Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: PPNC Tác động thu nhập đến rủi ro tại các ngân hàng hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro tại các ngân hàng thương mại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
3.1. Đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu
3.1.1. Mô hình nghiên cứu
Với các tổng hợp và lập luận chung về tác động của ĐDHTN đến rủi ro phá sản của các NHTM theo ba lý thuyết nền tảng và thông qua lược khảo các nghiên cứu liên quan cùng với các khoảng trống mà các công trình tồn tại. Thì luận văn này sẽ kế thừa mô hình của Lê Thanh Tâm và cộng sự (2022) để phát triển cho bối cảnh các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2023. Nguyên nhân luận văn sử dụng mô hình của Lê Thanh Tâm và cộng sự (2022) làm mô hình gốc vì nghiên cứu này được tiến hành thu thập dữ tại các NHTM Việt Nam nên có sự tương đồng về không gian nghiên cứu. Ngoài ra, nghiên cứu này cũng đã vận dụng các lý thuyết liên quan đến chi phí trung gian, tính kinh tế theo quy mô và đa dạng hóa danh mục đầu tư để kết luận sự tác động tích cực của hoạt động ĐDHTN đến hệ số Z – Score hay làm giảm đi rủi ro của NHTM Việt Nam, đây là kết quả mà luận văn cũng đã tổng hợp trong phần cơ sở lý thuyết của mình.
Ngoài ra, trong mô hình Lê Thanh Tâm và cộng sự (2022) cũng đã tiến hành phân tích sự tác động của các biến kiểm soát đến rủi ro của các ngân hàng bao gồm cả nhóm thuộc nội tại ngân hàng và vĩ mô nền kinh tế. Trong đó, nhóm tác giả cũng đã xem xét vai trò của sự xuất hiện của đại dịch Covid 19 đến rủi ro của ngân hàng, tuy có sự trái ngược với quan điểm với luận văn nhưng điều này tạo ra khoảng trống nghiên cứu cần được luận văn xem xét và kết luận cho phù hợp với các NHTM tính đến năm 2023. Mặt khác, các biến số kiểm soát này cũng có nét tương đồng về kết quả với các nghiên cứu thực nghiệm khác tại nước ngoài và trong nước. Mục đích luận văn xem xét các biến số kiểm soát tác động đến rủi ro phá sản của các NHTM Việt Nam là để kết quả nghiên cứu có cái nhìn tổng quát hơn về các nhân tố tác động ngoài đa dạng hóa thu nhập. Ngoài ra, các biến số kiểm soát cũng có phần nào tác động đến hoạt động đa dạng hóa thu nhập của các ngân hàng, nên cần xem xét để có những giải thích hay luận giải sự liên quan đến nhau. Do đó, tại luận văn này thì tác giả sẽ đề xuất mô hình nghiên cứu gồm những biến số sau và mô hình hồi quy đa biến sẽ được thiết lập như sau: “Z – SCOREi,t = 𝜷𝟎 + 𝜷𝟏*DIVERi,t + 𝜷𝟐*SIZEi,t + 𝜷𝟑*LEVi,t + 𝜷𝟒*LDRi,t + 𝜷𝟓*NPLi,t + 𝜷𝟔*GROWi,t + 𝜷𝟕*GDPt + 𝜷𝟖*CPIt + 𝜷𝟏𝟐*STAt + 𝟏𝟑*COVIDt + ei,t”
Trong đó các ký hiệu là Z – SCORE là hệ số rủi ro phá sản của ngân hàng, DIVER là đa dạng hóa thu nhập, “SIZE là quy mô ngân hàng, LEV là đòn bẩy tài chính, LDR là tỷ lệ cho vay trên tiền gửi, NPL là tỷ lệ nợ xấu, GROW là tăng trưởng tín dụng, GDP là tốc độ tăng trưởng kinh tế, CPI là tỷ lệ lạm phát, STA là sở hữu Nhà nước, COVID là đại dịch Covid 19. Các hệ số là hệ số tác động của các biến số độc lập và kiểm soát, i là đại diện cho NHTM thứ i và t đại diện cho năm t, e là sai số ngẫu nhiên.” Mô hình nghiên cứu đề xuất gồm một biến phụ thuộc và các biến số tác động đến được mô tả như sau:
Bảng 3.1: Tóm tắt các nhân tố đề xuất với mô hình nghiên cứu Luận văn: PPNC Tác động thu nhập đến rủi ro tại các ngân hàng.
| Tên biến | Ký hiệu | Nguyên nhân lựa chọn | Đo lường | Nguồn | Kỳ vọng ảnh hưởng đến Z – Score |
| Biến độc lập | |||||
| Đa dạng hóa thu nhập | DIVER | Nhân tố này mô tả phản ánh việc các ngân hàng phân tán rủi ro bằng cách kinh doanh nhiều sản phẩm dịch vụ để hạn chế sự tập trung vào tín dụng và các hạn mục đầu tư lớn có rủi ro. | 1 – HHI = 1 – (INT2 + NON2) | Ntawumenyumunsi và Maringa (2022); Adem (2023); Lê Thanh Tâm và cộng sự (2022) |
+ |
| Các biến kiểm soát | |||||
| Quy mô ngân hàng | SIZE | Nhân tố này đề cập đến quy mô lớn mạnh của ngân hàng, là tấm khiên chắn để ngân hàng phòng tránh rủi ro. | Log(Tổng tài sản) | Moudud và cộng sự (2020); Phạm Thủy Tú và cộng sự (2021) | + |
| Tỷ lệ VCSH | LEV | Nhân tố này đề cập đến sự huy động các nguồn vốn dài của ngân hàng từ chủ sở hữu hay cổ phiếu, nhằm giảm áp lực thanh toán nợ để hạn chế rủi ro. | Buyuran và Ekşi (2021); Abbas và Ali (2021); Ntawumenyumunsi và Maringa (2022); Lê Thanh Tâm và cộng sự (2022) | + | |
| Tỷ lệ cho vay trên tiền gửi | LDR | Nhân tố này đề cập đến mức cho vay từ việc huy động tiền gửi. Mức cho vay phù hợp với mức huy động tạo ra hiệu quả và hạn chế rủi ro. | Phạm Thủy Tú và cộng sự (2021) | + | |
| Tỷ lệ nợ xấu | NPL | Nhân tố này đề cập đến các nhóm nợ 3, 4, 5 trong ngân hàng. Khi gia tăng thì RRTD tăng theo đe dọa đến hoạt động ngân hàng giảm sút theo. | Moudud và cộng sự (2020); Buyuran và Ekşi (2021); Wang và Lin (2021) | – | |
| Tăng trưởng tín dụng | GROW | Nhân tố này đề cập đến tốc độ tăng dư nợ, nó phản ánh việc ngân hàng chạy đua mở rộng thị phần cho vay và đe dọa rủi ro nợ xấu cũng gia tăng theo nếu nới lỏng chính sách cho vay. | Abbas và Ali (2021); Lê Thanh Tâm và cộng sự (2022) | – | |
| Tăng trưởng kinh tế | GDP | Nhân tố này đề cập sự thuận tiện trong thị trường để ngân hàng kinh doanh, mở rộng đa dạng hóa và hạn chế được nguy cơ phá sản. | Wang và Lin (2021); Adem (2023); Phạm Thủy Tú và cộng sự (2021); Lê Thanh Tâm và cộng sự (2022) | + | |
| Tỷ lệ lạm phát | CPI | Nhân tố này đề cập sự khó khăn trong thị trường làm cho ngân hàng khó khăn trong kinh doanh, mở rộng đa dạng hóa và gia tăng nguy cơ phá sản. | Adem (2023) | – | |
| Sở hữu nhà nước | STA | Nhân tố này đề cập đến việc khi sở hữu Nhà nước chiếm đa số sẽ định hình tới chiến lược, khả năng quản trị và khẩu vị rủi ro của các NHTM. | Với các NHTM chiếm 51% sở hữu của Nhà nước thì nhận số 1, còn lại các NHTM khác nhận số 0. | Phạm Thủy Tú và cộng sự (2021). Luận văn: PPNC Tác động thu nhập đến rủi ro tại các ngân hàng. | – |
| Đại dịch Covid 19 | COVID | Nhân tố này đề cập đến sự tác động tiêu cực của đại dịch làm cho nền kinh tế Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn, do đó các NHTM cũng bị ảnh hưởng nặng nề trong HĐKD. | Tại các năm 2020 – 2022 xuất hiện đại dịch Covid 19 nhận số 1, còn các năm còn lại nhận số 0. | Tác giả đề xuất | – |
| Biến phụ thuộc | |||||
| Rủi ro phá sản | Z – Score | Là biến phụ thuộc biểu diễn cho rủi ro phá sản của ngân hàng. | Ntawumenyumunsi và Maringa (2022); Adem (2023); Lê Thanh Tâm và cộng sự (2022) | ||
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
3.1.2. Giả thuyết nghiên cứu Luận văn: PPNC Tác động thu nhập đến rủi ro tại các ngân hàng.
Tương ứng với các biến độc lập và biến kiểm soát được xây dựng tại mô hình nghiên cứu thì các giả thuyết nghiên cứu sau được đề xuất:
3.1.2.1. Đa dạng hóa thu nhập
Abbas và Ali (2021); Ntawumenyumunsi và Maringa (2022); Adem (2023); Phạm Gia Quyên và cộng sự (2021) cho rằng hoạt động đa dạng hóa được xem là xu hướng chính của các NHTM trong việc gia tăng lợi nhuận và hạn chế rủi ro của ngân hàng.
Nếu giai đoạn trước thì hoạt động truyền thống chính đem lại lợi nhuận cao nhất cho ngân hàng là tín dụng thì rủi ro cũng được xếp hàng đầu. Đặc biệt trong những diễn biến liên tục của thị trường và sự khó khăn của nền kinh tế thì hoạt động cho vay kém chất lượng kéo theo hàng loạt những rủi ro lớn cho ngân hàng như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản cùng các áp lực thanh toán khác. Do đó, hoạt động ĐDHTN như thu phí dịch vụ, cung cấp bán lẻ như bảo hiểm đầu tư, quản lý tài khoản cho khách hàng,… giúp cho ngân hàng tiến hành hoạt động tái cơ cấu lại các khoản mục kinh doanh của mình theo hướng vẫn đảm bảo lợi nhuận nhưng hạn chế được sự ảnh hưởng quá lớn của tín dụng. Vì vậy, luận văn đề xuất giả thuyết liên quan đến ĐDHTN như sau:
Giả thuyết H1: ĐDHTN tác động tích cực đến hệ số Z – Score của các NHTM Việt Nam.
3.1.2.2. Quy mô ngân hàng
Moudud và cộng sự (2020); Phạm Thủy Tú và cộng sự (2021) cho rằng quy mô ngân hàng càng lớn thì năng lực tài chính càng mạnh, tấm đệm khiên chắn càng tốt để chống đỡ cho các rủi ro. Do đó, khi quy mô càng lớn thì sẽ ảnh hưởng tích cực đến hệ số Z – Score hay làm giảm đi rủi ro phá sản của ngân hàng. Vì vậy, luận văn đề xuất giả thuyết liên quan đến quy mô ngân hàng như sau:
Giả thuyết H2: Quy mô ngân hàng tác động tích cực đến hệ số Z – Score của các NHTM Việt Nam.
3.1.2.3. Tỷ lệ vốn chủ sở hữu Luận văn: PPNC Tác động thu nhập đến rủi ro tại các ngân hàng.
Buyuran và Ekşi (2021); Abbas và Ali (2021); Ntawumenyumunsi và Maringa (2022); Phạm Gia Quyên và cộng sự (2021) cho rằng VCSH trong ngân hàng càng nhiều, thì vốn dài hạn càng lớn áp lực thanh toán với các nguồn nợ hay huy động càng được thu hẹp. Từ đó, tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng mở rộng cho vay và đầu tư vào các hạng mục kinh doanh sinh lời trong dài hạn. Đồng thời, sự an toàn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng được bảo toàn tốt hơn hay rủi ro thanh khoản hay áp lực thanh toán được hạn chế. Vì vậy, luận văn đề xuất giả thuyết liên quan đến quy mô ngân hàng như sau:
Giả thuyết H3: Tỷ lệ VCSH tác động tích cực đến hệ số Z – Score của các NHTM Việt Nam.
3.1.2.4. Tỷ lệ cho vay trên tiền gửi
Phạm Thủy Tú và cộng sự (2021) cho rằng khi các NHTM gia tăng tỷ lệ cho vay trên tiền gửi nhưng được kiểm soát chặt chẽ với tỷ lệ an toàn vốn, chính sách tín dụng được duy trì. Đồng thời, việc cho vay được cân đối với sự đảm bảo dòng tiền trả nợ của khách hàng nhằm thanh toán được cho khoản vốn huy động thì rủi ro của ngân hàng sẽ được giảm thiểu. Vì vậy, luận văn đề xuất giả thuyết liên quan đến tỷ lệ cho vay trên tiền gửi như sau:
Giả thuyết H4: Tỷ lệ cho vay trên tiền gửi tác động tích cực đến hệ số Z – Score của các NHTM Việt Nam.
3.1.2.5. Tỷ lệ nợ xấu
Wang và Lin (2021) khi nhóm nợ 3, 4, 5 tăng lên hay đồng nghĩa với nợ xấu trong ngân hàng đang tăng thì chất lượng tín dụng đang bị suy giảm. Vào thời điểm này thì ngân hàng mất đi khả năng thu hồi nợ cho vay nhưng vẫn phải thanh toán cho các khoản tiền gửi hay nguồn huy động khác. Từ đó, đe dọa đến rủi ro thanh khoản lẫn thanh toán của ngân hàng và đẩy ngân hàng đến bờ vực vỡ nợ nhanh hơn (Moudud và cộng sự, 2020; Buyuran và Ekşi, 2021). Vì vậy, luận văn đề xuất giả thuyết liên quan đến tỷ lệ nợ xấu như sau:
Giả thuyết H5: Tỷ lệ nợ xấu tác động tiêu cực đến hệ số Z – Score của các NHTM Việt Nam.
3.1.2.6. Tăng trưởng tín dụng Luận văn: PPNC Tác động thu nhập đến rủi ro tại các ngân hàng.
Abbas và Ali (2021) cho rằng khi các NHTM tăng trưởng tín dụng nhằm mục đích mở rộng thị phần, tham vọng có thêm được lợi nhuận từ lãi vay thì buộc phải nới lỏng các chính sách hay quy trình tín dụng để khách hàng dễ dàng tiếp cận vốn vay.
Từ đó, dẫn đến chất lượng thông tin hay tư cách của khách hàng sẽ có phần bị xem nhẹ và dẫn đến khoản cấp tín dụng không được đảm bảo về chất lượng trong tương lai. Hay nói cách khác tăng trưởng tín dụng không hợp lý hay tăng trưởng nóng sẽ làm cho ngân hàng đối mặt với rủi ro tín dụng hay nguy cơ vỡ nợ lớn hơn trong tương lai (Lê Thanh Tâm và cộng sự, 2022). Vì vậy, luận văn đề xuất giả thuyết liên quan đến tăng trưởng tín dụng như sau:
Giả thuyết H6: Tăng trưởng tín dụng tác động tiêu cực đến hệ số Z – Score của các NHTM Việt Nam.
3.1.2.7. Tăng trưởng kinh tế
Wang và Lin (2021); Adem (2023); Phạm Thủy Tú và cộng sự (2021); cho rằng khi điều kiện của nền kinh tế chung tăng trưởng thì các đối tượng trong đó sẽ HĐKD thuận lợi, các rủi ro hoạt động cũng được hạn chế. Đặc biệt ngân hàng sẽ thuận tiện trong việc thực hiện chức năng trung gian tài chính, thu được nhiều lợi nhuận. Do khách hàng tiêu thụ được hàng hóa, dòng tiền trả nợ ổn định, hay giao dịch nhiều hơn để khách hàng thu phí. Ngoài ra, các hạng mục đầu tư cũng có điều kiện để mở rộng và đồng thời nguy cơ phá sản cũng được hạn chế. Vì vậy, luận văn đề xuất giả thuyết liên quan đến tăng trưởng kinh tế như sau:
Giả thuyết H7: Tăng trưởng kinh tế tác động tích cực đến hệ số Z – Score của các NHTM Việt Nam.
3.1.2.8. Tỷ lệ lạm phát
Adem (2023) cho rằng lạm phát sẽ làm cho nền kinh tế chung của quốc gia có phần suy giảm, vì giá cả hàng hóa đắt đỏ nên lưu thông kém hơn, đồng tiền mất giá giảm sức mua. Do đó, thu nhập của ngân hàng cũng giảm xuống nhưng các khoản chi phí cần thanh toán vẫn phải thực hiện và thậm chí phải trả nhiều hơn. Mặt khác, các khách hàng của ngân hàng cũng khó khăn trong việc làm ăn do đó các giao dịch hay nguồn trả nợ cho ngân hàng cũng kém đi. Các khách hàng gửi tiền thì lại muốn giữ tài sản và tiền nhiều để tiêu dùng do điều kiện kinh tế khó khăn, nên nguồn vốn ngân hàng có sự suy giảm và đe dọa nguy cơ phá sản cao hơn. Vì vậy, luận văn đề xuất giả thuyết liên quan đến tỷ lệ lạm phát như sau:
Giả thuyết H8: Tỷ lệ lạm phát tác động tiêu cực đến hệ số Z – Score của các NHTM Việt Nam.
3.1.2.9. Sở hữu Nhà nước Luận văn: PPNC Tác động thu nhập đến rủi ro tại các ngân hàng.
Theo Phạm Thủy Tú và cộng sự (2021) thì các NHTM Việt Nam có nguồn vốn sở hữu Nhà nước càng nhiều thì tạo nhiều điều kiện trong thị phần hay thương hiệu trong hoạt động kinh doanh của mình. Chính vì thể, khẩu vị rủi ro của các NHTM này có phần sẽ được mở rộng, các hạng mục đầu tư vào các tài sản hay dự án đầu tư mạo hiểm sẽ có xu hướng tăng theo, từ đó làm cho rủi ro tổng thể hay nguy cơ vỡ nợ của ngân hàng sẽ tăng lên. Hay nói cách khác, khi có sở hữu Nhà nước càng nhiều thì các NHTM có phần nới lỏng khẩu vị rủi ro, tập trung vào các hạng mục đầu tư sinh lãi mạo hiểm, nên rủi ro cũng gia tăng. Vì vậy, luận văn đề xuất giả thuyết liên quan đến sở hữu Nhà nước như sau:
Giả thuyết H9: Sở hữu Nhà nước tác động tiêu cực đến hệ số Z – Score của các NHTM Việt Nam.
3.1.2.10. Đại dịch Covid 19
Nếu Lê Thanh Tâm và cộng sự (2022) lập luận rằng đại dịch Covid 19 xuất hiện làm cho các NHTM trở nên thận trọng trong việc kinh doanh hơn, hạn chế trong việc đầu tư hay cho vay các khách hàng có lịch sử tín dụng kém. Từ đó, nguy cơ vỡ nợ có phần bị suy giảm. Tuy nhiên, tác giả luận văn lại cho rằng khi đại dịch xuất hiện thì rủi ro của ngân hàng sẽ phải đối mặt là nền kinh tế khó khăn thì các khách hàng đang vay tại ngân hàng sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc trả nợ, thậm chí có nhu cầu vay nhiều hơn để cầm cự cho kinh tế phục hồi. Các hoạt động đầu tư suy giảm làm cho nguồn vốn của ngân hàng không được sử dụng hiệu quả nhưng chi phí vẫn phải chi trả cho các nguồn huy động. Từ đó, làm cho nguy cơ phá sản của các ngân hàng càng được nâng cao hơn. Vì vậy, luận văn đề xuất giả thuyết liên quan đến đại dịch Covid 19 như sau:
Giả thuyết H10: Đại dich Covid 19 tác động tiêu cực đến hệ số Z – Score của các NHTM Việt Nam.
3.2. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: PPNC Tác động thu nhập đến rủi ro tại các ngân hàng.
3.2.1. Quy trình nghiên cứu

Nguồn: Đề xuất của tác giả
Bước 1: Tổng hợp cơ sở lý thuyết nền liên quan đến ĐDHTN, rủi ro phá sản và các chỉ tiêu đánh giá, tổng hợp các nghiên cứu liên quan làm cơ sở đề xuất với bối cảnh NHTM Việt Nam mô hình và giả thuyết nghiên cứu tương ứng.
Bước 2: Định ra mẫu nghiên cứu, thu thập mẫu với những phương pháp nào và xử lý dữ liệu thu thập từ 24 NHTM tại Việt Nam.
Bước 3: Tiến hành thống kê mô tả, phân tích tương quan và hồi quy dữ liệu với các mô hình và kiểm định để chọn mô hình phù hợp.
Bước 4: Mô hình được chọn sẽ được kiểm định phát hiện bênh của mô hình và khắc phục chúng để đưa ra kết quả nghiên cứu cuối cùng, từ đó thảo luận kết quả.
Bước 5: Kết luận vấn đề nghiên cứu và đưa ra các hàm ý quản trị.
3.2.2. Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu Luận văn: PPNC Tác động thu nhập đến rủi ro tại các ngân hàng.
3.2.2.1. Mẫu nghiên cứu
Đối với phân tích hồi quy đa biến thì cỡ mẫu tối thiểu cần đạt được tính theo công thức là 50 + 8 x m (m: số biến độc lập) (Tabachnick và Fidell, 1996) thì với nghiên cứu này thì 130 mẫu là tối thiểu. Dữ liệu thu thập 24 NHTM Việt Nam từ 2011 – 2023 (13 năm) nên mẫu nghiên cứu có tổng cộng 3120 quan sát, đáp ứng được số mẫu tối thiểu.
3.2.2.2. Phương pháp thu thập dữ liệu
Các dữ liệu thứ cấp cần thu thập của 24 NHTM Việt Nam được lấy từ các BCTC đã được kiểm toán từ năm 2011 – 2023. Dữ liệu được thiết kế dưới dạng bảng với từng nhóm của mỗi NHTM tương ứng theo từng năm. Dữ liệu này được trình bày tại Phụ lục 1.
3.2.3. Phương pháp xử lý số liệu
3.2.3.1. Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu
Bước 1: Phân tích tình hình biến động của tỷ lệ nợ xấu của 24 NHTM Việt Nam, thông qua giá trị trung bình được tính riêng tại mỗi năm. Sau đó mô tả rõ ràng nhất các đặc tính của các biến số trong mô hình đó là giá trị nhỏ nhất, lớn nhất, trung bình và độ lệch chuẩn. Từ đó tác giả có thể đánh giá tình hình tổng quát chung của các biến số cũng như dữ liệu nghiên cứu có những sai lệch ban đầu gì hay không ?
3.2.3.2. Phân tích tương quan của các biến số độc lập
Một trong số các giả định của hồi quy tuyến tính là không có tương quan giữa các biến độc lập với nhau, và khi giả thuyết này bị vi phạm thì hiện tượng đa cộng tuyến có thể xảy ra. Thông qua ma trận tương quan nhằm kiểm tra mối quan hệ tương quan giữa các biến số trong mô hình, kiểm tra mối tương quan giữa các biến độc lập với nhau. Nếu sự tương quan giữa các cặp biến độc lập vượt qua ngưỡng 0,8 có khả năng xuất hiện hiện tượng đa cộng tuyến giữa chúng trong mô hình.
3.2.3.3. Phân tích hồi quy Luận văn: PPNC Tác động thu nhập đến rủi ro tại các ngân hàng.
Mô hình hồi quy gộp (Pooled OLS): Đây là phương pháp bình phương bé nhất thông thường trong hồi quy dữ liệu bảng, là phương pháp đơn giản và được sử dụng phổ biến nhất. Phương pháp OLS dữ liệu gộp (Pooled OLS) được sử dụng với giả định không có khác biệt giữa các đơn vị chéo, hằng số α được sử dụng chung cho các đơn vị chéo. Mô hình này không phản ánh được sự khác nhau của đơn vị chéo trong mẫu nghiên cứu vì cả hai tham số ước lượng đều không thay đổi theo đơn vị chéo. Tuy nhiên, thông thường phương pháp này dễ có hiện tượng tự tương quan giữa các chuỗi dữ liệu (điều này được thể hiện qua giá trị thống kê Durbin Watson khá thấp), đồng thời làm cho kết quả ước lượng trở nên không hiệu quả và thường không đáng tin cậy.
Mô hình tác động cố định (FEM): Khi các đơn vị chéo được quan sát là không đồng nhất, mô hình tác động cố định được sử dụng để phản ánh tác động của biến độc lập đến biến phụ thuộc có tính đến đặc trưng riêng của từng đơn vị chéo. Theo đó, FEM giả định các hệ số hồi quy riêng phần giống nhau giữa các đơn vị chéo, nhưng các hệ số chặn hồi quy được phân biệt giữa các đơn vị chéo. Với giả định rằng mỗi thành phần trong mẫu nghiên cứu đều mang những đặc điểm độc đáo riêng giữa các đối tượng hoặc thời điểm khác nhau, và những đặc điểm này được xem như hằng số có khả năng ảnh hưởng đến các biến độc lập. Nói cách khác, mô hình tác động cố định phân tích mối liên hệ này giữa phần dư của từng đơn vị và các biến độc lập nhằm kiểm soát và tách ảnh hưởng của những đặc trưng riêng lẻ (không thay đổi theo thời gian) khỏi các biến độc lập. Điều này cho phép chúng ta ước tính những tác động thực sự (net effects) của các biến độc lập lên biến phụ thuộc.
Mô hình tác động ngẫu nhiên (REM): Mô hình này xác định các hệ số chặn khác nhau cho từng đơn vị chéo, tác động chung của các biến độc lập. Các hệ số chặn của từng đơn vị chéo được phát sinh từ một hệ số chặn chung không đổi theo đối tượng và thời gian, và một biến ngẫu nhiên là một thành phần của sai số thay đổi theo đối tượng nhưng không thay đổi theo thời gian (thành phần sai số là biến không thể quan sát được thể hiện những yếu tố tác động không thể quan sát một cách trực tiếp). Thay vì tiếp cận bằng cách xem xét đặc thù riêng lẻ các đơn vị và cách chúng có thể tương quan với biến độc lập, phương pháp REM sử dụng một hướng tiếp cận khác. REM xem xét các đặc điểm riêng này như các biến ngẫu nhiên không tương quan với biến độc lập, và chúng được xem như một loại biến giải thích mới mà tác động lên biến phụ thuộc. Vì vậy, trong tình huống mà có sự khác biệt giữa các đơn vị tác động lên biến phụ thuộc, việc áp dụng mô hình tác động ngẫu nhiên có thể là lựa chọn thích hợp hơn so với FEM.
3.2.3.4. Kiểm định lựa chọn mô hình Luận văn: PPNC Tác động thu nhập đến rủi ro tại các ngân hàng.
- Lựa chọn mô hình Pooled OLS và FEM
Để lựa chọn mô hình Pooled OLS và FEM sẽ được thực hiện thông qua kiểm định F – test, với giả thuyết H0 là không có khác biệt giữa các đối tượng hoặc các thời điểm khác khau nên Pooled OLS phù hợp. Giả thuyết H1 là tồn tại sự khác biệt giữa giữa các đối tượng hoặc các thời điểm khác khau nên FEM phù hợp. Nếu Prob lớn hơn 5% chấp nhân H0 có nghĩa là Pooled OLS phù hợp và ngược lại.
- Lựa chọn mô hình FEM và REM
Để lựa chọn mô hình FEM và REM sẽ được thực hiện thông qua kiểm định Hausman, với giả thuyết H0 là phần dư tương quan không tồn tại và mô hình REM được lựa chọn; H1 là phần dư tương quan tồn tại và mô hình FEM được lựa chọn.
Nếu Prob lớn hơn 5% chấp nhân H0 có nghĩa là REM phù hợp và ngược lại.
- Lựa chọn mô hình Pooled OLS và REM
Để lựa chọn mô hình Pooled OLS và REM sẽ được thực hiện thông qua kiểm định Breusch – Pagan, với giả thuyết H0 là không có sự sai khác giữa phương sai sai sô thay đổi nên Pooled OLS phù hợp. Giả thuyết H1 có sự sai khác giữa phương sai sai sô thay đổi nên nên REM phù hợp. Nếu Prob lớn hơn 5% chấp nhân H0 có nghĩa là Pooled OLS phù hợp và ngược lại.
3.2.3.5. Kiểm định hiện tượng khuyết tật của mô hình được chọn
Hiện tượng đa cộng tuyến: Trong mô hình hồi quy bội, giả thuyết giữa các biến giải thích của mô hình không có hiện tượng đa cộng tuyến, có nghĩa là các biến giải thích không tương quan với nhau. Nếu xảy ra trường hợp một biến giải thích nào đó có tương quan với một số biến giải thích khác thì có nghĩa mô hình xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến (Hoàng Ngọc Nhậm 2007). Kiểm định đa cộng tuyến sẽ dựa trên tổng hợp về hệ số phóng đại phương sai VIF của các biến số. Trong đó, cặp giả thuyết như sau H0 là mô hình không có đa cộng tuyến và H1 là mô hình có hiện tượng đa cộng tuyến. Nêu các hệ số VIF thấp hơn hơn 5 và giá trị trung bình VIF thấp hơn 5 thì mô hình không xuất hiện đa cộng tuyến.
Hiện tượng phương sai sai số thay đổi: Trong mô hình hồi quy bội nếu các phần dư có phương sai là một hằng số cụ thể sẽ dẫn đến chúng có những sai khác với các biến quan sát khác nhau, điều này làm cho phân phối chuẩn bị phá bỏ. Với hiện tượng này thì kiểm định với cặp giả thuyết H0 là mô hình với phương sai sai số không đổi và H1 là mô hình có với phương sai sai số thay đổi. Sau đó thực hiện kiểm định Breusch – Pagan – Lagrangian cho mô hình REM được chọn và kiểm định Wald cho mô hình FEM được chọn. Nếu Prob của 2 kiểm định này thấp hơn 5% thì bác bỏ H0, điều này đồng nghĩa với phương sai sai số thay đổi xuất hiện trong mô hình được chọn. Luận văn: PPNC Tác động thu nhập đến rủi ro tại các ngân hàng.
Hiện tượng tự tương quan: Trong mô hình hồi quy bội nếu các biến quan sát từ bảng dữ liệu có xu hướng tương quan với nhau sẽ tạo nhiễu số liệu, tạo ra mối quan hệ tích số giữa các quan sát làm cho dữ liệu và kết quả sai lệch. Với hiện tượng này thì kiểm định với cặp giả thuyết H0 là mô hình không xuất hiện tự tương quan và H1 là mô hình xuất hiện tự tương quan. Sau đó thực hiện kiểm định Wooldridge, với cả hai mô hình FEM hay REM được chọn thì kiểm định Wooldridge đều phù hợp. Nếu Prob của 2 kiểm định này thấp hơn 5% thì bác bỏ H0, điều này đồng nghĩa với tự tương quan xuất hiện trong mô hình được chọn.
3.2.3.6. Khắc phục các hiện tượng khuyết tật bằng phương pháp FGLS
Trong trường hợp mô hình gặp hiện tượng phương sai thay đổi hoặc tự tương quan hoặc thậm chí có cả hai khuyết tật này thì tiến hành khắc phục mô hình nghiên cứu bằng cách tác giả sẽ áp dụng phương pháp FGLS (Feasible Generalized Least Square) để khắc phục mô hình. Với phương pháp FGLS thì độ lệch, sự thay đổi của dữ liệu sẽ được hạn chế, đồng thời đảm bảo tiêu chuẩn với giả thuyết bình phương thấp nhất. Mô hình cuối cùng theo phương pháp FGLS cũng sẽ được kết luận là phù hợp dựa trên hệ số Prob của mô hình nếu thấp hơn 5%. Nếu mô hình này đạt được sự phù hợp thì các tham số ước lượng hồi quy tương ứng của các biến độc lập là cơ sở để luận văn kết luận chiều và mức độ tác động của ĐDHTN và biến kiểm soát đến rủi ro phá sản tại các NHTM Việt Nam, đồng thời thảo luận và so sánh kết quả đó với các nghiên cứu khác.
TÓM TẮT CHƯƠNG 3
Chương này trình bày về mô hình nghiên cứu đề xuất được kế thừa từ các nghiên cứu được lược khảo, đồng thời dựa trên các lập luận của các tác giả từ các công trình đó để lập luận giả thuyết cho các NHTM Việt Nam. Ngoài ra, chương này trình bày cách thức đo lường các biến số trong mô hình, cách thức và phương pháp chọn mẫu nghiên cứu. Cuối cùng là trình bày về phương pháp xử lý số liệu. Luận văn: PPNC Tác động thu nhập đến rủi ro tại các ngân hàng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: KQNC Tác động thu nhập đến rủi ro tại các ngân hàng

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

