Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản trị rủi ro hàng hóa xuất nhập khẩu hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản trị rủi ro đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan Hải Phòng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1 Quá trình hình thành, phát triển của Cục Hải quan Hải Phòng.
2.1.1 Lịch sử hình thành phát triển
- Tên đầy đủ: Cục Hải quan thành phố Hải Phòng.
- Địa chỉ: Số 159 đường Lê Hồng Phong, P. Hải An, Thành phố Hải Phòng
- Điện thoại: (022) 53 836 262
- Website: www.hpcustoms.gov.
Cục Hải quan thành phố Hải Phòng được thành lập ngày 14 tháng 4 năm 1955 theo Nghị định số 87/BTC-NĐ-KB của Bộ công thương. Các đơn vị trực thuộc Cục bao gồm: phòng Tổ chức cán bộ; phòng Hành chính quản trị; phòng Giám quản hàng hoá xuất nhập khẩu và công cụ vận tải xuất nhập cảnh; phòng Kiểm hoá và thuế – Giá biểu; Phòng Kiểm nghiệm hàng hoá; phòng Kiểm soát và xử lý; phòng Thuyền vụ làm nhiệm vụ bảo quản, điều động phương tiện thuỷ các loại để phục vụ công tác kiểm soát, sửa chữa, đóng mới tầu thuyền; đội Kiểm soát, giám sát vùng duyên hải; đội Thương cảng; phòng Hải quan Hòn Gai; phòng Hải quan Cửa Ông; phòng Hải quan Diêm Điền; phòng Hải quan Đồ Sơn; phòng Hải quan Cát Bà; phòng Quản lý xuất nhập khẩu.
Tháng 4/1958, Bộ Thương nghiệp chia tách thành 2 bộ là Bộ Nội thương và Bộ Ngoại thương, ngành Hải quan trực thuộc Bộ Ngoại thương. Hải quan Hải Phòng được đổi tên là Phân sở Hải quan Hải Phòng và trực thuộc Sở Hải quan Trung ương.
Ngày 17 tháng 6 năm 1962, đổi tên Sở Hải quan Trung ương thành Cục Hải quan Trung ương trực thuộc Bộ Ngoại thương và đổi tên Phân sở Hải quan Hải Phòng thành Phân cục Hải quan Hải Phòng.
Ngày 20/11/1984, sau khi được Hội đồng Nhà nước phê chuẩn thành lập Tổng cục Hải quan, Hội đồng Bộ trưởng đã ra Nghị định 139/HĐBT quy định chức năng nhiệm vụ quyền hạn, tổ chức bộ máy Tổng cục Hải quan. Phân cục Hải quan Hải Phòng được đổi thành Hải quan Thành phố Hải Phòng.
Năm 1994, Hải quan thành phố Hải Phòng được đổi tên thành Cục Hải quan TP Hải Phòng.
Hải quan Hải Phòng đã phát huy nội lực, sáng tạo, áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào quản lý nhà nước về hải quan; liên tục là đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua toàn ngành Hải quan.
Cục Hải quan Hải Phòng đã thực hiện đồng bộ các giải pháp: Kiện toàn tổ chức bộ máy; đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính, thực hiện kế hoạch cải cách; phát triển, hiện đại hoá Hải quan giai đoạn 2024-2029; công khai hoá quy trình thủ tục Hải quan, niêm yết công khai văn bản mới; áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2017; tổ chức tuyên truyền pháp luật đến người khai Hải quan, người nộp thuế bằng nhiều hình thức, như: Thông tin đại chúng, tại trụ sở Cục, tư vấn hỗ trợ qua điện thoại… nhằm thu hút hoạt động XNK tại địa bàn, tổ chức Hội nghị đối thoại doanh nghiệp; đẩy mạnh công tác quản lý giá tính thuế.
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Cục Hải quan Hải Phòng Luận văn: Thực trạng quản trị rủi ro hàng hóa xuất nhập khẩu.
Sau khi Luật Hải quan ra đời và có hiệu lực thi hành, bộ máy tổ chức Cục Hải quan Hải phòng được sắp xếp xây dựng theo quy định của Luật Hải quan và phù hợp với các quy định về chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và quy trình nghiệp vụ Hải quan.
Hiện nay, Cục có 20 đơn vị trực thuộc bao gồm: 09 chi cục Hải quan cửa khẩu và ngoài cửa khẩu, 09 phòng ban tham mưu, 02 đơn vị tương đương (Đội KSHQ là đơn vị tương đương cấp Chi cục và Chi cục kiểm tra sau thông quan là Chi cục thực hiện chức năng riêng biệt).
Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Cục Hải quan thành phố Hải Phòng
Phòng Quản lý rủi ro Cục Hải quan Hải Phòng thực hiện các chức năng sau:
- Tổ chức thu nhập, cập nhật thông tin hồ sơ quản lý doanh nghiệp theo phân cấp.
- Tổ chức thu thập, cập nhật phân tích thông tin rủi ro.
- Xây dựng, áp dụng, quản lý hồ sơ QLRR, điều phối hoạt động kiểm tra Hải quan đối với hàng hóa XNK thương mại trong phạm vi Cục Hải quan.
- Thiết lập, cập nhật, áp dụng tiêu chí phân tích phục vụ đánh giá rủi ro, đảm bảo hiệu quả hoạt động kiểm tra trong thủ tục hải quan đối với hàng hóa XNK thương mại.
- Theo dõi, kiểm tra quá trình áp dụng QLRR, đánh giá hiệu quả áp dụng QLRR, điều chỉnh bổ sung chương trình, kế hoạch áp dụng QLRR tại Cục Hải quan.
- Quản lý, vận hành hệ thống thông tin phục vụ quản lý rủi ro theo phân cấp.
Các chi cục hải quan thực hiện các chức năng sau
- Thu thập, cập nhật thông tin rủi ro từ quá trình làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa XNK thương mại.
- Thiết lập, áp dụng các tiêu chí phân tích quyết định hình thức, mức độ kiểm tra tại Chi cục Hải quan.
- Phân tích thông tin, phát hiện các dấu hiệu vi phạm pháp luật hải quan trong quá trình làm thủ tục hải quan.
- Quyết định hình thức, mức độ kiểm tra và thực hiện hoạt động kiểm tra hải quan trong quá trình làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa XNK thương mại.
- Cập nhật, phản hồi thông tin kết quả kiểm tra trong quá trình làm thủ tục hải quan.
- Thu thập phản hồi thông tin, đánh giá hiệu quả áp dụng QLRR tại Chi cục hải quan, kiến nghị điều chỉnh, bổ sung áp dụng QLRR. Luận văn: Thực trạng quản trị rủi ro hàng hóa xuất nhập khẩu.
2.1.3 Đội ngũ cán bộ,viên chức
Trong giai đoạn 2021 – 2025, tổng số cán bộ nhân viên tại Cục Hải quan Hải Phòng có xu hướng gia tăng khá nhanh. Năm 2021 đơn vị có 918 cán bộ, nhân viên. Năm 2022 tăng lên 928 người (tăng 1.09% so với năm 2021). Năm 2023 đơn vị có 932 cán bộ, nhân viên (tăng 0.43% so với năm 2022). Năm 2024 tăng lên 938 người (tăng 0.6% so với năm 2023); đến năm 2025 là 949 người (tăng 1.2 % so với năm 2024).
Song song với tình hình gia tăng về mặt số lượng thì trình độ của cán bộ, nhân viên Cục Hải quan Hải Phòng cũng ngày càng được nâng cao, đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi của công việc. Điều này được thể hiện qua sự gia tăng của số lượng cán bộ, nhân viên có trình độ đại học, cao đẳng. Năm 2023 số cán bộ nhân viên có trình độ đại học, cao đẳng chiếm đến 757 người, tương đương với 81.2%. Năm 2024 tăng lên 759 người, tương đương với 80.9% tổng số cán bộ, nhân viên. Đến năm 2025 số lượng này giảm xuống còn 757 người (chiếm 79%).
Bảng 2.1: Tình hình nhân sự của Cục Hải Quan Hải Phòng
Ngoài ra, số lượng cán bộ, nhân viên có trình độ trên đại học cũng chiếm tỷ lệ tương đối cao. Tất cả các năm trong giai đoạn số lượng cán bộ, nhân viên có trình độ trên đại học đều chiếm tỷ lệ trên 18% tổng số nhân viên đơn vị. Có được kết quả này chính là nhờ lãnh đạo Cục Hải quan Hải Phòng đã luôn chú trọng và đặt công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, phát triển nguồn nhân lực lên hàng đầu, để có thể đáp ứng được những đòi hỏi cấp thiết của công cuộc cải cách, hiện đại hóa Hải quan cũng như yêu cầu của sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội.
2.1.4 Một số kết quả đã đạt được của Cục Hải quan Hải Phòng
Bảng 2.2: Kim ngạch XNK hàng hóa qua các năm
Giá trị kim ngạch XK tại Cục hải quan Hải Phòng trong giai đoạn 2021 – 2025 không ổn định. Năm 2023 kim ngạch XK đạt 53.86 tỷ USD (chiếm 86% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu). Năm 2024 giảm xuống còn 47.86 tỷ USD (giảm 11.14% so với năm 2023 nên chỉ chiếm 85% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu). Năm 2025 tăng mạnh, đạt 79.45tỷ USD (tăng 22.18% so với năm 2024 nhưng tỷ trọng giảm xuống còn 83.65% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu).
Giá trị kim ngạch XK tại Cục hải quan Hải Phòng trong giai đoạn 2021 – 2025 không ổn định. Năm 2023 kim ngạch XK đạt 53.86 tỷ USD (chiếm 86% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu). Năm 2024 giảm xuống còn47.86 tỷ USD (giảm11.14% so với năm 2023 nên chỉ chiếm 85% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu). Năm 2025 tăng mạnh, đạt 79.45tỷ USD (tăng 22.18% so với năm 2024 nhưng tỷ trọng giảm xuống còn 83.65% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu).
Kim ngạch NK tại Cục trong giai đoạn 2021 – 2025 cũng không ổn định. Năm 2023 kim ngạch NK đạt 8.72 tỷ USD (chiếm 14% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu). Năm 2024 giảm xuống còn 8.59 tỷ USD (giảm 1.53% so với năm 2023,chiếm 15% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu). Năm 2025 tăng lên đạt 15.53 tỷ USD (tăng 41.3% so với năm 2024 nên tỷ trọng tăng lên đạt 16% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu). Luận văn: Thực trạng quản trị rủi ro hàng hóa xuất nhập khẩu.
Nguyên nhân của sự thay đổi là do năm 2024 nền kinh tế khá ảm đạm nhưng sang năm 2025 nền kinh tế có dấu hiệu phục hồi nên các doanh nghiệp có xu hướng nhập khẩu trang thiết bị, nguyên vật liệu để sản xuất nên cả kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu đều tăng.
Hiện nay, hàng hóa làm thủ tục thông quan tại Cục Hải quan Hải Phòng chủ yếu là hàng rời và hàng đóng trong container. Các mặt hàng sắt thép, ô tô nguyên chiếc và phụ tùng, linh kiện lắp ráp ô tô, thiết bị máy móc, nguyên liệu sản xuất, lúa gạo, xăng dầu, … là những mặt hàng chủ đạo, chiếm phần lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Ngoài quy mô về hàng hóa tăng lên, chủng loại hàng hóa cũng đa dạng hơn, chủ thể XNK càng đa thành phần, thị trường đi và đến ngày càng được mở rộng… do đó khâu QLRR ngày càng được coi là khâu quan trọng trong nghiệp vụ tại Cục Hải quan Hải Phòng.
- Số lượng tờ khai hàng hóa xuất nhập khẩu Cục Hải quan giải quyết
Bảng 2.3: Số lượng tờ khai XNK đã giải quyết tại Cục Hải quan Hải Phòng
Số lượng tờ khai XNK mà Cục Hải quan Hải Phòng giải quyết được trong giai đoạn 2023 – 2025 không ổn định. Theo đó năm 2023 Cục giải quyết được 969,841 tờ khai, năm 2024 giảm xuống còn 594,607 tờ khai (giảm 38.7% so với năm 2023); năm 2025 số lượng tờ khai giải quyết được đạt 1,309,630 tờ (tăng 120% so với năm 2024).
Số lượng tờ khai XK không ổn định theo các năm, năm 2023 Cục giải quyết được 834,723 tờ khai XK, năm 2024 giảm xuống còn 535,551 tờ khai (giảm 36% so với năm 2023), năm 2025 tăng lên 1,217,959 tờ khai (tăng 127% so với năm 2024).
Số lượng tờ khai NK không ổn định qua các năm, năm 2023 Cục giải quyết được 135,118 tờ khai XK, năm 2024 giảm xuống còn 58,950 tờ khai (giảm 56% so với năm 2023), năm 2025 tăng lên 91,671 tờ khai (tăng 55% so với năm 2024).
Có được kết quả này là do năm 2025 nền kinh tế có dấu hiệu phục hồi và đặc biệt là sự cố gắng vượt bậc của Cục hải quan Hải Phòng.
- Tổng số thu nộp ngân sách nhà nước
Một trong những kết quả đáng ghi nhận của Cục Hải quan Hải Phòng giai đoạn 2021 – 2025 đó chính là sự gia tăng của giá trị nộp ngân sách Nhà nước của đơn vị.
Hình 2.1: Giá trị nộp ngân sách Nhà nước giai đoạn 2021 – 2025
Năm 2021 đơn vị thu nộp ngân sách Nhà nước đạt 32,045 tỷ đồng (đạt 65.1% so với chỉ tiêu của Bộ Tài chính giao), năm 2022 tăng lên 36,613 tỷ đồng (tăng 14.3% so với năm 2021, đạt 88,6% so với chỉ tiêu của Bộ Tài chính giao). Năm 2023 tăng lên 40,031 tỷ đồng (tăng 9.3% so với năm 2022, đạt 103.7% so với chỉ tiêu). Năm 2024 tăng lên 45,588 tỷ đồng (tăng 13.9% so với năm 2023, đạt 108.5% so với chỉ tiêu). Năm 2025 tăng lên 47,775 tỷ đồng (tăng 4.8% so với năm 2024, đạt 98.3% so với chỉ tiêu).
2.2 Thực trạng áp dụng quản trị rủi ro vào quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Cục Hải quan Hải Phòng. Luận văn: Thực trạng quản trị rủi ro hàng hóa xuất nhập khẩu.
2.2.1 Áp dụng quản lý rủi ro đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
Hiện nay, ngành Hải quan tập trung xây dựng hệ thống các đơn vị chuyên trách QLRR ở 3 cấp: Tổng cục, Cục và Chi cục. Cụ thể, các đơn vị chuyên trách QLRR đảm nhiệm được vai trò điều phối, chủ trì thực hiện công tác thu thập xử lý thông tin và phân tích, đánh giá rủi ro thống nhất được định hướng trong hoạt động kiểm tra, giám sát, kiểm soát theo dõi các rủi ro trong từng lĩnh vực nghiệp vụ Hải quan.
Hình 2.2: Mô hình phân cấp quản lý rủi ro theo 03 cấp
Cấp Tổng cục:
- Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược QLRR (gồm: Hệ thống và cơ chế điều hành QLRR; Chương trình, kế hoạch QLRR; Xây dựng hệ thống thông tin QLRR; Hồ sơ QLRR; Hồ sơ quản lý doanh nghiệp);
- Thiết lập và áp dụng Tiêu chí QLRR;
- Điều hành hoạt động QLRR trong phạm vi cấp ngành;
- Theo dõi, đánh giá quy trình QLRR, đo lường tuân thủ.
Cấp Cục:
- Truyền nhận dữ liệu đánh giá rủi ro;
- Thu thập thông tin phục vụ QLRR (gồm: Bộ chỉ tiêu thông tin quản lý doanh nghiệp; Thông tin vi phạm; Thông tin từ các nghiệp vụ; Thông tin phản hồi từ Chi cục);
- Xây dựng hồ sơ quản lý rủi ro cấp Cục;
- Thiết lập tiêu chí động;
- Theo dõi, hướng dẫn kiểm tra đánh giá việc thực hiện quy trình quản lý rủi ro của các Chi cục;
- Đánh giá hiệu quả quản lý rủi ro cấp Cục, báo cáo phản hồi về Tổng cục
Cấp Chi cục
- Bộ phận quản lý rủi ro
- Tiếp nhận dữ liệu đánh giá rủi ro từ cấp Cục
- Thu thập thông tin vi phạm
- Thu thập thông tin phản hồi
- Thiết lập tiêu chí phân luồng
- Tham mưu chuyển luồng
- Đánh giá hiệu quả QLRR tại Chi cục
- Các đơn vị xử lý rủi ro
- Thực hiện phân luồng hệ thống
- Xác định rủi ro ngay trong từng khâu nghiệp vụ thông quan
- Phản hồi thông tin (tất cả các bước trong quy trình thông quan).
2.2.2 Đo lường, đánh giá tuân thủ trong hoạt động nghiệp vụ hải quan Luận văn: Thực trạng quản trị rủi ro hàng hóa xuất nhập khẩu.
2.2.2.1 Đo lường, đánh giá tuân thủ doanh nghiệp
Bảng 2.4: Tình hình phân luồng hàng hóa XNK
Cục Hải quan Hải Phòng đã thực hiện nghiêm quy trình, quy định về phân luồng, chuyển luồng kiểm tra, góp phần giảm đáng kể tỷ lệ kiểm tra chi tiết hồ sơ và kiểm tra thực tế hàng hóa trong toàn ngành. Số lượng tờ khai luồng xanh có sự gia tăng khá nhanh từ năm 2021 đến năm 2025. Năm 2023 trong tổng số 969,841 tờ khai giải quyết tại Cục Hải quan Hải Phòng thì có 482,411 tờ khai phân luồng xanh (chiếm 49.74%). Năm 2024 số lượng tờ khai luồng xanh tăng lên 584,391 tờ khai (tăng 21% so với năm 2023, đạt 50% tổng số tờ khai đã giải quyết). Đến năm 2025 chỉ tiêu này tiếp tục tăng lên, đạt 656,268 tờ khai (tăng 12% so với năm 2024).
Số lượng tờ khai luồng vàng có sự gia tăng khá nhanh từ năm 2021 đến năm 2025. Năm 2023 có 434,407tờ khai phân luồng vàng (chiếm 44,79% tổng số tờ khai). Năm 2024 số lượng tờ khai luồng vàng tăng lên 504,403 tờ khai (tăng 16% so với năm 2023, chiếm 43% tổng số tờ khai đã giải quyết). Đến năm 2025 chỉ tiêu này tiếp tục tăng lên, đạt 576,978 tờ khai (tăng 14% so với năm 2024, chiếm 44% tổng số tờ khai).
Số lượng tờ khai luồng đỏ có xu hướng tăng về số lượng nhưng tỷ trọng trong tổng số tờ khai lại giảm. Năm 2023 có 86,318 tờ khai phân luồng đỏ (chiếm 8,9% tổng số tờ khai). Năm 2024 số lượng tờ khai luồng đỏ tăng lên 90,204 tờ khai (tăng 5% so với năm 2023, nhưng chỉ chiếm 8% tổng số tờ khai đã giải quyết). Đến năm 2025 chỉ tiêu này giảm xuống còn 76,384 tờ khai (giảm 15% so với năm 2024, nên chỉ chiếm 6% tổng số tờ khai).
Để có được kết quả này là do Cục đã tạo được môi trường, định hướng, khuyến khích thái độ tuân thủ của doanh nghiệp XNK do đó QLRR được cộng đồng doanh nghiệp ủng hộ. Với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, kết hợp với công tác Kiểm tra sau thông quan, cơ quan Hải quan đánh giá được mức độ tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp, thời gian thông quan tại cửa khẩu giảm rõ rệt. Nhờ vậy mà tiết tiết kiệm rất nhiều chi phí và thời gian chờ đợi cho doanh nghiệp. Tỷ lệ doanh nghiệp có độ rủi ro thấp được phân vào luồng xanh liên tục tăng lên. Số lượng và tỷ lệ doanh nghiệp được đánh giá chấp hành tốt pháp luật Hải quan cũng tăng đáng kể.
2.2.2.2 Đo lường tuân thủ pháp luật trong các lĩnh vực hoạt động XNK
Bảng 2.5: Phát hiện vi phạm trong hoạt động XNK Luận văn: Thực trạng quản trị rủi ro hàng hóa xuất nhập khẩu.
Nhờ áp dụng quy trình quản lý rủi ro và giám sát rủi ro nên số vụ phát hiện vi phạm pháp luật Hải quan giảm. Năm 2023, Cục Hải quan Hải Phòng phát hiện được 3726 tờ khai vi phạm của doanh nghiệp trong hoạt động xuất nhập khẩu, chiếm 7.56% số tờ khai. Năm 2024 giảm xuống còn 572 tờ khai (giảm 85% so với năm 2023, chiếm 2.42% tổng số tờ khai). Năm 2025 giảm xuống chỉ còn 310 tờ khai (giảm 46% so với năm 2024, nên tỷ trọng chỉ còn 2.22% tổng số tờ khai).
Tuy nhiên, do cơ chế chính sách ngày càng thông thoáng tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong xuất nhập khẩu hàng hóa, nhưng cũng tạo kẽ hở để một số doanh nghiệp lợi dụng; thủ đoạn vi phạm của một số doanh nghiệp này ngày càng tinh vi, trong khi CBCC làm công tác QLRR tại Chi cục thường kiêm nhiệm không được đào tạo chuyên sâu, kiến thức kinh nghiệm QLRR còn hạn chế. Do đó trong thời gian tới Cục nên bố trí cán bộ chuyên trách về QLRR tại các Chi cục cũng như thường xuyên mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho các cán bộ kiêm nhiệm và chuyên trách về QLRR.
- Về chuyển luồng tờ khai hải quan:
Qua số liệu cho thấy tỷ lệ chuyển luồn tờ khai còn khá cao, đặc biệt là tỷ lệ chuyển từ luồn vàng sang luồng đỏ (trung bình chiếm 38%- 42% tổng số tờ khai chuyển luồng). Tỷ lệ chuyển từ luồng xanh sang luồng vàng cũng khá cao (chiếm 17%- 23% tổng số tờ khai chuyển luồng). Tỷ lệ chuyển từ luồng vàng, luồng đỏ về luồng xanh khá khiêm tốn.Trong thời gian tới, Cục cần chú trọng tới công tác QLRR nhiều hơn nữa.
Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là theo quy định các văn bản về công tác QLRR chủ yếu để ở dạng file cứng theo chế độ “mật”, chưa được cập nhật thường xuyên trên hệ thống thông tin QLRR để các đơn vị có thể khai thác, tham khảo. Do đó, trong thời gian tới Cục nên tổng hợp danh sách các văn bản về công tác QLRR và đăng tải trên Mục tài liệu, hồ sơ chuyên đề hệ thống Cloud officen để các đơn vị khai thác. Đồng thời sao gửi đến các đơn vị có liên quan để thực hiện (theo chế độ Mật).
Ngoài ra, một số nhóm hàng thuộc đối tượng phải kiểm tra chuyên ngành như tủ cấy vi sinh (quyết định 50 của Thủ tướng) hoặc các mặt hàng máy móc đã qua sử dụng phải đăng ký giám định (theo thông tư 23) hay xuất khẩu mặt hàng bóng điện màn hình ti vi đã qua sử dụng phải kiểm tra xem có chứa chất thải nguy hại (theo công ước Basel) nhưng trên hệ thống vẫn phân luồng xanh. Do đó công chức hải quan phải báo cáo dừng qua khu vực giám sát đó để kiểm tra hồ sơ hoặc kiểm tra thực tế hàng hóa để xác định. Trong thời gian tới, Cục nên cập nhật ngay trên hệ thống để phân luồng với các mặt hàng trên mức thấp nhất ở luồng vàng để tránh phát sinh thêm khối lượng công việc cho cửa khẩu và tăng tỷ lệ chuyển luồng tại cửa khẩu.
Bảng 2.6: Chuyển luồng tờ khai hải quan tại Cục Hải quan Hải Phòng
Bên cạnh đó, một số nhóm hàng thuộc đối tượng phải kiểm tra chuyên ngành như tủ cấy vi sinh (quyết định 50 của Thủ tướng) hoặc các mặt hàng máy móc đã qua sử dụng phải đăng ký giám định (theo thông tư 23) hay xuất khẩu mặt hàng bóng điện màn hình ti vi đã qua sử dụng phải kiểm tra xem có chứa chất thải nguy hại (theo công ước Basel) nhưng trên hệ thống vẫn phân luồng xanh. Do đó công chức hải quan phải báo cáo dừng qua khu vực giám sát đó để kiểm tra hồ sơ hoặc kiểm tra thực tế hàng hóa để xác định. Trong thời gian tới, Cục nên cập nhật ngay trên hệ thống để phân luồng với các mặt hàng trên mức thấp nhất ở luồng vàng để tránh phát sinh thêm khối lượng công việc cho cửa khẩu và tăng tỷ lệ chuyển luồng tại cửa khẩu.
2.2.2.3 Cập nhật hồ sơ doanh nghiệp Luận văn: Thực trạng quản trị rủi ro hàng hóa xuất nhập khẩu.
Thực hiện chỉ đạo của TCHQ, Cục Hải quan Hải Phòng đã đẩy mạnh công tác thu thập, trao đổi thông tin doanh nghiệp từ các đơn vị trong và ngoài ngành, nâng cao chất lượng đánh giá xếp hạng, đánh giá tuân thủ.
Biểu đồ 2.3: Thu thập, cập nhật thông tin hồ sơ doanh nghiệp
Năm 2104 thu thập, cập nhật vào Hệ thống Riskman 1719 hồ sơ DN, năm 2105 thu thập, cập nhật 2210 hồ sơ, tăng 28,6% so với năm 2023, tăng 110% so với chỉ tiêu đăng ký (1.052 hồ sơ DN). Năm 2106 thu thập, cập nhật 5221 hồ sơ, tăng 136% so với năm 2024. Chất lượng hồ sơ DN ngày càng tăng lên, nội dung thông tin ngày càng đa dạng.
Ngoài thông tin do DN cung cấp theo đề nghị của cơ quan Hải quan, thông tin thu thập từ Internet, thông tin từ các hoạt động nghiệp vụ, đã chú trọng công tác phối hợp thu thập thông tin doanh nghiệp từ các cơ quan, đơn vị chức năng trên địa bàn (đặc biệt các nhóm thông tin về tài chính, thông tin liên quan đến chấp hành pháp luật thuế, thông tin DN bỏ địa chỉ kinh doanh, bị thu hồi giấy phép,…) phục vụ việc rà soát, đánh giá mức độ tuân thủ DN được chính xác.
Tuy nhiên, công tác thu thập thông tin từ DN còn gặp nhiều khó khăn do phụ thuộc vào sự chủ động và chia sẻ của DN, một số DN thay đổi địa chỉ kinh doanh hoặc ngừng hoạt động, nhiều DN không cung cấp thông tin do phải cung cấp mẫu phiếu thu thập thông tin cùng lúc cho nhiều cục Hải quan nơi DN làm thủ tục hải quan.
Hiện nay tại các Chi Cục, cán bộ làm công tác QLRR chủ yếu là kiêm nghiệm, với khối lượng công việc ngày càng tăng liên quan đến công tác thu thập, cập nhật thông tin doanh nghiệp; theo dõi, rà soát tờ khai hủy, sửa, treo; công tác báo cáo… nên dẫn đến tình trạng quá tải trong công việc. Trong thời gian tới Cục nên bổ sung cán bộ chuyên trách làm công tác QLRR để đảm bảo công việc được hiệu quả, đúng quy định.
2.2.3 Đo lường, đánh giá rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan
2.2.3.1 Đo lường, đánh giá rủi ro
Nhờ áp dụng quy trình quản lý rủi ro mà số vụ phát hiện vi phạm pháp luật Hải quan tăng lên đồng thời số thu về cho ngân sách cũng tăng.
Kết quả kiểm tra bằng máy soi cố định cho thấy, trong giai đoạn 2021 – 2025, tỷ lệ mở kiểm qua các năm có xu hướng tăng (năm 2023 là 4%, năm 2024 tăng lên 53% và năm 2025 giảm xuống còn 2.72%). Tỷ lệ phát hiện vi phạm trên mở kiểm khá cao và có xu hướng tăng: năm 2023 là 9%, năm 2024 tăng lên 24% và năm 2025 là 12.17%. Tổng thu cho ngân sách từ phạt vi phạm hành chính tăng từ 684 triệu đồng năm 2023 lên 631.5 triệu năm 2025. Số tiền thuế tăng thêm giảm từ 1289 triệu đồng năm 2023 xuống còn 889.6 triệu năm 2025. Luận văn: Thực trạng quản trị rủi ro hàng hóa xuất nhập khẩu.
Bảng 2.7: Kết quả kiểm tra hàng XNK qua máy soi container cố định tại Cục Hải quan Hải Phòng.
Ngoài hệ thống máy soi container cố định, ngày 19/03/2022, Cục Hải quan TP.Hải Phòng đã đưa tiếp máy soi container di động vào hoạt động chính thức tại Cảng Green Port. Cả hai hệ thống có vai trò quan trọng trong việc kiểm tra hàng hóa XNK, đẩy nhanh thông quan và đảm bảo yêu cầu kiểm tra chặt chẽ của Hải quan.
Kết quả kiểm tra bằng máy soi di động trong giai đoạn 2022 – 2025 cho thấy, tỷ lệ mở kiểm qua các năm có xu hướng tăng (năm 2023 là 1,7%, năm 2024 giảm xuống còn 1.1% và năm 2025 là 2.15%). Tỷ lệ phát hiện vi phạm trên mở kiểm khá cao và có xu hướng tăng: năm 2023 là 3,6%, năm 2024 tăng lên 40% và năm 2025 là 35.77%. Tổng thu cho ngân sách từ phạt vi phạm hành chính tăng từ 258 triệu đồng năm 2023 lên 413.6 triệu năm 2025. Số tiền thuế tăng thêm tăng từ 487 triệu đồng năm 2023 lên 267.8 triệu năm 2025.
Bảng 2.8: Kết quả kiểm tra hàng XNK qua máy soi container di động.
2.2.3.2 Phân tích sau bắt giữ
Năm 2025, Cục hải quan Hải Phòng chuyển thông tin nghi vấn cho các đơn vị kiểm tra, rà soát 16 vụ, tiền thuế ấn định 15,160 tỷ đồng, (năm 2024: tiền thuế ấn định 2,738 tỷ đồng).
Trong đó:
- Chuyển thông tin cho các Chi cục Hải quan: Tổng số vụ: 8 vụ (đã có kết quả 7 vụ), các Chi cục ấn định 3,331 tỷ đồng tiền thuế.
Nội dung đã rà soát: than củi XK, gỗ ván lạng từ gỗ keo rừng trồng XK, các loại màn hình hiển thị báo lùi gương ô tô, bảng led, ma trận,..Phụ gia thức ăn gia súc, chất tạo mùi, thiết bị mát xa tấm nhiệt, phoi tiện thép không gỉ, màng bọc thực phẩm PVC, sữa bột nguyên liệu dùng trong chế biến thực phẩm, rà soát các đối tượng hưởng mức thuế suất ưu đãi đặc biệt from E,AK, kiểmtra mặt hàng XK dây đồng tinh luyện. Luận văn: Thực trạng quản trị rủi ro hàng hóa xuất nhập khẩu.
- Chuyển thông tin cho Chi cục Kiểm tra sau thông quan: Tổng số vụ: 8 vụ (đã có kết quả 5 vụ), ấn định 11,829 tỷ đồng.
Nội dung đã rà soát: vải không dệt C/O mẫu E ; mặt hàng than củi xuất khẩu, Lĩnh vực GC-SXXK, Thép buộc tầu loại xoắn xuôi xoắn ngược, Công cụ mài bóng Pad đánh bóng bằng nhựa, thép cán nóng, gia vị dạng bột đã pha chế dùng để sản xuất xúc xích
- Mặt hàng hạt nhựa PP dạng nguyên sinh, đã ấn định thuế 455 triệu đồng đối với 34 tờ khai; mặt hàng than củi XK đã ấn định thuế gần 95 triệu đồng đối với 07 tờ khai; mặt hàng sữa rửa mặt ấn định thuế gần 80 triệu đồng.
- Chi cục HQ CK cảng HP KV2 kiểm tra tính hợp lệ C/O mẫu E, mặt hàng thuốc đông y nhập khẩu. Kết quả: DN nộp bổ sung 02 tờ khai là 617 triệu đồng.
- Rà soát, sử dụng kết quả phân tích phân loại: Chi cục HQKV3 và Chi cục ĐTGC đã ấn định thuế với số tiền thuế tăng thêm hơn 156 triệu đồng.
- Chuyển Chi cục KTSTQ tiến hành kiểm tra, rà soát việc phân loại, áp mã không thống nhất đối với các mặt hàng: ống thép, Optima-100, sữa rửa mặt (11 tờ khai), TPCN Reviv (14 tờ khai), thức ăn chăn nuôi (35 tờ khai), N-Hexan (46 DN), thạch sữa chua, nước uống dinh dưỡng (38 tờ khai). Chi cục KTSTQ đã ấn định thuế mặt hàng Optima-100 đối với DN với số tiền thuế trên 579 triệu đồng.
- Tổng số tiền thuế các đơn vị đã ấn định thuế: 1,982 tỷ đồng
- Đối với các mặt hàng trên, các đơn vị vẫn tiếp tục thực hiện kiểm tra, rà soát theo chỉ đạo của Lãnh đạo Cục.
2.2.4 Quản lý danh mục hàng hóa rủi ro
Theo quyết định số 908/QĐ-BTC ngày 29 tháng 04 năm 2025 của Bộ Tài chính, các loại rủi ro đối với hoạt động XNK được chia thành 7 danh mục:
- Danh mục 1. Hàng hóa rủi ro về chính sách quản lý chuyên ngành
- Danh mục 2. Hàng hóa rủi ro về xuất xứ
- Danh mục 3. Hàng hóa rủi ro về môi trường
- Danh mục 4. Hàng hóa rủi ro về hàng giả, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
- Danh mục 5. Hàng hóa rủi ro về ma túy, tiền chất
- Danh mục 6. Hàng hóa rủi ro về vũ khí, chất phóng xạ
- Danh mục 7. Hàng hóa rủi ro về buôn lậu, vận chuyển trái phép qua biên giới.
Tuy nhiên, căn cứ vào đặc thù địa phương, Cục đã mã hóa thành 13 tiêu chí phân tích, cụ thể:
Trong giai đoạn 2021 – 2025, Cục Hải quan Hải Phòng đã trang bị hệ thống máy soi container để kiểm tra thực tế hàng hóa. Việc thiết lập các tiêu chí kiểm tra hàng hóa và kiểm tra bằng máy soi, các tiêu chí thanh loại và các tiêu chí áp dụng thể hiện qua bảng sau: Luận văn: Thực trạng quản trị rủi ro hàng hóa xuất nhập khẩu.
Bảng 2.9: Xây dựng tiêu chí rủi ro và tiêu chí kiểm tra qua máy soi
Bám sát tình hình hoạt động XNK trên địa bàn Cục Hải quan Hải Phòng đã phân công các Tổ công tác tăng cường thu thập, phân tích thông tin, dấu hiệu rủi ro theo từng thời điểm, thiết lập chỉ số tiêu chí lựa chọn kiểm tra thực tế tại cửa khẩu hoặc qua máy soi, tiêu chí lấy mẫu phân tích theo các nhóm hàng, loại hình, xuất xứ, doanh nghiệp có rủi ro cao. Cụ thể:
Năm 2021, thiết lập và cập nhật hệ thống: 88 tiêu chí rủi ro, trong đó có 67 tiêu chí kiểm tra qua máy soi; thanh loại ra khỏi hệ thống: 148 tiêu chí, trong đó có 12 tiêu chí kiểm tra qua máy soi; Số tiêu chí còn hiệu lực 860 tiêu chí, trong đó có 459 tiêu chí kiểm tra qua máy soi.
Năm 2022, thiết lập và cập nhật hệ thống: 726 tiêu chí rủi ro, trong đó có 439 tiêu chí kiểm tra qua máy soi (tăng so với năm 2021 tương ứng là 725% và 555%); thanh loại ra khỏi hệ thống: 768 tiêu chí, trong đó có 369 tiêu chí kiểm tra qua máy soi(tăng so với năm 2021 tương ứng là 419% và 2975%); Số tiêu chí còn hiệu lực 775 tiêu chí, trong đó có 451 tiêu chí kiểm tra qua máy soi(giảm so với năm 2021 tương ứng là 10% và 2%).
Năm 2023, thiết lập và cập nhật hệ thống: 22903 tiêu chí rủi ro, trong đó có 19351 tiêu chí kiểm tra qua máy soi (tăng so với năm 2022 tương ứng là 3055% và 4308%); thanh loại ra khỏi hệ thống: 32371 tiêu chí, trong đó có 15881 tiêu chí kiểm tra qua máy soi (tăng so với năm 2022 tương ứng là 4115% và 4204%); Số tiêu chí còn hiệu lực 13591 tiêu chí, trong đó có 3794 tiêu chí kiểm tra qua máy soi (giảm so với năm 2022 tương ứng là 1654% và 741%).
Năm 2024, thiết lập và cập nhật hệ thống: 243793 tiêu chí rủi ro, trong đó có 233912 tiêu chí kiểm tra qua máy soi (tăng so với năm 2023 tương ứng là 964% và 1109%); thanh loại ra khỏi hệ thống: 212361 tiêu chí, trong đó có 197419 tiêu chí kiểm tra qua máy soi (tăng so với năm 2023 tương ứng là 556% và 1143%); Số tiêu chí còn hiệu lực 45023 tiêu chí, trong đó có 40287 tiêu chí kiểm tra qua máy soi (giảm so với năm 2023 tương ứng là 231% và 962%).
Năm 2025, thiết lập và cập nhật hệ thống: 697717 tiêu chí rủi ro, trong đó có 674990 tiêu chí kiểm tra qua máy soi (tăng so với năm 2024 tương ứng là 186% và 189%); thanh loại ra khỏi hệ thống: 689884 tiêu chí, trong đó có 666496 tiêu chí kiểm tra qua máy soi (tăng so với năm 2024 tương ứng là 225% và 238%); Số tiêu chí còn hiệu lực 47755 tiêu chí, trong đó có 46593 tiêu chí kiểm tra qua máy soi (giảm so với năm 2024 tương ứng là 6% và 16%).
Như vậy, số lượng tiêu chí cập nhật, thanh loại và còn hiệu lực đều tăng nhanh ở các năm chứng tỏ công tác QLRR của Cục đã hoạt động khá hiệu quả.
2.3 Đánh giá chung quản trị rủi ro đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan Hải Phòng. Luận văn: Thực trạng quản trị rủi ro hàng hóa xuất nhập khẩu.
2.3.1 Kết quả đạt được
Trong giai đoạn 2021 – 2025, Cục Hải quan Hải Phòng đã triển khai các biện pháp quyết liệt nhằm ngăn ngừa, phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật hải quan cả ở khâu trước, trong và sau thông quan. Nâng cao hiệu quả lựa chọn đối tượng kiểm tra sau thông quan;
Tập trung kiểm tra, rà soát, phân tích, đánh giá rủi ro hoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn có kim ngạch XNK lớn, thuế suất cao, trị giá lớn, tần suất nhiều để nhận diện rủi ro, đề ra biện pháp kiểm soát phù hợp. Xác định doanh nghiệp trọng điểm rủi ro cao trong từng lĩnh vực theo từng thời kỳ đề xuất biện pháp quản lý hiệu quả;
Thường xuyên theo dõi, kiểm soát, đánh giá việc thực hiện Danh mục rủi ro, Danh mục hàng hóa rủi ro, Kế hoạch kiểm soát rủi ro;
Đẩy mạnh công tác trao đổi, cung cấp thông tin DN với các đơn vị trong và ngoài ngành phục vụ đánh giá xếp hạng rủi ro, đảm bảo chính xác, đồng thời đề xuất các biện pháp quản lý phù hợp;
Tập trung nguồn lực, tăng cường thu thập, phân tích thông tin, thiết lập tiêu chí kiểm soát đối với các nhóm hàng hóa có rủi ro cao cần tăng cường kiểm soát trọng điểm theo các chuyên đề, kiểm soát hàng hóa của DN trọng điểm; kiểm tra, rà soát trực tuyến việc làm thủ tục trên Hệ thống để kịp thời phát hiện, ngăn chặn các hành vi buôn lậu, gian lận thương mại;
Tăng cường kiểm tra, rà soát việc hủy tờ khai trên Hệ thống để đánh giá mức độ tuân thủ của DN, đề ra các biện pháp kiểm soát phù hợp.
2.3.2 Hạn chế
Bên cạnh kết quả đạt được vẫn còn tồn tại những mặt hạn chế, tình trạng chuyển luồng từ luồng đỏ sang luồng xanh, luồng đỏ sang luồng vàng và ngược lại từ luồng xanh sang vàng, xanh sang đỏ, vàng sang xanh, vàng sang đỏ vẫn còn xảy ra. Chủ yếu các tờ khai chuyển luồng từ luồng đỏ về luồng xanh hoặc vàng là các tờ khai của doanh nghiệp xuất khẩu tại chỗ. Tờ khai khi hàng thông quan tại đầu nhập khẩu khi mở tờ khai đầu xuất đầu xuất hệ thống phân luồng đỏ đẫn đến tình trạng chuyển luồng từ cao xuống thấp.
Trình độ cán bộ công chức, công chức chuyên trách làm công tác QLRR không chuyên sâu và không đồng đều. Do đặc thù của ngành Hải quan hay luân chuyển cán bộ công chức giữa các khâu nghiệp vụ và giữa các đơn vị nên thời gian cán bộ công chức làm công tác QLRR không được lâu và ít thâm niên nghiệp vụ QLRR.
Công nghệ thông tin, cơ sở hạ tầng máy móc trang thiết bị kỹ thuật chưa được đầu tư đồng đều giữa các đơn vị, việc cập nhật, phản hồi thông tin, trao đổi thông tin về doanh nghiệp của các đơn vị Phòng ban trong Cục còn chậm và không kịp thời.
2.3.3 Nguyên nhân của hạn chế. Luận văn: Thực trạng quản trị rủi ro hàng hóa xuất nhập khẩu.
Có nhiều nguyên nhân khiến tiến trình áp dụng QLRR vào quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hóa XNK không được như mong muốn. Một số trong những nguyên nhân chủ chốt là:
Về khung pháp lý: khung pháp lý cơ bản để áp dụng QLRR trong quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hóa XNK cơ bản đã hình thành, nhưng chưa cụ thể hóa cho từng lĩnh vực. Các tiêu chí liên quan đến vận hành hải quan điện tử và đại lý khai thuế chưa được hoàn thiện. Các văn bản pháp quy phạm pháp luật về hải quan và các văn bản hướng dẫn thực hiện QLRR thường được cung cấp dưới dạng bản “cứng” và đóng dấu “mật”, chưa được cập nhật thường xuyên trên hệ thống nên khả năng trên hệ thống phục vụ công tác quản lý rủi ro không được kịp thời. Bên cạnh đó, các tiêu chí chưa được cập nhật thường xuyên tỷ lệ chuyển lường tờ khai khá cao.
Về công tác thu thập hồ sơ doanh nghiệp, phân tích đánh giá thông tin, trao đổi thông tin: Công tác thu thập, phân tích đánh giá hồ sơ doanh nghiệp chưa được quan tâm thỏa đáng, các thông tin thu thập chưa được cập nhật một cách thường xuyên nên khó áp dụng qui trình thủ tục hải quan đối với hàng hóa XNK, phương tiện, hành khách xuất nhập cảnh.
Về hệ thống thông tin: hệ thống thông tin chưa được cập nhật đầy đủ, hệ thống nhằm phục vụ thuận tiện cho nhân viên hải quan xác định mức độ rủi ro của doanh nghiệp và hàng hóa.
Về bộ máy, phân nhiệm vụ công chức hải quan: Bộ máy tổ chức chưa được phân công, phân cấp rõ ràng, chưa cụ thể giữa chức năng, quyền hạn và trách nhiệm ở các cấp và từng cấp trong Ngành, tỷ lệ đầu mối trung gian cao, nhiều bộ phận chưa có cán bộ chuyên trách phụ trách công tác quản lý rủi ro mà chủ yếu là cán bộ kiêm nhiệm nên hiệu quả công tác QLRR chưa cao.
Về công tác bồi dưỡng cán bộ quản lý rủi ro: Các văn bản, quy trình thủ tục hải quan, hệ thống các tiêu chí liên tục thay đổi yêu cầu các cán bộ hải quan cần liên tục cập nhật thường xuyên cũng như cần được tham gia các lớp bồi dưỡng kiến thức chuyên ngành nhưng công tác đào bồi dưỡng cán bộ hải quan chưa được quan tâm một cách thỏa đáng, hiệu quả của các khóa học chưa cao.
Về cơ sở vật chất kỹ thuật: Hệ thống máy tính và các thiết bị phụ trợ tại trung tâm tự động hóa chưa được đầu tư thỏa đáng. Hệ thống máy soi và hệ thống soi ngầm kiểm tra hàng hóa chưa trang bị chưa được đầy đủ. Công tác hợp tác quốc tế trong quản lý rủi ro chưa được quan tâm thỏa đáng. Luận văn: Thực trạng quản trị rủi ro hàng hóa xuất nhập khẩu.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Giải pháp quản trị rủi ro hàng hóa xuất nhập khẩu

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

