trường TH trên địa bàn. Từ đó đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho HS trường TH bán trú trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

9. Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. Kết cấu luận văn gồm 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho HS ở trường tiểu học bán trú.
  • Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho HS trường TH bán trú trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
  • Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho HS trường TH bán trú trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC Ý THỨC TỰ PHỤC VỤ CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Các nghiên cứu nước ngoài

Kỹ năng sống được đề cập trong các chương trình hành động của UNESCO (Tổ chức văn hoá, khoa học và GD của Liên hiệp quốc), WHO (Tổ chức y tế thế giới), UNICEF (Quỹ Nhi đồng Liên hiệp Quốc) cũng như trong các chương trình hành động của các tổ chức xã hội trong và ngoài nước…ở hướng nghiên cứu này, các tác giả chủ yếu xây dựng hệ thống các ý thức của từng loại hoạt động, mô tả chân dung các ý thức cụ thể và các điều kiện, quy trình hình thành và phát triển hệ thống các ý thức đó…

Nghiên cứu kỹ năng ở mức độ khái quát, đại diện cho hướng nghiên cứu này có tác giả V.A.Crutexki có công trình nghiên cứu chủ yếu đi sâu vào vấn đề hình thành tri thức và kỹ năng theo lý thuyết hình thành hành động trí tuệ theo giai đoạn (V.A.Kruteski, 1980) Luận văn: Quản lý giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

Một số nhà tâm lý học coi khả năng tự lập, tự phục vụ cho bản thân là một trong những nét đặc trưng của nhân cách, đại diện là T.I. Ganhenlin, A.A. Sinirnop và E.U.Dmitriev…cho rằng: “Khả năng tự lập phải hình thành trên cơ sở người học đã có một số kiến thức, hiểu biết một số ý thức nhất định và biết vận dụng chúng vào những tình huống khác nhau trong thực tế, đó phải là những tình huống mới mẻ mà các em phải đối mặt trong cuộc sống. Khả năng tự lập của các em được bộc lộ rõ qua các hành vi và ta có thể dễ dàng quan sát thấy được trong khi các em đang thực hiện các mối quan hệ giữa người – người, hay giữa con người với thế giới xung quanh”.

L. Petrova xem xét trong hoạt động vui chơi thì khả năng tự lập của trẻ phát triển như thế nào? Bà đã khẳng định: Chơi chính là một hoạt động thực tiễn mang khả năng tự lập của trẻ nhỏ. Tham gia chơi thì trẻ được đứng ở vị trí chủ thể của hành động chơi, trẻ có thể được tự mình quyết định làm lấy những gì mà mình thích chứ không phải là những gì người khác ép buộc. Vì vậy, trong khi chơi xuất hiện ở trẻ sự tích cực tự nguyện. Nhà GD có thể dựa vào hoạt động vui chơi mà có kế hoạch GD khả năng tự lập của trẻ theo định hướng mục tiêu có chủ đích. Bản thân người lớn cũng thúc đẩy trẻ em hoạt động một cách tự lập, sau đó là phải học tập suy luận, tập nhận xét một cách nghiêm túc theo ý riêng của bản thân, có lập trường riêng của chính mình. Sự phát triển khả năng và sự cần thiết hoạt động một cách chủ động, tự lập của trẻ mẫu giáo phải ở mức độ nào là phù GD ý thức tự phục vụ cho HSTH là một trong những vấn đề đã được các nhà tâm lý, nhà GD quan tâm nghiên cứu. Mặc dù có khác nhau về các biện pháp, phương pháp khác nhau từ các góc độ nghiên cứu song họ đều cho rằng chính hai mặt năng lực và phẩm chất là hai mặt then chốt mà GD cần tác động đến nhằm tạo ra những con người toàn diện.

Rất nhiều tác giả nước ngoài đã đề cập đến vấn đề GD tự phục vụ cho các em trong cuộc sống, khả năng tự lập là một phẩm chất nhân cách vô cùng quan trọng. Nhờ vào khả năng tự lập mà các em có khả năng tự hoạt động, tự cố gắng tham gia và hoàn thành công việc trên cơ sở năng lực của bản thân các em.

Theo tác giả Vengher nghiên cứu khả năng tự lập trên cơ sở tác động của nhà GD: Khả năng tự lập không phải tự nhiên mà có. Nó chỉ được tạo nên trong những điều kiện cần thiết cho việc hình thành khả năng tự lập dưới sự hướng dẫn của mọi người. Tự lập là sự suy nghĩ, sự tổ chức hành động và hoạt động không dựa vào sự giúp đỡ bên ngoài. Khả năng tự lập là một phẩm chất quan trọng của nhân cách. Luận văn: Quản lý giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

Theo tác giả A.G.Côvaliôp trong công trình nghiên cứu của mình đã chú trọng đến việc GD lao động tự phục vụ cho HS. Tác giả cho rằng: “Thói quen là bản tính thứ hai của con người. Khi có thói quen lao động, nếu không làm việc người ta không chịu được,…”. Như vậy theo A.G.Côvaliôp một khi đã có thói quen lao động thì con người sẽ chủ động thực hiện công việc, nếu như không thực hiện thường xuyên thì học sẽ cảm thấy khó chịu, buồn bực. Vì vậy, đối với HSTH một khi có ý thức tự phục vụ đã hình thành thì cần thực hiện một cách thường xuyên, liên tục để chúng trở thành nhu cầu của các em, nếu không các em sẽ cảm thấy khó chịu. Tác giả cũng nhấn mạnh rằng việc các em chủ động thực hiện các công việc tự phục vụ sẽ mang lại cho chúng niềm vui, niềm tự hào đó là động lực thôi thúc các em thực hiện lao động tự phục vụ. Vì vậy tác giả cho rằng giáo viên cần tạo được niềm vui, điều đó mang lại hiệu quả cao trong việc GD lao động tự phục vụ cho các em (A.G.Côvaliôp, 1971)

Tác giả I.A.Peecnicova trong nhiều tác phẩm của mình đã đề cập đến việc GD lao động tự phục vụ đối với sự hình thành phẩm chất đạo đức của trẻ em. Theo ông: “Phẩm chất đạo đức hình thành ở trẻ em trước hết là trong quá trình lao động. Phẩm chất ấy thể hiện ở sự ham thích và thói quen lao động phục vụ bản thân, gia đình, nhà trường ,… Như vậy sự thích thú và thói quen, ý thức lao động tự phục vụ bản thân chính là một biểu hiện của phẩm chất đạo đức của các em. Ông cho rằng nên cho các em làm việc dễ dàng nhưng có ích từ khi các em còn nhỏ. Việc thực hiện các ý thức tự phục vụ như tự rửa tay, rửa mặt, đánh răng, chải tóc, xếp đồ, xếp sách vở.  là những công việc dễ dàng vừa sức trẻ mà vô cùng có ích đối với sức khỏe và vẻ đẹp con người. (A.P.Traboxkaia, 1971)

Dựa trên quan điểm: “Kiên quyết yêu cầu phải để các em tự phục vụ từ khi còn nhỏ, nếu không các em sẽ phát triển thói ăn bám xấu xa„ của Crupxkaia, tác giả cho rằng: “Con cái chúng ta phải hưởng tuổi thơ hạnh phúc, nhưng tuyệt nhiên không có nghĩa là tuổi thơ ấy phải nhàn rỗi. Các em sẽ không thấy hạnh phúc khi bố mẹ cứ phục vụ các em mãi như cậu ấm cô chiêu (A.P.Traboxkaia, 1971). Đồng thời tác giả đưa ra nguyên tắc vô cùng đơn giản và quan trọng để rèn cho trẻ thói quen vệ sinh sạch sẽ đó là: “Không làm thay con cái những việc mà các em có thể tự làm được, ngay cả với những em bé nhất, tùy theo khả năng, trẻ em phải tự ăn uống, rửa mặt, đánh răng, soạn sách vở, vệ sinh cá nhân,  (I.A.Peecnicôva, 1980)

Tác giả K.D.Usinxki người sáng lập khoa học GD Nga, trong công trình nghiên cứu của mình ông đã chỉ ra rằng sự phát triển của trẻ em là kết quả lao động của bản thân các em qua hoạt động nhận thức và trí tuệ (K.D.Usinxki, 1861, p. 20).

A.X.Macarenco nhà GD lớn người Nga, rất quan tâm tới việc GD trẻ em thông qua lao động, GD ý thức tự phục vụ cho các em, nguyên tắc lý tưởng là phải làm thế nào cho bản thân lao động có tính hấp dẫn học sinh và kích thích họ cố gắng, đạt được những kết quả tốt đẹp. Theo hai tác giả trong lĩnh vực lao động không dùng khen thưởng và trách phạt, tác giả cho rằng: “Nhiệm vụ lao động và sự hoàn thành nhiệm vụ đó đã khiến cho nhi đồng vui sướng thoải mái rồi. Khi thừa nhận công tác của các em là tốt thì đó phải là cái phần thưởng rất quý đối với lao động của các em … Đối với trẻ em cần phải GD các em thói quen sinh hoạt, thói quen văn hóa, ý thức tự lập, khả năng tự kiềm chế, tinh thần vượt khó ý thức trách nhiệm đối với bản thân và mọi người. Tác giả quan tâm trước tiên tới GD và phát triển ý thức tự phục vụ ở các em thông qua trò chơi, chính trò chơi phát triển rất nhiều ý thức ở các em (A.X.Macarenco, 1936) Luận văn: Quản lý giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

Kỷ năng tự phục vụ cho bản thân là một trong những khía cạnh giúp hình thành nhân cách ở học sinh. Việc GD ý thức tự phục vụ sẽ giúp cho học sinh có khả năng tự lập, tự hoạt động, cố gắng và hoàn thành công việc trên cơ sở năng lực bản thân từ đó hình thành nên phẩm chất đạo đức của học sinh. Nên để học sinh tự làm những việc mà các em có khả năng hoàn thành (A.P.Traboxkaia, 1971)

Để hình thành ý thức tự phục vụ cho học sinh thì việc rèn luyện cần phải được tiến hành thường xuyên trong thời gian liên tục thông qua các biện pháp như làm mẫu, giải thích bằng lời, nêu gương, tập luyện hàng ngày, sử dụng các trò chơi.

Hiện nay xu hướng GD TH trên thế giới đặc biệt là Mỹ và Nhật Bản rất quan tâm đến GD ý thức tự phục vụ cho HS. Họ cho rằng thiếu ý thức tự phục vụ sẽ dẫn đến hệ lụy trẻ lười biếng, thụ động và khó khăn khi tham gia vào các hoạt động tập thể, các nhà GD cho rằng cần GD các em ý thức tự phục vụ ngay từ khi các em còn rất nhỏ chứ không phải đợi đến lứa tuổi TH, việc nắm bắt các ý thức tự phục vụ giúp các em tăng cường tính độc lập và cảm giác về sự thành công, không chỉ có lợi cho sự phát triển của các em mà hữu ích cho cả người lớn.

1.1.2. Các nghiên cứu trong nước

Khái niệm “kỹ năng sống” thực sự được hiểu một cách đúng đắn và chặt chẽ, sau hội thảo “Chất lượng GD và kỹ năng sống” do UNICEF tổ chức năm 2003 tại Hà Nội. Từ đó người làm công tác GD ở Việt Nam đã hiểu đầy đủ hơn về kỹ năng sống.

Tác giả Nguyễn Thanh Bình và cộng sự đã mô tả sinh động và rất đầy đủ, hệ thống tiếp cận thực hiện GD kỹ năng sống cho học sinh do ngành GD thực hiện. GD đã triển khai chương trình GD kỹ năng sống vào hệ thống GD chính quy và không chính quy. Nội dung GD nhà trường phổ thông được định hướng bởi mục tiêu GD kỹ năng sống. Theo đó, các nội dung GD kỹ năng sống được triển khai tại bậc TH về chương trình cải cách của GD TH (2000) đã quan tâm đến viêc GD những hành vi, KN tự phục vụ, KN giao tiếp ứng xử cho học sinh (Nguyễn Thanh Bình và cs, 2015)

Năm 2015, tác giả Huỳnh Văn Sơn xuất bản ấn phẩm “Nhập môn kỹ năng sống” với các nội dung cơ bản: những vấn đề chung về kỹ năng sống và một số ý thức sống cơ bản, các ý thức tự phục vụ cần thiết,…Bên cạnh đó tác giả cũng đưa ra giá trị của việc hình thành các kỹ năng này đối với đời sống của mỗi cá nhân để từ đó mọi người có ý thức rèn luyện để hình thành nên ý thức đó trong chính cuộc sống của mình. Cũng theo tác giả này “ kỹ năng sống là những kỹ năng tinh thần hay những ý thức tâm lý, ý thức tâm lý – xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại và thích ứng trong cuộc sống. Những ý thức này giúp cho cá nhân thể hiện được chính mình cũng như tạo ra những nội lực cần thiết để thích nghi và phát triển. Ý thức sống còn được xem như một biểu hiện quan trọng của năng lực tâm lý xã hội giúp cho cá nhân vững vàng trước cuộc sống có nhiều thách thức nhưng cũng nhiều cơ hội trong thực tại” (Huỳnh Văn Sơn, 2015) GD ý thức tự phục vụ cho HSTH không chỉ như một mục tiêu GD mà còn như một nhiệm vụ GD cụ thể, vì HSTH đã hình thành cơ sở ban đầu của nhân cách. Việc GD ý thức tự phục vụ nhằm GD tính tự lập cho học sinh ngay từ nhỏ. Luận văn: Quản lý giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

Với nhiều năm nghiên cứu về GD, PGS.TS Hà Nhật Thăng đã cho xuất bản cuốn sách: “GD hệ thống giá trị đạo đức nhân văn” năm 1998 và đã tái bản nhiều lần. Trong đó, trang bị cho học sinh, sinh viên nắm vững hệ thống giá trị cốt lõi, đó là cơ sở cơ bản của nhân cách, rèn luyện để thế hệ trẻ có những hành vi tương ứng với hệ thống giá trị đạo đức nhân văn cốt lõi, phù hợp với yêu cầu của xã hội, của thời đại. (Hà Nhật Thăng, 1998)

Ở Việt Nam các nhà nghiên cứu ý thức tiếp cận theo hai hướng: Hướng thứ nhất là ý thức lao động, xét về mặt kỹ thuật của thao tác, hành động hay hoạt động gắn với những tên tuổi các nhà tâm lý – GD như Trần Trọng Thuỷ (Trần Trọng Thủy, 2012) Hướng thứ hai là ý thức hoạt động sư phạm, ý thức học tập xét về mặt năng lực của con người gắn với tên tuổi các nhà tâm lý -GD như Nguyễn Văn Hộ và Hà Thị Đức… (Trần Kiểm và Nguyễn Xuân Thức, 2018)

Đối với các kỹ năng như lau mặt, rửa tay, chải tóc, mặc quần áo … thì giáo viên phải dạy động tác từ đơn giản đến phức tạp, thường xuyên cho các em được tập luyện (Trần Thanh Phong và Trần Thanh Tùng, 2002)

Luật GD Việt Nam sửa đổi 2025 đã đề ra mục tiêu GD toàn diện là “Mục tiêu GD nhằm phát triển toàn diện con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; có phẩm chất, năng lực và ý thức công dân; có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế”. ( Luật GD 2025 số 43/2025/QH14).

Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 04/11/2019 của Hội nghị TW 8 khóa XI về đổi mới căn bản toàn diện GD và đào tạo đã nêu rõ “Phát triển GD và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình GD chủ yếu trong trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; GD nhà trường kết hợp với GD gia đình và GD xã hội” và “GD con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình; yêu Tổ quốc; yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả” thể hiện rất rõ quan điểm của Đảng về GD đào tạo chú trọng phát triển con người toàn diện cả về năng lực, ý thức và thái độ.

Khả năng tự lập của các em phát triển từ thấp đến cao, từ dễ đến khó. Như vậy GD khả năng tự lập cho học sinh là một nhiệm vụ vô cùng cần thiết và có ý nghĩa trong giai đoạn hình thành ý thức, nhân cách, đặc biệt là lứa tuổi TH. Có thể nói rằng ở lứa tuổi các em cần thiết phải trang bị khả năng tự lập, tự phục vụ bản thân, hướng khả năng tự lập theo chiều hướng đúng đắn nhất. Hình thành những phẩm chất quý báo cần thiết cho các em trước ngưỡng cửa bước vào cuộc đời.

Nhiều tác giả cho rằng sự cần thiết của việc GD và rèn luyện những KN, thói quen tốt cho các em trong cuộc sống bao gồm cả KN tự phục vụ. Việc GD KN cần thiết ở mọi lúc mọi nơi, tận dụng cơ hội trong hoạt động hàng ngày của các em. Kết quả hình thành KN tự phục vụ cho các em thông qua truyền thống gia đình, vai trò của cá nhân các em và tính hứng thú của chính quá trình GD. Vì vậy cần có sự phối hợp nhất quán giữa các thành viên trong gia đình và nhà trường về các nội dung và hình thức rèn cho các em ở nhà cũng như ở trường. Luận văn: Quản lý giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

GD ý thức tự phục vụ cho HS được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm. Các tác giả đã chỉ ra tầm quan trọng, vai trò, ý nghĩa của việc GD ý thức tự phục vụ đối với sự phát triển của các em. Một số công trình đã nghiên cứu các biện pháp GD ý thức tự phục vụ thông qua các hình thức khác nhau như lao động, vui chơi, học tập, ngày lễ, ngày hội.

Thông qua nghiên cứu của các tác giả đã phân tích làm rõ tính cấp bách và sự cần thiết về KN sống của các em. Đặc biệt là ý thức tự phục vụ của các em, mặc dù đã được định hướng bởi các phương pháp, biện pháp, hình thức để GD các em nhưng vẫn còn hạn chế. Vấn đề GD ý thức tự phục vụ cho các em phải đòi hỏi sự tham gia phối kết hợp gia đình, nhà trường và xã hội với nhiều hình thức khác nhau, để GD các em. Tuy nhiên việc GD ý thức tự phục vụ cho các em ở trường TH chỉ dừng lại trên tiết học hay lồng ghép trong một số hoạt động (HĐ) như: HĐ vui chơi, hoạt động sinh hoạt tập thể, hoạt động ngoại khóa, các hoạt động của trẻ ở lại bán trú,…trong các HĐ chỉ dạy các em theo nội dung quy định của chương trình GD TH. Nhưng chưa được xác định đúng mức, rõ ràng, phương pháp dạy còn hời hợt, chưa đi sâu vào thực tế. Do đó mọi người cần phải xác định trách nhiệm của mình để giúp các em phát huy hết khả năng, ý thức tự lập thật tốt để các em tự tin và thành công khi bước vào cuộc sống sau này.

1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài Luận văn: Quản lý giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

1.2.1. Quản lý, hoạt động, quản lý giáo dục, quản lý trường tiểu học

  • Quản lý

Thuật ngữ “Quản lý” lột tả bản chất hoạt động điều khiển các hoạt động của một tổ chức nhằm đạt tới mục tiêu. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Quản lý là trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định” hoặc “Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định.”.

Theo quan niệm của Mác: “Quản lý là một chức năng tất yếu của lao động xã hội, nó gắn chặt với sự phân công và phối hợp”. “Bất cứ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân. Sự chỉ đạo đó phải là những chức năng chung, tức là những chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động chung của cơ thể sản xuất với những vận động cá nhân của những khí quan độc lập hợp thành cơ thể sản xuất đó. Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng”. Trong thực tiễn, đã có nhiều cách hiểu và biểu đạt về khái niệm quản lý, tuỳ theo mục đích tiếp cận khác nhau của mỗi tác giả. (C.Mac va Ăngghen, 1993, pp. 23,687,688).

Khi nói đến vai trò quản lý trong xã hội, ý kiến của Paul Hersey và Ken Blanc Heard trong cuốn Quản lý nguồn nhân lực cho rằng: “Quản lý là một quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý với người bị quản lý, nhằm thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt được mục tiêu của tổ chức” (Paul Hersey and Ken Blanc Heard, 1995)

Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài nước (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” (Trần Kiểm, 2017).

Theo tác giả Nguyễn Bá Sơn – 2000 thì: “Quản lý là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý bằng một hệ thống các giải pháp nhằm thay đổi trạng thái của đối tượng quản lý, đưa hệ thống tiếp cận mục tiêu cuối cùng, phục vụ lợi ích con người” (Nguyễn Bá Sơn, 2000) Luận văn: Quản lý giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

Tóm lại, các định nghĩa trên tuy khác nhau về cách diễn đạt, về góc độ, tiếp cận nhưng đều gặp nhau ở những nội dung cơ bản của khái niệm quản lý: Quản lý là hành động đưa các cá nhân trong tổ chức làm việc cùng nhau để thực hiện, hoàn thành mục tiêu chung. Đó là quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý bằng việc vận dụng các chức năng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng và cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra.

Từ đó có thể khái quát: “Quản lý là một dạng lao động đặc biệt nhằm gây ảnh hưởng, điều khiển, phối hợp lao động của người khác hoặc của nhiều người khác trong cùng tổ chức hoặc cùng công việc nhằm thay đổi hành vi và ý thức của họ, định hướng và tăng hiệu quả lao động của họ, để đạt mục tiêu của tổ chức hoặc lợi ích của công việc cùng sự thỏa mãn của những người tham gia”.

  • Hoạt động

Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về thế giới và cả về phía con người. Trong mối quan hệ đó có hai quá trình đồng thời diễn ra, bổ sung cho nhau, thống nhất với nhau:

Quá trình thứ nhất là quá trình đối tượng hóa còn gọi là quá trình “xuất tâm” trong đó chủ thể chuyển năng lượng của mình thành sản phẩm hoạt động. Ở quá trình “xuất tâm” này tâm lý con người được bộc lộ, được khách quan hóa trong quá trình tạo ra sản phẩm. Nhờ vậy, chúng ta mới có thể tìm hiểu được tâm lý người thông qua hoạt động của họ.

Quá trình thứ hai là quá trình chủ thể hóa còn gọi là quá trình “nhập tâm” trong đó con người chuyển nội dung khách thể những quy luật, bản chất, đặc điểm,… của khách thể vào bản thân mình, tạo nên tâm lý, ý thức nhân cách của bản thân. Đây chính là quá trình chiếm lĩnh, lĩnh hội thế giới. Vì thế người ta nói tâm lý con người là sự phản ánh thế giới khách quan, nội dung tâm lý do thế giới khách quan quy định.

Hoạt động con người bao gồm các quá trình con người tác động vào thế giới sự vật, tri thức,…gọi chung là quá trình bên ngoài và quá trình tinh thần, trí tuệ. Quá trình bên trong, nghĩa là trong hoạt động bao gồm cả hành vi lẫn tâm lý,cả công viêc chân tay lẫn công việc trí óc

  • Quản lý giáo dục Luận văn: Quản lý giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

Quản lý GD là một khoa học quản lý chuyên ngành, người nghiên cứu trên nền tảng của khoa học quản lý nói chung, cũng giống như khái niệm quản lý, khái niệm quản lý GD cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Ở đây chúng tôi chỉ đề cập tới khái niệm GD trong phạm vi quản lý một hệ thống GD nói chung mà hạt nhân của hệ thống đó là các cơ sở trường học. Về khái niệm quản lý GD các nhà nghiên cứu đã quan niệm như sau:

Theo chuyên gia GD Liên Xô M.I.Kônđacốp thì: “Quản lý GD là tập hợp những biện pháp: tổ chức, phương pháp cán bộ, kế hoạch hóa,… nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống GD để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt chất lượng cũng như số lượng” (M.I.Konđacốp, 1984)

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý GD là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ thống GD) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên tắc GD của Đảng thực hiện được những tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – GD thế hệ trẻ, đưa hệ GD tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất” (Phạm Minh Hạc, 1986)

Tóm lại, “Quản lý GD là hệ thống những tác động có ý thức, hợp quy luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống GD, đảm bảo cho sự phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng”

  • Quản lý trường tiểu học

Trong thực tiễn Việt Nam, Tác giả Phạm Minh Hạc đã xác định: “QL nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng HS” (Phạm Minh Hạc, 1986). Theo tác giả Trần Kiểm “Quản lý nhà trường thực chất là việc xác định vị trí của mỗi người trong hệ thống xã hội, là quy định chức năng, quyền hạn, nghĩa vụ, quan hệ cùng vai trò xã hội của học mà trước hết trong phạm vi nhà trường với tư cách là một chủ thể xã hội” (Trần Kiểm, 2017)

Quản lý trường TH cũng giống như các trường phổ thông- là một hoạt động của nhà quản lý cấp cơ sở do hiệu trưởng là người đứng đầu để dẫn dắt một tổ chức chuyên môn- nghiệp vụ và quản lý con người, cơ sở vật chất kỹ thuật, tài chính… Trường TH được hình thành tại cộng đồng dân cư nên nó phải thỏa mãn được lợi ích của cộng đồng dân cư và phát huy các nguồn lực trong cộng đồng.

Như vậy có thể hiểu quản lý trường TH là quá trình tác động có kế hoạch, có mục đích, hợp quy luật của hiệu trưởng để nhà trường vận hành theo quan điểm của Đảng, đường lối của Nhà nước, thực hiện được mục tiêu GD và tính chất sư phạm là hình thành phát triển năng lực, nhân cách của người học theo yêu cầu xã hội.

1.2.2. Giáo dục, ý thức, tự ý thức, ý thức xã hội, giáo dục ý thức tự phục vụ Luận văn: Quản lý giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

  • Giáo dục

Trong quá trình tồn tại và phát triển, con người nhận thức về thế giới xung quanh, tích luỹ kinh nghiệm về cuộc sống, từ đó nảy sinh nhu cầu truyền đạt kinh nghiệp đã được tích luỹ từ người này sang người khác. Đó chính là nguồn gốc phát sinh của hiện tượng GD.

Theo M.I.Konđacốp thì: “GD là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử, xã hội của các thế hệ loài người. Nhờ có GD mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó mà xã hội loài người không ngừng tiến lên” (M.I.Konđacốp, 1984).

Nhà trường TH là nền tảng cho GD phổ thông. Điều II Luật phổ cập GD đã nêu: “GD TH là bậc học nền tảng của hệ thống GD quốc dân, …”. Bậc TH là bậc học đầu tiên để đào tạo những cơ sở ban đầu cơ bản và bền vững cho trẻ tiếp tục học lên bậc học trên, giúp trẻ hình thành những cơ sở ban đầu, những nét cơ bản của nhân cách.

Điều này càng khẳng định trong thời đại ngày nay, GD đã trở thành động lực, là nhân tố quyết định thúc đẩy sự phát triển của xã hội. GD đã trở thành mục tiêu phát triển hàng đầu của các quốc gia trên thế giới. Bởi vì chỉ có GD mới đào tạo được những người lao động mới – lao động có trí tuệ cao đáp ứng yêu cầu của sự phát triển xã hội.

Chính do vị trí quan trọng như vậy nên GD là một quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị cho họ tham gia vào đời sông xã hội, lao động sản xuất, bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hộiinh nghiệm lịch sử xã hội của loài người.

  • Ý thức

Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về ý thức. Những định nghĩa này thường bắt nguồn từ góc nhìn chuyên môn và quan niệm cá nhân của người viết. Tuy nhiên hầu hết chúng ta đều thừa nhận rằng ý thức được hình thành khi chúng ta áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Ý thức học được do quá trình lặp đi lặp lại một hoặc một nhóm hành động nhất định nào đó. Ý thức luôn có chủ đích và định hướng rõ ràng. Luận văn: Quản lý giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

Theo V.L.Lê-nin cho rằng: “Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người một cách năng động và sáng tạo”. Theo ông, người có ý thức hành động là người phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả. Ông còn nói thêm, con người có ý thức không chỉ nắm lý thuyết về hành động mà phải vận dụng vào thực tế. (L.Đ.Lêvitôv)

Theo tác giả Thái Duy Tuyên, “ Kỹ năng là sự ứng dụng kiến thức trong hoạt động” (Thái Duy Tuyên, 2012). Mỗi ý thức bao gồm một hệ thống thao tác trí tuệ và thực hành, thực hiện trọn vẹn hệ thống thao tác này sẽ đảm bảo đạt được mục đích đặt ra cho hoạt động. Điều đáng chú ý là sự thực hiện một ý thức luôn luôn được kiểm tra bằng ý thức, nghĩa là khi thực hiện bất kỳ một ý thức nào đều nhằm vào một mục đích nhất định.

Từ sự phân tích trên ta có thể hiểu ý thức một cách chung nhất: Ý thức là năng lực thực hiện một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, cách thức hành động đúng đắn để đạt được mục đích đề ra.

  • Tự ý thức

Trong quá trình nhận thức thế giới xung quanh, con người cũng đồng thời nhận thức về thế giới xung quanh mình. Đó chính là tự ý thức.

Như vậy tự ý thức cũng là ý thức, là nhân tố quan trọng của ý thức, song đây là ý thức về bản thân mình trong mối quan hệ với thế giới bên ngoài.

Tự ý thức không chỉ là tự ý thức của cá nhân mà còn tự ý thức của một giai cấp, một tập đoàn xã hội, thậm chí của xã hội. Trình độ tự ý thức nói lên trình độ phát triển của nhân cách, trình độ làm chủ bản thân, nhờ có tự ý thức con người tự điều chỉnh bản thân theo các quy tắc, các chuẩn mực mà xã hội đề ra. (Nguyên lý triết học Mác – xit, NXB ST trang 205)

  • Ý thức xã hội

Ý thức xã hội là mặt tinh thần của đời sống xã hội bao gồm những quan điểm, tư tưởng cùng những tình cảm, tâm trạng, truyền thống… của một cộng đồng xã hội, nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định. Luận văn: Quản lý giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

  • Ý thức tự phục vụ

Ý thức tự phục vụ là sự thực hiện hành động của một cá nhân để giải quyết tình huống hay công việc phục vụ cho chính mình mà không cần sự giúp đỡ của người khác.

Đối với HSTH ý thức tự phục vụ bao gồm: khi đến trường phải biết xách cặp vào lớp, để quần áo, giày dép đúng nơi quy định, biết xếp tập sách theo quy định của GV, biết tự ăn, tự đánh răng, rửa mặt, sắp xếp chỗ ngủ, biết giữ tập sách gọn gàng, mang đầy đủ tập sách khi đi học, biết xếp hàng, biết giữ vệ sinh chung….

Ý thức tự phục vụ là một yếu tố quan trọng có thể giúp học sinh tăng cường tính độc lập và cảm giác về sự thành công. Dạy cho các em biết các ý thức tự phục vụ, học sinh sẽ ý thức được sự cần thiết của việc tự phục vụ bản thân, biết tự chăm sóc bản thân, tăng cường tính độc lập, học sinh sẽ sống có trách nhiệm với bản thân mình.

Có thể hiểu: Ý thức tự phục vụ là sự thực hiện hành động của một cá nhân để giải quyết tình huống hay công việc phục vụ cho chính mình, như tự nấu ăn, tự giặt quần áo, tự xúc ăn, tự rửa mặt…mà không cần sự giúp đỡ của người khác.

  • Giáo dục ý thức tự phục vụ

Khi xem GD ý thức tự phục vụ là một hoạt động, dựa trên khái niệm về GD có thể hiểu ý thức tự phục vụ như sau:

GD ý thức tự phục vụ bản thân là một trong những ý thức quan trọng thúc đẩy trẻ hoàn thiện mình một cách tốt nhất. Đây còn là cơ hội vàng giúp trẻ nhanh chóng khôn lớn và trưởng thành trong cuộc sống. Đây được xem là một trong những ý thức sống rất cần thiết mà bố mẹ và nhà trường nên dạy và GD con trẻ ngay từ khi còn nhỏ.

GD ý thức tự phục vụ là một bộ phận quan trọng của GD lao động, nhằm hình thành những phẩm chất của người lao động mới như yêu lao động, quý trọng người lao động, GD ý thức tự phục vụ cho HSTH nắm được các ý thức đơn giản phục vụ cho sinh hoạt và chuẩn bị sau này cho trẻ tham gia vào đời sống lao động.

Có thể hiểu: “GD ý thức tự phục vụ là quá trình, do các nhà GD tổ chức nhằm phát triển ở cá nhân về một hoặc nhiều khía cạnh nào đó, được sử dụng để giải quyết tình huống thực hiện công việc tự phục vụ cho chính bản thân của đối tượng được GD”.

1.2.3. Khái niệm quản lý hoạt động giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh tiểu học

Cũng như quản lý GD nói chung, quản lý GD ý thức tự phục vụ là hoạt động có ý thức của con người nhằm theo đuổi những mục đích của mình. Mục đích GD cho học sinh cũng chính là một trong những mục đích của quản lý, đây là mục đích có tính khách quan. Nhà quản lý cùng với đội ngũ giáo viên, học sinh, các lực lượng xã hội, vv… bằng hành động của mình hiện thực hóa mục đích đó trong hiện thực. Luận văn: Quản lý giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

Như vậy, “QLGD ý thức tự phục vụ được hiểu là hệ thống những tác động tự giác, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật của chủ quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha me học sinh nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu GD ý thức tự phục vụ cho học sinh của nhà trường”.

Từ đây ta có thể khái quát QLGD ý thức tự phục vụ là sự tác động chủ đích, có căn cứ khoa học, hợp quy luật và phù hợp các điều kiện khách quan… của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm phát huy sức mạnh các nguồn GD, từ đó đảm bảo các hoạt động của tổ chức hệ thống GD đạt được mục tiêu GD ý thức tự phục vụ cho học sinh với chất lượng, hiệu quả cao nhất.

1.3. Một số vấn đề lý luận về giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh tiểu học

1.3.1. Đặc điểm tâm lý, lứa tuổi của học sinh tiểu học

Đối với HSTH, đời sống xúc cảm, tình cảm của các em khá phong phú, đa dạng và cơ bản là mang trạng thái tích cực. Các em đã biết điều khiển tâm trạng của mình, thậm chí còn biết che giấu khi cần thiết. Học sinh tiểu học thường có tâm trạng vô tư, sảng khoái, vui tươi, đó cũng là những điều kiện thuận lợi để giáo dục cho các em những chuẩn mực đạo đức cũng như hình thành những phẩm chất trí tuệ cần thiết.

  • Đặc điểm về sự phát triển của các quá trình nhận thức

Sự phát triển của tri giác: Tri giác của HSTH đã có những thay đổi đáng kể so với trẻ mẫu giáo, chuyển từ tri giác chi tiết sang tri giác tổng hợp. Một dạng tri giác mới với chất lượng cao hơn tri giác thông thường bắt đầu xuất hiện và phát triển mạnh – đó là quan sát. Các thao tác trí tuệ ở lứa tuổi này được học sinh thực hiện tốt trên các dữ liệu hình tượng cụ thể dưới dạng các vật thật hoặc mô hình.

Sự phát triển của chú ý: Nếu như ở trẻ mầm non chú ý có chủ định còn nhiều hạn chế thì ở HSTH chú ý có chủ định đã dần phát triển. HSTH đã có khả năng tập trung chú ý ở mức độ nhất định với những tài liệu không mấy thú vị. Tuy nhiên, chú ý có chủ định ở các em vẫn ở mức độ thấp, chú ý không chủ định vẫn chiếm ưu thế, sức tập trung chưa cao, dễ bị phân tán, lơ đãng với những ý nghĩ đâu đâu. Do đó, tài liệu học tập cho trẻ ở lứa tuổi này cần dễ hiểu, trực quan, sinh động.

Sự phát triển của tư duy: Trong các quá trình phát triển nhận thức của HSTH thì sự phát triển tư duy diễn ra mạnh mẽ nhất. Giai đoạn này tư duy trừu tượng bắt đầu hình thành. Ở HSTH bắt đầu xuất hiện khả năng lý giải logic, sử dụng các thao tác trí tuệ như cộng trừ nhân chia, phân loại, bảo toàn, xếp hạng,…. Năng lực khái quát hóa và trừu tượng hóa còn hạn chế, tư duy còn mang nặng tính xúc cảm.

Sự phát triển của trí nhớ: Ở lứa tuổi này, trí nhớ có chủ định phát triển dần. Khả năng ghi nhớ có chủ định những tài liệu không mấy sinh động, hấp dẫn cũng dần phát triển. Học sinh đã có khả năng ghi nhớ ý nghĩa và nội dung chính của tài liệu. Tuy nhiên ghi nhớ chủ định vẫn chiếm vị trí rõ nét. Nhiều HSTH vẫn ghi nhớ máy móc bằng cách đọc đi đọc lại tài liệu nhiều lần. Quá trình ghi nhớ vẫn chịu nhiều ảnh hưởng và bị chi phối nhiều bởi các yếu tố trực quan.

Sự phát triển của tưởng tượng: Khả năng tưởng tượng của HSTH đã có sự chuyển biến cơ bản và phát triển phong phú. Càng về cuối cấp, khả năng tưởng tượng của trẻ càng gần với hiện thực hơn, sáng tạo và phát triển cao hơn. Tuy nhiên khả năng tưởng tượng của HSTH còn mang tính trực quan, cụ thể. Các hình ảnh chủ yếu mới dựa vào tưởng tượng tái tạo, chắp ghép, bắt trước và thay đổi chút ít. Vì vậy, sản phẩm của tưởng tượng còn nghèo nàn, ít có tổ chức.

  • Những đặc điểm nhân cách nổi bật của học sinh tiểu học

Đời sống tình cảm: Với HSTH, tình cảm có vị trí đặc biệt, gắn nhận thức với hoạt động của trẻ. Ở lứa tuổi này, các em dễ xúc cảm trước hiện thực và rất dễ hình thành những tình cảm tốt đẹp. HSTH bị ảnh hưởng nhiều bởi tình cảm; dễ xúc động mạnh và đã có ấn tượng khá sâu sắc và bền vững. Luận văn: Quản lý giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

Những tình cảm cao cấp đang dần được hình thành. Trong đó, tình cảm gia đình giữ vai trò khá quan trọng trong đời sống của trẻ. Nhiều trường hợp, chính lòng yêu thương của cha mẹ đã trở thành động cơ học tập của trẻ TH.

Ở lứa tuổi này, những xúc cảm thường gắn với những tình huống cụ thể mà trẻ được trực tiếp trải nghiệm, tham gia trong các tình huống đó.

Tình cảm của trẻ TH dễ thay đổi, chưa sâu sắc, mong manh và không bền vững.

Ý chí: Ở giai đoạn HSTH, các phẩm chất của ý chí dần được hình thành và phát triển. HSTH có thể rèn luyện để có tính kế hoạch, tính kiên trì, tính độc lập, tính mục đích, quyết đoán,…Tuy nhiên những phẩm chất này chưa ổn định để trở thành những nét tính cách vững chắc. Năng lực tự chủ còn yếu, tính tự phát còn nhiều nên khó giữ trật tự, kỷ luật.

Tính cách: Tính cách của HSTH đang hình thành và có nhiều biến đổi. Các em hồn nhiên, trong sáng, có nhiều nét tính cách tốt như lòng vị tha, yêu thương con người,… Các em hay bắt chước và thích bắt chước hành vi, cử chỉ của người lớn.

1.3.2. Tầm quan trọng của giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh tiểu học Luận văn: Quản lý giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

Tự phục vụ bản thân là một trong những kỹ năng quan trọng thúc đẩy trẻ hoàn thiện mình một cách tốt nhất. Đây còn là cơ hội vàng giúp trẻ nhanh chóng khôn lớn và trưởng thành trong cuộc sống. Đây được xem là một trong những kỹ năng sống rất cần thiết mà bố mẹ và nhà trường nên dạy và GD con trẻ ngay từ khi còn nhỏ.

Kỹ năng tự phục vụ bản thân bao gồm cả thể chất và tinh thần, từ những việc làm đơn giản đến phức tạp, để hình thành những thói quen và lối sống tốt đẹp cho trẻ.

Tự phục vụ là một trong những kĩ năng quan trọng trong nhóm kĩ năng làm chủ bản thân. Từ đó, góp phần nâng cao hiệu quả học tập, làm việc của bản thân, của nhóm. Trẻ ở lứa tuổi TH rất thích tự làm những công việc vừa sức của mình để phục vụ cho bản thân.

1.3.3. Mục tiêu giáo dục ý thức tự phục phụ cho học sinh tiểu học

Mục tiêu của GD ý thức tự phục vụ nhằm hình thành ở các em sự yêu thích và hứng thú trong học tập, lao động, giúp các em có được các ý thức tự phục vụ giản đơn phù hợp lứa tuổi trong sinh hoạt, học tập hàng ngày của các em ở trường trường cũng như ở nhà.

Mục tiêu quan trọng nhất của GD các em tự phục vụ làm sao để HS trở thành người độc lập, tự chủ trong cuộc sống và trong mọi tình huống.

1.3.4. Nội dung giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh tiểu học

Nội dung GD tự phục vụ cho HSTH phong phú và đa dạng. Ở mỗi nhóm tuổi thì nội dung có các mức độ thực hiện và yêu cầu khác nhau. Do hành động được lặp đi lặp lại hàng ngày, các ý thức tự phục vụ được trẻ lĩnh hội vững chắc, tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ tự thực hiện mà không cần sự giúp đỡ của người lớn.

Nội dung ý thức tự phục vụ cần GD kỹ năng tự phục vụ cho HSTH gồm những kiến thức, thái độ, hành vi về ý thức tự phục vụ cốt lõi cần hình thành, phát triển cho trẻ, nội dung bao gồm:

Hệ thống các ý thức tự phục vụ như ý thức rửa mặt, rửa tay, mặc quần áo, uống nước, đọc sách, tập trung lớp, đeo khăn quàng đỏ… Luận văn: Quản lý giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

Hệ thống những quy tắc, thao tác, hành vi cần thực hiện để GD ý thức tự phục vụ cho trẻ như các xếp hàng, các bước thắt tháo khăn quàng đỏ, các bước xếp sách vở theo trình tự nhất định.

GD cho các em thái độ tích cực, kiên định, trong quá trình tập luyện, rèn luyện thói quen, hành vi, GD tính kỉ luật tự giác trong rèn luyện ý thức lao động tự phục vụ cho trẻ.

GD ý thức tự phục vụ thông qua các công việc cụ thể, từ đó hình thành các ý thức, kỹ xảo cho trẻ. Bên cạnh việc củng cố những ý thức đã có cần hình thành các ý thức phức tạp hơn.

1.3.5. Phương pháp giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh tiểu học

  • Nhóm phương pháp thực hành trải nghiệm

Phương pháp thực hành thao tác với đồ vật và đồ chơi: các em sử dụng và phối hợp các giác quan, làm theo sự chỉ dẫn của giáo viên, hành động đối với các đồ vật đồ chơi để phát triển giác quan và rèn luyện thao tác tư duy.

Phương pháp dùng trò chơi: Sử dụng các loại trò chơi với yếu tố chơi phù hợp để kích thích các em hứng thú hoạt động tích cực giải quyết nhiệm vụ GD đặt ra.

Phương pháp nêu tình huống có vấn đề: Đưa ra các tình huống cụ thể nhằm kích thích các em tìm tòi, suy nghĩ dựa trên vốn kinh nghiệm, để giải quyết vấn đề đặt ra.

Phương pháp luyện tập: Các em thực hành lặp đi lặp lại các động tác, lời nói, cử chỉ, điệu bộ theo yêu cầu của giáo viên nhằm củng cố kiến thức và kĩ năng đã thu nhận.

  • Nhóm phương pháp trực quan – minh họa (quan sát, làm mẫu, minh họa)

Phương pháp này cho các em quan sát, tiếp xúc, giao tiếp với các đối tượng, phương tiện (vật thật, đồ chơi, tranh ảnh); hành động mẫu; hình ảnh tự nhiên, và phương tiện nghe nhìn (phim vô tuyến, điện thoại, vi tính) thông qua sử dụng các giác quan kết hợp với lời nói nhằm tăng cường vốn hiểu biết, phát triển tư duy và ngôn ngữ của các em.

  • Nhóm phương pháp dùng lời nói Luận văn: Quản lý giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

Sử dụng các phương tiện ngôn ngữ (đàm thoại, trò chuyện, kể chuyện, giải thích) nhằm truyền đạt và giúp các em thu nhận thông tin, kích thích các em suy nghĩ, chia sẻ ý tưởng, bộc lộ những cảm xúc, gợi nhớ những hình ảnh và sự kiện bằng lời nói. Lời nói, câu hỏi của giáo viên cần ngắn gọn, cụ thể, gần với kinh nghiệm sống của các em.

  • Nhóm phương pháp GD bằng tình cảm và khích lệ

Phương pháp dùng cử chỉ điệu bộ kết hợp với lời nói thích hợp để khuyến khích và ủng hộ các em hoạt động nhằm khơi gợi niềm vui, tạo niềm tin, cổ vũ sự cố gắng của trẻ trong quá trình GD kĩ năng tự phục vụ.

  • Nhóm phương pháp nêu gương – đánh giá

Nêu gương: Sử dụng các hình thức khen, chê phù hợp, đúng lúc, đúng chỗ. Biểu dương các em là chính, nhưng không lạm dụng.

Đánh giá: Thể hiện thái độ đồng tình hoặc chưa đồng tình của cô giáo trước việc làm, hành vi, cử chỉ của các em. Từ đó giáo viên đưa ra nhận xét, trong từng tình huống hoặc hoàn cảnh cụ thể, không sử dụng các hình phạt làm ảnh hưởng đến sự phát triển tâm – sinh lý của các em.

1.3.6. Hình thức giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh tiểu học

Ý thức của các em được nhà trường GD phối hợp trong các hoạt động học – vui chơi, mọi lúc mọi nơi và hình thành qua hành vi bắt chước với người lớn, vai trò của giáo viên và phụ huynh rất quan trọng, cần có sự thống nhất giữa lý thuyết và hành động ở mọi lúc mọi nơi. Các hoạt động trong sinh hoạt hàng ngày của các em như học tập, trẻ như ăn, ngủ, vệ sinh cá nhân, tham gia các sinh hoạt tập thể là các hoạt động nhằm GD ý thức tự phục vụ trong sinh hoạt hằng ngày, có nề nếp, hình thành thói quen tốt trong sinh hoạt, lòng yêu lao động, tự phục vụ bản thân và sẵn sàng phục vụ tập thể. GD ý thức tự phục vụ cho HS có thể tiến hành trong tất cả các hoạt động GD hàng ngày vui chơi, học tập, chăm sóc sức khỏe, lễ hội, tham quan… Mỗi hoạt động có ưu thế riêng đối với từng ý thức cụ thể, cần thiết với cuộc sống của các em.

Theo mục đích và nội dung GD, có các hình thức GD như tổ chức các hoạt động trong sinh hoạt hàng ngày; tổ chức hoạt động có chủ định của giáo viên và theo ý thích của học sinh; tổ chức ngày lễ, hội…

Theo vị trí không gian, có các hình thức GD như Tổ chức hoạt động trong phòng lớp; tổ chức hoạt động ngoài trời…

Theo số lượng người học, có các hình thức GD như tổ chức hoạt động cả lớp; tổ chức hoạt động theo nhóm; tổ chức hoạt động cá nhân.

1.4. Quản lý hoạt động giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh trường tiểu học Luận văn: Quản lý giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

1.4.1. Xây dựng kế hoạch giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh trường tiểu học

Xây dựng kế hoạch là một phần quan trọng trong toàn bộ hệ thống kế hoạch quản lý trường học. Như vậy khi lập kế hoạch người cán bộ quản lý cần phải chú ý:

Đảm bảo tính thống nhất giữa mục tiêu GD ý thức tự phục vụ với mục tiêu GD chung trong nhà trường.

Trong kế hoạch phải chọn nội dung, hình thức hoạt động đa dạng, thiết thực, phù hợp với hoạt động tâm sinh lý học sinh để có hiệu quả GD cao.

Kế hoạch GD ý thức tự phục vụ qua các môn học, hoạt động sinh hoạt tập thể, hoạt động ngoại khóa, trải nghiệm theo chủ điểm.

Để có tính hiệu quả cao, kế hoạch phải cụ thể đến từng tuần, tháng, học kỳ và cả năm học. Các kế hoạch phải đảm bảo tính vừa phải, tính bao quát, tính cụ thể, tính khả thi.

1.4.2. Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh trường tiểu học

Tổ chức thực hiện GD ý thức tự phục vụ chính là giai đoạn hiện thực hóa những ý tưởng đã được nêu trong kế hoạch để đưa nhà trường từng bước đi lên. Các công việc cơ bản gồm:

Thành lập ban chỉ đạo, phân công trách nhiệm cụ thể cho từng thành viên trong ban chỉ đạo.

Phân công nhiệm vụ cho từng bộ phận, từng thành viên; phổ biến cho từng thành viên trong ban chỉ đạo biết được nội dung và các hoạt động tổ chức hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho HS trường TH bán trú.

Xây dựng và ban hành các quy chế, nội quy, quy định khi thực hiện kế hoạch liên quan đến công tác GD ý thức tự phục vụ cho HS. Luận văn: Quản lý giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

Phân bổ kinh phí và các điều kiện vật chất cho việc thực hiện kế hoạch.

Tổ chức tốt các hoạt động có nội dung, mục tiêu cụ thể, phối hợp với các lực lượng GD khác trong việc GD ý thức tự phục vụ cho học sinh.

Quy định thời gian hoàn thành, thời gian kiểm tra và các tiêu chí đánh giá việc thực hiện các nội dung kế hoạch đưa ra.

Có nhiều hình thức tổ chức thực hiện GD ý thức tự phục vụ như:

Tổ chức hoạt động trong phòng lớp: Hầu hết các hoạt động hàng ngày của các em đều diễn ra trong lớp học. Một ngày đến trường của các em chiếm đến 80% hoạt động trong phòng lớp.

Tổ chức hoạt động ngoài trời: Giáo viên tổ chức cho các em tham gia các hoạt động ngoài giờ lên lớp, các hoạt động trải nghiệm nhằm rèn luyện cho các em ý thức trong cuộc sống mà đặc biệt là KN tự phục vụ cho HS.

1.4.3. Chỉ đạo thực hiện giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh trường tiểu học

Chỉ đạo thực hiện kế hoạch trong trường TH là một hoạt động thường xuyên, liên tục và được tiến hành trong suốt cả năm học. Người cán bộ quản lý phải chỉ đạo trên tất cả các hoạt động của nhà trường trong đó có GD ý thức tự phục vụ.

Trong nhà trường TH, nhà trường cần quản lý chỉ đạo phối hợp tốt các lực lượng sau: Chỉ đạo GVCN, GV bộ môn trong việc tích hợp GD ý thức tự phục vụ vào môn học. Từ kiến thức lý thuyết của bài giảng đến thực tế cuộc sống là quãng đường khá xa, một giờ học trên lớp chỉ có 35- 40 phút, vì vậy để tích hợp được nội dung GD môi trường, GD năng lượng tiết kiệm, GD ý thức tự phục vụ vào bài giảng, đòi hỏi người giáo viên phải linh hoạt khéo léo điều khiển giờ dạy, thầy trò cùng tích cực làm việc để có thể truyền tải và lĩnh hội đầy đủ nội dung kiến thức của bài học một cách nhẹ nhàng, vừa thông qua kiến thức của bài học để học sinh nhận thức được giá trị của cuộc sống, hình thành giá trị của bản thân, biết hình thanh cho mình những ý thức cần thiết để phục vụ cho bản thân, cho gia đình.

Như vậy, việc GD ý thức tự phục vụ thông qua hoạt động ngoại khóa, tiết SHTT sẽ giúp hoàn thiện các ý thức cho các em học sinh, tạo cho các em tự tin hơn khi bước vào ngưỡng cửa của cuộc sống, cùng với hành trang tri thức các em vững bước vào tương lai.

Chỉ đạo tổ chức Đội TNTP Hồ Chí Minh tổ chức các buổi sinh hoạt ngoại khóa thông qua các buổi tuyên truyền, các cuộc thi để GD các em biết được trách nhiệm với bản thân, gia đình, nhà trường và cả cộng đồng.

Chỉ đạo phối hợp các lực lượng GD khác để tạo nên sức mạnh tổng thể trong công tác GD ý thức sống cho học sinh nói chung và GD ý thức tự phục vụ cho các em nói riêng, nhà trường cần huy động tất cả các lực lượng GD trong và ngoài nhà trường tham gia vào quá trình GD như: Chính quyền địa phương, PHHS, cán bộ GV trong nhà trường,…

Trên thực tế, đại đa số giáo viên của trường chưa được đào tạo một cách căn bản về GD tự phục vụ, phương tiện, tài liệu dành cho hoạt động này còn thiếu nhiều. Vì thế, ngoài việc giao trách nhiệm cho GV, nhà trường cũng thường xuyên tổ chức các chuyên đề bồi dưỡng nâng cao ý thức và nghiệp vụ tổ chức hoạt động cho giáo viên, động viên khích lệ tinh thần và có chế độ thỏa đáng kịp thời, từ đó khơi dậy lòng nhiệt tình và ý thức trách nhiệm trong họ, có như vậy tính hiệu quả của hoạt động mới cao. Nhà trường ngoài việc quản lý tận dụng những CSVC hiện có để phát huy hiệu quả GD của hoạt động, cần phải tiết kiệm, cân đối nguồn ngân sách được giao hàng năm để mua sắm thêm CSVC, tài liệu cho hoạt động, đồng thời tranh thủ sự hỗ trợ của Ban đại diện cha mẹ học sinh (CMHS), của các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp đóng trên địa bàn, hỗ trợ cho hoạt động GDkỹ năng tự phục vụ.

1.4.4. Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh trường tiểu học Luận văn: Quản lý giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

Kiểm tra, đánh giá là khâu rất quan trọng trong quá trình quản lý. Thường xuyên kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch giúp người cán bộ quản lý xác định mức độ đạt được so với kế hoạch, phát hiện những sai lệch, xem xét những gì chưa đạt được hoặc ở mức độ thấp cùng những nguyên nhân của chúng và những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn để điều chỉnh cho kịp thời, phù hợp. Muốn kiểm tra, đánh giá chính xác việc thực hiện kế hoạch GD ý thức tự phục vụ, người cán bộ quản lý phải chú ý tới các nội dung sau:

  • Xác định được hình thức kiểm tra; Xây dựng được tiêu chí đánh giá

Tổng kết đánh giá, xếp loại từ đó khen, chê kịp thời và có những điều chỉnh hợp lý nhằm thực hiện tốt những mục tiêu đề ra. Việc kiểm tra, đánh giá hoạt động GD ý thức tự phục vụ góp phần đánh giá chất lượng GD chung trong nhà trường, qua kiểm tra đánh giá CBQL đánh giá mức độ thực hiện của đội ngũ giáo viên, mức độ hưởng ứng tham gia của học sinh, quá trình thực hiện trong nhà trường diễn ra có đảm bảo kế hoạch hay không, đó là cơ sở để CBQL nhà trường xây dựng chiến lược GD về mục tiêu, nội dung, đội ngũ, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động.

  • Kiểm tra đánh giá GD ý thức tự phục vụ cần phải:

Có công cụ đánh giá thích hợp nhằm đánh giá toàn diện, công bằng, trung thực, có khả năng phân loại, giúp GV và HS điều chỉnh kịp thời việc GD ý thức tự phục vụ cho HS.

Dựa vào cứ vào kế hoạch, nội dung GD ý thức tự phục vụ được xây dựng trong nhà trường;

Phối hợp giữa đánh giá thường xuyên, đánh giá định kì và đánh giá quá trình; giữa đánh giá của GV và tự đánh giá của HS, giữa đánh giá của nhà trường và đánh giá của gia đình, cộng đồng;

Kết hợp các hình thức đánh giá nhằm phát huy những ưu điểm và khắc phục hạn chế của mỗi hình thức.

1.4.5. Những điều kiện để hỗ trợ hoạt động giáo dục ý thức tự phục vụ

Xây dựng kế hoạch mua sắm, bổ sung trang thiết bị phục vụ các hoạt động của các em và có kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên theo kế hoạch năm học. Tạo điều kiện cho giáo viên trao đổi những kinh nghiệm về phương pháp tổ chức các hoạt động rèn ý thức tự phục vụ cho các em, trao đổi một số kinh nghiệm làm đồ dùng phục vụ hoạt động. Kinh nghiệm xử lý một số tình huống sư phạm trong quá trình GD các em, cách giao tiếp, trao đổi thông tin với phụ huynh.

Nhà trường chọn các lớp ở các khối lớp làm điểm về triển khai thực hiện chuyên đề dạy ý thức tự phục vụ: Môi trường hoạt động, cơ sở vật chất trang thiết bị, đồ dùng, nội dung phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động. Các lớp tích cực tổ chức các hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho các em, tăng cường cho các em tham gia các hoạt động tập thể, hoạt động giao lưu, chơi các trò chơi…. Luận văn: Quản lý giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

Xây dựng các nội dung tuyên truyền, làm tốt công tác tham mưu, phối hợp tốt với các bậc cha mẹ, các tổ chức đoàn thể xã hội trong việc huy động các nguồn lực để hỗ trợ đầu tư mua sắm trang thiết bị, cải tạo môi trường và tổ chức các hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho các em.

Tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng về nội dung, phương pháp tổ chức dạy ý thức tự phục vụ cho cán bộ quản lý, giáo viên; Tổ chức kiến tập dự giờ, tham quan, học tập, trao đổi kinh nghiệm.

Triển khai tài liệu hướng dẫn dạy ý thức tự phục vụ cho trẻ. Tổ chức các hội thi cho các em phát huy khả năng của mình.

Định kỳ tổ chức sơ kết, tổng kết tình hình thực hiện các chuyên đề GD cho các em ở các lớp theo đúng yêu cầu của nhà trường.

1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh tiểu học

1.5.1. Những yếu tố khách quan

  • Nhận thức, tâm lý của cha mẹ học sinh về giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh tiểu học

Nhận thức, tâm lý của cha mẹ học sinh có vai trò quan trọng đối với sự hình thành, phát triển nhân cách của trẻ. Gia đình là môi trường GD đầu tiên, tác động thường xuyên đến mỗi người; là yếu tố đặt nền móng cho sự hình thành phát triển nhân cách. Cha mẹ là người tiếp xúc đầu tiên và thường xuyên với con cái. Ảnh hưởng của gia đình đến sự hình thành, phát triển ý thức tự phục vụ thể hiện chủ yếu ở môi trường tâm lý – xã hội của gia đình, ở thái độ của các thành viên trong gia đình đối với những hành vi mà mỗi cá nhân thể hiện và ở chính hành vi của cha mẹ, của người lớn. Tuy nhiên, những tác động này vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực, tự phát, ngẫu nhiên mà nguyên nhân của nó là sự mâu thuẫn trong nội dung, phương pháp, nguyên tắc tác động của bố, mẹ, anh, chị, ông bà đến thành viên.

  • Điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục Luận văn: Quản lý giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

Cơ sở vật chất, thiết bị GD là hệ thống các phương tiện vật chất, đồ dùng vật dụng, dụng cụ, máy móc, đồ dùng dạy học và kĩ thuật khác nhau được sử dụng vào việc giảng dạy, học tập và các hoạt động mang tính GD khác để đạt được mục đích GD. Cơ sở vật chất, thiết bị GD bao gồm các công trình xây dựng (lớp học, phòng học bộ môn…), sân chơi, bãi tập, trang thiết bị chuyên dùng, thiết bị dạy học của các bộ môn, các phương tiện nghe nhìn.

Hiện nay cơ sở vật chất, thiết bị GD được xem như một trong những điều kiện quan trọng để thực hiện thành công nhiệm vụ giáo dục và đào tạo. Sự phát triển nhanh chóng của cơ sở vật chất và thiết bị dạy học đã và đang tạo ra tiềm năng sư phạm to lớn cho việc dạy học có hiệu quả. Thực tế, các phương tiện dạy học hiện đại đã đem lại chất lượng mới cho các phương pháp dạy học. Thiết bị, đồ dùng dạy học là một trong những phương tiện quan trọng giúp giáo viên nâng cao chất lượng giảng dạy và giúp học sinh nâng cao chất lượng học tập, có tác dụng lớn đối với việc thực hiện mục tiêu đào tạo của nhà trường.

Trước đây, trong điều kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, việc sử dụng TBDH trong quá trình giảng dạy của giáo viên còn rất nhiều hạn chế. Giáo viên chủ yếu là dạy chay hoặc sử dụng những thiết đồ dùng cũ, lạc hậu không phù hợp. Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng giờ dạy và việc tiếp thu kiến thức của học sinh.

Trong giai đoạn hiện nay, xu thế đổi mới phương pháp dạy học ngày càng diễn ra mạnh mẽ, cho nên CSVC – TBGD được xem như là một trong những điều kiện quan trọng để thực hiện nhiệm vụ giáo dục – đào tạo nhằm đáp ứng được những đòi hỏi trước mắt và lâu dài của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Trong những năm gần đây, với quan điểm chỉ đạo “giáo dục là quốc sách hàng đầu” , Nhà nước đã từng bước tăng ngân sách đầu tư cho giáo dục. Không những thế, Đảng và Nhà nước còn khuyến khích mạnh mẽ các thành phần kinh tế, các tổ chức đầu tư phát triển giáo dục ở tất cả các cấp học, bậc học.

  • Môi trường giáo dục: nhà trường – gia đình – xã hội

Tại Hội nghị cán bộ Đảng ngành giáo dục tháng 6/1957, Bác Hồ căn dặn “Phải nhất thiết liên hệ mật thiết với gia đình học sinh. Bởi vì giáo dục trong nhà trường, chỉ là một phần, còn cần có giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn. Giáo dục trong nhà trường dù tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn”. Như vậy, để thực hiện có hiệu quả công tác phối hợp giữa 3 môi trường nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục toàn diện học sinh. Luật Giáo dục năm 2011 tại Chương VI nêu rõ trách nhiệm của từng môi trường trong việc giáo dục học sinh như sau:

Điều 93 về trách nhiệm của nhà trường: “Nhà trường có trách nhiệm chủ động phối hợp giữa gia đình và xã hội để thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục”. Luận văn: Quản lý giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

Điều 94 về trách nhiệm của gia đình: “Mọi người trong gia đình có trách nhiệm xây dựng gia đình văn hóa, tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ của con em; người lớn tuổi có trách nhiệm giáo dục, làm gương cho con em, cùng nhà trường nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục”.

Điều 97 về trách nhiệm của xã hội: “Giúp nhà trường tổ chức các hoạt động giáo dục và nghiên cứu khoa học; tạo điều kiện cho nhà giáo và người học tham gia, thực tập, nghiên cứu khoa học. Góp phần xây dựng phong trào học tâp và môi trường giáo dục lành mạnh, an toàn, ngăn chặn những hoạt động có ảnh hưởng xấu đến thanh niên, thiếu niên và nhi đồng. Tạo điều kiện để người học được vui chơi, hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao lành mạnh. Hỗ trợ về tài lực, vật lực cho sự nghiệp phát triển giáo dục theo khả năng của mình”.

1.5.2. Những yếu tố chủ quan

Nhận thức của GV, PHHS về giáo dục ý thức tự phục vụ cho HSTH Giáo dục ngày càng có vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng thế hệ người Việt Nam mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm và chú trọng đến giáo dục. Trong hệ thống giáo dục quốc dân, bậc tiểu học là bậc nền tảng, nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng là bước đầu hình thành nhân cách con người cũng là bậc học nền tảng nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản. Bên cạnh việc giáo dục của cha mẹ học sinh thì giáo dục của nhà trường có ý nghĩa rất quan trọng. Để đạt được mục tiêu trên đòi hỏi người dạy học phải có kiến thức sâu và sự hiểu biết nhất định. Vì vậy, GV, PHHS cần đề cao việc GD tự ý thức cho trẻ là một việc quan trọng và cần rèn luyện hàng ngày. Đó là cơ sở của việc hình thành những nguyên tắc, chuẩn mực hành vi của học sinh Tiểu học. Ngoài việc giảng dạy các môn văn hóa, học tập các kiến thức về khoa học, học sinh còn phải rèn luyện, tu dưỡng về đạo đức, kỹ năng sống, kỹ năng hòa nhập với cộng đồng, … trong đó việc rèn luyện kỹ năng tự phục vụ là vấn đề cần được quan tâm, giúp các em có ý thức trong từng việc làm, từng hành động, giúp các em sống có lý tưởng, có ước mơ và hoài bão, nhận thức được những cái hay, cái đẹp, cái tốt trong cuộc sống. Vì vậy, nhận thức của GV, PHHS cũng ảnh hưởng đến giáo dục ý thức tự phục vụ cho HSTH.

  • Năng lực quản lý sự thay đổi của đội ngũ CBQL về GD ý thức tự phục vụ cho HSTH

Trong bối cảnh kinh tế – xã hội trong nước và quốc tế có nhiều biến động, GD Việt Nam đang đối diện với nhiều cơ hội và thách thức. Toàn cầu hoá, nền kinh tế tri thức và cách mạng khoa học công nghệ có những tác động lớn làm thay đổi vai trò của người hiệu trưởng nhà trường. Người hiệu trưởng cần phải chuyển đổi từ nhà quản lý thụ động sang một nhà lãnh đạo và quản lý năng động, thích ứng với mọi sự thay đổi và đòi hỏi ngày càng cao của xã hội. Điều này đòi hỏi người hiệu trưởng nhà trường cần hiểu rõ kiến thức và có kỹ năng thành thạo quản lý sự thay đổi. Đối với đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, ngoài việc phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chí như đối giáo viên, ngoài ra cần đáp ứng thêm các yêu cầu sau:

Thứ nhất, phải có trình độ, năng lực chuyên môn tốt. Đa số cán bộ quản lý giáo dục đều trưởng thành từ giáo viên cốt cán, được khẳng định về chuyên môn. Song, phải không ngừng học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng quản lý nhà trường.

Thứ hai, có năng lực lãnh đạo, khả năng quy tụ nhân viên. Muốn vậy, phải có hiểu biết về lý luận chính trị, khoa học quản lý (quản lý hành chính, quản lý tài chính), và năng lực quản trị, điều hành; có năng lực tham mưu, biết xây dựng kế hoạch và triển khai tổ chức thực hiện hoàn thành kế hoạch đề ra; Luận văn: Quản lý giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

Thứ ba, phải có phẩm chất đạo đức, gương mẫu, tiên phong; có tinh thần trách nhiệm cao trước công việc, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm.

Nói tóm lại, năng lực quản lý của đội ngũ CBQL cũng ảnh hưởng đến về GD ý thức tự phục vụ cho HSTH.

  • Ý thức của mỗi cá nhân học sinh TH

Học sinh tiểu học là một thực thể hồn nhiên, ngây thơ và trong sáng. Ở mỗi trẻ em tiềm tàng khả năng phát triển về trí tuệ, lao động, rèn luyện và hoạt động xã hội để đạt một trình độ nhất định về lao động nghề nghiệp, về quan hệ giao lưu và chăm lo cuộc sống cá nhân, gia đình.

Trẻ em ở lứa tuổi tiểu học là thực thể đang hình thành và phát triển cả về mặt sinh lý, tâm lý, xã hội các em đang từng bước gia nhập vào xã hội thế giới của mọi mối quan hệ. Do đó, học sinh tiểu học chưa đủ ý thức, chưa đủ phẩm chất và năng lực như một công dân trong xã hội, mà các em luôn cần sự bảo trợ, giúp đỡ của người lớn, của gia đình, nhà trường và xã hội.

Học sinh tiểu học dễ thích nghi và tiếp nhận cái mới và luôn hướng tới tương lai. Nhưng cũng thiếu sự tập trung cao độ, khả năng ghi nhớ và chú ý có chủ định chưa được phát triển mạnh, tính hiếu động, dễ xúc động còn bộc lộ rõ nét. Trẻ nhớ rất nhanh và quên cũng nhanh. Đối với học sinh tiểu học có trí nhớ trực quan – hình tượng phát triển chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ – logíc. Tư duy của trẻ em mới đến trường là tư duy cụ thể, dựa vào những đặc điểm trực quan của đối tượng và hiện tượng cụ thể.

Trong quá trình dạy học và giáo dục, giáo viên cần nắm chắc đặc điểm này. Vì vậy, trong dạy học lớp ghép, giáo viên cần đảm bảo tính trực quan thể hiện qua dùng người thực, việc thực, qua dạy học hợp tác hành động để phát triển tư duy cho học sinh. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh phát triển khả năng phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa, khả năng phán đoán và suy luận qua hoạt động với thầy, với bạn.

Ý thức của HSTH có cơ sở từ hiểu biết, nhận thức của mỗi người. Nhận thức đúng về cuộc sống là cơ sở để có hành vi đúng trước tình huống gặp phải. Nhận thức về cuộc sống là tri thức của mỗi người về bản thân, xã hội, về thế giới… Trình độ nhận thức được hình thành bằng nhiều con đường khác nhau như GD nhà trường, tham gia các hoạt động xã hội, giao tiếp, tự học, GD, quá trình cá nhân trải nghiệm cuộc sống…

Quá trình tự ý thức của mỗi cá nhân là yếu tố có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành phát triển nhân cách nói chung cũng như ý thức tự phục vụ của trẻ nói riêng. Tự ý thức của mỗi người là cơ sở để có những ý thức tự phục vụ khác. Đồng thời, đây sẽ là yếu tố để kiểm soát, điều khiển, điều chỉnh mỗi người trước khi thể hiện hành vi nào đó. Vì vậy, nếu cá nhân tự ý thức cao sẽ có những ý thức tự phục vụ tốt, có những hành vi, cách ứng xử phù hợp với những tình huống gặp phải trong cuộc sống. Ngược lại, nếu tự ý thức kém, cá nhân không thể kiểm soát, đánh giá được hành vi, cách ứng phó của mình sẽ dễ nảy sinh những hành vi tiêu cực, không phù hợp trước những tình huống gặp phải trong cuộc sống.

Tiểu kết chương 1 Luận văn: Quản lý giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

Ở chương 1 luận văn đã làm rõ cơ sở lý luận về quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho HS trường TH. Qua đó thấy rằng, ý thức tự phục vụ là một ý thức cơ bản, cần thiết của mỗi con người, nó tạo điều kiện góp phần hoàn thiện nhân cách, tạo nên những con người năng động, tự tin mạnh dạn, chủ động trong cuộc sống. HSTH đã có khả năng thực hiện đúng, nhanh và chính xác các công việc tự phục vụ đơn giản phù hợp với bản thân. Do vậy việc GD kỹ năng tự phục vụ cho các em là nhiệm vụ vô cùng quan trọng. Trên cơ sở hệ thống các công trình nghiên cứu ở nước ngoài và trong nước, luận văn xây dựng hệ thống các khái niệm liên quan và khái quát một số đặc điểm liên quan đến GD ý thức tự phục vụ cho HSTH.

GD ý thức tự phục vụ cho HS trường TH bán trú thông qua một số hoạt động sinh hoạt hằng ngày của các em như: Hoạt động trên lớp học, hoạt động giờ ăn, giờ ngủ, hoạt động vui chơi, hoạt động ngoại khóa, tham gia các lễ hội,…Có 5 nhóm phương pháp giáo dục chủ yếu gồm: Nhóm phương pháp thực hành trải nghiệm; Nhóm phương pháp trực quan – minh họa (quan sát, làm mẫu, minh họa); Nhóm phương pháp dùng lời nói; Nhóm phương pháp GD bằng tình cảm và khích lệ; Nhóm phương pháp nêu gương – đánh giá. Với nhiều hình thức tổ chức theo mục đích, theo nội dung, theo vị trí không gian, theo số lượng người học giúp các em thể hiện hết khả năng, ý thức tự phục vụ của mình.

GD ý thức tự phục vụ cho HS chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Trong đó yếu tố khách quan gồm: Nhận thức, tâm lý của cha mẹ học sinh về GD ý thức tự phục vụ cho HSTH; Điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị GD; Môi trường GD: nhà trường – gia đình – xã hội. Yếu tố chủ quan gồm: Nhận thức của GV, PHHS về GD ý thức tự phục vụ cho HSTH; Năng lực quản lý sự thay đổi của đội ngũ CBQL về GD ý thức tự phục vụ cho HSTH; Ý thức của mỗi cá nhân học sinh TH.

Quản lý hoạt động ý thức tự phục vụ cho HS trường TH bán trú là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng. Cán bộ quản lý phải có tài, có tâm, có đạo đức và có tài mới có khả năng lãnh đạo đơn vị, góp phần hoàn thiện nhân cách cho học sinh, đặc biệt là lứa tuổi TH và giúp ích cho xã hội có những con người năng động, mạnh dạn, tự tin, có ý thức chủ động trong cuộc sống. Tất cả nội dung ở chương 1 là cơ sở để làm rõ thực trạng ở Chương 2. Luận văn: Quản lý giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537