Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng công tác phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề trường Cao đẳng Nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát về Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng tiền thân là Trường Trung học nghiệp vụ Du lịch Hải Phòng được thành lập ngày 23/7/2013 trực thuộc Tổng Cục Du lịch Việt Nam, bắt đầu đi vào tuyển sinh và hoạt động từ năm 2014. Năm 2016 Trường được nâng bậc đào tạo Cao đẳng nghề theo Quyết định số 1875/QĐ-BLĐTBXH ngày 31 tháng 12 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội về việc thành lập Trường Cao đẳng nghề Du lịch Hải Phòng. Sau đó, Trường Cao đẳng nghề Du lịch Hải Phòng được đổi tên thành Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng theo Quyết định số 593/QĐ-BLĐTBXH ngày 12 tháng 5 năm 2018 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội về việc đổi tên Trường Cao đẳng nghề Du lịch Hải Phòng thành Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng.
Các giai đoạn phát triển:
- Giai đoạn phát triển từ năm 2013 đến 2019:
Thời gian đầu từ 2013 tới 2016 Trường đào tạo theo hệ Trung cấp chuyên nghiệp, tại cơ sở tạm thời số 8 Trần Phú- Ngô Quyền với mặt bằng và diện tích xây dựng hạn chế. Qui mô đào tạo bình quân của giai đoạn này khoảng 400 học sinh/năm, đào tạo 6 nghề trung cấp chuyên nghiệp hệ 2 năm, nghề hệ 1 năm.
Giai đoạn từ 2016 đến 2019, Trường được nâng cấp đào tạo Cao đẳng nghề, qui mô đào tạo bình quân của giai đoạn này khoảng 1200 học sinh/năm.
Đào tạo 6 nghề cao đẳng nghề hệ 3 năm và 3 nghề Trung cấp nghề hệ 2 năm, ngoài ra, Trường còn đào tạo các lớp nghiệp vụ ngắn hạn theo nhu cầu của doanh nghiệp. Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề.
Giai đoạn từ 2019 đến 2025, Trường chuyển về trụ sở mới được xây dựng trên khuôn viên 10, 8 ha tại xã Nam Sơn – huyện An Dương – thành phố Hải Phòng, đây là trụ sở chính, có cơ sở vật chất hoàn chỉnh bằng các nguồn vốn ngân sách nhà nước, nguồn viện trợ không hoàn lại của dự án phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt nam (EU). Tiếp tục phát huy những thành quả đã đạt được của các giai đoạn trước, Trường đã tận dụng tối đa mọi nguồn nội và ngoại lực để không ngừng nâng cao quy mô và chất lượng đào tạo
Từ năm 2022, Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng được Nhà nước xác định là cơ sở đào tạo nguồn nhân lực du lịch, dịch vụ đạt tiêu chuẩn quốc tế đến năm 2024. Nguồn vốn đầu tư phát triển Trường được cấp từ nguồn kinh phí thuộc dự án Đổi mới dạy nghề của Chính phủ Việt Nam giai đoạn 2020-2030 với tổng kinh phí khoảng 480 tỉ đồng. Nhà Trường sẽ tập trung đầu tư đào tạo bồi dưỡng năng lực chuyên môn, khả năng sử dụng ngoại ngữ (Tiếng Anh) cho đội ngũ cán bộ, giáo viên, nâng cấp chương trình đào tạo, giáo trình đáp ứng yêu cầu đào tạo đạt chuẩn quốc tế, đầu tư mới các trang thiết bị phục vụ đào tạo, đặc biệt sẽ xây dựng khách sạn quốc tế 3 sao để phục vụ thực hành.
- Những thành tích đã đạt được:
Với những thành tích hoạt động trong thời gian qua, nhà Trường được tặng nhiều danh hiệu thi đua của Bộ Văn hóa -Thể thao và Du lịch:
- Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tặng bằng khen “Tập thể lao động xuất sắc” cho tập thể cán bộ, giáo viên Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng các năm 2018, 2019, 2020.
- Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tặng bằng khen cho Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng đã có thành tích xuất sắc trong công tác đào tạo trong ngành Văn hóa – Thể thao và Du lịch giai đoạn 2016- 2020.
- Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận danh hiệu “ Tập thể lao động xuất sắc ”năm học 2022- 2023 cho 14 tập thể thuộc Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng.
- Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tặng Bằng khen cho 13 tập thể thuộc Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và đạt danh hiệu “ Tập thể lao động xuất sắc ” 02 năm liên tục (2020- 2020; 2020- 2021).
- Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tặng bằng khen cho 10 cá nhân thuộc Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và đạt danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở” 02 năm liên tục (2019 – 2021; 2021- 2022);
- Năm 2023, Nhà trường được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen tập thể Lao động xuất sắc;
- Trong năm 2023, Nhà trường có 01 đồng chí được Chủ tịch nước tặng huân chương Lao động hạng 3;
- Năm 2023, Nhà trường có 04 học sinh tham gia thi Tay nghề quốc gia và đã đạt được chứng chỉ xuất sắc.
- Năm 2024, Nhà trường có 01 giáo viên tham gia cuộc thi Tay nghề quốc gia đạt giải khuyến khích.
2.1.2. Chức năng và nhiệm vụ của trường Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề.
2.1.2.1. Chức năng của trường.
Trường có chức năng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực du lịch, dịch vụ tại vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ (Việt Nam) ở các trình độ Cao đẳng nghề, Trung cấp nghề, Trung cấp chuyên nghiệp, Sơ cấp nghề và trình độ thấp hơn nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển ngành du lịch tại khu vực theo yêu cầu của Nhà nước và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
2.1.2.2. Nhiệm vụ của trường
Tổ chức đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong ngành Du lịch – Dịch vụ ở các trình độ cao đẳng nghề, trung cấp nghề và sơ cấp nghề nhằm trang bị cho người học năng lực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, đạo đức lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có năng lực thích ứng với việc kinh doanh du lịch dịch vụ, tạo điều kiện cho người học tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu thị Trường lao động trong ngành Du lịch và các ngành liên quan đến hoạt động kinh doanh Du lịch.
Tổ chức xây dựng, duyệt và thực hiện các chương trình, giáo trình, học liệu dạy nghề đối với các ngành nghề được phép đào tạo. Tổ chức nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ; thực hiện sản xuất, kinh doanh và dịch vụ khoa học kỹ thuật theo quy định của pháp luật.
Tư vấn học nghề, tư vấn việc làm miễn phí cho người học nghề. Tổ chức cho người học tham quan, thực tập tại các doanh nghiệp
- Ngành nghề đào tạo:
Các ngành đào tạo chính quy hiện nay của Trường gồm:
Hệ Cao đẳng nghề: thời gian đào tạo 03 năm (đối tượng học sinh đã tốt nghiệp Trung học phổ thông). Gồm các nghề: Quản trị Khách sạn, Hướng dẫn du lịch, Quản trị Lữ hành, Dịch vụ nhà hàng (nay đổi thành Quản trị nhà hàng), Kỹ thuật chế biến món ăn, Kế toán doanh nghiệp. Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề.
Hệ Trung cấp nghề: Thời gian đào tạo 02 năm (đối với học sinh đã học xong hoặc tốt nghiệp Trung học cơ sở). Gồm các nghề: Dịch vụ nhà hàng, Kỹ thuật chế biến món ăn, Kế toán doanh nghiệp.
Hệ Sơ cấp nghề: Đào tạo liên thông giữa các bậc học: từ hệ Sơ cấp nghề lên Trung cấp nghề; từ hệ Công nhân kỹ thuật lên Trung cấp nghề; từ Trung cấp nghề lên Cao đẳng nghề đối với những học sinh đã tốt nghiệp hệ chính quy.
2.1.3. Cơ cấu tổ chức quản lý
Hình 2.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức trường Cao đẳng Nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng
2.1.4. Cơ sơ vật chất của trường
Trường có trụ sở tại xã Nam Sơn – An Dương- Hải Phòng, đây là địa điểm có vị trí thuận lợi trên mặt đường 5, sát ngay Trung tâm thành phố Hải Phòng (tổng diện tích đất hơn 108.378 m2). Địa điểm trên có giao thông thuận tiện phù hợp với quy hoạch chung của khu vực và mạng lưới cơ sở dạy nghề của thành phố Hải Phòng. Trường được thiết kế xây dựng theo kiến trúc hiện đại với đầy đủ các phòng ban riêng biệt, các khối phòng học lý thuyết, xưởng thực hành,… có không gian rộng, thoáng mát tạo điều kiện thoải mái cho học sinh – sinh viên trong học tập.
Ngoài ra, nhà Trường còn được xây dựng thêm nhiều khối phòng chức năng khác đáp ứng được các nhu cầu của học sinh – sinh viên (HSSV)như: hội trường được bố trí 200 chỗ ngồi thuận tiện cho tổ chức hội họp, giao lưu văn nghệ; ký túc xá có thể giải quyết nhu cầu lưu trú cho HSSV của Trường. Đồng thời, để đáp ứng được nhu cầu học tập, nghiên cứu của HSSV, Trường tiếp tục đầu tư xây dựng nâng cấp thư viện của Trường.
Trường đặc biệt quan tâm đầu tư đến khối xưởng thực hành: có nhiều máy móc, thiết bị học tập được trang bị đồng bộ, hiện đại. HSSV sau giờ học lý thuyết sẽ được làm quen, thực hành ngay, điều này đem lại sự hứng thú và đạt hiệu quả cao hơn trong học tập, cũng như giúp học viên nắm vững, nâng cao trình độ chuyên môn
Bảng 2.1. Cơ sở vật chất của Trường
2.1.5. Kết quả đào tạo từ năm 2019-2024 Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề.
Từ năm 2019 đến nay, nhà trường chủ yếu đào tạo hệ cao đẳng tập trung, ngoài ra còn mở các lớp đào tạo ngắn hạn theo mô hình liên kết với các trung tâm, các sở ban ngành địa phương hoặc đào tạo nghề theo đơn đặt hàng (tập trung vào các doanh nghiệp). Kết quả đào tạo từ năm 2019 đến năm 2024 như sau:
- Bảng 2.2. Quy mô học sinh tốt nghiệp hệ cao đẳng từ năm 2019-2024
Nhận xét: Nhìn vào bảng thống kê ta thấy số lượng sinh viên tốt nghiệp hàng năm của trường thấp và có xu hướng giảm dần trong 5 năm qua. Nắm bắt được vấn đề trên, hiện nay trường đã và đang triển khai rất nhiều biện pháp quảng bá và thu hút lượng sinh viên đầu vào cũng như tập trung phát triển nghề đào tạo tại trường.
Biểu đồ 2.1. Quy mô đào tạo của trường từ 2019 – 2024
- Đối với các chương trình đào tạo khác
Bên cạnh hình thức đào tạo hệ cao đẳng tập trung, trong những năm qua trường cũng đa dạng hoá các hình thức đào tạo nghề bằng cách tăng cường công tác tuyển sinh, mở các lớp đào tạo ngắn hạn theo mô hình liên kết với các trung tâm, các sở ban ngành địa phương hoặc đào tạo nghề theo đơn đặt hàng (tập trung vào các doanh nghiệp). Các hình thức đào tạo ngắn hạn đã đem lại một nguồn thu ngân sách ổn định cho trường trong những năm qua, tuy nhiên công tác đào tạo ngắn hạn của trường hiện nay vẫn còn chưa phát triển mạnh với số lượng các lớp và các ngành nghề đào tạo vẫn còn khá hạn chế.
Các lớp đào tạo liên kết và đào tạo theo đơn đặt hàng dưới hình thức các lớp ngắn hạn có số lượng học viên khá thấp so với hệ cao đẳng tập trung. Tuy nhiên các lớp ngắn hạn này đã và đang đáp ứng nhu cầu khá lớn của những người theo học các ngành về du lịch nhưng không có điều kiện học chính quy lâu dài, hay nhu cầu của một bộ phận không nhỏ những người thực hiện đang phục vụ trong ngành du lịch nhưng chưa có bằng cấp, chứng chỉ nghề. Với thế mạnh là cơ sở đào tạo các nghề du lịch chuyên sâu với trang thiết bị cơ sở vật chất được trang bị tốt trường đang mở rộng tuyển sinh các hệ liên kết đào tạo nhằm đem lại nguồn thu cho trường, đồng thời cũng đem lại biện pháp rèn luyện, nâng cao thêm tay nghề cho đội ngũ giáo viên dạy thực hành nghề tại trường.
2.2. Thực trạng đội ngũ giáo viên dạy nghề Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề.
2.2.1.Quy mô về số lượng và phân loại tổng quát đội ngũ giáo viên dạy nghề của nhà trường
Số lượng đội ngũ giáo viên dạy nghề trường Cao đẳng nghề Du lịch và dịch vụ Hải Phòng từ năm 2019 đến năm 2024.
Đội ngũ cán bộ, giáo viên nhà trường từ năm 2019 đến năm 2024 có xu hướng giảm dần: Năm 2019 – 2020: 48 giáo viên; Năm 2021-2022: 43 giáo viên; Năm 2022 – 2023: 44 giáo viên; Năm 2023- 2024: 42 giáo viên. Bảng 2.3: thống kê số liệu giáo viên theo từng khoa 2019-2024
2.2.2. Thực trạng cơ cấu đội ngũ giáo viên dạy nghề từ năm 2019-2024
2.2.2.1. Cơ cấu theo khoa chuyên môn
Bảng 2.4. Cơ cấu đội ngũ giáo viên theo khoa chuyên môn từ 2019-2024
Nhận xét: Qua bảng số liệu ta thấy sự phân công giáo viên ở các khoa không đồng đều nhau, điều này một phần do tính chất công việc và số lượng sinh viên của từng khoa có sự khác nhau cũng như chỉ tiêu giáo viên được tuyển dụng qua các năm của nhà trường phù hợp với cơ cấu tuyển sinh hàng năm. Năm 2019 và năm 2020 khoa Khách sạn chưa được tách ra từ khoa nhà hàng nên khoa khách sạn không có giáo viên nào.
2.2.2.2. Cơ cấu theo giới tính và độ tuổi
Cơ cấu về giới tính, độ tuổi trong đội ngũ giáo viên dạy nghề trường Cao đẳng Nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng từ năm 2019 – 2024.
- a). Về giới tính:
Tỷ lệ giáo viên nữ và giáo viên nam trong trường có sự chênh lệch khá lớn về giới tính, cụ thể: năm 2019-2020 tỷ lệ giáo viên Nữ chiếm tới 87, 5% trong khi đó tỷ lệ giáo viên Nam chỉ chiếm 12, 5%; sang đến năm học 2024, tỷ lệ giáo viên nữ lại tiếp tục tăng lên chiếm 88, 0%, tỷ lệ giáo viên nam giảm xuống chỉ còn 12, 0%.
Bảng 2.5. Cơ cấu giới tính đội ngũ giáo viên theo giới tính từ 2019-2024
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu giới tính đội ngũ giáo viên theo giới tính từ 2019-2024
- b). Về độ tuổi Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề.
Cơ cấu theo đô tuổi của đôi ngũ giáo viên dạy nghề Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng nhìn chung rất trẻ. Cụ thể: có tới 22, 0% giáo viên có độ tuổi dưới 30; tỷ lệ giáo viên có độ tuổi từ 30 – 40 chiếm 74, 0%, chỉ có 2, 0% giáo viên ở độ tuổi 51-60. Do vậy sức bật rất lớn, ham hiểu biết, cầu tiến bộ là cơ sở để trường phát triển trong những năm gần đây.
- Bảng 2.6. Cơ cấu đội ngũ giáo viên theo độ tuổi từ 2019-2024
- Biểu đồ 2.3: Cơ cấu đội ngũ giáo viên theo độ tuổi từ 2019- 2024
2.2.3. Thực trạng nâng cao năng lực của đội ngũ giáo viên dạy nghề tại nhà trường
2.2.3.1. Thực trạng nâng cao trình độ chuyên môn
Trình độ giáo viên trường cao đẳng nghề vừa là yếu tố phản ánh khả năng trí tuệ của giáo viên vừa là điều kiện cần thiết để thực hiện giảng dạy và nghiên cứu khoa học, trình độ của giáo viên cũng phản ánh được trình độ của một trường cao đẳng, là điều kiện quan trọng phản ánh sự tồn tại và phát triển của nhà trường, là tiêu chí để phân biệt đội ngũ giáo viên của trường cao đẳng với trường trung cấp.
- Bảng 2.7. Thống kê trình độ đội ngũ giáo viên
Trong những năm qua việc đào tạo nâng chuẩn và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên dạy nghề đã được nhà trường chú trọng và quan tâm. Hàng năm số lượng giáo viên của nhà trường được tham gia các khóa học sau đại học tại các trường đại học ngày càng tăng, từ 10, 0 % ở năm học 2019 – 2020, lên 22,% ở năm học 2023 – 2024. Nếu tính cả số cán bộ giáo viên đang theo học và sẽ tốt nghiệp thạc sỹ vào năm 2025-2026 thì số thạc sỹ của trường lên tới 33, 3%, nhưng so với mục tiêu chiến lược phát triển của nhà trường thì con số này vẫn còn khá thấp. Số lượng cán bộ, giáo viên được cử đi đào tạo ngắn hạn và dài hạn ở nước ngoài tăng khá (năm 2019 là 6 người, chiếm 13% tổng số cán bộ giáo viên, đến năm 2024 đã tăng lên 30 người, chiếm 71%).
Bên cạnh bằng cấp chuyên môn, bằng cấp về tin học, ngoại ngữ cũng là một trong những tiêu chí quan trọng đối với người giáo viên dạy nghề, xem xét trình độ ngoại ngữ của đội ngũ giáo viên ta thấy, tỷ lệ cán bộ, giáo viên có bằng cấp đại học tiếng Anh tăng từ 21,0 % năm học 2019 – 2020 lên 26,0% năm học 2023 – 2024, tỷ lệ tốt nghiệp đại học tin học cũng tăng từ 4,0 % năm 2019 lên 7 % năm 2024. Tuy nhiên tốc độ tăng này còn quá chậm không đáp ứng được tiêu chuẩn đặt ra đối với yêu cầu phát triển trường đạt cấp độ cấp quốc tế mà nhà trường đang phấn đấu. Để khắc phục tình trạng này, nhà trường đã đưa ra những biện pháp mạnh nhằm tạo động lực thúc đẩy người giáo viên giảng dạy trong tất cả các nhóm ngành để đáp ứng được các tiêu chuẩn của giáo viên dạy nghề theo đúng quy định. Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề.
- Về nghiệp vụ sư phạm:
Nhà trường có tới 95% giáo viên đã qua các lớp đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ sư phạm nghề hoặc sư phạm bậc I và bậc đại học, đặc biệt một số giáo viên của trường đã được bồi dưỡng phương pháp giảng dạy hiện đại theo mô hình của Oxtraylia do các chuyên gia Oxtraylia trực tiếp truyền đạt. Tuy nhiên, để nâng cao kỹ năng, phương pháp giảng dạy cho giáo viên chuyên ngành, nhà trường cần bồi dưỡng thêm về phương pháp giảng dạy hiện đại cho đội ngũ giáo viên này.
2.2.3.2. Thực trạng nâng cao kỹ năng nghề nghiệp
Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng là trường chuyên về đào tạo nghề du lịch nên đòi hỏi đội ngũ giáo viên phải có kỹ năng, chuyên môn nhất định. Do đặc thù của nhà trường nên mỗi khoa sẽ đào tạo đội ngũ giáo viên theo ngành nghề mà mình giảng dạy.
Thực trạng nâng cao kỹ năng cho đội ngũ giáo viên ở các khoa có sự khác nhau. Do nhận thức chưa đầy đủ về trình độ kỹ năng nghề nghiệp trong thời gian tương đối dài không được quan tâm đúng mức, đầu tư thích đáng nên có khoa vừa thừa vừa thiếu về số lượng giáo viên, lại vừa yếu về chất lượng chuyên môn nghiệp vụ, không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ giảng dạy của nhà trường. Tình trạng giáo viên trẻ vừa ra trường chưa có kinh nghiệm thực tế đã được nhận vào giảng dạy, trong khi đó phần lớn các môn phải vừa dạy lí thuyết vừa dạy thực hành
Để đánh giá kỹ năng nghề ta có thể xem xét bảng số liệu sau:
- Bảng 2.8. Thực trạng kỹ năng nghề của đội ngũ giáo viên
Qua điều tra khảo sát, nhận thấy kỹ năng làm việc nhóm, soạn giáo án tích hợp, kỹ năng văn phòng chiếm trên 50 phần trăm ở mức giỏi, kết quả này cho thấy đội ngũ giáo viên có đủ năng lực để hoàn thành công việc giảng dạy trên lớp, tuy nhiên các kỹ năng như thiết kế bài giảng điện tử, sử dụng tiếng Anh, thiết kế Slide năng lực còn thấp. Đặc biệt là tiếng Anh vì thành thạo tiếng anh giúp cho giáo viên có thể tìm tài liệu phục vụ cho công tác giảng dạy Phần lớn, các kỹ năng của đội ngũ giáo viên được bồi dưỡng đều được tổ chức tại trường thông qua các lớp ngắn hạn, chương trình đào tạo tập huấn và bồi dưỡng.
Qua các khoá đào tạo, phần lớn chương trình khi được giảng dạy có một số giáo viên tại các khoa được đào tạo nhưng không phù hợp, không có tiêu chí đánh giá mức độ phù hợp về nội dung đào tạo, giữa lý thuyết và nhu cầu thực tế còn cách xa, cơ cấu kiến thức giữa thực hành và lý thuyết đào tạo, giữa công việc tại các khoa chưa tương xứng.
Về phương pháp đào tạo, các giáo viên giàu kinh nghiệm, thâm niên công tác cao hướng dẫn những giáo viên mới, cho nghiên cứu bài giảng và môn học sẽ đảm nhận trong vòng 6 tháng, bên cạnh đó, các giáo viên mới sẽ được dự giờ bởi các giáo viên giàu kinh nghiệm còn các giáo viên lâu năm thì được tham gia các lớp tập huấn để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
Tham gia các lớp nâng cao kỹ năng giảng dạy như: giảng dạy giáo án tích hợp, bài giảng điện tử, lớp học tập huấn về chuẩn đầu ra và các chương trình nâng cao kỹ năng giao tiếp…. Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề.
2.2.3.3. Thực trạng nghiên cứu khoa học.
Về vấn đề nghiên cứu khoa học, nghiên cứu khoa học là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong nhà trường, mỗi cán bộ giảng viên phải tham gia nghiên cứu khoa học để không ngừng nâng cao chất lượng chuyên môn của mình, trong những năm qua, Nhà trường đã có chính sách và biện pháp khuyến khích cán bộ, giảng viên nghiên cứu khoa học. Các kết quả nghiên cứu khoa học đã được ứng dụng trong công tác quản lý, nâng cao chất lượng dạy nghề, đặc biệt là các đề tài nghiên cứu về phân tích nghề, tiêu chuẩn kỹ năng nghề và chương trình khung một số nghề thuộc lĩnh vực du lịch đã được ứng dụng vào thực tiễn đào tạo nghề cho học sinh sinh viên.
- Đối với công tác quản lý đào tạo:
Nhà trường đã xây dựng trang tin điện tử (website) để cung cấp các dịch vụ thông tin, tìm kiếm, tra cứu, phổ biến, tiếp thu, truy xuất dữ liệu giữa nhà trường và học sinh, sinh viên. Nhờ có công nghệ Internet cho nên việc tra cứu, tiếp cận các văn bản pháp quy, các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của các cơ quan cấp trên trở nên dễ dàng, nhanh chóng và tiện lợi; đồng thời việc quản lý, trao đổi văn bản trong hệ thống các bộ phận chuyên môn nhanh, gọn, hệ thống hơn.
Với việc ứng dụng công nghệ thông tin nên hầu hết hệ thống sổ sách, biểu mẫu quản lý điểm, đề thi của học sinh, sinh viên, công tác tuyển sinh, quản lý học phí… đều được quản lý trên hệ thống phần mềm chuyên biệt.
Các phần mềm Nhà trường ứng dụng phục vụ công tác quản lý: phần mềm quản lý đào tạo; phần mềm kế toán; phần mềm tài sản; phần mềm văn thư lưu trữ; phần mềm quản lý thư viện điện tử.
- Đối với công tác giảng dạy:
Ứng dụng công nghệ thông tin để soạn giáo án và trình giảng đã được hầu hết các giáo viên thực hiện và coi đây là hoạt động nghiên cứu khoa học, học tập nâng cao trình độ nhằm cải tiến phương pháp dạy học, thu hút sự quan tâm, chú ý, kích thích khả năng tự hoạt động của sinh viên. Các phần mềm ứng dụng phục vụ giảng dạy: phần mềm kế toán; phần mềm Tiếng Anh; phần mềm quản lý khách sạn; phần mềm quản lý tour, đặt chỗ. Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề.
Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) và ứng dụng công nghệ của Nhà trường còn nhiều khó khăn, bất cập cần giải quyết, đó là:
Tiềm lực và trình độ khoa học công nghệ (KH-CN), đội ngũ cán bộ KH&CN tuy có phát triển về số lượng nhưng chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu, lý do:
Nguyên nhân chính vẫn thuộc về bản thân đội ngũ giáo viên dạy nghề tại trường. Lực lượng giáo viên trẻ chưa có nhiều kinh nghiệm trong công tác nghiên cứu khoa học, còn đội ngũ giáo viên lớn tuổi được tuyển dụng về trường từ các doanh nghiệp du lịch hầu hết đều chưa từng tham gia công tác nghiên cứu khoa học trước đây nên còn chưa mạnh dạn tham gia vào công tác này.
- Do đặc thù trường dạy nghề nên phương pháp tiếp cận NCKH thường tiếp cận theo hoạt động thực tiễn chưa quan tâm nhiều đến Khoa học hàn lâm;
- Một số giảng viên chưa nhận thức được tầm quan trọng của NCKH. Do vậy, giảng viên chưa thực sự chủ động đưa ra các đề tài nghiên cứu.
- Năng lực nghiên cứu khoa học của nhiều giáo viên chưa đáp ứng được nhiệm vụ, thiếu các nhà khoa học đầu ngành, thiếu các nhóm nghiên cứu và khả năng làm việc nhóm của giáo viên còn nhiều hạn chế.
- Một số cán bộ, giáo viên trong quá trình NCKH, do còn hạn chế về trình độ ngoại ngữ nên tính thiết thực của tài liệu sử dụng giảm đi rất nhiều và nội dung của các công trình nghiên cứu chưa phong phú.
Nguồn kinh phí dành cho hoạt động NCKH còn khiêm tốn trong khi đó việc NCKH vừa tốn nhiều thời gian, công sức và kinh phí.
- Ngân sách cho hoạt động NCKH của đơn vị đối với sinh viên chưa được quan tâm; thiếu các Giảng viên có kinh nghiệm NCKH để hướng dẫn cho học sinh, sinh viên.
- Mối liên kết giữa nghiên cứu và đào tạo, giữa nghiên cứu với thị trường, giữa nhà khoa học với doanh nghiệp còn yếu.
- Nhà trường chưa xây dựng được hệ thống tổ chức quản lý nghiên cứu khoa học. Chưa có qui trình quản lý, chuyển giao đề tài một cách khoa học và chặt chẽ, việc khai thác tiềm năng nghiên cứu khoa học hiện có của nhà trường chưa tốt, dẫn đến việc nhận đề tài cấp cấp Bộ, cấp Nhà nước hoặc thu hút các đề tài từ các địa phương, tạo liên kết triển khai còn hạn chế.
2.2.3.4. Thực trạng nâng cao nhận thức
Những năm gần đây, trường Cao đẳng Nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng đã quan tâm hơn đến việc bồi dưỡng phẩm chất chính trị, giúp giáo viên hiểu biết và thực hiện tốt các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước. Đồng thời quan tâm đến việc đào tạo và nâng cao nhận thức cho đội ngũ giáo viên, bằng nhiều biện pháp như là: tổ chức các cuộc hội thảo, thảo luận, toạ đàm về phương pháp giảng dạy để tổ chức lớp học được tốt hơn. Mời các giáo viên có kinh nghiệm, các chuyên gia hàng đầu về giảng dạy, cử các giáo viên giàu kinh nghiệm, tay nghề cao tham gia thi giáo viên dạy giỏi tại khu vực, thành phố, quốc gia. Tuy nhiên, việc nâng cao nhận thức cho đội ngũ giáo viên, bao gồm chuyên môn nghiệp vụ, chính trị, tư tưởng nhà trường chưa xem xét kỹ và chưa có nhiều kế hoạch cho việc làm này.
Đội ngũ giáo viên nhà trường phần lớn còn trẻ nên kinh nghiệm thực tế chưa nhiều, chưa xác định được việc gắn bó với nghề lâu dài nên ý thức nghề nghiệp còn chưa cao. Nhưng đa số đều là những tấm gương sáng, tận tuỵ, gương mẫu trong công việc, tôn trọng thương yêu con người.
2.2.4. Thực trạng về tạo động lực thúc đẩy Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề.
Việc tạo động lực thúc đẩy cho đội ngũ giáo viên dạy nghề là yếu tố thúc đẩy họ làm việc chăm chỉ hơn, cống hiến hết mình cho tổ chức và mong muốn gắn bó với nhà trường lâu dài.
2.2.4.1. Công cụ vật chất
Tiền lương là một trong những động lực chính thúc đẩy đội ngũ giáo viên nỗ lực làm việc. Từ năm 2019 đến nay, nhà trường có nhiều cố gắng trong việc tìm kiếm nguồn thu như làm dịch vụ, liên kết đào tạo…để bù đắp một phần thu nhập từ nguồn ngân sách nhà nước cấp cho đội ngũ giáo viên. Vì vậy, tình hình chung về thu nhập của đội ngũ giáo viên nhà trường có tăng so với các năm trước, đây chính là điều kiện cơ bản để người Lao động ổn định thu nhập, cải thiện cuộc sống.
- Bảng 2.9. Thống kê tổng thu nhập/ tháng của giáo viên.
Điều tra mức độ hài lòng về tiền lương của đội ngũ giáo viên dạy nghề cho thấy mức độ hài lòng về tiền lương của đội ngũ giáo viên nhà trường là rất thấp chỉ đạt 25%, còn trên 60% là tương đối hài lòng và không hài lòng; 72% số giáo viên cho rằng tổng thu nhập của họ nhận được hàng tháng tại trường là không đáp ứng đủ cho cuộc sống hàng ngày của họ. Do dó, tiền lương chưa thực sự mang lại hiệu quả kích thích tới toàn bộ đội ngũ giáo viên dạy nghề tại trường.
- Bảng 2.10. Mức độ hài lòng với tiền lương của đội ngũ giáo viên, phụ lục 1
2.2.4.2. Yếu tố phi vật chất
Công cụ phi vật chất được nhà trường sử dụng rất đa dạng với các chế độ khen thưởng, kỷ luật, xây dựng môi trường làm việc tích cực cũng như tạo điều kiện để người giáo viên có cơ hội tham gia các khóa đào tạo miễn phí và phát triển nghề nghiệp trong tương lai.
Hiệu quả của các công cụ phi vật chất được đánh giá chủ yếu thông qua mức độ hài lòng và sự cảm nhận mang tính chủ quan của bản thân người giáo viên trong quá trình giảng dạy và thực hiện các nhiệm vụ công tác tại trường
Tác giả đã tiến hành khảo sát mức độ tác động của công cụ phi vật chất đến đội ngũ giáo viên dạy nghề tại trường và thống kê mức đánh giá theo các tiêu chí trong bảng 2.11 dưới đây:
Bảng 2.11. Đánh giá mức độ tác động của công cụ phi vật chất đến đội ngũ giáo viên dạy nghề, phụ lục 1
- Nhận xét: Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề.
Mức điểm đánh giá mức tương đối hài lòng cho các công cụ phi vật chất được thể hiện trong bảng là tương đối cao cho thấy mức độ tác động của các công cụ này đến hiệu quả làm việc của người giáo viên là khá đáng kể, sự tin tưởng của cấp trên được đánh giá với hài lòng cao nhất là 40% đi cùng với chế độ khen thưởng và kỷ luật áp dụng cụ thể đối với từng mức độ hoàn thành công việc của người giáo viên đã được đội ngũ giáo viên đánh giá có tác động rất nhiều đến hiệu quả làm việc của họ.
Hầu hết các giáo viên khi làm việc tại trường đều được tạo cơ hội tham gia các khóa đào tạo miễn phí do nhà trường hoặc các cơ quan chủ quản tổ chức, đặc biệt là các khóa đào tạo ở nước ngoài. Có một số giáo viên đánh giá không cao ở tiêu chí này đa phần là các giáo viên trực thuộc các khoa không phải khoa chuyên ngành của trường nên chưa nhận được sự đầu tư để có cơ hội phát triển bản thân thông qua các khóa đào tạo.
Yếu tố làm người giáo viên chưa hài lòng khi làm việc tại trường là sự công bằng trong quá trình xét thưởng những nỗ lực mà họ đã bỏ ra với mức không hài lòng là 27, 5%, các đánh giá này phần lớn rơi vào đội ngũ giáo viên trẻ khi họ cảm thấy những nhiệt tình cống hiến trong công tác giảng dạy và các phong trào của họ chưa được khen thưởng xứng đáng.
Bên cạnh đó, môi trường làm việc cũng được đánh giá chưa thật sự tạo ra hứng thú và sự thoải mái cho người giáo viên trong công việc giảng dạy khi mức không hài lòng là 12,5% và tương đối hài lòng chỉ đạt ở 40%. Lý do chính được các giáo viên đưa ra là áp lực công việc khi bên cạnh nhiệm vụ giảng dạy, họ phải đảm nhiệm quá nhiều công việc liên quan của khoa như: trực khoa, mở cửa khu thực hành trực thuộc khoa khi có khách tham quan, …vì ở các khoa hiện nay đều chưa có giáo vụ khoa. Thêm vào đó, các thủ tục tổ chức thi và vào điểm khi kết thúc môn học/mô-đun cũng gây phiền hà và mất thời gian của giáo viên với các quy trình lặp lại như: vào điểm ở sổ tay giáo viên, vào điểm ở sổ lên lớp, vào điểm trong phần mềm đào tạo….
Do đó, trong thời gian tới nhà trường cần đưa ra được những chính sách hợp lý để giảm thiểu áp lực công việc cho người giáo viên. Phòng Đào tạo cũng cần đưa ra một quy trình chuẩn xác và rút ngắn các công đoạn thủ tục giấy tờ nhằm tạo tâm lý thoải mái, hứng thú cho người giáo viên đối với công việc, từ đó, giúp đội ngũ giáo viên dạy nghề cảm thấy yêu thích công việc giảng dạy tại trường.
- Tóm lại
Trong những năm qua nhà trường đã rất tích cực và chủ động trong việc áp dụng các công cụ tạo động lực làm việc cho đội ngũ giáo viên dạy nghề tại trường. Tuy nhiên, các công cụ này chưa đủ mạnh, chưa đem lại hiệu quả thực sự rõ rệt, để khuyến khích đội ngũ giáo viên. Nhà trường cần có chế độ ưu đãi hơn để thu hút và giữ chân giáo viên sau khi đào tạo.
2.2.5. Phân tích kết quả khảo sát sự hài lòng của sinh viên khóa 6 và doanh nghiệp sử dụng lao động nghề được đào tạo tại trường
2.2.5.1. Giới thiệu chung về cuộc điều tra Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề.
Trong thời gian làm đề tài, tác giả đã kết hợp với Phòng Kiểm định và Đảm bảo chất lượng tiến hành khảo sát mức độ hài lòng của sinh viên khóa 6 đang học kỳ cuối tại trường và các doanh nghiệp sử dụng lao động nghề được đào tạo tại trường để có thể phân tích, đánh giá một cách khách quan về đội ngũ giáo viên dạy nghề của trường.
Mô tả mẫu:
- Đối với học sinh: Tổng số phiếu phát ra là 100, tổng số phiếu thu hồi là 100, số phiếu không hợp lệ là 0. Số phiếu lấy kết quả điều tra là 100 (Phụ lục 2)
- Đối với doanh nghiệp: Tổng số phiếu phát ra là 45, tổng số phiếu thu hồi là 45, số phiếu không hợp lệ là 5. Số phiếu lấy điều tra là 40 (Phụ lục 3)
Tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả để tiến hành xử lý mẫu
2.2.5.2. Phân tích kết quả khảo sát sự hài lòng của học sinh
- Đánh giá hoạt động học tập trên lớp
Sinh viên chính là sản phẩm của quá trình giảng dạy, đào tạo của đội ngũ giáo viên dạy nghề. Để quá trình đào tạo đạt hiệu quả, nhà trường không chỉ chú trọng vào đội ngũ giáo viên dạy nghề mà cần phải quan tâm, nắm bắt được tâm sinh lý, nhu cầu, mong muốn của sinh viên để đưa ra những phương pháp giảng dạy, giáo dục hiệu quả.
- Bảng 2.12. Đánh giá của sinh viên năm cuối đối với hoạt động học tập trên lớp
Hầu hết những đánh giá của học sinh về hoạt động học tập trên lớp đối với các yếu tố đưa ra đều dao động quanh mức độ hài lòng
Tuy nhiên điều đáng quan tâm ở đây là yếu tố “Phương pháp giảng dạy của giáo viên” được đánh giá với mức không hài lòng cao nhất chiếm 55%, điều này có nghĩa là phương pháp giảng dạy được giáo viên sử dụng chưa thật sự phù hợp với mong muốn và nhu cầu học tập của học sinh. Trên thực tế rất nhiều giáo viên tại trường còn sử dụng phương pháp giảng dạy cũ, tức là giáo viên giảng liên tục, học sinh lắng nghe và ghi chép, chưa phát huy được tính chủ động của học sinh trong quá trình học tập trên lớp. Điều này dễ gây ra sự mỏi mệt và nhàm chán trong các giờ học đối với học sinh.
Các yếu tố thuộc về mức độ đầu tư của trường cho công tác giảng dạy: Các phương tiện hỗ trợ dạy học, Môi trường học tập, chất lượng giảng đường được đánh giá với hai mức điểm cao với mức trên hài lòng là 40% và 50%, điều này cho thấy nhà trường rất chú trọng đến việc đầu tư cho hoạt động dạy và học của giáo viên và học sinh nhằm tạo những điều kiện thuận lợi và thoải mái trong quá trình dạy và học tại trường như: trang bị máy chiếu, màn hình chiếu cho tất cả các phòng học trong giảng đường, trang bị loa cho các khoa, hệ thống phòng học, điện, quạt,…
Các yếu tố: Nội dung kiến thức trong các buổi học, Mức độ cập nhật thông tin mới trong bài học, Chất lượng giáo trình và tài liệu học tập được đánh giá ở mức tương đối hài lòng lần lượt là 41%, 46%, 47%. Các mức điểm này vẫn chưa đạt đến mức đánh giá “Hài lòng”, mà chỉ nằm ở trên mức độ “Tương đối hài lòng”. Trong khi tất cả các yếu tố này đều thuộc nhóm các yếu tố chủ quan của người giáo viên, hay nói cách khác các giáo viên chưa có sự chuẩn bị chu đáo, và chưa thật sự đầu tư cho bài giảng của mình đối với hoạt động giảng dạy trên lớp. Do đó, công tác phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề trong thời gian tới cần chú ý đến các yếu tố này, tìm ra nguyên nhân và sớm đưa ra biện pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả công tác giảng dạy của trường. Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề.
- Đánh giá hoạt động rèn luyện kỹ năng nghề
Để đánh giá về hoạt động rèn luyện kỹ năng nghề tại trường, tác giả đã tiến hành khảo sát trên 4 yếu tố cơ bản có ý nghĩa quyết định đến năng lực thực hành nghề cho sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường. Kết quả đánh giá được thể hiện trong bảng sau.
Bảng 2.13. Điểm đánh giá của học sinh năm cuối đối với hoạt động rèn luyện kỹ năng nghề
Giống như bảng 2.12, yếu tố Cơ sở vật chất, trang thiết bị thực hành vẫn được đánh giá với mức hài lòng cao, trong đó có hơn 57% số phiếu được hỏi đánh giá mức độ cao nhất “Rất hài lòng”, điều này một lần nữa khẳng định mức độ đầu tư rất đáng kể của trường về cơ sở vật chất phục vụ quá trình dạy học tại trường.
Yếu tố Những kĩ năng cơ bản về nghề bạn nhận được phản ảnh hiệu quả công tác giảng dạy thực hành nghề, cũng như kĩ năng nghề của người giáo viên được đánh giá tương đối cao, trong đó có 56% số phiếu trả lời ở mức độ “Hài lòng”, và 3% số phiếu đánh giá “Rất hài lòng”, con số này tương đương với kết quả đánh giá ở mức độ “Chưa hài lòng”. Ngoài những yếu tố cơ bản về quá trình tiếp thu của học sinh, sự đánh giá này cho thấy có thể xảy ra tình trạng không đồng đều về trình độ kỹ năng nghề của đội ngũ giáo viên dạy nghề trong trường, các Khoa cần tiến hành kiểm tra, rà soát và đánh giá lại trình độ kỹ năng nghề của giáo viên trong khoa để kịp thời bồi dưỡng, đào tạo.
2.2.5.3. Phân tích kết quả khảo sát sự hài lòng của doanh nghiệp
Việc tiến hành điều tra sự hài lòng của doanh nghiệp về mức độ đáp ứng yêu cầu công việc của lao động nghề được đào tạo tại trường có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình đánh giá chất lượng đào tạo tại trường có phù hợp với những yêu cầu, mong muốn của doanh nghiệp hay không. Từ đó, đưa ra những biện pháp thay đổi nhằm thực hiện được mục tiêu đào tạo những gì “doanh nghiệp và xã hội cần”, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho học sinh sau khi tốt nghiệp ra trường xin việc làm và quá trình tuyển dụng, sử dụng lao động của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao hơn.
Bảng 2.14. Điểm đánh giá của doanh nghiệp về mức độ đáp ứng yêu cầu công việc của Lao động nghề được đào tạo tại trường
Trong nhóm các yếu tố được khảo sát, các yếu tố về kiến thức và kỹ năng nghề được doanh nghiệp đánh giá ở mức 55%, 52, 5%. Chỉ nằm ở trên mức độ “Tương đối hài lòng”, vẫn còn xa khoảng “Hài lòng” và “Rất hài lòng”, điều này có nghĩa doanh nghiệp vẫn còn đánh giá năng lực thực hành nghề của học sinh sau khi được đào tạo tại trường chưa cao. Phần lớn doanh nghiệp đều nhận xét học sinh còn nặng về kiến thức lý thuyết, chưa thành thạo và chủ động trong quá trình thực hiện kỹ năng nghề nghiệp. Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề.
Một yếu tố được doanh nghiệp đánh giá khá cao là phẩm chất đạo đức và ý thức làm việc của học sinh với mức cao, cụ thể là 70% doanh nghiệp đánh giá mức độ “Hài lòng”, đây là một tiêu chuẩn thường được doanh nghiệp đòi hỏi rất cao ở người Lao động, đặc biệt là các doanh nghiệp tiêu chuẩn quốc tế.
Nhóm được đánh giá khá thấp là nhóm kỹ năng mềm: Kỹ năng làm việc nhóm, Kỹ năng giao tiếp, Khả năng chủ động sáng tạo trong công việc với cả ba mức điểm tương đối thấp và đều dừng ở mức tương đối hài lòng. Con số này cho thấy nhà trường chưa chú trọng đúng mức đến việc đào tạo nhóm kỹ năng mềm hoặc phương pháp giảng dạy của giáo viên chưa phát huy được các kỹ năng này cho học sinh trong thời gian đang học tập tại trường.
Yếu tố được đánh giá thấp nhất của học sinh là Khả năng ngoại ngữ, tin học với 60% doanh nghiệp “Không hài lòng” và 25% doanh nghiệp “Rất không hài lòng” về khả năng này của học sinh, đặc biệt là Tiếng Anh giao tiếp, hầu hết các doanh nghiệp du lịch hiện nay đều đòi hỏi rất cao về kỹ năng giao tiếp ngoại ngữ với du khách nước ngoài của người lao động. Tuy nhiên, doanh nghiệp nhận xét các em học sinh tốt nghiệp tại trường thường rơi vào trường hợp có thể viết tốt và đúng ngữ pháp Tiếng Anh nhưng lại không thể hoặc thiếu tự tin khi giao tiếp thực tế. Điều này dẫn đến hạn chế khả năng của các em rất nhiều trong quá trình làm việc, thậm chí đôi lúc tạo nên sự không hài lòng cho khách hàng khi không thể giao tiếp, trao đổi trong quá trình phục vụ khách.
Điều này đòi hỏi nhà trường cần có những giải pháp thiết thực trong thời gian tới khi tiến hành xây dựng chương trình và kế hoạch đào tạo, thay đổi cấu trúc và phương pháp giảng dạy một số môn học/ mô-đun liên quan đến nhóm Kỹ năng mềm và khả năng giao tiếp ngoại ngữ cho học sinh.
2.3. Đánh giá chung về thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề của Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề.
2.3.1. Những mặt mạnh
Nhiều chủ trương, chính sách đã được Đảng và Nhà nước quan tâm, ban hành nhằm định hướng cho nhà trường trong công tác xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên, nhờ đó mà quá trình thực hiện của nhà trường được thuận lợi từ việc phối hơp trách nhiệm và sự giúp đỡ của các cấp, các ngành có liên quan.
Trong những năm qua, Ban giám hiệu nhà trường rất quan tâm đến công tác phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề cả về số lượng và chất lượng, coi đây là nhiệm vụ quan trọng để thực hiện mục tiêu của nhà trường.
Nhận thức về yêu cầu học tập nâng cao trình độ của đội ngũ giáo viên đã được nâng lên một bước đáng kể trước những yêu cầu nhiệm vụ mới của nhà trường, thể hiện bằng hành động cụ thể trong việc tham gia vào quá trình thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng của nhà trường.
Hàng năm, nhà trường đều có xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí công tác và nhận xét đánh giá nhằm nâng cao hiệu quả công tác cho đội ngũ cán bộ giáo viên nhằm bảo đảm thực hiện sự nghiệp đào tạo của nhà trường;
Một số chế độ, chính sách khuyến khích động viên tuy chưa nhiều, nhưng cũng đã tạo các điều kiện thuận lợi, cần thiết cho đội ngũ giáo viên tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng và tự học tập để nâng cao trình độ đáp ứng theo yêu cầu chuẩn hóa về đội ngũ.
2.3.2. Những tồn tại
Công tác xây dựng phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề của nhà trường tuy có sự quan tâm của các cấp lãnh đạo và ban giám hiệu nhà trường, nhưng hiệu quả đạt được chưa cao.
Công tác quản lý chuyên môn chưa được quản lý đúng mức, việc đánh giá chất lượng giảng dạy và nghiên cứu khoa học của đội ngũ giáo viên chưa đi sâu vào chất lượng mà còn mang nặng tính hình thức.
Một số giáo viên còn thụ động, chưa tích cực học tập, bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn bản thân, chậm đổi mới phương pháp giảng dạy.
Công tác nghiên cứu khoa học chưa được thực hiện đều khắp trong đội ngũ giáo viên, chất lượng chưa thực sự đi vào chiều sâu, kết quả các đề tài nghiên cứu khoa học được ứng dụng vào thực tiễn chưa nhiều.
2.3.3. Nguyên nhân tồn tại Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề.
Nguyên nhân của những tồn tại trên là do:
- Nhà trường chưa thực sự chủ động, tích cực trong công tác tuyển dụng, thuyên chuyển cán bộ, quy trình thực hiện còn mất khá nhiều thời gian, còn lệ thuộc qua nhiều cấp quản lý.
- Nhà trường chưa xây dựng tiêu chuẩn chức danh đội ngũ giáo viên thành những tiêu chí cụ thể để làm cơ sở cho việc tổ chức đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng bố trí sử dụng một cách phù hợp.
- Đến nay, nhà trường vẫn chưa xây dựng thành kế hoạch mang tính chiến lược để định hướng cho công tác xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên nhằm đảm bảo cho sự phát triển cân đối, nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng, bố trí và sử dụng.
- Chính sách tạo động lực cho đội ngũ giáo viên chưa đúng mức, kịp thời để các đối tượng trong và ngoài quy hoạch đều tích cực tham gia học tập nâng cao trình độ năng lực.
- Chính sách động viên, khuyến khích chưa được quan tâm đầy đủ, chưa kịp thời để các đối tượng trong và ngoài diện quy hoạch đều tích cực tham gia học tập nâng cao trình độ, năng lực.
- Công tác kiểm tra đánh giá sau đào tạo chưa được quan tâm đúng mức của các bộ phận quàn lý, lãnh đạo nhà trường.
Tiểu kết chương 2
Chương 2 đã tập trung vào phân tích thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề của Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng. Qua phân tích thấy rằng, trong những năm gần đây, lãnh đạo nhà trường đã có nhiều cố gắng trong việc phát triển đội ngũ giáo viên ngày một hoàn thiện để phục vụ trực tiếp nhu cầu nhiệm vụ nhà trường và phần nào đã có những kết quả tương đối khả quan. Tỷ lệ giáo viên được đào tạo, có trình độ ngoại ngữ, tin học, các kỹ năng giảng dạy ngày càng được cải thiện, nâng cao, tuy nhiên, tồn tại vẫn còn nhiều như một số còn thụ động trong việc học hỏi, nghiên cứu khoa học, công tác quản lý chuyên môn chưa được quan tâm đúng mức, việc tổ chức đánh giá chất lượng giảng dạy và nghiên cứu khoa học của đội ngũ giáo viên chưa đi vào thực chất nội dung, chất lượng còn mang nặng tính hình thức, v.v… Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

