Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT

Trong công tác giáo dục học sinh, giáo dục thẩm mỹ là một bộ phận không thể thiếu được của quá trình giáo dục toàn diện. Con người có trí tuệ thông minh, có sức khỏe cường tráng, nếu thiếu óc thẩm mỹ vẫn không được coi là con người toàn diện trong một xã hội hiện đại.

Thị xã Tân Uyên thuộc tỉnh Bình Dương là một trong những khu vực đang phát triển nhanh về mọi mặt, trong đó có giáo dục. Các nhà quản lý giáo dục luôn phát huy năng lực của mình sao cho chất lượng giáo dục ngày càng nâng cao, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội và địa phương. Tuy nhiên, một số trường tiểu học vẫn còn xem nhẹ công tác giáo dục thẩm mỹ cho học sinh, vẫn chưa có sự quan tâm đúng mức đối với hoạt động này dẫn đến kết quả là chất lượng giáo dục thẩm mỹ không cao. Do đó, để đáp ứng nhu cầu của giáo dục, đảm bảo công tác giáo dục thẩm mỹ được tổ chức thực hiện một cách nghiêm túc, có hiệu quả cần có sự đổi mới nhằm phát huy các nguồn lực của nhà trường và khắc phục những hạn chế còn tồn tại.

Kết quả nghiên cứu quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cho thấy Hiệu trưởng thực hiện đầy đủ và thường xuyên các chức năng quản lý trong công tác quản lý HĐ GDTM. Việc lên kế hoạch được tiến hành một cách khoa học, có xác định mục tiêu rõ ràng cho HĐ GDTM. Hiệu trưởng có sự phân công, qui định rõ ràng về nhiệm vụ, quyền hạn đối với phó hiệu trưởng, các tổ trưởng/ khối trưởng và GV. Bên cạnh đó thực hiện chỉ đạo thường xuyên và hiệu quả đối với từng HĐ và đối tượng, có sự kiểm tra và giám sát thường xuyên trong HĐ GDTM. Nhưng bên cạnh đó vẫn tồn tại những hạn chế nhất định. Một số GV vẫn chưa nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của GDTM đối với HS tiểu học; mục tiêu GDTM vẫn có một số ít GV không biết hoặc biết ít; việc phối hợp các nguồn lực trong HĐ GDTM tuy được quan tâm nhưng chưa thực hiện tốt như mong đợi; trong công tác lập kế hoạch, việc tìm hiểu nhu cầu GDTM rất quan trọng nhưng chưa được đánh giá cao; kinh phí, thời gian và trang thiết bị tài liệu, cơ sở vật chất còn thiếu, gây cản trở cho công tác QL HĐ GDTM.

Trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng và chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của công tác quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, luận văn đã đề xuất 5 biện pháp quản lý nhằm khắc phục những hạn chế, nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ, từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong các nhà trường. Các biện pháp đó là: Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên về mục tiêu của hoạt động giáo dục thẩm mỹ trong trường tiểu học; cải tiến công tác lập kế hoạch cho hoạt động giáo dục thẩm mỹ; bồi dưỡng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu giáo dục thẩm mỹ cho học sinh; tăng cường chỉ đạo sự phối hợp giữa các lực lượng trong hoạt động giáo dục thẩm mỹ; tăng cường kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục thẩm mỹ.

Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp được đánh giá khá cao, qua đó, tác giả nhận thấy rằng các biện pháp đã đề ra là có cơ sở khoa học, cơ sở pháp lý, phù hợp với thực trạng nghiên cứu, rất thiết thực và có tính khả thi cao. Mỗi biện pháp giải quyết một vấn đề, một mặt nội dung cụ thể trong công quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ. Người cán bộ quản lý sử dụng đồng bộ các biện pháp trên, phối hợp với việc khai thác tốt các nguồn lực sẽ giúp giải quyết các vấn đề được đặt ra trong việc phát triển chất lượng giáo dục thẩm mỹ. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Giáo dục của nước ta luôn được Đảng và Nhà nước chú trọng. Bậc tiểu học là bậc học đầu tiên trong chương trình giáo dục phổ thông, là nơi cung cấp những kiến thức đầu tiên cho các em học sinh. Nhận định được tầm quan trọng đó, trong điều 7 của Luật Giáo dục (2005) qui định như sau: “Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở”. Trong đó, giáo dục thẩm mỹ là một bộ phận không thể thiếu trong giáo dục, hướng tới hoàn thiện con người theo chân – thiện –mỹ, làm phong phú về mặt tình cảm thông qua việc hình thành các quan hệ thẫm mỹ đúng đắn với hiện thực và đặc biệt là tạo cho các em học sinh những năng lực thẩm mỹ biết thưởng thức, đánh giá và sáng tạo thẫm mỹ. (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2024)

Bên cạnh đó, mục tiêu giáo dục quy định rõ trong Điều 2 của Luật Giáo dục (2005): “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp…”. Trong đó giáo dục thẩm mỹ làm cho học sinh có sự ham thích cái đẹp và hiểu biết trong ứng xử, trong các mối quan hệ. Giáo dục thẩm mỹ phát triển tư duy hình tưởng, nâng cao ý thức thẩm mỹ giúp học sinh xây dựng tiêu chuẩn “cái đẹp” đúng đắn và còn giúp nâng cao hiệu quả của hoạt động trí óc, tạo hứng thú trong học tập (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2024).

Việc phát triển giáo dục theo hướng đổi mới và toàn diện là một nhiệm vụ hàng đầu trong sự nghiệp xây dựng và đổi mới đất nước trong giai đoạn hiện nay. Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 01 tháng 11 năm 2018 về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” và “Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện…”, nền giáo dục toàn diện trong đó bao gồm giáo dục thẩm mỹ cho học sinh. Chính vì vậy, giáo dục học sinh không chỉ giáo dục tri thức mà cần cả giáo dục thẫm mỹ (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018).

Thị xã Tân Uyên thuộc tỉnh Bình Dương là một trong những khu vực đang phát triển nhanh về mọi mặt, trong đó có giáo dục. Các nhà quản lý giáo dục luôn phát huy năng lực của mình sao cho chất lượng giáo dục ngày càng nâng cao, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội và địa phương. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

Trong công tác giáo dục học sinh, nhà trường rất coi trọng nội dung giáo dục thẩm mỹ coi đó là một bộ phận không thể thiếu được của quá trình giáo dục toàn diện. Con người có trí tuệ thông minh, có sức khỏe cường tráng, nếu thiếu óc thẩm mỹ vẫn không được coi là con người toàn diện trong một xã hội hiện đại.

Giáo dục thẩm mỹ trở nên hết sức quan trọng vì nó có tác động mạnh đến trí tuệ, đến tình cảm đạo đức, đến quá trình hình thành những nét đẹp trong hành vi, thói quen của học sinh, đến khả năng sáng tạo – một phẩm chất cực kỳ quý báu của con người hiện đại. Tuy nhiên, trong Hướng dẫn Thực hiện nhiệm vụ năm học 2023 – 2024 cấp tiểu học của Phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã Tân Uyên triển khai không có bất kỳ một nhiệm vụ cụ thể nào dành cho hoạt động giáo dục thẩm mỹ. Do đó, nhà trường đã phải linh hoạt trong việc lồng ghép hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh thông qua các môn học và các hoạt động giáo dục khác. Việc lập kế hoạch cho hoạt động giáo dục thẩm mỹ cũng đã phải xây dựng sao cho phù hợp với kế hoạch chung của nhà trường.

Từ những lý do trên, việc lựa chọn nghiên cứu “Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương” là vấn đề cấp thiết.

2. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh tiểu học và khảo sát thực trạng về quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, luận văn đề xuất các biện pháp quản lý nhằm góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục cho học sinh ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

3. Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu

  • Hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh ở các trường tiểu học

3.2. Đối tượng nghiên cứu Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

  • Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

4. Giả thuyết nghiên cứu

Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh tiểu học là một phần quan trọng trong công tác quản lý trường tiểu học. Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh tiểu học ở thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã được thực hiện theo các chức năng quản lý nhưng hiệu quả thực hiện trong từng chức năng chưa cao. Nếu xây dựng được hệ thống lý luận về quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh tiểu học và đánh giá đúng thực trạng quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương thì sẽ đề xuất được các biện pháp quản lý có tính cấp thiết và khả thi.

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh tiểu học.
  • Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
  • Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

6. Phạm vi nghiên cứu

  • Về nội dung nghiên cứu: nghiên cứu công tác quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương thông qua hoạt động dạy trên lớp và hoạt động ngoài giờ lên lớp với tiếp cận theo bốn chức năng quản lý.
  • Về khách thể khảo sát: khảo sát hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, giáo viên và học sinh ở 6 trường tiểu học trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
  • Về thời gian: các số liệu thống kê phục vụ cho khảo sát được thu thập trong hai năm: 2022 – 2023, 2023 – 2024.

7. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Sử dụng các PP phân tích, so sánh, tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa các kết quả nghiên cứu, tài liệu trong và ngoài nước liên quan đến hoạt động giáo dục thẩm mỹ, lý luận về quản lý, lý luận về quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ để xây dựng khung lý luận về quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh tiểu học.

7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

  • PP nghiên cứu sản phẩm hoạt động: nghiên cứu các quy chế/quy định/tài liệu/các văn bản liên quan đến hoạt động giáo dục thẩm mỹ và quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ.
  • PP điều tra bằng bảng hỏi: để tìm hiểu thực trạng quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương chúng tôi sử dụng 3 bảng hỏi, trong đó Bảng hỏi 1 dành cho 200 giáo viên, Bảng hỏi dành cho hiệu trưởng, phó hiệu trưởng và giáo viên để khảo nghiệm tính cần thiết, khả thi của các biện pháp đề xuất.
  • PP phỏng vấn sâu: sử dụng bảng hỏi 3 để phỏng vấn hiệu trưởng, phó hiệu trưởng về quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ ở các trường tiểu học.

7.3. Phương pháp xử lý dữ liệu

  • Sử dụng phần mềm SPSS 20 xử lí các số liệu, kết quả nghiên cứu thu thập được trong quá trình nghiên cứu.

8. Ý nghĩa của đề tài

Về lý luận: Đề tài góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận về công tác quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh tiểu học.

Về thực tiễn: Nhận xét, đánh giá đúng thực trạng quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Từ đó, đề xuất các biện pháp mang tính cần thiết và khả thi cho công tác quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

9. Cấu trúc của luận văn Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn dự gồm có 03 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh tiểu học
  • Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
  • Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO HỌC SINH TIỂU HỌC

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài

Hoạt động (HĐ) giáo dục thẩm mỹ (GDTM) là một trong các HĐ giáo dục quan trọng. Vì thế, trên thế giới, nhiều tác giả nghiên cứu một cách có hệ thống về lịch sử phát triển cũng như những vấn đề liên quan khác đối với GDTM.

GDTM chính là giáo dục cái đẹp cho con người. Nhà triết học cổ điển Đức E. Kant (1724 – 1804), ông đánh giá cái đẹp là mang lại những khoái cảm và thỏa mãn cho những đòi hỏi tinh thần và tính chất chủ quan của con người.

Cùng thời với Kant, cũng là một nhà triết học nổi tiếng người Đức tên là Hegel (1770 – 1831). Ông nghiên cứu về GDTM và vai trò của GDTM trong việc hình thành lối sống con người. Ông đã đưa ra quan điểm “cái đẹp trong nghệ thuật cao hơn cái đẹp trong tự nhiên”. Lần đầu tiên trong lịch sử phát triển của mỹ học, Hegel đã coi nghệ thuật là sản phẩm của quá trình vận động của tinh thần tuyệt đối và đến lượt mình, nghệ thuật trở thành chiếc chìa khóa mở ra các vấn đề lớn lao của con người.

Ở Liên Xô trước đây, lý luận mỹ học đã trở thành vũ khí đấu tranh chính trị, nhiều nhà mỹ học đều đứng trên lập trường duy vật để giải quyết các vấn đề thẩm mỹ, tiêu biểu như: Bielinxki, Tsécnưsépxki, M.Ốpxiannhicốp. Bielinxki (1811- 1848) đã đứng trên lập trường duy vật để giải thích các vấn đề của nghệ thuật nên với ông nghệ thuật là “sự tái hiện của cuộc sống”. Từ đó ông đồng tình với quan điểm của các nhà nghệ thuật theo khuynh hướng hiện thực, đề cao tính tư tưởng và tính nhân dân sâu sắc. Đến Tsécnưsépxki (1828 – 1889), ông khẳng định dứt khoát “cái đẹp là cuộc sống”. Quan điểm này được ông bảo vệ và làm rõ trong nhiều sáng tác sau đó. Ông cho rằng “Nghệ thuật là cuốn sách giáo khoa của cuộc sống” và lý luận, nghệ thuật phản ánh thực tại nên cái đẹp trong thực tại bao giờ cũng cao hơn cái đẹp trong nghệ thuật. Ông còn yêu cầu nghệ thuật chân chính cần vạch rõ cái ác, cái chuyên quyền bạo lực, đồng thời dẫn đường cho nhân dân con đường đi tới cuộc sống tốt đẹp hơn.

Tiếp theo các bậc tiền bối, trong cuốn “Mỹ học cơ bản và nâng cao” của M.Ốpxiannhicốp đã luận giải khá đầy đủ các nội hàm của đời sống thẩm mỹ. Các vấn đề mỹ học cơ bản đều được ông trình bày cụ thể, khoa học. Theo các ông, quan điểm thẩm mỹ là những nghiên cứu xoay quanh việc giải quyết những vấn đề liên quan tới cái đẹp và nghệ thuật. Dù chưa có một khái niệm riêng cho quan điểm thẩm mỹ, nhưng nhìn chung quan điểm thẩm mỹ đã được nhà mỹ học này tiếp cận như một nội dung quan trọng của khoa học mỹ học. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

Trong tác phẩm “Nghệ thuật và đời sống xã hội” của Plêkhanốp đã chỉ rõ sự phụ thuộc khăng khít giữa tính chất của sự cảm thụ thẩm mỹ của con người với tính chất của các điều kiện sinh hoạt, điều kiện sống của một xã hội nhất định. Ông đưa ra quan điểm: “Bản tính con người khiến họ có thể có những cảm giác và quan niệm thẩm mỹ. Những điều kiện sinh hoạt của họ cải biến những tiềm thế ấy thành hiện thực, chính là tùy theo các điều kiện ấy mà một con người xã hội nhất định (hoặc nói cho đúng hơn, một xã hội nào đó, một dân tộc nào đó, một giai cấp nào đó) có chính là những thị hiếu và quan niệm thẩm mỹ này, chứ không phải là những thị hiếu và quan niệm thẩm mỹ khác” (Plêkhnanốp, 1963, p. 134).

Trong các tư tưởng về mỹ học của Mác và Ăngghen đã đề cập sâu sắc đến vai trò của nghệ thuật đối với cuộc đấu tranh của nhân loại vì cái đúng, cái tốt, cái đẹp. Mác – Ăngghen đã đưa ra những quan điểm cơ bản nhất về văn hóa thẩm mỹ trong xã hội tương lai. Các ông đặc biệt nêu lên vai trò của các quan điểm thẩm mỹ trong việc hình thành con người mới, thế giới quan mới và cá tính con người.

1.1.2. Các nghiên cứu ở trong nước

Ở Việt Nam, quan điểm thẩm mỹ cũng được các nhà nghiên cứu mỹ học, văn học và nghệ thuật học đặc biệt quan tâm. Đầu tiên phải kể đến các công trình mỹ học của tác giả Đỗ Huy. Ngoài việc chủ biên và đồng chủ biên một số công trình, tác giả Đỗ Huy đã có nhiều ấn phẩm mỹ học có giá trị. Đó là: Mỹ học với tư cách là một khoa học, Nhà xuất bản (NXB) Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996; Mỹ học khoa học về các quan hệ thẩm mỹ, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001; Đạo đức học, mỹ học và đời sống văn học nghệ thuật, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002, v.v..

Tiêu biểu trong đó có các công trình viết chung của tác giả Đỗ Huy và Đỗ Văn Khang như cuốn sách “Mỹ học Mác – Lênin”, “Giáo trình Mỹ học cơ sở”; “Giáo trình Đại cương về những khuynh hướng cơ bản trong lịch sử mỹ học” của hai tác giả Đỗ Huy và Vũ Trọng Dung đồng chủ biên và các tác phẩm khác như “Giáo trình mỹ học đại cương” của tác giả Nguyễn Văn Huyên chủ biên; cuốn sách “Mỹ học đại cương” của Lê Ngọc Trà, Lâm Vinh, Huỳnh Như Phương. Trên cơ sở nghiên cứu các khuynh hướng mỹ học, các công trình này nhìn chung đã đề cập một cách đầy đủ về quan điểm thẩm mỹ của các nhà mỹ học, các trường phái trong lịch sử nghiên cứu mỹ học từ quan điểm thẩm mỹ duy vật chất phác, quan điểm thẩm mỹ duy tâm khách quan, duy tâm chủ quan, tới quan điểm thẩm mỹ biện chứng của C.Mác, Ph.Ăngghen. Có thể coi đây là cơ sở lý luận cơ bản cho tác giả tham khảo để hoàn thành luận văn của mình, nhưng để đưa ra một khái niệm về quan điểm thẩm mỹ thì chưa có một nhà nghiên cứu nào đề cập tới một cách rõ ràng. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

Ngoài các công trình nêu trên, một số nghiên cứu của các tác giả khác có đề cập đến quan điểm thẩm mỹ trong mối quan hệ với các yếu tố liên quan trong khoa học mỹ học như: ý kiến của tác giả Đào Duy Thanh cho rằng “cái đẹp bắt nguồn từ hiện thực, có cơ sở khách quan trong đời sống, nhưng đồng thời nó cũng dùng để đánh giá tất cả những hiện tượng thẩm mỹ tích cực có tính hoàn thiện, hoàn mỹ. Cái đẹp được hình thành khi con người biết đối chiếu, soi sánh với cái xấu. Từ những sự quan sát bình thường chỉ ra cái gì đẹp, cái gì xấu, đến chỗ có thể định nghĩa về cái đẹp quả là một quá trình lâu dài, khó khăn trong lịch sử mỹ học” (Đào Duy Thanh, 2009).

Một số nghiên cứu như: Vai trò của nghệ thuật trong giáo dục thẩm mỹ, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995 của tác giả Trần Túy; Vai trò của văn học trong giáo dục thẩm mỹ ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ, học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1996 của tác giả Lê Quang Vinh; Vai trò của truyền thông đại chúng trong giáo dục thẩm mỹ ở nước ta hiện nay, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001 của tác giả Trần Ngọc Tăng… đã tập trung đề cao vai trò của các yếu tố liên quan đến việc hình thành và hoàn thiện môi trường giáo dục thẩm mỹ. Các nghiên cứu kể trên đều khẳng định rằng GDTM là một nội dung trọng tâm trong sự nghiệp giáo dục nói chung ở nước ta hiện nay, và thành quả các HĐ GDTM có mối quan hệ mật thiết với các yếu tố vệ tinh như nghệ thuật, văn học, truyền thông đại chúng…Các tác giả đã đưa ra những đóng góp nhất định và đi sâu nghiên cứu nội dung lý luận của GDTM và quan hệ biện chứng giữa GDTM với các hình thức biểu hiện của đời sống thẩm mỹ.

Tiêu biểu có công trình nghiên cứu của GS Đỗ Xuân Hà (1990) và các cộng sự. Các tác giả đã đi sâu làm rõ vai trò của GDTM, mục đích, nhiệm vụ và phương hướng chính của GDTM cho học sinh (HS) phổ thông ở Việt Nam, làm rõ các phạm trù, khái niệm cơ bản của GDTM như: đối tượng của GDTM, lí tưởng thẩm mỹ, thị hiếu thẩm mỹ, văn hóa thẩm mỹ, GDTM. Trên cơ sở nghiên cứu lí luận khoa học và thực tiễn giáo dục, các tác giả đã phát biểu quan điểm toàn diện về GDTM trong nhà trường hiện nay (bản chất của GDTM, phương hướng tổ chức các HĐ GDTM…), đồng thời đã vạch ra những hạn chế trong quan niệm GDTM trước đây (quan niệm GDTM chỉ là giáo dục cái đẹp, là giảng dạy nghệ thuật…) (Đỗ Xuân Hà, 1990, 1992, 1993).

Một tác phẩm khác liên quan đến vấn đề GDTM là “Giáo dục thẩm mỹ trong gia đình” của tác giả Đỗ Văn Thản. Cuốn sách này đã giới thiệu ý kiến của các nhà giáo dục Liên Xô như N. C. Cờrupskaia, A. Macarencô, V. A. Xukhơlinski và nhiều nhà giáo dục khác về tác dụng của GDTM, đồng thời hướng dẫn cho các em cách học nhạc, học văn thơ, xem phim, xem kịch … theo từng môn và từng lứa tuổi. Cuốn sách đưa ra một thông điệp hết sức quan trọng về nhiệm vụ của chúng ta – các bậc cha mẹ và các nhà giáo dục – là không nên bỏ rơi, không nên bỏ mặc các em ngay từ tuổi ấu thơ, đồng thời cũng không được bỏ qua những cái mới, những cái sinh động mà chúng ta đã biết, để truyền lại cho các em những kinh nghiệm sống, sự say mê đối với nghệ thuật, sự tôn trọng đối với tất cả mọi cái gọi là tài năng và sáng tạo. GDTM là cơ sở vững chắc giúp phát triển nhân cách ở trẻ em (Đỗ Văn Thản, 1975).

Bên cạnh đó “Giáo dục cái đẹp trong gia đình” của tác giả Nguyễn Ánh Tuyết đã nêu những nét đặc trưng trong sự phát triển tâm lí của trẻ và gợi ý về nội dung giáo dục cái đẹp trong gia đình. Những hiểu biết bước đầu nền GDTM trong gia đình qua từng lứa tuổi từ lúc lọt lòng cho tới khi bước vào tuổi thành niên (Nguyễn Ánh Tuyết, 1984).

1.2. Các khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

1.2.1. Hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh tiểu học

  • Thẩm mỹ

Thẩm mỹ theo tiếng Hán: “thẩm”: xem xét, “mỹ”: đẹp. Do đó Thẩm mỹ là hiểu biết và thưởng thức cái đẹp (Hoàng Phê, 1994).

Cái đẹp giữ vị trí trung tâm trong đời sống thẩm mỹ, vì vậy nó là phạm trù của mỹ học. Phạm trù cái đẹp được hình thành và phát triển cùng với sự hình thành và phát triển của tình cảm và ý thức con người.

Sự phát triển của quan điểm mỹ học về “cái đẹp” trong lịch sử tư tưởng mỹ học đã đưa đến một khái niệm mang tính bao quát, trừu tượng về “cái đẹp”. Sự phát triển quan niệm về “cái đẹp” đồng thời cũng là quá trình đấu tranh tư tưởng của hai chủ nghĩa duy vật và duy tâm trong triết học. Trên cơ sở thế giới quan khác nhau, các nhà tư tưởng đã lý giải về “cái đẹp” và bản chất “cái đẹp” trên những lập trường khác nhau. “Trong tư tưởng mỹ học trước Mác, có ba quan niệm khác nhau về cái đẹp, ba nguyên tắc để giải quyết vấn đề “cái đẹp”: theo chủ nghĩa duy tâm chủ quan, chủ nghĩa duy tâm khách quan và theo chủ nghĩa duy vật trước Mác” (Vĩnh Quan Lê, 1999).

Những nhà duy tâm khách quan cho rằng nguồn gốc cái đẹp là ý niệm khách quan, ý niệm này truyền linh hồn cho vật chất bất động, cho thế giới thuộc phạm vi cảm tính và vô vị về mặt thẩm mỹ.

Chủ nghĩa duy vật trước Mác cho rằng “cái đẹp là một phẩm chất thẩm mỹ tự nhiên, vốn có trong các hiện tượng của hiện thực” (Lê Văn Dương, Lê Đình Lục và Lê Hồng Vân, 2020, p. 8).

Như vậy, có thể hiểu thẩm mỹ là phạm trù triết học nói về cái đẹp khách quan của tự nhiên, xã hội và con người.

  • Hoạt động giáo dục Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

Quá trình hình thành và phát triển nhân cách của con người thông qua dạy học và giáo dục (nghĩa hẹp). HĐ giáo dục ở đây được hiểu theo nghĩa hẹp – là một bộ phận của giáo dục theo nghĩa rộng. Khi thực hiện HĐ giáo dục, nhà giáo dục (giáo viên) phát huy vai trò chủ đạo, là người tổ chức, điều khiển quá trình hình thành và phát triển nhân cách cho người được GD (HS).

HĐ giáo dục mang tính toàn vẹn, vận động và phát triển liên tục, được thực hiện thông qua tất cả các HĐ trong nhà trường (HĐ dạy học trên lớp và các HĐ đa dạng, phong phú ngoài giờ lên lớp) và các HĐ bên ngoài nhà trường với các môi trường giáo dục thích hợp. Qua đó HS trải nghiệm được các kiến thức đạo đức, thẩm mỹ, lao động, thể chất,…hình thành tình cảm, động cơ, niềm tin đúng đắn, tăng trưởng vốn kinh nghiệm, vốn sống, hình thành hành vi và thói quen hành vi phù hợp…,chuẩn bị học lên bậc học cao hơn và tham gia các HĐ xã hội (Trần Thị Hương, 2019, p. 8).

Như vậy, HĐ giáo dục (theo nghĩa hẹp) là HĐ trong đó dưới tác động của nhà giáo dục, người được giáo dục tự giác, tích cực, chủ động tự giáo dục nhằm hình thành và phát triển những phẩm chất nhân cách phù hợp với yêu cầu của xã hội (Trần Thị Hương, 2019, p. 8).

  • Hoạt động giáo dục thẩm mỹ

Trong mỹ học macxit, khái niệm GDTM được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa hẹp là giáo dục có tính trường quy về cái đẹp, giáo dục cho con người biết thụ cảm, đánh giá và sáng tạo cái đẹp. Nghĩa rộng là sự giáo dục và tự giáo dục, phát huy mọi năng lực bản chất con người theo quy luật của cái đẹp. GDTM tồn tại khắp nơi trong cuộc sống. GDTM đồng nghĩa với sự hình thành thẩm mỹ (Phan Việt Hoa, Nguyễn Thị Hoàng Yên, 2005, p. 94).

Từ khái niệm HĐ giáo dục và GDTM, HĐ GDTM có thể hiểu là hoạt động trong đó dưới tác động của nhà giáo dục, người được giáo dục tự giác, tích cực, chủ động tự giáo dục nhằm hình thành và phát triển sự hiểu biết và cảm thụ cái đẹp, phát hiện và đánh giá đúng cái đẹp trong tự nhiên, trong cuộc sống, trong nghệ thuật, hình thành nhu cầu và năng lực sáng tạo cái đẹp trong cuộc sống và trong nghệ thuật.

  • 1.2.1.3. Hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh tiểu học

GDTM trong nhà trường phổ thông là một quá trình sư phạm nhằm hình thành và phát triển ở HS năng lực cảm thụ và nhận thức đúng đắn về cái đẹp trong tự nhiên, trong xã hội và trong nghệ thuật. Giáo dục cho HS tình yêu cái đẹp và năng lực sáng tạo ra cái đẹp (Phan Việt Hoa, Nguyễn Thị Hoàng Yên, 2005, p. 94).

GDTM cho HS là quá trình giáo dục nhằm bồi dưỡng cho HS sự hiểu biết, cảm thụ, phát hiện và đánh giá đúng cái đẹp trong tự nhiên, trong cuộc sống, trong nghệ thuật, hình thành ở HS nhu cầu và năng lực sáng tạo cái đẹp trong cuộc sống và trong nghệ thuật (Phan Việt Hoa, Nguyễn Thị Hoàng Yên, 2005, p. 94).

Như vậy, HĐ GDTM cho HS tiểu học có thể hiểu là là HĐ trong đó dưới tác động của nhà giáo dục, HS tiểu học tự giác, tích cực, chủ động tự giáo dục nhằm hình thành và phát triển ở HS tiểu học sự hiểu biết và cảm thụ cái đẹp, phát hiện và đánh giá đúng cái đẹp trong tự nhiên, trong cuộc sống, trong nghệ thuật, hình thành ở HS tiểu học nhu cầu và năng lực sáng tạo cái đẹp trong cuộc sống và trong nghệ thuật.

1.2.2. Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh tiểu học Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

  • Quản lý và quản lý giáo dục
  • Quản lý

Theo Từ điển tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ học phát hành, quản lý có nghĩa là: trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định; tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định (Hoàng Phê, 1994).

Theo thuyết quản lý khoa học của Taylor: “Quản lý là điều bạn muốn người khác làm, và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” (Bùi Minh Hiển, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo, 2006).

Theo Henry Fayol: “Quản lý nghĩa là dự kiến, tổ chức, lãnh đạo, phối hợp và kiểm tra” (Bùi Minh Hiển, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo, 2006).

Theo Trần Kiểm (2008) cho rằng: Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội; Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất; Quản lý một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể người– thành viên của hệ thống – nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt tới mục đích dự kiến (Trần Kiểm, 2008).

Như vậy có thể hiểu một cách khái quát: Quản lý là HĐ có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.

  • Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý giáo dục nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát,…một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội” (Trần Kiểm, 2004, p. 37). Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

Cũng theo tác giả Trần Kiểm (2004) “Quản lý giáo dục thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường” (Trần Kiểm, 2004, p. 38).

Như vậy, quản lý giáo dục có thể hiểu theo nghĩa sau: quản lý giáo dục là quá trình tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu giáo dục.

  • Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ

Từ định nghĩa về QLGD, có thể hiểu QL HĐGDTM cho HS là quá trình tác động có mục đích của chủ thể quản lý trường học đến HĐGDTM cho HS nhằm thực hiện mục tiêu HĐGDTM cho HS.

  • Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh tiểu học

Từ những khái niệm về quản lý, quản lý HĐ giáo dục, quản lý HĐ GDTM cho HS, có thể định nghĩa: Quản lý HĐ GDTM cho HS tiểu học là quá trình tác động có mục đích của chủ thể quản lý trường tiểu học đến HĐ GDTM cho HS tiểu học nhằm thực hiện mục tiêu HĐ GDTM cho HS tiểu học, đó là nhằm hình thành ở HS tiểu học những cơ sở ban đầu về sự hiểu biết, cảm thụ, phát hiện và đánh giá đúng cái đẹp trong tự nhiên, trong cuộc sống, trong nghệ thuật, hình thành ở học sinh tiểu học nhu cầu và năng lực sáng tạo cái đẹp trong cuộc sống và trong nghệ thuật.

1.3. Đặc điểm tâm sinh lý học sinh tiểu học Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

GDTM là vấn đề rất quan trọng và cần thiết trong việc hình thành nhân cách của HS tiểu học. Thông qua GDTM, HS hiểu được cái hay, cái đẹp của tác phẩm và cuộc sống, đồng thời có cách ứng xử tốt với người thân trong gia đình, với thầy cô, bạn bè và cộng đồng.

Bậc tiểu học là bậc nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân, là bậc học chủ yếu dành cho trẻ em trong độ tuổi từ 7 – 11 tuổi. Bậc tiểu học tạo ra những cơ sở ban đầu rất cơ bản và bền vững cho trẻ em tiếp tục học lên bậc học trên, hình thành những cơ sở ban đầu, đường nét ban đầu của nhân cách. những gì thuộc về tri thức, về kỹ năng, về hành vi và lòng nhân ái được hình thành và định hình ở học sinh tiểu học sẽ theo suốt cuộc đời mỗi em. Nếu ở tiểu học đặt nền móng vững chắc và đúng hướng thì các lớp sau chỉ là củng cố và phát triển các tố chất ở các em (Nguyễn Thị Bích Hạnh, Trần Thị Thu Mai, 2009).

Lứa tuổi học sinh tiểu học là lứa tuổi từ 7 đến 11 tuổi. Đây là lứa tuổi các em trở thành một học sinh ở trường phổ thông, chứ không còn là một em bé mẫu giáo “học mà chơi, chơi mà học” nữa. Đó là một chuyển biến rất quan trọng trong sự phát triển của trẻ em, một đặc trưng quan trọng của lứa tuổi này. Hoạt động học tập trở thành hoạt động chủ đạo của các em, nhưng còn mới đối với HS tiểu học. Nội dung học tập với nhiều tri thức phong phú, nhiều môn học có tính chất khác nhau (toán, làm văn, thủ công) đề ra những yêu cầu cao cho các em, buộc các em phải phấn đấu, nỗ lực vượt mọi khó khăn trở ngại. Các em chưa thể quen ngay với môi trường mới, với cách dạy và học mới. Năng lực chú ý và trí nhớ của HS tiểu học kém bền vững. Bên cạnh đó, các em lại rất hiếu động, ham chơi thích cái mới lạ, nhưng lại chóng chán. Đời sống xúc cảm, tình cảm của học sinh tiểu học khá phong phú, đa dạng và cơ bản là mang tính tích cực, trẻ em rất vui mừng vì tình bạn mới với bạn cùng lớp, tự hào vì được gia nhập Đội, hãnh diện vì được giáo viên, chỉ huy đội giao cho những công việc cụ thể, ở học sinh tiểu học tính tự kiềm chế và tính tự giác được tăng cường bộc lộ ở sự ổn định của những trạng thái cảm xúc. Tâm trạng sảng khoái, vui tươi thường bền vững, lâu dài là biểu hiện vốn có ở học sinh tiểu học, đó là những điều kiện thuận lợi để giáo dục những chuẩn mực cũng như hình thành những phẩm chất cần thiết (Nguyễn Thị Bích Hạnh, Trần Thị Thu Mai, 2009).

1.4. Lý luận về hoạt động giáo dục thẩm mỹ ở trường tiểu học

1.4.1. Mục tiêu của hoạt động giáo dục thẩm mỹ ở trường tiểu học

GDTM là một bộ phận của sự nghiệp giáo dục toàn diện. Mục tiêu phổ quát của HĐ GDTM là nhằm phát triển toàn diện các mặt đời sống xã hội và con người. Từ việc phát triển mỗi cá nhân mà phát triển đời sống tinh thần nói chung và thẩm mỹ nói riêng của toàn xã hội (Phan Việt Hoa, Nguyễn Thị Hoàng Yên, 2005, p. 104).

Trong nhà trường, HĐ GDTM được xem là một trong những bộ phận hợp thành nền tảng của trình độ văn hóa chung, hình thành con người mới với tính cách chủ thể xã hội tích cực, sáng tạo, hình thành nhân cách xã hội chủ nghĩa về thẩm mỹ. Mặt khác góp phần xây dựng con người hài hòa, toàn diện và ngày một hoàn thiện theo định hướng xã hội chủ nghĩa – nhân cách có tính văn hóa thẩm mỹ (Phan Việt Hoa, Nguyễn Thị Hoàng Yên, 2005, p. 104). Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

Bậc tiểu học là bậc nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân, là bậc học chủ yếu dành cho trẻ em trong độ tuổi từ 7 – 11 tuổi. Bậc tiểu học tạo ra những cơ sở ban đầu rất cơ bản và bền vững cho trẻ em tiếp tục học lên bậc học trên, hình thành những cơ sở ban đầu, đường nét ban đầu của nhân cách. những gì thuộc về tri thức, về kỹ năng, về hành vi và lòng nhân ái được hình thành và định hình ở HS tiểu học sẽ theo suốt cuộc đời mỗi em. Nếu ở tiểu học đặt nền móng vững chắc và đúng hướng thì các lớp sau chỉ là củng cố và phát triển các tố chất ở các em (Nguyễn Thị Bích Hạnh, Trần Thị Thu Mai, 2009).

GDTM là vấn đề rất quan trọng và cần thiết trong việc hình thành nhân cách của HS tiểu học. Thông qua GDTM, HS hiểu được cái hay, cái đẹp của tác phẩm và cuộc sống, đồng thời có cách ứng xử tốt với người thân trong gia đình, với thầy cô, bạn bè và cộng đồng.

  • GDTM góp phần thúc đẩy, nâng cao chất lượng các nội dung giáo dục ở HS tiểu học như:

Về giáo dục đạo đức, GDTM làm cho HS hiểu biết và ham thích cái đẹp trong hành vi ứng xử, cái đẹp trong các mối quan hệ với ba mẹ, thầy cô, bạn bè…có tác dụng điều chỉnh mạnh mẽ hành vi ứng xử của con người.

Về giáo dục trí tuệ, GDTM không chỉ làm phát triển tư duy hình tượng ở HS tiểu học mà còn có tác dụng nâng cao hiệu quả của hoạt động trí tuệ, thúc đẩy lao động trí óc. Khi tiếp xúc với những sự vật, hiện tượng đẹp trong quá trình học tập làm cho HS có xúc cảm thẩm mỹ và hứng thú trong học tập hơn. Nhận thức của HS tiểu học bằng các hình tượng nghệ thuật là con đường nhẹ nhàng in dấu ấn đậm nét, gây ấn tượng mạnh mẽ giúp cho nhận thức cảm tính thêm phong phú ở HS. GDTM giúp cho HS tiểu học phát triển cảm giác, tri giác và phát triển năng lực nhận thức qua việc đánh giá cái đẹp, cái tốt.

Về giáo dục thể chất, GDTM giúp cho HS tiểu học rèn luyện thân thể theo tiêu chuẩn của cái đẹp. GDTM hòa quyện trong giáo dục thể chất giúp HS học tốt hơn các môn : thể dục nghệ thuật, thể dục nhịp điệu, điền kinh nhẹ…

Về giáo dục lao động, GDTM giúp HS có nhu cầu trong lao động, học tập, thể hiện trong quá trình lao động rành mạch, theo một trật tự nhất định, có sự phối hợp một cách nhịp nhàng các thao tác lao động, sử dụng các yếu tố thẩm mỹ vào trong lao động như màu sắc, các yêu cầu về cái đẹp của sản phẩm làm ra (Hồ Văn Liên, 2018).

Nâng cao văn hóa thẩm mỹ, tri thức thẩm mỹ cũng là điều kiện tạo nên sự hài hòa giữa con người với con người, con người với xã hội, con người với thiên nhiên (Phan Việt Hoa, Nguyễn Thị Hoàng Yên, 2005, p. 105).

Chính vì thế, HĐ GDTM không chỉ giúp cho HS hình thành những tiêu chuẩn cơ bản về cái đẹp mà HĐ GDTM còn góp phần quan trọng trong việc hình thành nhân cách toàn diện cho các em HS.

1.4.2. Nội dung của hoạt động giáo dục thẩm mỹ ở trường tiểu học Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

Nội dung giáo dục là hệ thống những chuẩn mực xã hội cần giáo dục cho HS. Nội dung giáo dục chịu sự chi phối của mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục; nó tạo nên nội dung HĐ của nhà giáo dục và người được giáo dục (Trần Thị Hương, 2019).

Nội dung GDTM cho HS tiểu học là hệ thống những bộ phận của GDTM cho HS tiểu học, bao gồm:

  • Giáo dục ý thức thẩm mỹ

Giáo dục ý thức thẩm mỹ là quá trình hình thành cho HS tiểu học những tri thức thẩm mỹ cơ bản, cần thiết và từ đó bước đầu hình thành niềm tin thẩm mỹ tương ứng cho các em. Vai trò của thẩm mỹ trong cuộc sống con người là làm giàu có cho đời sống tinh thần của con người …Những tri thức về cái đẹp cái xấu, cái cao cả và cái thấp hèn, cái hài và cái bi liên quan đến: nghệ thuật, đời sống, thiên nhiên, lao động. Cần giáo dục các em HS tiểu học ý thức thẩm mỹ như sự cần thiết của việc xây dựng cuộc sống “theo quy luật của cái đẹp”; vai trò của thẩm mỹ trong cuộc sống, trong học tập; hình thành tri thức, quan niệm về cái đẹp, cái tốt, cái xấu..; tiếp xúc với cái đẹp và so sánh, phân tích cái đẹp rồi rút ra kết luận.

Trước hết là âm nhạc, đó là cái hay cái đẹp của giai điệu, lời ca; nghệ thuật tạo hình là cái đẹp của đường nét hình khối, màu sắc và bố cục…; đời sống – xã hội đó là quan hệ ứng xử với những người xung quanh, trang trí đồ vật, nơi ăn chốn ở, chỗ vui chơi…; thiên nhiên đó là cái đẹp đa dạng của âm thanh, màu sắc, sự đa dạng hài hòa của thiên nhiên cây cối, đồng nội, núi rừng cây cối…, lao động đó là cái đẹp của sản phẩm lâo động, việc tổ chức lao động hợp lí, quan hệ trong lao động và bằng lao động… (Đặng Vũ Hoạt – Nguyễn Hữu Hợp, 2016).

  • Giáo dục thái độ, tình cảm thẩm mỹ

Giáo dục thái độ, tình cảm thẩm mỹ là hình thành ở HS những thái độ, tình cảm thẩm mỹ đúng đắn đối với các hiện tượng thẩm mỹ cũng như phi thẩm mỹ. Cần giáo dục cho các em những thái độ tình cảm như yêu thích, ủng hộ và tán thành cái đẹp, cái cao cả, cái hài của con người, của thiên nhiên, của các tác phẩm nghệ thuật, sản phẩm lao động… trong hành vi ứng xử trong cuộc sống nói chung. Giáo dục cho HS biết: Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

  • Xúc động trước cái đẹp, cái bi trong nghệ thuật, thiên nhiên, sinh hoạt, lao động, học tập…;
  • Ca ngợi, trân trọng và bảo vệ cái đẹp, cái tốt;
  • Ham thích sáng tạo nghệ thuật-múa hát, đọc thơ, kể chuyện, biểu diễn nhạc cụ, vẽ tranh, diễn kịch…;
  • Phê phán, lên án và bất bình với cái xấu, cái hèn nhát (Đặng Vũ Hoạt – Nguyễn Hữu Hợp, 2016).
  • Giáo dục kĩ năng sáng tạo nghệ thuật, hành vi thẩm mỹ

Giáo dục kĩ năng sáng tạo nghệ thuật, hành vi thẩm mỹ là quá trình tổ chức cho học sinh hình thành các kĩ năng, thực hiện hành vi thẩm mỹ trong quá trình học tập sinh hoạt, lao động, rèn luyện…Giáo dục cho HS các kĩ năng như:

  • Biết nhận xét và cảm thụ vẻ đẹp của thiên nhiên, các tác phẩm nghệ thuật, sản phẩm lao động, trang phục, chỗ học, chỗ chơi…;
  • Bước đầu biết thể hiện thẩm mỹ trong xướng âm, hát, múa, đọc diễn cảm, kể chuyện, biểu diễn nhạc cụ, diễn kịch, vẽ tranh, tô màu, xé, dán, nặn…;
  • Biết ăn mặc sạch đẹp, sắp xếp quần áo gọn gàng sạch sẽ, sắp xếp góc học tập ngăn nắp, biết giữ vở sạch, chữ đẹp, trang trí báo tường, góc học tập hay trong lớp học…;
  • Biết nói lời hay, có cử chỉ đẹp, không chửi tục, nói bậy, đối xử thô bạo với những người xung quanh (Đặng Vũ Hoạt – Nguyễn Hữu Hợp, 2016).

1.4.3. Hình thức của hoạt động giáo dục thẩm mỹ ở trường tiểu học

Hình thức tổ chức HĐ GDTM cho HS được thực hiện thông qua quá trình dạy học các môn học và tổ chức các HĐ GDTM (Phạm Viết Vượng, 2005).

  • Giáo dục thẩm mỹ thông qua quá trình dạy học các môn học

GDTM cho HS tiểu học thông qua quá trình dạy học các môn học là hình thức cơ bản của GDTM cho HS tiểu học vì các môn học đều có tiềm năng thẩm mỹ mà GV cần căn cứ vào đặc trưng của từng nhóm môn học mà vận dụng, lồng ghép hoặc tích hợp mục tiêu GDTM thông qua quá trình dạy học một số môn như: Âm nhạc, Mỹ thuật, Kĩ thuật, Lịch sử, Địa lý.  Đối với môn Tiếng Việt thông qua tiết tập làm văn giáo dục cho HS có sự nhận biết, quan sát tinh tế đối với các sự vật xung quanh, chọn lựa những hình ảnh đẹp, phù hợp cho bài văn của mình; qua các tiết tập đọc giúp cho học sinh hiểu và biết tán đồng với những hành động hợp lẽ phải, biết phê phán và tỏ thái độ chê trách với những hành động xấu,. Đối với môn Âm nhạc, GDTM thể hiện qua việc các em cảm nhận được cái hay của giai điệu, lời ca trong mỗi bài hát, yêu thích âm nhạc và biết thưởng thức những tác phẩm phù hợp với lứa tuổi của mình,v.v. Qua mỗi môn học giáo viên đều có thể vận dụng việc GDTM cho HS sao cho phù hợp với nội dung của từng tiết dạy. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

Dựa trên mục đích, nội dung cụ thể của từng bài học trong chương trình dạy học các môn học ở tiểu học; và dựa trên mục đích, nội dung, yêu cầu của GDTM cho HS tiểu học, giáo viên (GV) xác định các nội dung GDTM cụ thể để lồng ghép, tích hợp hoặc vận dung, xác định cách thức và các điều kiện để thực hiện việc lồng ghép, tích hợp hoặc vận dung.

  • Tổ chức các hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho HS tiểu học
  • Lồng ghép nội dung GDTM trong hoạt động ngoài giờ lên lớp

HĐ ngoài giờ lên lớp (NGLL) là những HĐ được tổ chức ngoài giờ học các bộ môn văn hóa ở trên lớp, là sự tiếp nối hoạt động dạy học trên lớp, là con đường gắn lý thuyết với thực hành, tạo nên sự thống nhất giữa lý thuyết với hành động và là con đường quan trọng hình thành và phát triển nhân cách học sinh. Nội dung HĐ NGLL ở tiểu học gồm các nội dung chính sau: HĐ văn hóa – nghệ thuật ; HĐ vui chơi giải trí, thể dục thể thao; HĐ thực hành khoa học- kĩ thuật; HĐ lao động công ích; HĐ của đội TNTP hồ chí minh; các HĐ mang tính xã hội (Trần Thị Tố Oanh, p. 44).

Lồng ghép GDTM trong HĐ NGLL là một hình thức GDTM phổ biến ở trường tiểu học được giáo viên quan tâm, thực hiện liên tục và thường xuyên.

  • Lồng ghép nội dung GDTM trong sinh hoạt hàng ngày ở trường

Các buổi sinh hoạt dưới cờ hàng tuần là một cơ hội tốt để GDTM cho HS toàn trường. Hình thức này thường do Ban giám hiệu (BGH), Tổng phụ trách tổ chức thực hiện với sự tham gia của GV, nhân viên nhà trường và có thể có các lực lượng giáo dục (LLGD) khác cùng tham gia. Các chủ đề năm học, chủ đề giáo dục hàng tháng là những định hướng để lựa chọn nội dung GDTM cho HS.

Lồng ghép nội dung GDTM trong các HĐ sinh hoạt chủ nhiệm cũng là hình thức phổ biến trong các trường tiểu học, do giáo viên chủ nhiệm (GVCN) thực hiện. Trên cơ sở của kế hoạch năm học và chương trình giáo dục tiểu học được quy định, GVCN lập kế hoạch và tổ chức việc lồng ghép nội dung GDTM vào các HĐ của tiết sinh hoạt chủ nhiệm.

  • Lồng ghép nội dung GDTM trong các hoạt động Đội, Sao

Hoạt động Đội Thiếu niên, Sao Nhi đồng ở trường tiểu học là một hoạt động giáo dục rất quan trọng, kết quả của nó góp phần đáng kể vào kết quả giáo dục nói chung. Tổng phụ trách là người trực tiếp tổ chức hoạt động này. Dựa trên kế hoạch và chương trình hoạt động Đội, Sao trong từng năm học, Tổng phụ trách có thể phối hợp với các LLGD khác, đặc biệt là GV để lồng ghép các nội dung GDTM.

1.4.4. Phương pháp của hoạt động giáo dục thẩm mỹ ở trường tiểu học Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

Phương pháp (PP) giáo dục là cách thức tổ chức cuộc sống, HĐ và giao lưu cho trẻ em hàng ngày, hàng giờ trong gia đình, trong gia đình và ngoài xã hội (Phạm Viết Vượng, 2005, p. 42).

PP GDTM cho HS tiểu học là cách thức tổ chức các HĐ phối hợp thống nhất của nhà giáo dục (gồm GV, nhân viên nhà trường, cha mẹ HS,…) và HS tiểu học, được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của nhà giáo dục nhằm đạt được mục đích GDTM cho HS đã đề ra.

PP GDTM cho HS tiểu học là tổ hợp các PP dạy học và giáo dục bao gồm PP GDTM thông qua quá trình dạy học các môn học và PP tổ chức các hoạt động GDTM (giáo dục hiểu theo nghĩa hẹp). Vận dụng các lý luận về PP dạy học và PP giáo dục nói chung để xác định các PP GDTM cho HS tiểu học, ứng với 2 hình thức GDTM nói trên, ta có 2 nhóm PP GDTM như sau:

  • Nhóm phương pháp giáo dục thẩm mỹ ứng với hình thức dạy học các môn học liên quan giáo dục thẩm mỹ

Để thực hiện GDTM cho HS tiểu học thông qua các môn học liên quan, có thể sử dụng các PP sau:

  • Phương pháp thuyết trình

Trong quá trình dạy học các môn học có liên quan đến GDTM, GV có thể sử dụng PP thuyết trình. GV dùng lời lẽ của mình để trình bày, giải thích các tri thức về thẩm mỹ cho HS. GV âm nhạc có thể giải thích cho HS hiểu ý nghĩa của ca từ trong ca khúc mình đang dạy để học sinh thấy cái đẹp của đồng quê hoặc cái đẹp trong tình bạn mà nhạc sĩ sáng tác đã gởi vào ca khúc. GV mỹ thuật có thể phân tích cho các em HS những vẻ đẹp riêng biệt trong mỗi tác phẩm hội họa, dùng lời lẽ giảng giải cho HS các bước tiến hành vẽ tranh, phối màu, giúp các em biết cảm thụ cái đẹp trong mỗi tác phẩm và có khả năng tự vẽ được một bức tranh đẹp theo sự sáng tạo của riêng mình,… Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

  1. Phương pháp đàm thoại: Cách thức GV đặt ra một hệ thống câu hỏi, tổ chức cho HS trả lời, có thể trao đổi qua lại, tranh luận với nhau và với GV, qua đó HS lĩnh hội được nội dung bài học. Qua việc HS cùng phân tích hành động của các nhân vật trong tiết kể chuyện, cùng với sự gợi mở của GV sẽ giúp HS hiểu hơn về các nhân vật, biết đưa ra nhận xét và đánh giá riêng của mình nhằm giúp HS biết đồng tình với những hành vi đúng đắn, hợp lẽ phải và biết phê phán những điều xấu xa, không tốt đẹp trong cuộc sống.
  2. Phương pháp trình bày trực quan: GV sử dụng bản mẫu, bản đồ, tranh ảnh, chân dung, hình vẽ…trong tiết dạy mỹ thuật, địa lý,…sẽ giúp HS có cái nhìn sinh động hơn với những điều GV muốn giảng giải, các em HS dễ dàng hình dung được vẻ đẹp tinh tế, sự độc đáo khác nhau của mỗi bức Hay trong tiết dạy địa lý, GV sử dụng nhiều hình ảnh, bản đồ sẽ giúp HS yêu mến hơn vẻ đẹp của thiên nhiên, con người, cảm nhận được vẻ đẹp văn hóa của mỗi vùng miền khác nhau.
  3. Phương pháp luyện tập: PP dưới sự hướng dẫn của GV, HS lặp lại nhiều lần những hành động nhất định trong những hoàn cảnh khác nhau nhằm hình thành và phát triển kĩ năng, kỹ xảo. Từ sự giảng dạy của GV mỹ thuật mà HS tiến hành thực hiện vẽ một bức tranh sao cho đẹp và có màu sắc hài hòa. Thông qua sự giảng giải của GV âm nhạc mà HS biết thưởng thức những ca khúc phù hợp với lứa tuổi, có lời ca ý nghĩa, giai điệu hay, HS biết cách hát và trình diễn sao cho sinh động.

Nhóm phương pháp giáo dục thẩm mỹ ứng với hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục thẩm mỹ

Có nhiều cách để phân chia các nhóm PP giáo dục. Trong đề tài này, chúng tôi chọn cách phân chia theo quá trình, được tác giả Phạm Viết Vượng (2005) biên soạn trong quyển Lý luận giáo dục. 3 nhóm PP giáo dục cụ thể như sau:

  • Nhóm phương pháp giáo dục tác động vào ý thức cá nhân HS

Nhóm PP này tác động vào ý thức HS nhằm GDTM, cụ thể: PP khuyên bảo là PP nhà giáo dục dùng lời nói để giải thích, chứng minh các chuẩn mực xã hội đã được quy định, nhằm giúp cho HS hiểu và nắm được ý nghĩa, nội dung, quy tắc của việc thực hiện các chuẩn mực này; PP đàm thoại là PP trò chuyện, trao đổi giữa nhà giáo dục và HS, hoặc giữa HS với nhau về các chủ đề giáo dục nhằm hình thành, củng cố nhận thức, tình cảm và niềm tin cho HS. PP đàm thoại trong GDTM cho HS tiểu học là PP trò chuyện, trao đổi giữa nhà giáo dục, hoặc giữa HS với nhau về nội dung GDTM nhằm hình thành, củng cố nhận thức thẩm mỹ cho HS tiểu học; PP tạo dư luận là PP nhằm xây dựng tiêu chuẩn thẩm mỹ lành mạnh thông qua dư luận tập thể, hướng các em đến việc biết công nhận các giá trị thẩm mỹ và phê phán những quan niệm thẩm mỹ lệch lạc, sai trái.

  • Nhóm phương pháp giáo dục tổ chức hoạt động để hình thành hành vi và thói quen hành vi

Đây là nhóm PP giáo dục tổ chức cho HS tiểu học tham gia vào các hoạt động đa dạng, các mối quan hệ giao lưu phong phú nhằm HS tiểu học chuyển hóa ý thức thẩm mỹ thành hành vi thẩm mỹ và rèn luyện thành thói quen hành vi thẩm mỹ. Trong đó bao gồm các PP như PP giao việc là PP phân công công việc cho từng cá nhân trong tập thể, để lôi cuốn các em vào hoạt động một cách chủ động, tự giác từ đó hình thành kĩ năng hoạt động và những hành vi, thói quen có văn hóa khác; PP luyện tập đây là PP nhà giáo dục tổ chức các loại hình hoạt động đa dạng theo những nội dung GDTM nhằm tạo điều kiện, môi trường để học sinh tự thể nghiệm ý thức thẩm mỹ, thái độ và tình cảm thẩm mỹ, hình thành hành vi thẩm mỹ và khả năng sáng tạo thẩm mỹ; PP tổ chức các hoạt động cho HS là tổ chức cho HS tham gia vào các hoạt động GDTM thực tiễn một cách đa dạng gắn cuộc sống HS với thiên nhiên, cộng đồng xã hội, qua đó hình thành cho HS ý thức thẩm mỹ, thái độ và tình cảm thẩm mỹ, hình thành hành vi thẩm mỹ và khả năng sáng tạo thẩm mỹ. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

  • Nhóm phương pháp điều chỉnh thái độ

Đây là nhóm PP thông qua điều chỉnh thái độ nhằm GDTM cho HS, trong đó PP nêu gương là PP dựa trên cơ sở tâm lí của HS tiểu học để dùng những gương sáng trong việc rèn luyện GDTM để HS học tập và làm theo; PP thi đua là PP kích thích HS tiểu học khẳng định mình, thúc đẩy HS cố gắng, hăng hái vươn lên và lôi cuốn cả những HS khác cũng vươn lên giành thành tích xuất sắc trong các hoạt động, trò chơi có nội dung GDTM; PP khen thưởng là PP kích thích sư phạm bằng cách khẳng định và biểu dương thành tích, ưu điểm của HS trong quá trình rèn luyện các nội dung GDTM ở HS tiểu học để HS có tâm lí tích cực, tin vào sức mình để nỗ lực hoạt động, củng cố và phát huy thành tích đã đạt được; PP trách phạt là PP biểu thị sự không đồng tình, phản đối, phê phán những hành vi sai trái của người được giáo dục (HS tiểu học) so với các chuẩn mực, quan niệm về thẩm mỹ.

PP giáo dục rất đa dạng, phong phú, mỗi PP đều có những ưu điểm và những nhược điểm nhất định, không có nhóm PP giáo dục nào hay PP giáo dục nào là đúng trong mọi trường hợp. Vì vậy, cần phải lựa chọn phối hợp các nhóm PP giáo dục và các PP giáo dục cụ thể với nhau một cách hợp lý, linh hoạt và sáng tạo (Phạm Viết Vượng, 2005).

1.4.5. Kiểm tra và đánh giá kết quả trong hoạt động giáo dục thẩm mỹ ở trường tiểu học

Kiểm tra và đánh giá kết quả của HĐ GDTM một cách thường xuyên và hệ thống nhằm giúp HS tự điều chỉnh hoạt động học tập của mình, giúp GV tự điều chỉnh hoạt động GDTM của mình, giúp cán bộ quản lý (CBQL) uốn nắn và điều chỉnh kịp thời sao cho hoạt động GDTM đi đúng với mục tiêu đã đề ra.

  • Kiểm tra Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

GV kiểm tra kết quả của hoạt động GDTM ở HS tiểu học bằng 3 hình thức khác nhau, như:

Kiểm tra thường xuyên: trong các tiết học của những môn có liên quan đến GDTM, GV có thể thường xuyên kiểm tra HS bằng cách quan sát biểu hiện của các em hoặc đặt các câu hỏi để đo lường mức độ nhận thức thẩm mỹ và thái độ thẩm mỹ của các em. GV chủ nhiệm sẽ là người có vai trò quan trọng nhất trong việc kiểm tra hằng ngày, vì GV chủ nhiệm là người tiếp xúc hằng ngày với HS và dạy rất nhiều môn học.

Kiểm tra định kỳ: Theo thông tư 22/2021/TT-BGDĐ của Bộ Giáo Dục và Đào tạo (GDĐT) sửa đổi, bổ sung một số điều của quy định đánh giá học sinh tiểu học ban hành kèm theo thông tư số 30/2019/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của bộ trưởng GDĐT. Đối với cấp tiểu học, các em HS thực hiện các bài kiểm tra định kỳ môn Toán và Tiếng việt vào giữa học kỳ I và giữa học kì Đối với các môn học có liên quan đến nội dung GDTM như mỹ thuật, âm nhạc, tiếng việt,…GV kiểm tra HS định kỳ thông qua việc cho các em làm bài thực hành vẽ tranh, biểu diễn ca hát, làm bài viết tập làm văn (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2021).

Kiểm tra tổng kết: thông qua những môn học có liên quan đến nội dung GDTM, GV tiến hành kiểm tra kết quả GDTM cho HS bằng cách làm bài kiểm tra viết hoặc thực hành vào cuối học kì I, cuối học kì II đối với các môn Tiếng Việt, Toán, Khoa học, Lịch sử và Địa lí, Ngoại ngữ, Tin học, Tiếng dân tộc. Ngoài ra đối với các hoạt động ngoài giờ lên lớp có thể kiểm tra tổng kết theo chủ điềm thông qua hình thức tổ chức các hoạt động cho HS như diễn kịch, văn nghệ, trò chơi,… GV có thể sử dụng 3 PP kiểm tra khác nhau trong HĐ GDTM như kiểm tra vấn đáp, kiểm tra viết, kiểm tra thực hành. Trong đó:

PP kiểm tra vấn đáp: GV sử dụng thường xuyên trong các tiết học. Khi đặt câu hỏi cho HS thì GV cần lưu ý nội dung câu hỏi phải phù hợp với nội dung GDTM, hướng HS tới chuẩn mực của cái đẹp, khai thác tính chủ động của HS trong việc khám phá những cái hay cái đẹp trong thiên nhiên, trong văn hóa ứng xử, trong các tác phẩm nghệ thuật,…

PP kiểm tra viết: GV đưa ra đề bài hoặc câu hỏi có liên quan đến nội dung GDTM và HS sẽ trình bày trên giấy trong một thời gian nhất định. Ví dụ như trong tiết tập làm văn, GV sử dụng PP kiểm tra viết để HS có đủ thời gian miêu tả lại vẻ đẹp của thiên nhiên, con người,…qua từng câu chữ.

PP kiểm tra thực hành: thông qua sự giảng giải của GV về cái đẹp trong những tác phẩm hội họa, cách phối hợp màu sắc và trình bày bố cục, HS sẽ thực hành tự vẽ một bức tranh theo sự sáng tạo riêng của bản thân; hoặc đối với môn Âm nhạc, sau khi nhớ và hiểu lời ca, giai điệu trong mỗi bài hát, HS biểu diễn các ca khúc cho đúng giai điệu kết hợp động tác múa sao cho uyển chuyển. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

  • Đánh giá

Đánh giá HĐ GDTM cho HS không nằm ngoài mục tiêu chung của đánh giá là vì sự tiến bộ của HS, góp phần hoàn thiện nhân cách cho HS.

Kiểm tra và đánh giá có sự tương tác và luôn đi song hành cho nên việc đánh giá HĐ GDTM cho HS cũng được thực hiện theo chu kỳ kiểm tra HĐ GDTM, tức là đánh giá thường xuyên, đánh giá định kỳ và đánh giá tổng kết.

Theo thông tư 22/2021/TT-BGDĐ của Bộ GDĐT sửa đổi, bổ sung một số điều của quy định đánh giá học sinh tiểu học ban hành kèm theo thông tư số 30/2019/TT- BGDĐT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ GDĐT, có qui định về đánh giá đối với HS tiểu học như sau:

Đánh giá thường xuyên: GV dùng lời nói chỉ ra cho HS biết được chỗ đúng, chưa đúng và cách sửa chữa; viết nhận xét vào vở hoặc sản phẩm học tập của HS khi cần thiết, có biện pháp cụ thể giúp đỡ kịp thời. Cụ thể trong HĐ GDTM, GV dùng lời nói để thường xuyên đánh giá nhận thức của HS đối với cái đẹp trong tự nhiên, xã hội; phê phán những thái độ đi ngược lại với những chuẩn mực chung về cái đẹp của con người, nhằm giúp HS tự nhận thức và cảm thụ được cái hay, cái đẹp trong đời sống và thiên nhiên, xây dựng tốt mối quan hệ đối với những người xung quanh.

Đánh giá định kỳ: Đánh giá định kì là đánh giá kết quả giáo dục của HS sau một giai đoạn học tập, rèn luyện, nhằm xác định mức độ hoàn thành nhiệm vụ học tập của HS so với chuẩn kiến thức, kĩ năng quy định trong chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học và sự hình thành, phát triển năng lực, phẩm chất Vào giữa học kì I, cuối học kì I, giữa học kì II, GVCN căn cứ vào các biểu hiện liên quan đến nhận thức, kĩ năng, thái độ trong quá trình đánh giá thường xuyên về sự hình thành và phát triển từng năng lực, phẩm chất của mỗi HS mà GV đánh giá ở 3 mức như: Tốt ( HS đáp ứng được mục tiêu về GDTM, có sự tiến bộ trong nhận thức đối với cái đẹp, hình thành thái độ tích cực đối với cái đẹp trong tự nhiên, nghệ thuật, các mối quan hệ xung quanh), Đạt (HS đáp ứng mục tiêu về GDTM nhưng chưa có những biểu hiện thường xuyên), Cần cố gắng (HS chưa đạt đầy đủ các yêu cầu về mục tiêu GDTM, các biểu hiện và thái độ đối với cái đẹp chưa rõ ràng). Đối với việc đánh giá các môn học định kỳ, GV chấm với thang điểm 10, không được cho 0 điểm. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

Đánh giá tổng kết: dựa trên các đánh giá định kỳ, GV thực hiện đánh giá tổng kết cuối năm cho Đối với đánh giá kết quả GDTM thông qua các môn học và HĐ giáo dục, HS được đánh giá ở mức Hoàn thành tốt hoặc hoàn thành.

Về hình thức đánh giá đối với HS tiểu học cũng được qui định rõ ở Điều 4 về Yêu cầu đánh giá trong Thông tư 22/2021/TT-BGDĐ của Bộ GDĐT sửa đổi, bổ sung một số điều của quy định đánh giá học sinh tiểu học ban hành kèm theo thông tư số 30/2019/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ GDĐT là đánh giá thường xuyên bằng nhận xét, đánh giá định kì bằng điểm số kết hợp với nhận xét; kết hợp đánh giá của GV, HS, cha mẹ HS, trong đó đánh giá của GV là quan trọng nhất (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2021).

  • Như vậy có 2 hình thức đánh giá trong HĐ GDTM đối với HS tiểu học là nhận xét và cho điểm:

Nhận xét: GV dùng lời nói để nhận xét quan điểm đúng hoặc chưa đúng của HS đối với chuẩn mực thẩm mỹ, khen ngợi hoặc phê phán đối với những hành vi không phù hợp chuẩn mực cái đẹp của HS, dùng lời nói để kịp thời uốn nắn những sai lệch về cái đẹp của HS trước thiên nhiên, nghệ thuật và trong ứng xử với con người. Ngoài dùng lời, GV còn viết nhận xét vào vở hoặc sản phẩm do HS làm ra nhằm trao đổi, kết hợp với cha mẹ HS trong đánh giá HĐ GDTM.

Cho điểm: GV đánh giá bằng cách cho điểm đối với đánh giá định kỳ ở một số môn học như Toán, Tiếng Việt,…GV cho điểm theo thang điểm 10, không cho điểm 0 và không cho điểm thập phân. Trong bài kiểm tra, ngoài việc cho điểm, GV cần viết nhận xét và sửa lỗi sai cho HS. Việc cho điểm không dùng với mục đích so sánh các HS với nhau mà nhằm giúp GV đánh giá một cách khách quan về sự hình thành năng lực thẩm mỹ ở HS, cũng như ý thức và thái độ thẩm mỹ của các em.

Đánh kịp thời, thực tế và khách quan trong HĐ GDTM nhằm giúp HS tin tưởng hơn đối với những tiêu chuẩn cái đẹp được hình thành trong nhận thức, GV kịp thời uốn nắn HS tránh xa những quan niệm thẩm mỹ sai lệch, những hành vi không đẹp trong ứng xử.

1.4.6. Các điều kiện để thực hiện hoạt động giáo dục thẩm mỹ ở trường tiểu học Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

  • Điều kiện về quản lý

Cũng như việc tổ chức các HĐ giáo dục khác trong nhà trường phổ thông, vai trò thúc đẩy và hỗ trợ của CBQL rất quan trọng. Nếu thực hiện tốt vai trò quản lý HĐ GDTM sẽ giúp cho HĐ GDTM của nhà trường đi đúng hướng, huy động và sử dụng được các nguồn lực một cách hợp lý. Từ đó, thúc đẩy các công tác GDTM tiến triển một cách thuận lợi và tạo động lực cho các GV làm nhiệm vụ giáo dục đạt hiệu quả.

Khi quản lý HĐ GDTM, trước hết CBQL cần nhận thức được đầy đủ tầm quan trọng, mục đích, nhiệm vụ GDTM và sự cần thiết phải thực hiện đầy đủ các hình thức, PP GDTM, có tâm huyết với HĐ GDTM. Đồng thời, cần được trang bị đầy đủ các kiến thức cần thiết về HĐ GDTM, quản lý HĐ GDTM, có kĩ năng thực hiện các chức năng quản lý và chủ động vận dụng các kiến thức, kĩ năng đó vào thực tiễn quản lý HĐ GDTM.

CBQL là những người trực tiếp định hướng con đường của hoạt động GDTM và việc sự dụng các nguồn lực trong HĐ GDTM có phù hợp, linh động, hợp lý hay không hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực của người CBQL.

  • Điều kiện về giáo viên

Các GV làm nhiệm vụ GDTM là những người trực tiếp biến mục tiêu GDTM thành hiện thực. Đặc biệt là ở cấp học tiểu học, GVCN là người gần gũi, tiếp xúc với HS nhiều nhất, chịu trách nhiệm nhiều môn học và các HĐ khác nhau. Cho nên, việc lồng ghép GDTM thông qua các môn học GV sẽ dễ dàng thực hiện được. Bên cạnh đó, các GV bộ môn khác như âm nhạc, mỹ thuật, thể dục,…cũng có vai trò hết sức quan trọng. Mặc dù số tiết học của những môn này trong một tuần có hạn nhưng đây là những môn học góp phần GDTM cho các em HS không thể thiếu được.

GV là nhân tố quyết định chất lượng của hoạt động GDTM. Vì vậy, điều kiện tiên quyết để thực hiện được các mục tiêu GDTM là các GVS làm nhiệm vụ GDTM phải hiểu được tầm quan trọng của GDTM đối với HS tiểu học, có năng lực giảng dạy, nắm vững các kỹ năng dạy học và hơn hết các thầy cô giáo phải là tấm gương tốt về đạo đức, về vẻ đẹp trí tuệ và tâm hồn khiến các em HS noi theo. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

  • Điều kiện về tài liệu và nguồn thông tin

GDTM cho HS tiểu học liên quan đến nhiều môn học và HĐ khác nhau nên GV cần có nhiều nguồn thông tin. Hơn nữa, sự thay đổi mỗi ngày của xã hội là hết sức nhanh chóng do vậy ngoài sách giáo khoa và sách GV, cần phải có nguồn tài liệu tham khảo và nguồn thông tin do chính các GV cập nhật thường xuyên nhằm sử dụng, dẫn dắt vào bài giảng cho mỗi ví dụ của GV trở nên sinh động, hấp dẫn và gần gũi với HS hơn.

Cán bộ và GV phải thường xuyên bổ sung, cập nhật các thông tin trên nhiều nguồn khác nhau như internet, sách, báo, đài,…Bên cạnh đó, việc cập nhật thông tin từ các cơ quan quản lý cấp trên, học hỏi những PP GDTM hay từ các trường bạn cũng rất cần thiết. Nhưng cần chú ý các nguồn thông tin phải đáng tin cậy và phù hợp khi áp dụng trong việc GDTM ở trường của mình.

  • Điều kiện về thiết bị, máy móc và đồ dùng học tập

Thiết bị, máy móc và đồ dùng dạy học là công cụ để GV tiến hành các PP khi tổ chức thực hiện GDTM. Hiệu quả của việc sử dụng các PP phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện này. Do vậy, muốn tổ chức các HĐ GDTM đạt kết quả, các trường cần phải có các trang thiết bị, đồ dùng dạy học như: tranh ảnh, video clip, máy tính nối mạng internet, máy chiếu, các thông tin dữ liệu về GDTM, có tương đối đầy đủ máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu để dạy và tổ chức cho HS thực hiện các HĐ trong tiết học.

Cùng với các điều kiện cơ bản trên, việc thực hiện hoạt động GDTM có thể mở rộng quy mô và phạm vi khi nhà trường có nguồn kinh phí nhất định để mua sắm trang thiết bị kĩ thuật, băng đĩa, xây dựng khu vực tham quan nghệ thuật, trưng bày các tác phẩm sáng tạo của HS, tổ chức cho HS tham quan, ngoại khóa ngoài nhà trường. Có cơ chế chính sách phù hợp, có khen thưởng, đãi ngộ xứng đáng để động viên và khuyến khích lực lượng GV phụ trách HĐ GDTM, khen thưởng những em HS có thành tích nổi bật.

1.5. Lý luận về quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh tiểu học Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

1.5.1. Lập kế hoạch cho hoạt động giáo dục thẩm mỹ ở trường tiểu học

Lập kế hoạch là chức năng đầu tiên trong 4 chức năng quản lý, nhằm xác định mục tiêu và hoạch định các việc cần làm trong tương lai, giúp người quản lý thực hiện công việc một cách khoa học và hiệu quả hơn. Các công việc cần làm trong lập kế hoạch cho HĐ GDTM như sau:

  • Tìm hiểu nhu cầu GDTM cho HS

Tìm hiểu nhu cầu GDTM cho HS là công việc đầu tiên trong xây dựng kế hoạch. Hiệu trưởng là người đứng đầu nhà trường nên có trách nhiệm tổ chức thực hiện công việc này; có thể phân công cho phó hiệu trưởng phụ trách việc này. Cần tìm hiểu nhu cầu GDTM cho HS của CBQL trong trường, của GV và nhân viên nhà trường, của cha mẹ HS và của HS trong trường. Cần thống kê nhu cầu theo từng năm học và liên tục nhiều năm học để thấy được diễn biến của nhu cầu.

  • Tìm hiểu thực trạng GDTM cho HS của các LLGD

Hiệu trưởng tổ chức khảo sát, phân tích thực trạng tổ chức HĐGDTM trong phạm vi trường tiểu học, địa phương, gia đình; từ đó chỉ ra những điều đã làm được và những hạn chế cần khắc phục về: Mục tiêu, nội dung, hình thức, PP, các điều kiện thực hiện; trình độ, năng lực, phẩm chất của CBQL, GV, nhân viên, cha mẹ HS và của các LLGD trong và ngoài trường về GDTM; trình độ thẩm mỹ của HS tiểu học và sự phối hợp các LLGD.

  • Nắm vững quy định và yêu cầu của ngành về hoạt động GDTM cho HS

Hiệu trưởng có thể phân công phó hiệu trưởng tổ chức cho các LLGD có liên quan nghiên cứu và nắm vững những quy định của Bộ, Sở, Phòng Giáo dục và Đào tạo về tổ chức, thực hiện HĐ GDTM cho HS; nghiên cứu những văn bản của các cơ quan, ban ngành có liên quan HĐ GDTM cho HS tiểu học. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

  • Xác định mục tiêu GDTM cho HS
  • Xác định mục tiêu GDTM cho HS của trường, của khối lớp.

Để đạt hiệu quả cao trong công tác quản lý HĐGDTM cho HS tiểu học, trước hết, hiệu trưởng cần phải quán triệt mục tiêu GDTM cho HS đến với các LLGD. Mục tiêu GDTM cho HS nói chung là: nhằm bồi dưỡng cho HS sự hiểu biết, cảm thụ, phát hiện và đánh giá đúng cái đẹp trong tự nhiên, trong cuộc sống, trong nghệ thuật, hình thành ở HS nhu cầu và năng lực sáng tạo cái đẹp trong cuộc sống và trong nghệ thuật (Trần Thị Hương, 2019).

Mục tiêu GDTM cho HS tiểu học xuất phát từ mục tiêu GDTM cho HS nói chung, đó là: bước đầu nhằm bồi dưỡng cho HS tiểu học sự hiểu biết, cảm thụ, phát hiện và đánh giá đúng cái đẹp trong tự nhiên, trong cuộc sống, trong nghệ thuật, hình thành ở HS tiểu học nhu cầu và năng lực sáng tạo cái đẹp trong cuộc sống và trong nghệ thuật.

Trên các cơ sở xác định mục tiêu GDTM cho HS tiểu học, thực trạng GDTM cho HS tiểu học của địa phương, và kết hợp với đặc điểm, điều kiện riêng của từng trường tiểu học cụ thể, hiệu trưởng cần xác định mục tiêu GDTM cho HS sao cho phù hợp với đặc thù riêng ở mỗi trường. Ngoài ra, hiệu trưởng cần làm tốt công tác nâng cao nhận thức của GV, nhân viên, cha mẹ HS và các LLGD khác trong và ngoài trường về mục tiêu GDTM cho HS, bởi vì nhận thức đúng mục tiêu là một yếu tố có ảnh hưởng đến chất lượng GDTM cho HS và hiệu quả của công tác quản lý HĐ GDTM cho HS của nhà quản lý.

  • Xác định mục tiêu GDTM thông qua quá trình dạy học các môn học

Hiệu trưởng chỉ đạo cho phó hiệu trưởng phổ biến và quán triệt GV cần có hiểu biết sâu sắc và thống nhất về mục tiêu GDTM cho HS thông qua quá trình dạy học.

Tùy thuộc vào đặc trưng của từng môn học mà GV có thể vận dụng, lồng ghép hoặc tích hợp mục tiêu GDTM thông qua quá trình dạy học.

  • Xác định mục tiêu GDTM trong tất cả các HĐ giáo dục khác

Hiệu trưởng chỉ đạo phó hiệu trưởng, GV, tổng phụ trách đội xác định rõ mục tiêu GDTM trong tất cả các hình thức HĐ giáo dục khác: sinh hoạt chủ nhiệm, HĐ NGLL, các buổi sinh hoạt dưới cờ, các HĐ sinh hoạt hàng ngày của HS tại trường. Mục tiêu của các HĐ giáo dục này cũng không ngoài mục tiêu chung là bước đầu nhằm bồi dưỡng cho HS tiểu học sự hiểu biết, cảm thụ, phát hiện và đánh giá đúng cái đẹp trong tự nhiên, trong cuộc sống, trong nghệ thuật, hình thành ở HS tiểu học nhu cầu và năng lực sáng tạo cái đẹp trong cuộc sống và trong nghệ thuật. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

  • Xác định nội dung, chương trình GDTM cho HS của các LLGD

Hiệu trưởng chỉ đạo cho GV cần xác định các nội dung GDTM được lồng ghép, tích hợp và vận dụng trong dạy học các môn học ở tiểu học: xác định các môn học, bài học trong từng môn, các nội dung cụ thể trong từng bài có liên quan với GDTM và có thể lồng ghép, tích hợp hoặc vận dụng các nội dung GDTM; nội dung của bài có liên quan tới GDTM thì GV triệt để khai thác nội dung bài học vận dụng thực hiện GDTM; có thể đưa nội dung môn học làm nội dung GDTM và ngược lại nhằm khắc sâu tri thức và mở rộng hiểu biết cho HS.

Hiệu trưởng chỉ đạo cho GV về việc xác định các nội dung GDTM được lồng ghép trong các HĐ giáo dục của nhà trường, gồm các HĐ: sinh hoạt chủ nhiệm, HĐ NGLL, các buổi sinh hoạt dưới cờ, các HĐ sinh hoạt hàng ngày của HS tại trường.

Hiệu trưởng chỉ đạo cho GV, tổng phụ trách xác định nội dung GDTM trong việc tổ chức các chuyên đề GDTM, trong các HĐ trao đổi, giao lưu giữa các trường về GDTM cho HS.

  • Xác định hình thức và PP GDTM cho HS

Hiệu trưởng chỉ đạo cho GV xác định hình thức tổ chức HĐ GDTM cho HS trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm của từng hình thức và lựa chọn những hình thức phù hợp với yêu cầu, quy định của các cấp quản lý và với đặc điểm, điều kiện riêng của từng lớp, từng lứa tuổi HS. Ngoài ra, hiệu trưởng cần khuyến khích, ủng hộ các GV vận dụng linh hoạt các hình thức và PP giáo dục tiên tiến.

  • Xác định thời gian, kinh phí, các điều kiện cần thiết cho HĐGDTM

Hiệu trưởng phân bố thời gian hợp lý cho HĐ GDTM trong kế hoạch HĐ của nhà trường: thời gian cho HĐ GDTM thông qua quá trình dạy học, thời gian cho việc tổ chức các HĐ giáo dục có lồng ghép nội dung GDTM.

Dự trù kinh phí cho HĐ GDTM theo từng năm học, kinh phí cho từng hình thức giáo dục, cho từng HĐ cụ thể.

Thống kê các điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị và đồ dùng giáo dục cần thiết cho HĐ GDTM nói chung và cho các hình thức, HĐ cụ thể. HĐ GDTM cho HS diễn ra trong những điều kiện kinh tế, xã hội cụ thể, và chịu sự tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Vì vậy, để đạt hiệu quả cao trong công tác quản lý, hiệu trưởng cần phải phân tích và đánh giá tác động của các điều kiện khách quan và chủ quan đến chất lượng HĐ GDTM.

Hiệu trưởng tạo môi trường thuận lợi cho công tác GDTM cho HS, nghiên cứu đặc điểm, điều kiện kinh tế-xã hội của địa bàn nơi trường đóng để xác định những thuận lợi và khó khăn khách quan từ bên ngoài môi trường sư phạm đối với quá trình thực hiện kế hoạch HĐ GDTM cho HS. Hiệu trưởng phối hợp với các cơ quan, ban ngành tại địa phương tìm những biện pháp khả thi và hiệu quả để tạo ra môi trường thuận lợi cho việc thực hiện kế hoạch HĐ GDTM của nhà trường.

Hiệu trưởng chỉ đạo cho phó hiệu trưởng lên kế hoạch và tổ chức các phong trào thi đua về GDTM cho HS trong GV, nhân viên, cha mẹ HS nhằm kích thích tính tích cực, sáng tạo khi tham gia HĐ GDTM cho HS.

  • Xác định các lực lượng tham gia HĐGDTM cho HS Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

Hiệu trưởng xác định các LLGD trong nhà trường và nhiệm vụ tương ứng. Các LLGD trong trường bao gồm: BGH, chi bộ, công đoàn, GV, nhân viên y tế, hành chính, thư viện, chuyên viên tư vấn, bảo mẫu, lao công,…; Xác định các LLGD ngoài nhà trường và nhiệm vụ tương ứng: Cha mẹ HS, các cơ quan, tổ chức xã hội. Cụ thể:

CBQL trong việc xây dựng kế hoạch, tổ chức chỉ đạo và kiểm tra đánh giá HĐ GDTM; các tổ chức, đoàn thể trong nhà trường (Chi bộ, Công đoàn, Đoàn thanh niên,…) trong các hoạt động có liên quan đến GDTM; GV trong dạy học và giáo dục có liên quan đến nội dung GDTM; tổng phụ trách trong việc tổ chức thực hiện các HĐ Đội, Sao và các HĐ khác có liên quan đến GDTM; nhân viên nhà trường (văn thư, bảo mẫu, thủ thư, bảo vệ, nhân viên y tế, nhân viên tư vấn,…) trong các HĐ có liên quan đến GDTM; cha mẹ HS trong việc phối hợp GDTM cùng với nhà trường; các LLGD khác trong xã hội trong việc phối hợp với nhà trường và gia đình để thực hiện công tác GDTM cho HS.

  • Xây dựng các loại kế hoạch HĐGDTM cho HS

Xây dựng kế hoạch HĐ GDTM cho HS theo năm học, học kỳ, tháng, tuần; xây dựng kế hoạch HĐ GDTM cho HS theo các hình thức: kế hoạch lồng ghép, tích hợp, vận dụng nội dung GDTM trong dạy học các môn học, kế hoạch tổ chức các HĐ giáo dục có lồng ghép nội dung GDTM, kế hoạch tổ chức các chuyên đề GDTM, kế hoạch giao lưu và thi tài GDTM,…

  • Xây dựng tiêu chí đánh giá HĐGDTM cho HS

Hiệu trưởng soạn thảo quy trình kiểm tra, đánh giá HĐ GDTM cho HS hoặc có thể chỉ đạo cho phó hiệu trưởng làm việc này. Soạn thảo tiêu chí đánh giá việc tổ chức các HĐ GDTM, các hoạt động giáo dục có lồng ghép nội dung GDTM, việc tổ chức chuyên đề GDTM cho HS.

  • Duyệt các loại kế hoạch.

Hiệu trưởng phân tích tính hợp lý, khả thi của các kế hoạch. Hiệu trưởng xin ý kiến chỉ đạo của cấp trên về kế hoạch chung và duyệt các kế hoạch.

Những yêu cầu khi xây dựng kế hoạch HĐ GDTM cho HS: Kế hoạch phải thể hiện được tính khoa học, kế thừa, toàn diện, cụ thể và trọng tâm trong từng thời kỳ; phát huy những mặt mạnh, khắc phục những mặt yếu kém, củng cố ưu điểm, vạch ra được chiều hướng phát triển trong việc hình thành GDTM ở HS; phản ánh được mối quan hệ giữa mục đích, mục tiêu, nội dung, PP, phương tiện, thời gian, hình thức tổ chức, biện pháp, kiểm tra, đánh giá; thể hiện được sự phân cấp quản lý của Hiệu trưởng, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và cụ thể.

1.5.2. Tổ chức hoạt động giáo dục thẩm mỹ ở trường tiểu học Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

Tổ chức là quá trình phân phối và sắp xếp nguồn nhân lực theo những cách thức nhất định để đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu đề ra. Các kế hoạch có được thực thi hay không là phụ thuộc vào năng lực tổ chức của hiệu trưởng. Tổ chức HĐ giáo dục hợp lý sẽ đem lại kết quả giáo dục cao và ngược lại. Hiệu trưởng thực hiện chức năng tổ chức HĐ GDTM cho HS tiểu học là thực hiện các công việc cụ thể như sau:

  • Tổ chức bồi dưỡng cho các LLGD và tổ chức giao lưu học tập kinh nghiệm về GDTM

Hiệu trưởng chỉ đạo cho phó hiệu trưởng thống kê trình độ của các LLGD về GDTM cho HS ở các khía cạnh: kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm GDTM. Tìm hiểu nhu cầu nâng cao trình độ của các LLGD về GDTM cho HS. Xác định mục đích, nội dung, hình thức, điều kiện tập huấn, bồi dưỡng. Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng và đánh giá chất lượng tập huấn, bồi dưỡng. Sử dụng các LLGD đã được bồi dưỡng, tập huấn làm nồng cốt trong HĐ GDTM cho HS. Hiệu trưởng tổ chức cho CBQL, GV, nhân viên, cha mẹ HS giao lưu, trao đổi kinh nghiệm với các trường khác tại địa phương hoặc trong nước về HĐ GDTM cho HS và tổ chức thi đua GDTM cho HS.

  • Tổ chức triển khai, hướng dẫn các LLGD thực hiện kế hoạch, chương trình HĐ GDTM

Trên cơ sở của kế hoạch chung về HĐ GDTM cho HS toàn trường theo từng năm học, hiệu trưởng phân công cho khối trưởng tổ chức triển khai, hướng dẫn cho các GV trong khối được biết và thông hiểu. Khối trưởng phổ biến và hướng dẫn việc thực hiện kế hoạch cho GV.

  • Ban hành quy định về tổ chức, thực hiện HĐGDTM cho HS

Hiệu trưởng nghiên cứu, họp bàn và thống nhất các quy định nhiệm vụ, quyền hạn cho các LLGD về công tác GDTM. Tham khảo ý kiến cấp trên và các đối tượng liên quan về các quy định. Ban hành các quy định về nhiệm vụ, quyền lợi của phó hiệu trưởng, khối trưởng, GV khi tham gia HĐGDTM. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

  • Phân công nhiệm vụ cho các bộ phận, cá nhân tham gia HĐGDTM

Hiệu trưởng phân công: Phó hiệu trưởng quản lý tổ trưởng, khối trưởng, tổng phụ trách trong các hoạt động và nhiệm vụ GDTM. Khối trưởng quản lý các HĐ GDTM của các GV trong khối. Các tổ chức, đoàn thể, nhân viên có nhiệm vụ phối hợp với BGH quản lý HĐ GDTM cho HS. GV trực tiếp tổ chức các HĐ GDTM. Cha mẹ HS phối hợp với BGH và GV trong các hoạt động GDTM. HS thực hiện các yêu cầu GDTM do nhà giáo dục đề ra.

Để công tác quản lý sự phối hợp các LLGD trong HĐGDTM cho HS tiểu học đạt được hiệu quả cao, trước hết, nhà quản lý cần xác định nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền hạn của các LLGD trong HĐ GDTM cho HS. Ví dụ, nhiệm vụ của tổ trưởng, khối trưởng là lập kế hoạch GDTM, duyệt kế hoạch dạy học có lồng ghép nội dung GDTM vào các môn học, cùng với ban giám hiệu tổ chức, chỉ đạo và đánh giá việc thực hiện kế hoạch GDTM của GV, tổ chức cho GV học tập kinh nghiệm GDTM, đề nghị khen thưởng những GV có thành tích tốt về GDTM cho HS.

Dựa trên thế mạnh và chức năng của từng lực lượng, nhà quản lý sẽ phân công nhiệm vụ. Cụ thể là, đối với việc lồng ghép nội dung GDTM vào các môn học thì GV là lực lượng then chốt, đối với việc theo dõi sự thể hiện thái độ, tình cảm thẩm mỹ của HS thì nên phân công cho cha mẹ HS thực hiện. Trên cơ sở phân công nhiệm vụ, nhà quản lý tổ chức, chỉ đạo HĐ của các lực lượng và các tổ chuyên môn.

Ngoài ra, nhà quản lý cần xác định nội dung phối hợp và cơ chế phối hợp giữa các lực lượng, ví dụ: hiệu trưởng quy định GV phối hợp với cha mẹ HS trong việc xây dựng kế hoạch GDTM theo một hệ thống các giá trị thẩm mỹ hoặc quy định GV chủ nhiệm phối hợp với Tổng phụ trách Đội của nhà trường trong việc tổ chức các hoạt động lao động. Hiệu trưởng cũng cần quy định lực lượng nào đóng vai trò chính, phụ trong quá trình phối hợp.

Nhà giáo dục có đầy đủ phẩm chất và năng lực cần thiết, đáp ứng yêu cầu của HĐ GDTM cũng là một việc làm cần thiết trong nội dung quản lý sự phối hợp các LLGD vì bản thân từng lực lượng tốt sẽ là điều kiện cần thiết cho sự phối hợp hiệu quả. Cho nên việc tổ chức đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về GDTM cho các LLGD và tổ chức giao lưu học tập kinh nghiệm và tạo động lực tích cực cho các LLGD khi tham gia HĐ GDTM là không thể thiếu.

  • Xây dựng mối quan hệ phối hợp Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

Hiệu trưởng nhấn mạnh ý thức trách nhiệm trong công việc của từng khối, tổ, phòng ban, bộ phận và các cá nhân trong từng tập thể thông qua các cuộc họp. Giải thích ý nghĩa của sự phối hợp giữa các khối, tổ, phòng ban, bộ phận trong trường và giữa các cá nhân trong cùng một khối, tổ, phòng ban, bộ phận khi thực hiện nhiệm vụ GDTM. Ban chỉ đạo hướng dẫn PP phối hợp, giám sát và đánh giá sự phối hợp.

  • Tạo điều kiện thực hiện kế hoạch GDTM cho HS của nhà trường

Ban chỉ đạo thường xuyên quan sát và lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của các LLGD khi tham gia công tác GDTM cho HS. Tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các LLGD thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Bàn bạc và thống nhất cách hỗ trợ khi cần thiết.

1.5.3. Chỉ đạo hoạt động giáo dục thẩm mỹ ở trường tiểu học

Đây là chức năng thể hiện năng lực của người quản lí. Sau khi hoạch định kế hoạch và sắp xếp tổ chức, người cán bộ quản lý phải điều khiển, chỉ đạo cho hệ thống HĐ theo đúng kế hoạch nhằm thực hiện mục tiêu đã đề ra. Chỉ đạo thực hiện kế hoạch HĐ GDTM cho HS tiểu học bao gồm các việc sau:

  • Ra quyết định thực hiện kế hoạch HĐGDTM cho HS

Hiệu trưởng thông báo công khai, ra các quyết định thực hiện kế hoạch: quyết định về thực hiện kế hoạch chung, quyết định phân công công việc, quyết định thực hiện các chương trình GDTM, quyết định cử đi học tập nâng cao trình độ, quyết định khen thưởng,…

  • Thông báo quy định về tổ chức, thực hiện HĐGDTM cho HS

Hiệu trưởng thông báo công khai các qui định, nhiệm vụ và quyền lợi của các LLGD (phó hiệu trưởng, khối trưởng, GV) khi tham gia tổ chức thực hiện HĐ GDTM để tất cả các cá nhân, đoàn thể đều nắm rõ nhằm thực hiện đúng các qui định, trong phạm vi trách nhiệm và đảm bảo quyền lợi của mình. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

  • Giám sát, thúc đẩy, điều chỉnh việc thực hiện kế hoạch đã đề ra

Hiệu trưởng giám sát phó hiệu trưởng trong việc tiến hành khảo sát nhu cầu và thực trạng GDTM cho HS của trường mình, giám sát việc phó hiệu trưởng tổ chức bồi dưỡng cho GV về các nội dung liên quan đến GDTM, giám sát việc phó hiệu trưởng phối hợp với các khối trưởng, GV và các LLGD khác trong HĐGDTM,…

Hiệu trưởng giám sát các khối trưởng trong việc triển khai các kế hoạch GDTM và tổ chức thực hiện GDTM trong khối của mình, giám sát các khối trưởng trong việc phối hợp với phó hiệu trưởng, với GV và các LLGD khác,…

Hiệu trưởng giám sát GV trong việc thực hiện lồng ghép và tích hợp nội dung GDTM vào các tiết dạy; giám sát GV thực hiện GDTM cho HS trong các giờ HĐ NGLL, sinh hoạt chủ nhiệm,…; hiệu trưởng giám sát GV trong việc phối hợp với các LLGD khác nhằm GDTM cho HS.

  • Khen thưởng, phê bình các LLGD trong HĐ GDTM

Hiệu trưởng hỗ trợ các điều kiện cần thiết cho cấp dưới thực hiện HĐ GDTM, khuyến khích họ thực hiện kế hoạch đúng tiến độ và có hiệu quả. Tuyên dương kịp thời các tập thể và cá nhân hoàn thành tốt nhiệm vụ. Bên cạnh đó, hiệu trưởng thực hiện tổng kết, phê bình những cá nhân và tập thể chưa thực hiện đúng nhiệm vụ hoặc mục tiêu đã đề ra trong kế hoạch HĐ GDTM, rút kinh nghiệm cho những HĐ sau được hiệu quả hơn.

1.5.4. Kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục thẩm mỹ ở trường tiểu học

Kiểm tra và đánh giá là chức năng được thực hiện thường xuyên. Kiểm tra, đánh giá HĐ GDTM cho HS tiểu học giúp các nhà quản lý trường tiểu học đối chiếu những gì đã làm được với mục tiêu đã đề ra, tìm ra những cái chưa đạt được để từ đó có những điều chỉnh trong hoạt động của mình nhằm đạt mục tiêu. Hiệu trưởng thực hiện chức năng kiểm tra, đánh giá HĐ GDTM cho HS tiểu học bao gồm các công việc cụ thể sau đây:

  • Phổ biến các tiêu chí đánh giá

Phổ biến các tiêu chí đánh giá các LLGD trong các hoạt động GDTM, các HĐ giáo dục có lồng ghép nội dung GDTM. Hướng dẫn, giải thích, trao đổi với các LLGD về các tiêu chí đánh giá.

  • Thực hiện kiểm tra định kỳ, kiểm tra đột xuất

Kiểm tra định kỳ hàng tháng các HĐ dạy học, giáo dục có nội dung GDTM. Bên cạnh đó, kết hợp với kiểm tra đột xuất việc thực hiện nhiệm vụ của các LLGD. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

  • Kiểm tra, đánh giá phó hiệu trưởng, khối trưởng, GV

Sử dụng kết hợp các PP kiểm tra, đánh giá trực tiếp và gián tiếp trong quá trình kiểm tra, đánh giá các LLGD trong tất cả các HĐ GDTM.

Hiệu trưởng kiểm tra và đánh giá kết quả tổ chức thực hiện HĐ GDTM của phó hiệu trưởng, kết quả triển khai kế hoạch của các khối trưởng tới các GV trong khối của mình, kết quả GDTM của GV đối với HS, hiệu quả phối hợp của các LLGD trong HĐ GDTM.

Hiệu trưởng có thể tiến hành kiểm tra, đánh giá các LLGD bằng nhiều hình thức kiểm tra như: kiểm tra bằng cách quan sát, trao đổi, trò chuyện, xem hồ sơ sổ sách, bằng phiếu đánh giá, bằng điểm số, bằng hiệu quả công việc… Sau khi kiểm tra cần rút kinh nghiệm về các hình thức hoạt động, các PP có hiệu quả, những ưu điểm, khuyết điểm để điều chỉnh, bổ sung cho kế hoạch lần sau

  • Khen thưởng cá nhân và tập thể có thành tích tốt, nhắc nhở và phê bình cá nhân và tập thể chưa tốt.

Nhận xét, tổng kết và rút kinh nghiệm tổ chức HĐ GDTM cho HS sau mỗi hoạt động GDTM và sau mỗi hoạt động giáo dục có lồng ghép nội dung GDTM; trong từng tổ bộ môn, trong từng khối lớp, trong trường hoặc cụm trường

Trên cơ sở của việc kiểm tra, đánh giá các LLGD tham gia HĐGDTM cho HS, hiệu trưởng đề nghị khen thưởng các cá nhân, tập thể có thành tích tốt trong quá trình tham gia HĐ GDTM cho HS, có thể thực hiện ở cấp trường, quận huyện, tỉnh thành hoặc quốc gia, và ngược lại.

1.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh ở các trường tiểu học Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

1.6.1. Các yếu tố khách quan

  • Các chính sách và chủ trương giáo dục của nước ta

Sự phát triển của giáo dục luôn cần có sự định hướng mang tầm chiến lược từ những người lãnh đạo, các cơ quan, ban ngành cấp trên. Việc Bộ GDĐT đưa ra nhiều Công văn, Quyết định, Thông tư,v.v… đối với giáo dục tiểu học, cụ thể như Điều lệ trường tiểu học, Chuẩn nghề nghiệp GV tiểu học, Tiêu chuẩn trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia,v.v…Đây là cơ sở pháp lý giúp cho người quản lý trường tiểu học thực hiện các nhiệm vụ quản lý hoạt động GDTM. Việc các cán bộ QLGD có thực hiện tốt hay không, có nhận thức đúng đắn hay không phụ thuộc nhiều vào phương hướng, mục tiêu từ các ban ngành cấp trên đưa ra có phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, sát với tình hình thực tiễn hay không.

  • Sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương

Ngoài các chính sách và chủ trương của nước ta về giáo dục thì sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, địa phương đối với GD nói chung và GDTM nói riêng rất quan trọng. Chính quyền địa phương là cơ quan gần nhất, nắm rõ các đặc điểm về kinh tế, xã hội và con người trong địa bàn nơi trường học trú đóng. Mức độ quan tâm, hỗ trợ của chính quyền địa phương sẽ có những ảnh hưởng nhất định đối với HĐ GDTM của nhà trường.

  • Gia đình

Gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên của trẻ, có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển nhân cách của HS. Việc GDTM cho HS tiểu học có đạt hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều từ gia đình. Do đó, việc gia đình của HS, cụ thể là cha mẹ, những người lớn trong gia đình có nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của GDTM hay không rất quan trọng. Từ việc nhận thức đúng đắn của ý nghĩa GDTM mà cha mẹ sẽ chủ động trang bị cho bản thân những kiến thức và kĩ năng cơ bản trong hoạt động GDTM cho con ngay tại trong gia đình, quản lý các con của mình trong quá trình GDTM, có sự phối hợp nhịp nhàng với nhà trường để thống nhất các quan điểm GDTM.

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ. Sự lạm dụng ngày càng nhiều ở trẻ em trong việc sử dụng các phương tiện cá nhân như điện thoại, máy tính bảng,…ảnh hưởng lớn đến việc rèn luyện thẩm mỹ của HS.

  • Môi trường xã hội xung quanh Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

Sự phát triển đa dạng của các quan niệm sống và giá trị sống. Sự phát triển này có ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý HĐ GDTM cho HS. Bên cạnh những giá trị tốt đẹp, vẫn còn có một bộ phận người lớn có lối sống chưa tốt, đi ngược với pháp luật, đạo đức, thuần phong, mỹ tục và điều này làm ảnh hưởng đến quá trình hình thành các yếu tố thẩm mỹ của HS, gây cản trở cho công tác giáo dục của GV và công tác quản lý của CBQL.

  • Sự phát triển mạnh mẽ của internet

Sự phát triển mạnh mẽ của internet trong thời đại ngày nay có sức ảnh hưởng to lớn đối với sự phát triển nhân cách của HS. Đối với các em HS tiểu học được tiếp xúc sớm với internet bằng các công cụ như điện thoại thông minh, máy tính bảng,…đó chính là con dao hai lưỡi trong quá trình GDTM. HS tiểu học có thể thông qua internet để hiểu hơn về thế giới bên ngoài, mở rộng sự hiểu biết của bản thân đối với vẻ đẹp thiên nhiên, nghệ thuật, âm nhạc,…qua phim, ảnh, video,…Tuy nhiên đối với lượng thông tin khổng lồ từ nguồn internet, HS tiểu học còn quá nhỏ để biết cách chọn lọc và thưởng thức các nội dung sao cho phù hợp với lứa tuổi và các chuẩn mực xã hội. Sự quản lý thiếu chặt chẽ của Cha mẹ HS trong quá trình GDTM cho con em mình, cho phép các em được tự do tìm hiểu, khám phá mọi thứ qua thế giới ảo dễ hình thành những quan niệm lệch lạc, bắt chước những hành vi xấu của một số thành phần tiêu cực trên mạng xã hội.

  • Giáo viên

GV đặc biệt là GVCN có ảnh hưởng, tác động quan trọng đối với HS. GV chủ nhiệm là LLGD có cơ hội, điều kiện tiếp xúc, gần gũi với HS thuận tiện trong việc lồng ghép GDTM trong các môn học, HĐ NGLL, trong các tiết sinh hoạt chủ nhiệm. Ngoài ra, còn có lực lượng GV bộ môn làm nhiệm vụ lồng ghép các kiến thức thông qua môn học họ phụ trách. Vì vậy, trước hết GV cần có ý thức trong việc GDTM cho HS, không được chú trọng giáo dục tri thức mà xem nhẹ công tác GDTM, phải xem GDTM là một bộ phận giáo dục quan trọng không kém các bộ phận giáo dục khác. Bên cạnh đó, GV đòi hỏi phải có năng lực, không chỉ năng lực chuyên môn mà cần chú trọng kỹ năng dạy học, biết vận dụng khéo léo các hình thức, PP GDTM trong quá trình giảng dạy, lồng ghép GDTM vào các HĐ khác một cách khéo léo, có hiệu quả. Hơn hết, GV phải là những người có đạo đức tốt, HS ngoài việc có thể nhận biết cái đẹp về hình thể thì hơn hết GDTM nhằm giúp HS yêu cái đẹp trí tuệ, tâm hồn, hiểu được vẻ đẹp hoàn hảo đến từ cả hình thức và nội dung. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

  • Học sinh

HS là đối tượng GDTM hướng tới, việc GDTM nhằm hoàn thiện nhân cách cho HS. Như vậy quá trình GDTM chỉ thành công khi vai trò chủ thể của HS được phát huy đầy đủ nhất.

Nhà giáo dục phải luôn đề cao vai trò chủ thể của HS trong quá trình GDTM. Vì vậy, các nhà giáo dục phải làm thế nào để trong quá trình giáo dục trang bị cho các em những kiến thức cơ bản về GDTM; các em được đưa ra ý kiến, quan điểm của mình để cùng tranh luận phê phán cái hay cái đẹp, cái được và chưa được…để có cái nhìn đúng đắn, cái nhìn thẩm mỹ hơn.

Dưới tác động giáo dục khách quan của nhà giáo dục, của gia đình và xã hội, mỗi HS không chỉ là khách thể mà còn là chủ thể tiếp nhận những tác động GD một cách chọn lọc, có ý thức, tự giác, tích cực nhằm biến những yêu cầu khách quan, những chuẩn mực về đạo đức, về lao động về thể chất và thẩm mỹ do xã hội qui định về hành vi, thói quen, thành lối sống văn hóa bền vững, ổn định của cá nhân họ. Nhờ vậy người HS không ngừng vận động phát triển đi lên và nhân cách của các em ngày càng hoàn thiện (Nguyễn Văn Hộ, Hà Thị Đức, 2002, p. 6).

Như vậy, HS tiểu học vừa là đối tượng tiếp nhận sự tác động của nhà GD trong HĐ GDTM, vừa là chủ thể tự GDTM.

1.6.2. Các yếu tố chủ quan

  • Nhận thức của cán bộ quản lý

CBQL có vai trò định hướng, tổ chức, chỉ đạo và đánh giá HĐGDTM cho HS; là trung tâm điều hành HĐ GDTM của các LLGD trong và ngoài trường. Việc định hướng HĐ GDTM có đúng đắn ngay từ đầu hay không phụ thuộc trực tiếp từ nhận thức của CBQL giáo dục, cụ thể là người Hiệu trưởng.

Trong quá trình tổ chức thực hiện HĐ GDTM trong nhà trường, người CBQL phải có tư duy đổi mới, kịp thời thay đổi sao cho phù hợp với hoàn cảnh nhà trường và xu hướng thẩm mỹ của xã hội. Việc này đòi hỏi người cán bộ phải có tư duy nhạy bén và sự mạnh dạn trong phong cách quản lý.

  • Năng lực và phẩm chất của cán bộ quản lý

CBQL là người chịu trách nhiệm trước nhà trường về chất lượng GDTM nên muốn có chất lượng GDTM thì công việc định hướng mục tiêu GDTM, lên kế hoạch GDTM ngay ban đầu phải được làm tốt và tổ chức thực hiện một cách nghiêm túc.

Bên cạnh đó, hoạt động GDTM sẽ đạt hiệu quả thông qua sự kết hợp chặt chẽ với tất cả các GV, các tổ bộ môn, với tổ chức Đội, với cha mẹ HS, với các LLGD khác để bàn bạc, thống nhất tác động giáo dục, đồng thời nắm được các thông tin đa dạng về HS của mình. Điều này đòi hỏi người CBQL ngoài năng lực chuyên môn cần có các kỹ năng thực hiện công việc khác để việc tổ chức HĐ GDTM được làm tốt.

Người CBQL, cụ thể là người Hiệu trưởng chính là người định hướng mục tiêu thẩm mỹ cho nên Hiệu trưởng phải là một nhà giáo có đạo đức tốt, có lối sống lành mạnh, phù hợp các tiêu chuẩn thẩm mỹ, Hiệu trường là một người có ý thức thẩm mỹ cao, có tư duy thẩm mỹ trong cách quản lý và là tấm gương sáng cho GV và HS noi theo.

Tiểu kết chương 1 Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

Thông qua lịch sử nghiên cứu trên thế giới và trong nước có thể nhận thấy rằng đề tài về GDTM cho HS tiểu học không phải là một đề tài mới, tuy nhiên vấn đề của hoạt động GDTM và quản lý HĐ GDTM hiện nay vẫn chưa được quan tâm, nghiên cứu đầy đủ.

Trong chương 1 bằng PP nghiên cứu lý luận, luận văn này tổng hợp và hệ thống các thông tin, tài liệu lý luận có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, khái quát thành cơ sở lý luận cho đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương”. Các khái niệm về HĐ GDTM và quản lý HĐ GDTM được hệ thống hóa.

Quản lý HĐ GDTM ở trường tiểu học gồm 3 nội dung

  • Giáo dục ý thức thẩm mỹ
  • Giáo dục thái độ, tình cảm thẩm mỹ
  • Giáo dục kĩ năng sáng tạo nghệ thuật, hành vi thẩm mỹ

Các nội dung quản lý trên được thực hiện thông qua 4 chức năng quản lý là chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá. Ngoài ra, các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý hoạt động GDTM cũng được trình bày trong đề tài.

Trên cơ sở lý luận được trình bày nhằm làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu ở chương 2 của đề tài Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh

One thought on “Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh

  1. Pingback: Luận văn: Biện pháp QL hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *