Luận văn: Thực trạng phòng ngừa xử lý nợ xấu các Ngân hàng

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng phòng ngừa xử lý nợ xấu các Ngân hàng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng phòng ngừa và xử lý nợ xấu của các Ngân hàng thương mại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Tổng quan hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển

  • Thời kỳ 1951 – 1954

Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được thành lập, hoạt động độc lập tương đối trong hệ thống tài chính. Trong thời kỳ này, Ngân hàng đã có những thành tựu quan trọng, nổi bật về phát hành giấy bạc, quản lý kho bạc, phát triển tín dụng ngân hàng, quản lý ngoại hối.

  • Thời kỳ 1955 − 1975

Đây là khoảng thời gian diễn ra chiến tranh chống Mỹ, ngân hàng phục vụ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; quản lý và huy động vốn đáp ứng hoạt động tín dụng, quản lý ngoại hối, thanh toán – tín dụng quốc tế, thanh toán không dùng tiền mặt cũng như phục vụ tích cực công cuộc xây dựng nền kinh tế lúc này.

  • Thời kỳ 1975 − 1985

Giai đoạn khôi phục kinh tế sau chiến tranh giải phóng và thống nhất đất nước. Xây dựng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thống nhất trong cả nước. tiếp tục thanh toán không dùng tiền mặt, công tác quản lý và huy động vốn được quan tâm, thay đổi hệ thống tiền (thu cũ đổi mới), cải tiến và mở rộng tín dụng, quản lý lưu thông tiền tệ thống nhất trong cả nước, mở rộng quan hệ thanh toán – tín dụng quốc tế, tăng cường quản lý ngoại hối trong giai đoạn mới.

  • Thời kỳ 1986 đến nay Luận văn: Thực trạng phòng ngừa xử lý nợ xấu các Ngân hàng.

Khoảng thời gian 1986 đến 1989: Bước đầu đổi mới

Thực hiện thí điểm cơ chế hạch toán nền kinh tế, kinh doanh XHCN; thành lập các ngân hàng chuyên doanh, chuyển hẳn sang hạch toán kinh doanh XHCN; thành lập các ngân hàng theo dạng cổ phần đầu tiên tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ngân hàng Nhà nước ban hành các thể lệ chung về tín dụng, tiền mặt, thanh toán,…áp dụng chung cho toàn hệ thống.

Khoảng thời gian 1990 đến nay: Đổi mới căn bản và toàn diện

Đổi mới mô hình tổ chức ngân hàng thành hệ thống 2 cấp. Ra đời 2 pháp lệnh: Pháp lệnh về Ngân hàng Nhà nước và Pháp lệnh về Tổ chức tín dụng và Công ty tài chính (5/1990 Hội đồng Nhà nước thông qua và có hiệu lực từ 10/1990). Hai Pháp lệnh đã tách bạch chức năng quản lý hệ thống ngân hàng. Tạo lập một hệ thống Ngân hàng thương mại và các Tổ chức tín dụng được phép kinh doanh tiền tệ và cạnh tranh trên điều kiện tuân thủ khuôn khổ pháp luật.

Ngày 02/12/1997, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật Các tổ chức tín dụng được Quốc hội khóa X chính thức thông qua, được áp dụng thi hành từ ngày 1/10/1998.

Vào tháng 04/2007, một sự kiện đáng chú ý là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho phép sự hiện diện thương mại của các Tổ chức tài chính nước ngoài tại Việt Nam dưới hình thức ngân hàng có vốn nước ngoài (100%).

Từ năm 1990, tại Việt Nam hệ thống ngân hàng phát triển mạnh, tăng trưởng về số lượng, quy mô, lẫn năng lực cạnh tranh trong và ngoài nước, tiếp tục không ngừng mở rộng dịch vụ, tiếp cận công nghệ hiện đại của quốc tế.

2.1.2. Hệ thống các Ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay

Tính đến cuối năm 2021, số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy toàn hệ hệ thống gồm có 46 tổ chức, trong đó: 04 Ngân hàng thương mại Nhà nước; 31 Ngân hàng thương mại Cổ phần; 02 ngân hàng liên doanh và 09 ngân hàng có 100% vốn nước ngoài.

Bảng 2.1. Các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam giai đoạn 2015 – 2021

Tổ chức/Ngân hàng 2015 2016 2017 2018 2019 2020 2021
Nhà nước 7 4 4 4 4 4 4
Cổ phần 29 32 32 32 31 31 31
Liên doanh 3 2 2 2 2 2 2
100% vốn nước ngoài 5 8 9 9 9 9 9
Tổng cộng 44 46 47 47 46 46 46

Nguồn: Số liệu thống kê của Ngân hàng Nhà nước

Cuối năm 2021, tổng tài sản của toàn hệ thống Tổ chức tín dụng đạt 15.332.002 tỷ, tăng 9,36% so với thời điểm 2020. Cụ thể, nhóm Nhà nước có tốc độ tăng trưởng 8,97%, đạt 6.311.339 tỷ vào cuối năm 2021, chiếm 41,16% tổng tài sản toàn hệ thống. Nhóm Cổ phần có tốc độ tăng trưởng tăng 10,88%, đạt 6.711.875 tỷ, chiếm 43,78%. Nhóm liên doanh và vốn nước ngoài tăng tăng 4,95%, đạt 1.598.082 tỷ.

So với năm 2020, vốn điều lệ toàn hệ thống đã tăng 13,72% là 751.251 tỷ. Trong đó, Nhóm Nhà nước đạt 169.713 tỷ đồng, tăng 9,3%; nhóm Cổ phần đứng đầu về giá trị tuyệt đối khi đạt mức 380.263 tỷ đồng, đạt mức tăng 19,91% – cao nhất trong hệ thống. Đối với giá trị vốn điều lệ thì nhóm Ngân hàng thương mại cổ phần luôn dẫn đầu hệ thống qua các năm, ta dễ dàng nhận thấy đặc điểm này được tạo ra bởi số lượng thành viên đông đảo của nhóm – luôn trên dưới 30 thành viên – cùng với đó là quy định về vốn điều lệ tối thiểu dành cho nhóm Ngân hàng thương mại cổ phần của Ngân hàng Nhà nước theo thông tư 09/2010 là 3.000 tỷ. Luận văn: Thực trạng phòng ngừa xử lý nợ xấu các Ngân hàng.

Toàn hệ thống có tỷ lệ an toàn vốn (CAR) đạt 11,74%. Trong đó, tỷ lệ CAR của nhóm Nhà nước thấp nhất – chỉ 9,52 %, nhóm Cổ phần đạt 11,84 %. Các tỷ lệ này đều duy trì ở mức cho phép của Ngân hàng Nhà nước (tối thiểu của Ngân hàng Nhà nước là 8%).

Bảng 2.2. Hệ thống Tổ chức tín dụng Việt Nam thời điểm 31/12/2021 (ĐVT: tỷ đồng, %)
Loại hình Tổ chức tín dụng Tổng tài sản Vốn điều lệ Tỷ lệ CAR
Số tuyệt đối Tốc độ Số tuyệt đối Tốc độ
NHTM Nhà nước 6.311.339 8,97 169.713 9,30 9,52
NH Chính sách xã hội 258.817 9,70 19.023 4,12
NHTM cổ phần 6.711.875 10,88 380.263 19,91 11,84
NH liên doanh nước ngoài 1.598.082 4,95 138.570 5,55 25,98
Cty Tài chính cho thuê 244.436 6,72 35.077 14,79 19,36
NH hợp tác xã 49.381 13,05 3.030 0,00 10,36
Quỹ TD nhân dân 158.072 10,38 5.576 10,32
Toàn hệ thống 15.332.002 9,36 751.251 13,72 11,74
Nguồn: Số liệu thống kê của Ngân hàng Nhà nước

2.1.3 TÌnh hình cấp tín dụng của các Ngân hàng thương mại Việt Nam

Hình 2.1. Tốc độ tăng trưởng tín dụng giai đoạn 2015 – 2021

Tăng trưởng tín dụng  năm 2015 tăng cao hơn năm 2014 đạt 17,26% tương đương tổng dư nợ tín dụng 4.655.890 tỷ đồng. Hệ thống thanh khoản tiền đồng của các Tổ chức tín dụng tiếp tục được bảo đảm và có dư thừa, phối hợp công cụ hỗ trợ thanh khoản cho các tổ chức tín dụng, các tổ chức tín dụng tăng cường xử lý nợ xấu, quản trị rủi ro thanh khoản.

Trên đà tăng trưởng của năm trước, năm 2016 tăng trưởng đạt mức 18,25% tương đương tổng dư nợ 5.505.406 tỷ đồng. Thanh khoản hệ thống năm 2016 được đảm bảo và có dư thừa, thị trường liên ngân hàng hoạt động thông suốt. Công tác điều hành cung tiền năm 2016 đã tạo điều kiện hỗ trợ việc phát hành thành công khối lượng lớn trái phiếu chính phủ (TPCP) với lãi suất thấp và hỗ trợ tỷ giá cũng như kiểm soát lạm phát. Trong năm 2016 những sự kiện như Brexit, kết quả bầu cử tổng thống Mỹ, Fed tăng lãi suất đã gây ra áp lực tăng lên tỷ giá. Tâm lý nắm giữ ngoại tệ giảm, hệ thống Tổ chức tín dụng mua ròng lượng lớn ngoại tệ từ nền kinh tế, nhờ vậy, Ngân hàng Nhà nước mua được lượng lớn ngoại tệ. Trong năm, các Tổ chức tín dụng hoạt động yếu kém được kiểm soát, tái cơ cấu, được giám sát chặt chẽ, tiếp tục chấn chỉnh, xử lý dứt điểm các tồn tại, yếu kém. Qua đó, tỷ lệ nợ xấu được giữ ổn định dưới 3%.

Năm 2017, Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện đồng bộ, linh hoạt chính sách tiền tệ, kiểm soát lạm phát và các chỉ số khác, tạo điều kiện giảm lãi suất cho vay và tăng cường cung ứng tín dụng, góp phần vào việc tăng trưởng kinh tế đạt 6,81% (cao hơn mục tiêu 6,7%). Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước cũng tiếp tục tập trung giảm lãi suất, gia hạn, cơ cấu nợ…. Trong điều kiện lãi suất chịu áp lực gia tăng, Ngân hàng Nhà nước đã điều hành CSTT đảm bảo thanh khoản cho Tổ chức tín dụng, góp phần ổn định và giảm mức lãi suất thị trường trung bình. Từ ngày 10/7/2017, để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trên cơ sở diễn biến lạm phát có chiều hướng tăng chậm và có khả năng kiểm soát theo mục tiêu 4% được Quốc hội đề ra, Ngân hàng Nhà nước đã giảm 0,25%/năm các mức lãi suất điều hành. Đến hết ngày 31/12/2017, tăng trưởng tín dụng đạt 18,28% tương đương giá trị tổng dư nợ tín dụng 6.512.018 tỷ đồng. Luận văn: Thực trạng phòng ngừa xử lý nợ xấu các Ngân hàng.

Năm 2018 Ngân hàng Nhà nước đã thận trọng trong điều hành tăng trưởng tín dụng. Đây là biện pháp nhằm ổn định thanh khoản, kiểm soát lạm phát và quan trọng hơn là hướng dòng vốn tín dụng vào các mục tiêu hiệu quả. Ngân hàng Nhà nước đã sử dụng rất linh hoạt các công cụ thị trường mở để điều tiết thanh khoản nhằm đạt được mức lãi suất mục tiêu. Bên cạnh tín phiếu các kỳ hạn 28 và 91 ngày vẫn phát hành trước đó, từ đầu tháng 8, Ngân hàng Nhà nước mở rộng phát hành thêm kỳ hạn 7 ngày, 14 ngày và kỳ hạn rất dài 140 ngày. Sau khi một khối lượng tương đối tiền được giữ lại trong tín phiếu dài ngày, Ngân hàng Nhà nước hỗ trợ ngược lại với thanh khoản bằng OMO (thị trường mở). Thanh khoản ngân hàng bị siết lại đã có phản ánh rõ nét hơn lên thị trường 1. Lãi suất tăng ở tất cả các kỳ hạn, tuy nhiên kỳ hạn dài 12 tháng tăng mạnh nhất do nhu cầu chuẩn bị nguồn vốn của ngân hàng trong đợt cao điểm cuối năm. Năm 2018 sự bất ổn của nền kinh tế thế giới:  thị trường tài chính  trải qua những diễn biến khó lường có tầm ảnh hưởng sâu rộng tới nhiều quốc gia, xoay quanh chính sách thương mại của Mỹ cùng lộ trình thắt chặt tiền tệ của Mỹ và nhiều nền kinh tế phát triển. Cuộc chiến  thương mại giữa hai cường quốc Mỹ – Trung ngày càng căng thẳng và chưa cho dấu hiệu nhượng bộ. Kết quả của những diễn biến trên đã đưa mức tăng trưởng tín dụng rơi về 13,89% tương đương mức tổng dư nợ 7.211.175 tỷ đồng.

Năm 2019, Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo Tổ chức tín dụng chủ động thực hiện rà soát, tiếp tục cân đối tài chính, xem xét lãi suất hợp lý, khẩu vị rủi ro, đảm bảo an toàn. Trong bối cảnh nhiều NHTW liên tục thực hiện cắt giảm lãi suất, từ ngày 16/9/2019, Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh giảm 0,25%/năm các mức lãi suất điều hành để tiếp tục tạo điều kiện hỗ trợ nền kinh tế và thanh khoản. Tín dụng được hướng vào hoạt động SXKD, và các lĩnh vực ưu tiên.

Năm 2020, các hoạt động như: đầu tư, thương mại, du lịch, SXKD… đều bị ảnh hưởng và trì trệ do Covid-19. Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu, thiên tai phức tạp liên tiếp xảy ra gây thiệt hại nặng nề tới sản xuất và đời sống của người dân. Ngân hàng bị tác động trên cả 2 khía cạnh. Thứ nhất, cầu tín dụng thấp mặc dù các Tổ chức tín dụng đã thực hiện cho vay lãi suất hấp dẫn, quy mô lớn đến với khách hàng. Thứ hai, khách hàng khó khăn không thanh toán đúng hạn, trong đó dư nợ bị ảnh hưởng bởi Covid-19 chiếm gần 26% tổng dư nợ toàn hệ thống khoảng 2,3 triệu tỷ đồng; khoảng 45 nghìn tỷ đồng dư nợ bị ảnh hưởng do hạn hán, xâm nhập mặn khu vực

Đồng bằng sông Cửu Long, bão lũ miền Trung, Tây nguyên, nguy cơ gia tăng nợ xấu. Những diễn biến trên đã dẫn tới hệ quả: mức tăng trưởng tín dụng rơi về 12,17% – mức thấp nhất trong 5 năm gần nhất tương đương mức tổng dư nợ tín dụng 9.192.566 tỷ đồng.

Năm 2021, dù chịu ảnh hưởng tiêu cực vì Covid-19 nhưng tín dụng toàn nền kinh tế tăng tăng ngay từ đầu năm và cao hơn so cùng kỳ năm 2020. Tính đến 31- 12- 2021, hệ thống tín dụng tặng 13,61% so với cuối năm 2020.

Hình 2.2. Tổng dư nợ tín dụng và mức tăng trưởng toàn hệ thống giai đoạn 2015 – 2021

2.2. Thực trạng nợ xấu của hệ thống Ngân hàng thương mại tại Việt Nam Luận văn: Thực trạng phòng ngừa xử lý nợ xấu các Ngân hàng.

2.2.1. Quy mô

Trên thực tế, nợ xấu không phải mới phát sinh trong những năm gần đây, mà thực chất đã phát sinh và tích luỹ từ nhiều năm trước ở các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Theo số liệu tổng hợp của Ngân hàng Nhà nước giai đoạn 2015 – 2021, tỷ lệ nợ xấu đã và đang có xu hướng bùng nổ trở lại từ năm 2020.

Bảng 2.3. Tỷ lệ nợ xấu giai đoạn 2015 – 2021

Năm Tỷ lệ nợ xấu % Tổng dư nợ nền kinh tế ( tỷ đồng) Nợ xấu ( tỷ đồng)
2015 2,55% 4.655.890 118.725
2016 2,46% 5.505.406 135.433
2017 1,99% 6.512.018 129.589
2018 1,91% 7.211.175 137.733
2019 1,63% 8.195.393 133.585
2020 1,76% 9.192.566 161.789
2021 1,90% 10.444.078 198.437
Nguồn: Số liệu thống kê của Ngân hàng Nhà nước

Nguồn: Số liệu thống kê của Ngân hàng Nhà nước Hình 2.3: Tình hình tỷ lệ nợ xấu giai đoạn 2015 – 2021

Năm 2015 chứng kiến sự quay trở lại của đà tăng trưởng dư nợ nền kinh tế với mức 17,26% tương ứng đạt 4.655.890 tỷ đồng. Mức tăng trưởng nợ xấu có sụt giảm với mức giảm -8% tương ứng đạt mức 118.725 tỷ đồng. Hai điều này tạo ra mức giảm tỷ lệ nợ xấu gần 1% từ mức 3,25% năm 2014 xuống mức 2,55% năm 2015. VAMC đã xác định 2015 là năm then chốt để thực hiện nhiều chính sách, biện pháp xử lý nợ xấu. VAMC xử lý được 107 nghìn tỷ, giá trị trái phiếu 99.180 nghìn tỷ, vượt chỉ tiêu đề ra, góp phần đưa tỷ lệ nợ xấu đạt yêu cầu dưới 3%.

Năm 2016 tốc độ tăng trưởng dư nợ tiếp tục đà tăng khi đạt 18,25% tương ứng mức 5.505.406 tỷ đồng, trong khi đó nợ xấu có mức độ tăng trưởng cao tương ứng 14,07% đạt 135.433 tỷ đồng. Điều này như một dấu hiệu thể hiện khả năng hấp thụ tín dụng của nền kinh tế đang bộc lộ vấn đề mặc dù nó không phản ánh thông qua tỷ lệ nợ xấu trong khi tỷ lệ này vẫn bình ổn được mức 2,46% so với mức 2,55% của 2015.

Những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nợ xấu gia tăng trong năm 2016:

Thứ nhất, các Ngân hàng thương mại thực hiện bán nợ cho VAMC tuy nhiên VAMC mới chỉ xử lý được một phần trong đó. Qua hơn 3 năm kể từ khi hoạt động, VAMC đã mua gần 300.000 tỷ nợ xấu. Tuy nhiên, phần bán lại nợ của công ty này chỉ được vài phần trăm dù đã được hỗ trợ khá nhiều về chính sách. Chính vì thế, từ năm 2016, có một số ngân hàng đã mua lại nợ đã bán cho VAMC trước đó về tự xử lý. Luận văn: Thực trạng phòng ngừa xử lý nợ xấu các Ngân hàng.

Thứ hai, việc cơ cấu lại khoản nợ làm cho các ngân hàng đang phải trả nợ cho quá khứ. Theo Quyết định 780/QĐ-NHNN năm 2012 của Ngân hàng Nhà nước cho phép các tổ chức tín dụng không chuyển nhóm khi cơ cấu lại nợ, một lượng lớn dư nợ lẽ ra đã là nợ xấu, nhưng được cơ cấu lại thời hạn trả nợ, tức đã đẩy về cho tương lai ghi nhận sau.

Thứ ba, tình trạng khách hàng gặp khó khăn dẫn đến nợ đọng và không thể trả nợ.

Tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2017 vẫn giữ mức ổn định đều như năm trước khi giữ được mức 18,28% tương ứng đạt giá trị 6.512.018 tỷ đồng. Nợ xấu có mức độ tăng trưởng được kiểm soát tốt đà tăng khi giảm nhẹ 4,32% đạt mức 129.589 tỷ đồng. Từ đó góp phần giúp tỷ lệ nợ xấu giảm mạnh về 1,99%. Nhờ tác động Nghị quyết 42 quá trình xử lý nợ xấu đã được đẩy nhanh hơn. Tính cả năm, ngành ngân hàng đã xử lý được 70.000 tỷ đồng. Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng nợ xấu theo các ngân hàng báo cáo là 65,8%.

Tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2018 chỉ tăng 10,74% đạt mức 7.211.175 tỷ đồng. Cùng với đó là sự quay lại của nợ xấu khi giá trị này tăng nhẹ 6,28% đạt mức 137.733 tỷ đồng. Hai yếu tố này không gây nhiều áp lực lên tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ này vẫn giữ ổn định được mức 1,91%. Mặc dù bắt đầu xuất hiện sự giảm nhiệt của tốc độ tăng trưởng tín dụng nhưng 2018 lại là năm ngành ngân hàng báo cáo có lãi nhiều nhất. Tuy nhiên, đi kèm với lợi nhuận đó là tỷ lệ thuận của giá trị nợ xấu tăng. Phía VAMC cho hay trong năm 2018, VAMC đã thực hiện triển khai hoạt động mua, bán, xử lý nợ xấu của nhiều Tổ chức tín dụng theo giá trị thị trường đạt 2.819 tỷ đồng; bằng trái phiếu đặc biệt đạt 29.812 tỷ đồng; đã xử lý 78.000 tỷ đồng dư nợ gốc (đạt 226% kế hoạch), thu hồi nợ đạt 37.250 tỷ đồng.

Tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2019 vẫn giữ mức ổn định là 13,65% tương ứng đạt giá trị 8.195.393 tỷ đồng. Nợ xấu được kiểm soát tốt khi giảm nhẹ 3,01% đạt mức 133.585 tỷ đồng. Từ đó góp phần giúp tỷ lệ nợ xấu giảm mạnh về 1,63%.

Giai đoạn 2015 – 2019 gắn liền với việc cơ cấu hệ thống Tổ chức tín dụng là việc xử lý nợ xấu của toàn hệ thống. Với kết quả khá thành công với nhiệm vụ trọng tâm này khi hoạt động hệ thống được bảo đảm an toàn, có những chuyển biến trong việc Tổ chức tín dụng được cơ cấu, đồng thời tỷ lệ nợ xấu được giảm đáng kể từ 2,55% (2015) còn 1,63% (2019) với sự góp sức không nhỏ từ việc triển khai Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội. Tuy nhiên, việc Covid 19 bùng phát năm 2020 và tiếp tục kéo dài với diễn biến khó lường, tác động mạnh đến toàn bộ nền kinh tế, gây ra nhiều ảnh hưởng mang tính tiêu cực đến các khách hàng vay. Đến tháng 8/2022 Nghị quyết 42 sẽ hết hiệu lực, đồng nghĩa áp lực nợ xấu đang ngày càng tăng, do vậy gia hạn Nghị quyết 42 là điều cần thiết, tiến tới là luật hóa Nghị quyết 42 để giải quyết vấn đề đặt ra trên.

Hình 2.4. Tỷ lện nợ xấu giai đoạn 2015 – 2021

2.2.2. Cơ cấu nợ xấu: Luận văn: Thực trạng phòng ngừa xử lý nợ xấu các Ngân hàng.

Dư nợ tín dụng cuối năm 2021 chủ yếu tập trung các ngành: thương mại, công nghiệp; Nếu xét ở góc độ nhóm ngành thì tập trung tỷ trọng ở nhóm ngành công nghiệp xây dựng 27,48% tương ứng mức dư nợ 2.869.770,98 tỷ đồng, nhóm ngành hoạt động thương mại vận tải truyền thông – chiếm tỷ trọng 26,32% tương ứng mức dư nợ 2.748.462,90 tỷ đồng và vị trí dẫn đầu là nhóm ngành các hoạt động dịch vụ khác 38,31% tương ứng mức dư nợ 4.000.765,03 tỷ đồng. Xét về tốc độ tăng trưởng, nhóm ngành hoạt động thương mại vận tải, viễn thông đạt mức cao nhất 17,18% so với 2020 và sự vượt trội này đến từ sự đóng góp của ngành thương mại khi đạt mức tăng trưởng 17,87% tương ứng số dư tín dụng là 2.480.235,59 tỷ đồng.

Bảng 2.4. Cơ cấu tín dụng theo ngành của các Tổ chức tín dụng Việt Nam năm 2021

Stt Chỉ tiêu Số dư (Tỷ đồng) Tỷ trọng (%) Tốc độ tăng (giảm) so với năm 2020 (%)
1 Nông – lâm – ngư nghiệp 825.079,08 7,90 6,36
2 Công nghiệp và xây dựng 2.869.770,98 27,48 10,93
– Công nghiệp 1.980.745,72 18,97 14,29
– Xây dựng 889.025,27 8,51 4,11
3 Thương mại, Vận tải và Viễn thông 2.748.462,90 26,32 17,18
– Thương mại 2.480.235,59 23,75 17,87
– Vận tải và Viễn thông 268.227,31 2,57 11,14
4 Các hoạt động dịch vụ khác 4.000.765,03 38,31 14,82
TỔNG CỘNG 10.444.078 100,00 13,61

Nguồn: Số liệu thống kê của Ngân hàng Nhà nước

Qua hình 2.5, có thể thấy từ 2015 đến 2021, tỷ trọng ngành, nhóm ngành trong cơ cấu tín dụng hầu như không thay đổi. Điều này chứng tỏ dư nợ tín dụng tăng nhưng không hề có sự chuyển dịch nào đáng kể trong cơ cấu tín dụng của các Ngân hàng thương mại. Chính sự ổn định cơ cấu tín dụng cũng nói lên sự tăng trưởng cân đối của các nhóm ngành theo cùng sự tăng trưởng chung của nền kinh tế, là nỗ lực của Chính phủ điều hành nhằm giảm những cú sốc kinh tế khi dòng tiền mang tính đầu cơ – được tài trợ bằng nợ vay – ồ ạt vào và ra đối với một nhóm ngành kinh tế.

Hình 2.5. Dư nợ tín dụng theo ngành của các Ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2015 – 2021

Cuối năm 2021, dư nợ cấp tín dụng bất động sản là 2.076.413 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng khoảng 19,9% dư nợ. Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước cho biết, hiện khoảng 94% tín dụng bất động sản là cho vay trung –  dài hạn, trong khi đó ngân hàng chủ yếu huy động nguồn vốn ngắn hạn. Do đó, tỷ lệ nợ xấu đầu tư kinh doanh bất động sản tính đến cuối năm 2021 là 1,67%, khoảng 34.667 tỷ đồng.

Dòng vốn đầu tư vào thị trường BĐS rất đa dạng, gồm: nguồn vốn FDI, nguồn vốn huy động từ thị trường quốc tế, phát hành trái phiếu Doanh nghiệp hoặc đi vay từ tổ chức nước ngoài, huy động từ thị trường chứng khoán, nguồn vốn tự có, tự tích lũy của các tổ chức, cá nhân và vay từ ngân hàng thương mại… Nếu Tổ chức tín dụng đẩy mạnh tín dụng vào lĩnh vực kinh doanh BĐS quá mức sẽ tạo rủi ro lớn, ảnh hưởng đến an toàn hệ thống Tổ chức tín dụng và nền kinh tế.

2.2.3. Nợ xấu tại một số Ngân hàng thương mại Luận văn: Thực trạng phòng ngừa xử lý nợ xấu các Ngân hàng.

Bảng 2.5. Tỷ lệ nợ xấu của 22 Ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2015 − 2021
Stt Ngân hàng 2015 2016 2017 2018 2019 2020 2021
1 Agribank 2.97% 2.79% 3.35% 1,41% 1,46% 1,57% 1,71%
2 Vietinbank 1.12% 1.53% 2.05% 1,59% 1,16% 0,95% 1,26%
3 BIDV 2.27% 3.25% 3.17% 1,90% 1,74% 1,76% 0,98%
4 Vietcombank 2.21% 2.11% 1.92% 0,98% 0,78% 0,62% 0,64%
5 MB Bank 1.96% 2.00% 2.23% 1,33% 1,16% 1,09% 0,90%
6 ACB 1.52% 1.22% 1.19% 0,73% 0,54% 0,59% 0,77%
7 MSB 4.08% 5.16% 4.08% 3,01% 2,04% 1,96% 1,74%
8 Techcombank 2.32% 2.80% 3.22% 1,75% 1,33% 0,47% 0,66%
9 SCB 0.43% 0.73% 0.89% 0,42% 0,49% 2,34% 1,10%
10 SHB 2.18% 3.02% 4.45% 2,40% 1,83% 1,83% 0,80%
11 Sacombank 8.42% 8.31% 7.24% 2,20% 1,94% 1,70% 1,47%
12 VP Bank 4.01% 5.37% 7.91% 3,50% 3,42% 3,41% 4,47%
13 Eximbank 1.81% 2.94% 2.64% 1,85% 1,71% 2,52% 1,96%
14 HD Bank 2.14% 2.85% 3.77% 1,53% 1,36% 1,32% 1,65%
15 PG Bank 3.01% 2.98% 4.76% 2,96% 2,80% 2,44% 2,24%
16 TP Bank 0.94% 1.67% 3.48% 1,12% 1,29% 1,18% 0,82%
17 SGB 1.95% 2.94% 3.74% 2,20% 1,94% 1,44% 1,97%
18 VIB 2.59% 4.06% 5.20% 2,20% 1,70% 1,74% 2,32%
19 Nam Á Bank 1.15% 4.25% 4.72% 4.72% 1,97% 0,83% 1,57%
20 KLB 1.35% 1.55% 1.51% 0,94% 1,02% 5,42% 1,89%
21 Bắc Á Bank 0.80% 1.07% 0.96% 0,76% 0,68% 0,79% 0,77%
22 An Bình Bank 2.54% 3.86% 5.14% 1,89% 2,31% 2,09% 2,06%

Nguồn: Báo cáo tài chính của các Ngân hàng thương mại Luận văn: Thực trạng phòng ngừa xử lý nợ xấu các Ngân hàng.

Từ 2015 – 2021, tỷ lệ nợ xấu không ổn định, diễn biến phức tạp. Các Ngân hàng thương mại được chọn để thu thập số liệu nhìn chung là những ngân hàng có tính đại diện đi kèm tốc độ tăng trưởng tín dụng tốt, có quy mô hoạt động rộng khắp, chiếm thị phần lớn trong nhiều năm qua và có đầy đủ số liệu về nợ xấu trong giai đoạn xem xét.

Nhìn vào bức tranh tổng thể, trong số những đơn vị đã công bố BCTC năm 2021, phần lớn các Ngân hàng thương mại đều giữ mức tỷ lệ nợ xấu dưới 3% theo Thông tư 19 của NHNN. Tuy nhiên, vẫn có một số Ngân hàng thương mại có tỷ lệ nợ xấu trên 3%, đây là những Ngân hàng thương mại đang được tái cơ cấu hoặc đang bị kiểm soát.

VPBank là nhà băng có tốc độ tăng tỷ lệ nợ xấu nổi bật 4,47% (2021). Việc FECredit phát triển mạnh về số lượng lẫn quy mô đã đóng góp rất nhiều vào lợi nhuận của VPBank, song song đó là việc tăng tỷ lệ nợ xấu, cho nên việc VPBank đứng đầu không có gì là bất ngờ. Đứng sau VPBank, là VIB – ngân hàng chủ yếu cho vay mua ô tô, trong giai đoạn dịch bệnh Covid 19 các hoạt động đều ngưng trệ dẫn đến tỷ lệ nợ xấu tăng mạnh đạt 2,32% (2021). Đối với Sacombank, tỷ lệ nợ xấu là câu chuyện của giai đoạn xử lý hậu sáp nhập với ngân hàng Phương Nam và đã dần được kiểm soát tốt, tỷ lệ nợ xấu năm 2015 là 8,42% và đã giảm về 1,47% năm 2021.

Hình 2.6. Tỷ lệ nợ xấu của các Ngân hàng thương mại (2021)

Tính đến cuối năm 2021, những Ngân hàng thương mại có tỷ lệ nợ xấu thấp nhất gồm: Vietcombank, Techcombank, ACB, Bắc Á Bank, SHB, TPBank … dừng lại ở mức chỉ từ 0,64% − 0,82%, với 0,64% của Vietcombank – đây là ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu thấp nhất hệ thống.

Từ Hình 2.6, trạng thái tỷ lệ nợ xấu tại thời điểm năm 2021 đạt mức trên hay dưới ngưỡng quy định 3% là kết quả của một quá trình vận động xuyên suốt qua các năm. Diễn biến đa phần đều có một xu hướng rõ ràng và ổn định, điều này phát đi cả tín hiệu tốt và không tốt. Tín hiệu tích cực: các Ngân hàng thương mại có tỷ lệ nợ xấu ổn định đi ngang hoặc giảm dần đều đã vận dụng các giải pháp để xử lý nợ xấu đạt hiệu quả, và có sự hỗ trợ và điều hành thích hợp của Ngân hàng Nhà nước và VAMC. Tuy nhiên tác giả chỉ nghiên cứu và phân tích dữ liệu tại báo cáo tài chính của các Tổ chức tín dụng mà chưa xem xét đến số liệu thực chất của nợ xấu chưa được phản ánh đầy đủ tại BCTC do thực hiện quy định về cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ.

2.3. Nguyên nhân nợ xấu Luận văn: Thực trạng phòng ngừa xử lý nợ xấu các Ngân hàng.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến nợ xấu, sau khi phân tích chi tiết tình trạng nợ xấu của các Ngân hàng thương mại Việt Nam, tác giả đã tổng hợp và phân loại lại theo từng nhóm nguyên nhân như sau:

2.3.1. Nhóm môi trường pháp lý

Kinh doanh trong ngành ngân hàng luôn tồn tại những nguy cơ tiềm ẩn, vì vậy để giảm thiểu tố đa các rủi ro này, việc hỗ trợ của hệ thống pháp luật là cần thiết. Môi trường pháp lý đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với hoạt động của các ngân hàng, và chính vì thế, nhà nước đã chú trọng vào việc xây dựng, phát triển và hoàn thiện các văn bản pháp lý liên quan đến hoạt động của các ngân hàng. Tuy nhiên, nếu nhìn tổng thể, hệ thống này vẫn chưa đồng bộ và còn nhiều chỗ chưa hoàn thiện. Điều này đã gây ra nhiều rủi ro tiềm ẩn cho lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam.

Một số vướng mắc trong khởi kiện khi thực hiện xử lý nợ của Tổ chức tín dụng:

Một, Xác định địa chỉ của người bị kiện và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Tại khoản 5, khoản 6 Điều 9 Nghị quyết số 05/2012/NQ- HĐTP ngày 03/12/2012 có hướng dẫn: Trường hợp nếu đơn khởi kiện không ghi đầy đủ cụ thể hoặc không ghi đúng tên, địa chỉ của người bị kiện; người có nghĩa vụ quyền lợi liên quan, Tòa án sẽ yêu cầu bên khởi kiện (TCTD) bổ sung thông tin này, hoặc Tòa án sẽ không thụ lý vụ án. Để bổ sung thông tin này Tổ chức tín dụng sẽ gửi yêu cầu xác nhận địa chỉ đến UBND xã, phường, thị trấn hoặc Công an xã, phường, thị trấn nơi người bị kiện cư trú, nhưng các cơ quan này từ chối với lý do Tổ chức tín dụng không có quyền yêu cầu xác nhận địa chỉ mà chỉ có cơ quan công an mới có thẩm quyền.

Hai, trường hợp DN vay vốn bỏ địa chỉ kinh doanh, không liên lạc được với người đại diện pháp luật của DN. Tổ chức tín dụng cần xác nhận với Cơ quan Đăng ký kinh doanh để biết DN của người bị kiện có hoạt động kinh doanh hay không. Nhưng cơ quan này cung cấp thông tin khẳng định DN có trụ sở, người đại diện theo pháp luật…như trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc có cung cấp thông tin về việc DN bỏ địa chỉ đăng ký kinh doanh, nhưng chưa khẳng định DN đã bị giải thể hoặc phá sản. Trong trường hợp này mỗi Tòa án có quan điểm khác nhau trong việc thực hiện thụ lý giải quyết với trường hợp này:

− Trường hợp không thụ lý giải quyết: Người khởi kiện không cung cấp được địa chỉ hiện tại của người bị kiện (DN) nên Tòa án không thụ lý. Vì nếu có thụ lý thì cũng không triệu tập hoặc tống đạt được văn bản tố tụng cho người đại diện theo pháp luật của DN. Nếu Tòa án đã thụ lý thì phải trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện.

− Trường hợp thụ lý giải quyết: Cơ quan đăng ký kinh doanh khẳng định DN chưa bị xóa tên trên sổ đăng ký kinh doanh do phải giải thể theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2020 hoặc bị Tòa tuyên bố phá sản theo quy định tại Luật phá sản 2014 thì Tòa án phải xác định doanh nghiệp vẫn tồn tại tại địa chỉ cuối cùng trong hồ sơ đăng ký kinh doanh.

Đây là yếu tố chủ yếu gây ra tình trạng trì trệ đối với quá trình tố tụng khi TCTD đi khởi kiện khách hàng, bên thế chấp.

Ba, xác định thẩm quyền xem xét, giải quyết vụ án của Tòa án. Vấn đề này có rất nhiều cách hiểu khác nhau: Nhiều Tòa án đồng ý thụ lý và các bên xử lý theo thỏa thuận chọn Tòa án nơi đặt trụ sở của Tổ chức tín dụng; Cũng có Tòa án không chấp nhận mà chọn Tòa án nơi có tài sản thế chấp/ nơi thường trú bị đơn. Luận văn: Thực trạng phòng ngừa xử lý nợ xấu các Ngân hàng.

Bốn, hình thức nhận chính Tài sản bảo đảm là bất động sản để cấn trừ nợ vay Quy định tại Nghị Định 21 (thay thế Nghị Định 163) nhưng khi triển khai còn rất nhiều vướng mắc chưa được xử lý để các Tổ chức tín dụng xử lý nhanh các thủ tục liên quan.

Nguyên nhân chính là do các địa phương vận dụng, áp dụng pháp luật không thống nhất, có địa phương thực hiện, có địa phương không thực hiện, thậm chí có địa phương chưa biết các nội dung này để áp dụng. Theo luật Tổ chức tín dụng quy định, Tổ chức tín dụng không được kinh doanh BĐS, ngoại trừ nắm giữ BĐS do việc xử lý khoản nợ và không quá 03 năm tính từ ngày ra quyết định xử lý Tài sản bảo đảm là BĐS; Tổ chức tín dụng phải xử lý bằng cách bán, chuyển nhượng, các cơ quan nhà nước cho rằng Tổ chức tín dụng khi xử lý bằng hình thức nhận gán nợ để bán chuyển nhượng là kinh doanh bất động sản, do vậy một số địa phương không đồng ý thực hiện các thủ tục sang tên BĐS cho Tổ chức tín dụng mà yêu cầu Tổ chức tín dụng thực hiện phương án sử dụng BĐS phù hợp chức năng kinh doanh, thậm chí có địa phương bắt buộc chuyển mục đích sử dụng đất từ mục đích đất ở sang SXKD theo quy định pháp luật, đồng thời thay đổi thời hạn sử dụng đất của BĐS từ lâu dài sang hình thức sử dụng đất có thời hạn. Như vậy, đã thay đổi bản chất của bất động sản từ đất ở, có thời hạn sử dụng lâu dài và có giá trị, khi thực hiện thủ tục gán nợ sang Tổ chức tín dụng lại bị hạn chế về mục đích, và thời gian sử dụng đất do đó xét về mặt hồ sơ, thì giá trị quyền sử dụng đất là giảm so với mục đích và thời hạn sử dụng đất ban đầu. Các Tổ chức tín dụng không thực hiện được việc sang tên QSDĐ, do vậy không thể hạch toán dứt điểm được khoản nợ, vì theo quy định đối với quyền sử dụng đất chỉ hạch toán khi hoàn tất việc đăng bộ sang tên hay Tổ chức tín dụng phải được cấp GCN QSDĐ. Tổ chức tín dụng không thể chủ động xử lý được bất động sản thống nhất gán nợ.

Năm, thu giữ tài sản. Nghị quyết 42 là cơ sở pháp lý cao nhất, đây là quyết tâm của cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp trong việc giải phóng, xử lý khối Tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu đang còn tồn đọng. Tuy nhiên, cơ quan quản lý, chức năng lại ban hành chưa kịp thời các văn bản pháp luật trong một vài lĩnh vực, ngành kinh doanh thuộc trách nhiệm quản lý của mình, điều này ảnh hưởng đến hiệu quả triển khai Nghị quyết 42. Ví dụ như với cơ quan thuế, mặc dù Nghị quyết 42 có quy định rõ về thứ tự ưu tiên khi thanh toán trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm và trách nhiệm nộp thuế của các bên, trong đó bên nhận (bảo đảm, nhận chuyển nhượng) không phải thực hiện các nghĩa vụ thuế, phí khác của bên bảo đảm từ khoản tiền nhận được khi chuyển nhượng tài sản bảo đảm trong việc thực hiện thủ tục đăng ký, thay đổi, bổ sung quyền sở hữu và sử dụng tài sản bảo đảm, nhưng cơ quan chức năng quản lý lại không có văn bản hướng dẫn nên trong thời gian vừa qua, các Tổ chức tín dụng bị vướng về khoản thuế thu nhập của bên bảo đảm khi xử lý tài sản bảo đảm và cơ quan thi hành án dân sự vẫn giữ lại, hoặc bắt nộp phần thuế thì lúc đó sẽ cho thực hiện chuyển nhượng quyền sở hữu tài sản. Chính những phát sinh tranh chấp về Tài sản bảo đảm trong giai đoạn khởi kiện, thi hành án là nguyên nhân gây đóng băng giá trị Tài sản bảo đảm, dẫn đến việc tỷ lệ nợ xấu ngày càng tăng cao.

Sáu, về phía Tòa án: Sự bất hợp tác của người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong trường hợp này sẽ làm cho việc giải quyết vụ án của Tòa án bị kéo dài. Tòa án thực hiện xác minh, niêm yết văn bản tố tụng mới có thể xét xử vắng mặt họ. Ngoài ra, có người bị kiện còn ủy quyền cho Luật sư tham gia tố tụng với mục đích kéo dài thời hạn giải quyết vụ án càng lâu càng tốt (đề nghị thu thập thêm tài liệu, chứng cứ, tiến hành trưng cầu giám định tài liệu…). Đối với những vụ án phức tạp có nhiều người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì phiên tòa xét xử bị hoãn nhiều lần là điều khó tránh khỏi, gây bức xúc mệt mỏi cho Tổ chức tín dụng trong việc tham gia tố tụng .

Bảy, rủi ro do cán bộ tín dụng của Tổ chức tín dụng. Thực hiện thẩm định khách hàng và Tài sản bảo đảm chủ quan, hoặc do năng lực cán bộ không đáp ứng, ngoài ra còn có trường hợp cán bộ thực hiện việc thông đồng với bên vay vốn, bên bảo lãnh để cố ý làm trái quy trình, quy định của chính Tổ chức tín dụng đó và pháp luật trong việc thế chấp, đăng ký thế chấp tài sản dẫn đến hậu quả thiệt hại cho Tổ chức tín dụng. Đối với những hợp đồng thế chấp tài sản có những vi phạm nêu trên khi xét xử Tòa án đều tuyên hợp đồng thế chấp tài sản vô hiệu, buộc Tổ chức tín dụng phải trả lại tài sản bảo đảm cho chủ sở hữu hợp pháp.

Tám, Luật tố tụng dân sự 2015 có điều khoản liên quan đến thời gian tố tụng thì đối với các vụ án dân sự, kinh doanh thương mại là tranh chấp có sự liên quan với Hợp đồng thế chấp, tín dụng thì thời hạn chuẩn bị xét xử là 02 tháng kể từ ngày thụ lý (riêng các vụ án phức tạp thì Chánh án Tòa án có thể gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 02 tháng), tuy nhiên trên thực tế nhiều Tòa án không thực hiện đúng quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử mà luật trên quy định.

2.3.2. Nhóm nội bộ hệ thống tài chính Luận văn: Thực trạng phòng ngừa xử lý nợ xấu các Ngân hàng.

Thứ nhất, hệ thống quản trị rủi ro còn hạn chế, yếu kém

Hệ thống quản trị rủi ro của các Tổ chức tín dụng nói riêng và toàn hệ thống nói chung không tương xứng, đa phần áp dụng các biện pháp truyền thống, điều này dẫn đến việc rủi ro tiềm ẩn rất lớn. Trên thực thế, nhiều Tổ chức tín dụng đã sử dụng nghiệp vụ cơ cấu nợ để tỷ lệ nợ xấu giảm. Song song đó, nhiều Tổ chức tín dụng đã hạn chế việc phân loại nhóm nợ 3, 4, 5 để tránh việc phải trích lập dự phòng rủi ro đối với các khoản nợ trên, để lợi nhuận của Tổ chức tín dụng không bị ảnh hưởng.

Ngoài ra, các Tổ chức tín dụng chưa thực sự quan tâm đến việc quản trị danh mục khi thực hiện cấp tín dụng làm cho tỷ trọng cho vay không phù hợp. Hiện vẫn có một số Tổ chức tín dụng được thành lập chỉ để phục vụ nhóm khách hàng ưu tiên. Hạn mức cấp tín dụng dành cho nhóm khách hàng VIP này rất lớn, đi kèm những điều kiện lỏng lẻo, không chặt chẽ đã vô hình làm tỷ lệ nợ xấu tăng trong trường hợp nhóm khách hàng này chậm nghĩa vụ thanh toán, trong khi đó các quy định, quy trình giám sát của chính hệ thống Tổ chức tín dụng đó chưa thể chế tài trong trường hợp này. Trong công tác cấp tín dụng, Tổ chức tín dụng chưa thực sự chú trọng công tác dự báo rủi ro, thường cấp tín dụng vì lợi ích, lợi nhuận của thị trường BĐS, chứng khoán. Trong trường hợp thị trường BĐS đóng băng hoặc/và giá BĐS giảm sẽ là điều kiện để tỷ lệ nợ xấu ở lĩnh vực này tăng nhanh.

Một thực tế là trong thời gian vừa qua, các Ngân hàng thương mại chậm áp dụng Basel 2 trong việc quản trị rủi ro, là vì:

Một là, ngành ngân hàng Việt Nam còn mới mẻ trong sự phát triển, chỉ mới bắt đầu từ năm 1990; dịch vụ còn nghèo nàn và trình độ công nghệ thông tin mới đang ở bước khởi đầu. Vì thế, các công cụ mang tính chất phức tạp như Basel II chưa áp dụng được.

Hai là, việc công khai tài chính của các Tổ chức tín dụng chưa được minh bạch, rõ ràng. Còn nhiều khác biệt, mức độ chênh lệch, khoảng cách giữa hệ thống kế toán Việt Nam và Quốc tế. Tương tự, trong vấn đề phân loại nhóm nợ theo định tính, định lượng cũng có nhiều khác biệt, không đồng nhất. Thời gian gần đây, Việt Nam mới bắt đầu áp phương thức phân loại nhóm nợ định tính, trước đó theo định lượng đẫn đến độ chính xác không cao và chưa đạt hiệu quả.

Ba là, trong quá trình thực hiện các tiêu chí theo Basel II, nợ xấu là rào cản. Trọng điểm của tất cả các hiệp định Basel I, II và III đều là về VCSH. Tùy vào chất lượng tài sản, nếu cho vay mà chất lượng tài sản tốt thì VCSH được bảo toàn, ngược lại, nếu ngân hàng cho vay bừa bãi, nợ xấu cao, VCSH sẽ bị xói mòn, thậm chí triệt tiêu vì những thiệt hại gây nên do nợ xấu làm mất vốn. Tại Việt Nam rất ít trường hợp các ngân hàng chứng tỏ VCSH bị xói mòn vì nợ xấu. Hiển nhiên nhiều ngân hàng đã che giấu nợ xấu và vì thế, VCSH trên bảng cân đối kế toán của họ không bị ảnh hưởng bởi nợ xấu. Nếu để công khai nợ xấu theo đúng tiêu chuẩn của quốc tế thì không biết sẽ còn bao nhiêu ngân hàng của Việt Nam đạt được vốn tối thiểu theo quy định của Ngân hàng Nhà nước và không loại trừ khả năng một vài ngân hàng đang trong tình trạng phá sản kỹ thuật vì VCSH đã âm. Chính vì thông tin không minh bạch đó, VCSH không được thể hiện một cách chính xác, nên không thể áp dụng các công cụ mà nó đòi hỏi tính chính xác cao được. Chính vì thế, vấn đề nợ xấu, mà mọi người đang tìm cách giải quyết, là một cản trở lớn áp dụng Basel II.

Việc thẩm định giá trong hệ thống ngân hàng cũng chưa được chú trọng,  dưới áp lực tăng trưởng tín dụng, thời gian thẩm định ngắn cần kết quả ngay, tâm lý số tiền cho vay luôn thấp hơn giá trị thực tế của Tài sản bảo đảm (thường là 50 – 60%); chính sách chạy đua, níu kéo khách hàng v.v.. Bên cạnh đó, do năng lực chuyên môn của nhân viên thẩm định còn hạn chế, thiếu nguồn dữ liệu từ thị trường, công tác giám sát, kiểm tra sau cho vay chưa được siết chặt và các nguyên nhân khách quan khác đều dẫn đến phát sinh nguồn nợ xấu. Luận văn: Thực trạng phòng ngừa xử lý nợ xấu các Ngân hàng.

Thứ hai, công bố thông tin thiếu minh bạch, không đầy đủ.

Trong quá trình cấp tín dụng của Tổ chức tín dụng, khi tăng trưởng tín dụng nóng, các tổ chức, doanh nghiệp khi đi vay gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, hoạt động kinh doanh sản xuất bị đình trệ, ảnh hưởng đến khả năng thanh toán nợ vay dẫn đến tình trạng nợ xấu tăng. Mặc dù Ngân hàng Nhà nước đã áp dụng nhiều biện pháp, chính sách minh bạch hóa các quan hệ tín dụng giữa bên cho vay và bên đi vay cũng như cung cấp minh bạch các thông tin, nhưng do việc phân loại nhóm nợ theo định lượng, không sử dụng hoặc sử dụng ít các chỉ tiêu định tính như tình hình tài chính, kết quả SXKD của tổ chức, doanh nghiệp….dẫn đến không phản ánh đúng bản chất khoản nợ khi phân loại.

Thứ ba, mức độ tin cậy của thông tin tín dụng không cao

Những năm vừa qua, chất lượng của thông tin kinh tế có mức độ tin cậy không cao. Theo đó, cán bộ của Tổ chức tín dụng kém năng lực, trình độ, kỹ năng quan sát yếu, không nhạy bén với các diễn biến thông tin kinh tế – xã hội trong và ngoài nước thì việc ra phán quyết cấp tín dụng không phù hợp thực tiễn, vô tình đặt Tổ chức tín dụng phải đối diện với nguy cơ rủi ro tín dụng. Hơn nữa, các thông tin do CIC cung cấp có độ cập nhật không cao và còn thiếu các chỉ tiêu quan trọng như lịch sử quan hệ tín dụng của khách hàng, năng lực tài chính hiện hữu, đội ngũ điều hành hệ thống doanh nghiệp, thông tin khoản nợ đã bán theo giá trị thị trường cho VAMC… Thứ tư, yếu tố con người

Đạo đức nghề nghiệp của cán bộ ngân hàng đặc biệt quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Thực tế vì nhiều lí do khác nhau, lợi ích chung, lợi ích riêng dẫn đến việc một số cán bộ đã thực hiện các hành vi cấu kết, mua bán… với khách hàng để gian lận, che giấu sự thật, cố ý làm trái quy định của hệ thống Tổ chức tín dụng. Tình trạng thao túng, lũng đoạn trong hoạt động tín dụng thời gian qua như: đại án Agribank, Ngân hàng Xây dựng (9.000 tỷ đồng), Ocean Bank (800 tỷ đồng), Vietinbank trong vụ án Huyền Như (4000 tỷ đồng), vụ án Bầu Kiên, Vụ án Trần Phương Bình (DongA Bank) v.v.

Yếu tố đạo đức và sự yếu kém của khách hàng vay cũng ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng và làm tăng nguy cơ xảy ra nợ xấu.

Thứ năm, sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn vượt mức

Nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn (theo Thông tư 36 của Ngân hàng Nhà nước) tỷ lệ tối đa là 60%, giảm dần còn 45%, dừng lại ở mức 40% từ ngày 1/1/2019. Trên thực tế, một số Tổ chức tín dụng sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn các dự án BĐS trên 50% tổng mức huy động ngắn hạn, dẫn đến kém thanh khoản. Năm 2015, tỷ lệ này tăng lên 31,8% so với mức 20,2% thời điểm năm 2014 dẫn tới tăng áp lực cũng như tăng rủi ro trong thanh khoản thời gian tới, mà hệ lụy lớn nhất là lãi suất có thể tăng từ 1-2%, từ đó tác động tiêu cực tới việc đi vay của khách hàng.

2.3.3. Nhóm cơ chế xử lý nợ xấu

Thứ nhất, Quy định về phân loại nhóm nợ theo hướng chặt chẽ và phạm vi phân loại nhóm nợ cũng rộng hơn trước, bao gồm cả phạm vi đầu tư trái phiếu.

Thứ hai, VAMC hoạt động gần như đơn độc trên thị trường xử lý nợ, ngoài ra ở Việt Nam chưa thực sự phát triển thị trường mua bán nợ, chỉ đang ở giai đoạn hình thành, hình thức này còn khá mới mẻ đối với các bên, lẫn cơ chế quản lý vận hành.

Thứ ba, cơ chế xử lý Tài sản bảo đảm gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Tại ngân hàng BĐS là dạng tài sản đảm bảo chiếm tỷ trọng cao trong cho vay. Trong trường hợp doanh nghiệp không trả được nợ,  ngân hàng muốn bán tài sản thế chấp, hoặc gửi đơn đến cơ quan toà án thì lại gặp khó khăn từ nhiều phía như khuôn khổ pháp lý, khách hàng vay, đôi khi là thời gian xử lý dài, thủ tục phức tạp vì phải thực hiện qua bước, hay trong quá trình bàn giao tài sản chậm…làm cho tài sản hư hỏng, mất giá trị, dẫn đến giá trị thu hồi nhỏ. Luận văn: Thực trạng phòng ngừa xử lý nợ xấu các Ngân hàng.

2.3.4. Nhóm hoạt động giám sát, thanh tra của Ngân hàng Nhà nước

Theo Ngô Hướng và ctg (2014) thì lực lượng đội ngũ cán bộ thanh tra của NHNN chưa tương xứng với quy mô, số lượng các chi nhánh Ngân hàng thương mại. Lực lượng thanh tra viên có đủ năng lực, trình độ là Trưởng đoàn thanh tra không nhiều; khả năng cập nhật và khai thác cơ sở dữ liệu, am hiểu nghiệp vụ mới đang được thực hiện tại các Tổ chức tín dụng còn hạn chế.

Phương pháp thanh tra đang được áp dụng là thanh tra tuân thủ, chủ yếu nhằm đảm bảo việc thực hiện đúng các quy định về an toàn trong hoạt động của các TCTD.

Hoạt động giám sát của Ngân hàng Nhà nước chưa được hoàn thiện, chưa hoàn toàn đáp ứng được các yêu cầu trong 25 nguyên tắc giám sát của Basel, tần suất thanh tra tại chỗ đối với một Tổ chức tín dụng còn thấp dẫn đến việc phát hiện vi phạm cũng như cảnh báo không được kịp thời.

2.4. Thực trạng xử lý nợ xấu của các Tổ chức tín dụng tại Việt Nam

2.4.1. Quy định liên quan

Các biện pháp được Ngân hàng Nhà nước triển khai nhằm đối phó, xử lý nợ xấu tại thời điểm 2014, bao gồm:

− Cho phép Tổ chức tín dụng tiếp tục thực hiện cơ cấu giữ nguyên nhóm nợ, với yêu cầu chặt chẽ, triệt để hơn để phòng tránh trường hợp các Tổ chức tín dụng lợi dụng biện pháp cơ cấu nợ để giấu nợ xấu.

− Ban hành các văn bản tạo điều kiện việc nhận thế chấp các tài sản là nhà ở hình thành trong tương lai và được quyền chủ động hơn trong quá trình xử lý tài sản để thu hồi nợ vay.

− Ngày 20/11/2014, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 36/2014/TT-NHNN có hiệu lực tác động đến hoạt động của các Ngân hàng thương mại, cụ thể như sau:

+ Thông tư 36 cho phép bao gồm cả dự phòng chung trong vốn cấp 2, khiến các Ngân hàng thương mại tăng quy mô về vốn tự có; một vài hệ số rủi ro của tài sản được điều chỉnh giảm, đặc biệt giảm hệ số rủi ro của cho vay bất động sản từ 250% xuống còn 150%. Việc điều chỉnh này góp phần giúp tín dụng bất động sản tăng tới 28,3 % trong năm 2015.

+ Vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn được nâng tỷ lệ từ 30% lên 60%. Đây là một mức điều chỉnh rất đáng kể theo hướng nới rộng tín dụng trung dàn hạn, mục đích là khuyến khích các Ngân hàng thương mại cho vay mở rộng hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, với mức điều chỉnh này sẽ dẫn đến tiềm ẩn rủi ro thanh khoản.

Yêu cầu Tổ chức tín dụng chủ động áp dụng các biện pháp để xử lý nợ xấu, các động thái quyết liệt nhằm xử lý triệt để nợ xấu bao gồm: Luận văn: Thực trạng phòng ngừa xử lý nợ xấu các Ngân hàng.

− Ban hành Chỉ thị 02 tăng cường xử lý nợ xấu của các Tổ chức tín dụng, cố gắng phấn đấu đưa tỷ lệ nợ xấu về dưới mức 3% đến cuối năm 2015. Các Tổ chức tín dụng cũng phải nghiêm chỉnh chấp hành các quy định về an toàn hoạt động ngân hàng, cơ cấu khoản nợ, phân loại nhóm nợ, thực hiện trích lập dự phòng rủi ro, nghiêm cấm  các thủ thuật giấu nợ xấu, không thể hiện đúng chất lượng tín dụng và kết  quả cũng như việc lợi dụng xử lý nợ xấu để trục lợi, gây thiệt hại cho Tổ chức tín dụng.

− Ngày 05/03/2015, VAMC được phát hành trái phiếu đặc biệt tối đa 80.000 tỷ đồng từ 01/01/2015 đến 31/12/2015, kỳ hạn trái phiếu tối đa là năm năm. Đồng thời, ngày 11/03/2015, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước yêu cầu mỗi Ngân hàng thương mại phải thực hiện bán nợ xấu tối thiểu theo ấn định cho VAMC.

Nghị quyết 42 thể hiện sự quyết tâm xử lý nợ xấu, đây được xem là một bước tiến quan trọng trong hành lang pháp lý để xử lý nợ xấu, góp phần thúc đẩy, mở rộng quá trình xử lý Tài sản bảo đảm để thực hiện thu hồi vốn, đưa vào SXKD. Nghị quyết 42 bao gồm: 19 Điu, cùng với Phụ lục hướng dẫn xác định như thế nào là nợ xấu và đã đề cập rất nhiều nội dung với quyết tâm tháo gỡ các vướng mắc, khó khăn và tồn tại gây cản trở về mặt pháp lý trong quá trình xử lý nợ xấu của các Tổ chức tín dụng. Theo đó, Nghị quyết 42 khẳng định quyền thu giữ và xử lý Tài sản bảo đảm của Tổ chức tín dụng và VAMC, khẳng định lại quyền và nghĩa vụ khi thực hiện mua, bán, xử lý nợ xấu theo giá trị thị trường; thủ tục tố tụng rút gọn, quy định nghĩa vụ thuế, phí khi chuyển nhượng TSĐB, phương thức phân bổ lại lãi dự thu, khoản chênh lệch khi bán nợ xấu của Tổ chức tín dụng và VAMC… Nội dung của Nghị quyết 42 đã đề cập đến những vấn đề mà trước nay các Tổ chức tín dụng cũng như VAMC đang còn lúng túng, không chắc chắn trong hoạt động xử lý nợ xấu. Nghị quyết 42 tạo quyền hợp pháp cho các Tổ chức tín dụng và VAMC xử lý Tài sản bảo đảm để giải quyết nợ xấu. Triển khai Nghị quyết 42 của các cơ quan quản lý nhà nước:

− Quyết định 1403/QĐ – Ngân hàng Nhà nước được ban hành thành lập Ban chỉ đạo cơ cấu lại hệ thống các Tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu Ngân hàng Nhà nước. Từ phía Chính Phủ, ngày 10/7/2017, Thủ tướng đã ban hành Kế hoạch số 992/TTg – KTTH về việc triển khai nghị quyết thí điểm về xử lý nợ xấu. Ngày 19/7/2017, tiếp tục ban hành 2 văn bản đóng vai trò là kim chỉ nam cho các cơ quan quản lý trong việc triển khai Nghị quyết 42, đó là Chỉ thị số 32/CT – TTg và Quyết định số 1058/QĐ – TTg.

− Tổng Cục Thi Hành Án Dân sự cũng đã kịp thời ban hành văn bản số 3022 / TCTHADS – NV1 ngày 15/8/2017 hướng dẫn một số nội dung liên quan đến triển khai Nghị quyết 42.

− Trong quá trình triển khai, một số văn bản tiếp tục được ban hành như văn bản số 609/ Ngân hàng Nhà nước – TTGSNH ngày 24/1/2018 của Ngân hàng Nhà nước về việc tăng cường xử lý nợ xấu, nhằm đẩy mạnh tiến độ thực hiện triển khai thực hiện Nghị quyết 42; Nghị quyết số 03/2018/NQ HĐTP ngày 15/5/2018 của Tòa án Nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, Tài sản bảo đảm tại TAND.

− Trong thời gian Nghị quyết 42 có hiệu lực, Cơ quan Thanh tra giám sát của Ngân hàng Nhà nước thường xuyên có những công văn cũng như yêu cầu các Tổ chức tín dụng báo cáo, phản ánh các vướng mắc. Ngày 29/3/2019, Kiểm toán Nhà nước công bố Quyết định số  590/QĐ – KTNN ngày 29/03/2019, trong đó ban hành Đề cương kiểm toán nhằm kiểm tra tiến độ thực hiện Nghị quyết 42, tính tuân thủ trong quá trình triển khai, quan trọng nhất là tiếp thu, ghi nhận ý kiến phản ánh các khó khăn, vướng mắc của các tổ chức trong quá trình triển khai Nghị quyết 42 .

Với động thái nêu trên, chúng ta có thể thấy từ trước đến nay, chưa có một văn bản nào nhận được sự quyết tâm và đồng thuận triển khai cao độ, cũng như nhận được sự chuẩn bị kỹ lưỡng từ phía Chính Phủ, Ngân hàng Nhà nước, các cơ quan chức năng, các Tổ chức tín dụng như Nghị quyết 42. Tất cả các công tác lên kế hoạch, chuẩn bị nguồn lực, hành lang pháp lý được chuẩn bị chu đáo nhằm một mục đích duy nhất là quyết tâm đưa nghị quyết này đi vào thực tế.

2.4.2. Các biện pháp phòng ngừa nợ xấu của Ngân hàng thương mại: Luận văn: Thực trạng phòng ngừa xử lý nợ xấu các Ngân hàng.

Xây dựng và triển khai chiến lược quản trị rủi ro

Các chiến lược quản trị rủi ro đã được các ngân hàng xây dựng phù hợp với mục tiêu kinh doanh từng Tổ chức tín dụng, có thể cơ cấu linh hoạt với những diễn biến thay đổi trên thị trường. Tầm nhìn chiến lược, hệ thống quản trị rủi ro tập trung vào việc giảm thiểu nguy cơ và hạn chế phát sinh nợ xấu, bước đầu cho thấy sự phù hợp với cơ địa của từng Tổ chức tín dụng, với các cơ hội và rủi ro từ môi trường kinh doanh. Tuy nhiên, chiến lược quản trị rủi ro vẫn còn thiếu đi tính đồng bộ  cho toàn hệ thống.

Thêm vào đó, hiện tại nhiều Tổ chức tín dụng triển khai chiến lược thông qua hướng tiếp cận quản trị các khoản vay riêng lẻ thay vì quản trị danh mục tín dụng, điều này vẫn tạo kẽ hở cho rủi ro nảy sinh.

Xây dựng và triển khai chặt chẽ quy trình quản lý tín dụng

Các Tổ chức tín dụng đều có quy trình quản lý tín dụng riêng, vận hành một cách bài bản và chặt chẽ, hệ thống quy trình này được tuân thủ nghiêm ngặt, thông qua sổ tay tín dụng cho toàn thể nhân viên trong hệ thống. Quy trình này được đảm bảo khoa học và liền mạch trong suốt quá trình cấp tín dụng, từ khâu ban đầu như tiếp cận khách hàng, thẩm định hồ sơ đến cả các khâu sau cùng trong quy trình như giám sát, thanh lý khoản vay. Trong quy trình này, các ngân hàng đặc biệt chú ý đến khâu thẩm định để qua đó lựa chọn khách hàng vay vốn, các bước để thực hiện kiểm tra, giám sát hoạt động cho vay. Theo đó các ngân hàng đồng loạt siết chặt công tác thẩm định, lựa chọn chính xác khách hàng khi cho vay, đảm bảo an toàn để vay vốn mới, tăng cường giải ngân cho những ngành đang tăng trưởng. Công tác giám sát được ngân hàng áp dụng: Tiến hành kiểm tra, giám sát mọi hình thức cấp tín dụng theo định kỳ; chương trình kiểm tra, giám sát xây dựng bài bản, thận trọng và chi tiết; lưu ý đến các khoản cho vay lớn, có vấn đề. Thực hiện chứng thực, đăng ký sửa đổi, bổ sung giao dịch bảo đảm đúng quy định. Chính việc quy trình tín dụng được tuân thủ mà các ngân hàng có điều kiện hạn chế rủi ro tín dụng, phát hiện và khắc phục kịp thời các thiếu sót, sai phạm liên quan để từ đó có thể phòng tránh phát sinh nợ xấu.

2.4.3. Các biện pháp xử lý nợ xấu của Ngân hàng thương mại

Xây dựng phương án xử lý nợ xấu

Các Ngân hàng thương mại trên cơ sở kết quả phân loại nhóm nợ và trích lập dự phòng rủi ro đã chủ động xây dựng chi tiết các phương án, giải pháp xử lý nợ xấu cho từng trường hợp cụ thể, đảm bảo tuân thủ đúng những chỉ thị của Ngân hàng Nhà nước, nhắm đến mục tiêu giảm tỷ lệ nợ và kiểm soát nợ xấu gia tăng. Định kỳ, căn cứ theo yêu cầu từ phía Ngân hàng Nhà nước, các Ngân hàng thương mại thực hiện xây dựng kế hoạch xử lý nợ hoàn thiện để báo cáo về cho Ngân hàng Nhà nước.

  • Cơ cấu khoản nợ

TCTD phối hợp cùng khách hàng vay để hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn trong việc thanh toán khoản vay; đồng thời giúp khách hàng có thể dễ dàng tiếp cận vốn vay, phục hồi Hoạt động kinh doanh và giảm nợ xấu.

Giảm lãi, miễn lãi Luận văn: Thực trạng phòng ngừa xử lý nợ xấu các Ngân hàng.

Các Ngân hàng thương mại đã xem xét giảm, miễn lãi phải trả đối với các khách hàng bị tổn thất, thiệt hại về tài sản trong quá trình hoạt động, khó khăn tài chính. Việc giảm, miễn lãi được từng ngân hàng thực hiện trên cơ sở khả năng về tài chính, quy định riêng về miễn, giảm lãi của từng ngân hàng. Động tác này của Ngân hàng thương mại cũng thường được tiến hành cùng lúc với  cơ cấu nợ. Xử lý tài Tài sản bảo đảm

− Thuyết phục các khách hàng tự thanh lý tài sản của mình để thanh toán nợ vay bằng các cách như: rao bán trên các báo, các công ty môi giới cho khách hàng trong hệ thống khi có nhu cầu.

− Đối với khách hàng không hợp tác, ngân hàng có thể thu giữ, tự thực hiện phát mãi tài sản, bán qua trung tâm bán đấu giá, thường được AMC – công ty con của các Tổ chức tín dụng đảm nhiệm.

− Đối với TSĐB là các loại giấy tờ có giá, các ngân hàng đã dựa trên cam kết uỷ quyền trong HĐTD để tiến hành thu hồi khoản nợ. Với tài sản là các khoản phải thu, hàng tồn kho, Tổ chức tín dụng có thể căn cứ trên hợp đồng bao thanh toán, hợp đồng thế chấp mà tiến hành thu giữ lấy kho hàng hoặc yêu cầu bên mua hàng trả nợ.

Trích lập dự phòng rủi ro

TCTD sử dụng dự phòng đã trích lập để xử lý rủi ro tín dụng, hạch toán khoản nợ từ nội bảng sang ngoại bảng để tiếp tục theo dõi và khách hàng sẽ không được thông báo về việc xử lý trên, đồng thời xây dựng và thực hiện nhiều giải pháp để thu hồi nợ một cách triệt để.

  • Bán khoản nợ

VAMC thực hiện mua nợ xấu bằng trái phiếu (đặc biệt) đối với các khoản nợ đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định, dạng trái phiếu này khi cần vốn Tổ chức tín dụng có thể xin chiết khấu tại Ngân hàng Nhà nước với lãi suất tiệm cận về 0%. Và gần đây bổ sung thêm cách thức là VAMC mua nợ theo GTTT qua việc phát hành trái phiếu trực tiếp hoặc trả tiền ngay cho Ngân hàng thương mại có nợ xấu. Các Ngân hàng thương mại còn được VAMC tích cực hỗ trợ xử lý theo hướng:

− Đối với nhóm khách hàng có khả năng phục hồi thì cơ cấu nợ, miễn giảm lãi, giảm lãi suất vay về mức phù hợp. Trường hợp xét thấy khách hàng có phương án khả thi thì các Ngân hàng thương mại được VAMC đề nghị cho khách hàng tiếp tục vay để triển khai Hoạt động kinh doanh.

− Đối với nhóm khách hàng không có khả năng phục hồi thì VAMC tiến hành xử lý nợ bằng cách xử lý Tài sản bảo đảm để thu hồi hoặc bán nợ. Các Ngân hàng thương mại được VAMC đôn đốc thu hồi hoặc uỷ quyền để thu hồi nợ, kể cả phát mãi tài sản và bán nợ. Luận văn: Thực trạng phòng ngừa xử lý nợ xấu các Ngân hàng.

Với những quy định của Ngân hàng Nhà nước về việc yêu cầu các Ngân hàng thương mại phải bán nợ xấu tối thiểu cho VAMC, hay việc phê duyệt phương án trái phiếu đặc biệt cho VAMC trong từng giai đoạn đều được các Ngân hàng thương mại và VAMC khẩn trương thực hiện.

  • Khởi kiện

Đây thường là biện pháp được áp dụng sau khi thực hiện nhiều biện pháp xử lý nhưng không đạt được hiệu quả, khoản nợ xấu vẫn chưa trả được. Ngoài ra, Tổ chức tín dụng còn có thể khởi kiện khách hàng trong trường hợp có các dấu hiệu như: lừa đảo, trốn tránh trả nợ, bỏ trốn, giải thể…Việc tranh chấp giữa các bên khi đưa ra toà là vụ án dân sự, với mục đích là thu hồi nợ. Tuy nhiên, theo chứng kiến của tác giả trong thời gian qua, đại đa số các vụ kiện của ngân hàng phải xử lý kéo dài, qua rất nhiều thủ tục, lại cộng với tỷ lệ thu hồi thấp, thực sự đã gây ra nhiều khó khăn cho Tổ chức tín dụng khi khởi kiện.

Xoá nợ

Đối với khoản nợ không thể đòi được, Tổ chức tín dụng tiến hành xoá nợ theo chỉ định của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, hay kể cả những khoản nợ mà chi phí thu hồi nợ lớn hơn giá trị khoản nợ có thể thu được. Nhiều ngân hàng đã phải đưa nợ ra khỏi sổ sách và chứng kiến các khoản lỗ lớn do ghi nhận chi phí từ việc xoá nợ cho khách hàng.

2.5. Đánh giá chung công tác phòng ngừa, xử lý nợ xấu Luận văn: Thực trạng phòng ngừa xử lý nợ xấu các Ngân hàng.

2.5.1. Những kết quả đạt được

2.5.1.1. Từ đề án cơ cấu hệ thống Tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 đến 2015

Giai đoạn này nợ xấu tăng nhanh làm ảnh hưởng đến sự an toàn hệ thống ngân hàng. Ngân hàng Nhà nước trình Chính phủ ban hành đề án xử lý nợ xấu của hệ thống các Tổ chức tín dụng và thành lập VAMC theo Quyết định số 843/2013/QĐ-TTg ngày 31/5/2013. Đây được xem là một trong nhiều giải pháp mang tính đột phá, thực sự quan trọng nằm trong kế hoạch hành động của Ngân hàng Nhà nước và của ngành ngân hàng. Tỷ lệ nợ xấu giảm dần, thông qua số liệu cụ thể sau:

Thứ nhất, giai đoạn 2012 – 2016 nợ xấu đã xử lý được là 611,59 nghìn tỷ, góp phần tăng trưởng tín dụng cũng như an toàn hệ thống hoạt động ngân hàng;

Thứ hai, 4,47 % là tỷ lệ nợ xấu tại tháng 09/2012, giảm xuống mức 2,46 % vào cuối năm 2016. Việc phân loại nhóm nợ được thực hiện bằng chuẩn mực mang tính mới, được triển khai theo đúng lộ trình đặt ra, từ đó nợ xấu rõ ràng, minh bạch hơn so với trước đó

Thứ ba, VAMC ra đời và đi vào hoạt động đã đạt được mục đích như ban đầu đề ra của Ngân hàng Nhà nước, nợ xấu được VAMC xử lý chiếm xấp xỉ 43% so với tổng số dư nợ xấu được xử lý trên toàn hệ thống, số còn lại là do các Tổ chức tín dụng thực hiện nhiều biện pháp khác như: theo dõi, đôn đốc khách hàng thực hiện thanh toán nợ đúng hạn, sử dụng trích lập dự phòng rủi ro, xử lý Tài sản bảo đảm của khoản nợ hoặc chuyển khoản nợ vay thành vốn góp của Tổ chức tín dụng.

Công tác xử lý nợ xấu được tăng cường, đạt được nhiều kết quả đã nêu trên và mang lại hiệu quả, cải thiện hệ thống theo hướng tích cực nhưng tình hình nợ xấu thời điểm bấy giờ vẫn còn là điều đáng quan ngại, trong giai đoạn tiếp theo Ngân hàng Nhà nước cần thêm nhiều giải pháp để xử lý triệt để.

2.5.1.2. Từ Nghị quyết 42 và đề án cơ cấu hệ thống Tổ chức tín dụng gắn liền hoạt động xử lý nợ xấu giai đoạn 2016 đến 2020

Trong giai đoạn 2016 đến 2020, Ngân hàng Nhà nước đặt mục tiêu xử lý nhanh, dứt điểm nợ xấu của hệ thống ngân hàng thông qua việc thực hiện các chủ trương tạo bước ngoặt lớn, trực tiếp chỉ đạo bằng văn bản tại các Nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ. Trong đó, hoàn thiện khung khổ pháp lý đang yếu kém là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của giai đoạn này. Như đã đề cập, Nghị quyết 42 gắn liền Chỉ thị số 06 được ban hành, cùng với Thông tư 09 đã thực hiện tốt vai trò của mình; Từ đó Ngân hàng Nhà nước đã triển khai đồng loạt, mạnh mẽ các nhiệm vụ, biện pháp được giao.

Vốn điều lệ Tổ chức tín dụng tăng dần qua các năm tài chính. Tháng 12 năm 2020, chỉ tiêu tổng tài sản toàn hệ thống tăng 5% so với năm trước và đạt trên 13.000 nghìn tỷ. Tổng dư nợ cho vay toàn hệ thống là 9.192 nghìn tỷ đồng. Chỉ số CAR đạt mức 11,65%. Chất lượng tín dụng toàn hệ thống tốt lên, Nhiều biện pháp xử lý nợ xấu được triển khai đồng bộ với các biện pháp phòng tránh phát sinh thêm nợ xấu. Cuối năm 2021, tỷ lệ nợ xấu so với tổng dư nợ là 1,9%, giảm đáng kể so với con số 2,46% cuối 2016. Luận văn: Thực trạng phòng ngừa xử lý nợ xấu các Ngân hàng.

Theo VAMC, tổng nợ xấu được xác định của toàn hệ thống theo Nghị quyết 42 tính đến ngày 31/12/2021 đạt 412,7 nghìn tỷ, giảm 6,32% so với cuối năm 2020, và giảm 17,21% so với ngày 14/08/2017. Từ ngày 15/08/2017 đến 31/12/2021, đã xử lý được gần 380,2 nghìn tỷ nợ xấu áp dụng theo Nghị quyết 42. Trong đó, nợ xấu nội bảng được xử lý đạt 196,9 nghìn tỷ, chiếm 51,79%, nợ xấu ngoại bảng được xử lý đạt 100,8 nghìn tỷ, chiếm 26,51% tổng nợ xấu đã xử lý. Khoản nợ được VAMC xử lý bằng trái phiếu đặc biệt đạt 82,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 21,70% tổng nợ xấu đã xử lý. Trung bình, mỗi tháng xử lý được khoảng 5,67 nghìn tỷ đồng, cao hơn 2,15 nghìn tỷ đồng so với kết quả trước Nghị quyết 42 có hiệu lực (khoảng 3,52 nghìn tỷ đồng/tháng).

Nghị quyết 42 được áp dụng, kết quả xử lý nợ xấu nội bảng thông qua hình thức khách hàng trả nợ được tăng cao, với dư nợ là 148,0 nghìn tỷ đồng, chiếm 38,93 % tổng nợ xấu đã xử lý, cao hơn nhiều so với tỷ lệ nợ xấu được xử lý do khách hàng tự trả nợ trên tổng dư nợ xấu trước khi có Nghị quyết 42 (22,8 %). Từ những kết quả đạt được từ Nghị quyết 42, cho thấy ý thức trả nợ của các khách hàng vay đã được nâng cao và cải thiện, là tín hiệu mừng cho thấy Nghị quyết 42 đã và đang thực sự phát huy hiệu quả.

2.5.2. Hạn chế, tồn tại, kết quả chưa đạt được

2.5.2.1. Về công tác phòng ngừa nợ xấu

Một là, hầu hết các Ngân hàng thương mại chưa hoàn thiện quy trình nhận dạng và cảnh báo rủi ro tín dụng, cung cấp thông tin khách hàng thiếu chính xác và không kịp thời. Nguyên nhân đến từ việc các Ngân hàng thương mại chưa thực sự chú ý đến tầm quan trọng của việc nhận dạng và cảnh báo rủi ro, chưa chú trọng đến việc cập nhật, phân tích thông tin khách hàng về lịch sử vay vốn.

Hai là, cán bộ ngân hàng chưa chấp hành đúng quy định, quy trình của Tổ chức tín dụng trong cấp tín dụng. Năng lực và đạo đức của một số cán bộ ngân hàng chưa đáp ứng được yêu cầu của công việc, Tổ chức tín dụng chạy theo tăng trưởng cho vay, lợi nhuận v.v dẫn đến việc soát xét hồ sơ vay không chặt chẽ, đúng quy trình đã ban hành.

Ba là, chính sách liên quan đến tài sản bảo đảm của khoản nợ tại một số Tổ chức tín dụng chưa tốt. Trong việc thẩm định Tài sản bảo đảm đã có sự chênh lệch lớn trong việc thẩm định giá trị tài sản không phù hợp giá trị thật; chế độ kiểm tra, giám sát, định giá Tài sản bảo đảm chưa được lãnh đạo ngân hàng quan tâm đúng mức.

Bốn là, Tổ chức tín dụng che giấu nợ xấu, từ đó dẫn đến việc trích lập dự phòng là không chính xác.

Năm là, việc kiểm tra, giám sát tín dụng còn hình thức, chưa phát huy vai trò.

2.5.2.2. Về công tác xử lý nợ xấu

Thứ nhất, nguồn lực tài chính cho quá trình xử lý nợ xấu:

Với kết quả đạt được cập nhật đến thời điểm 2021, Tổ chức tín dụng đã tự xử lý gần 60% nợ xấu. Việc VAMC mua nợ xấu bằng trái phiếu đặc biệt chỉ là giải pháp hỗ trợ tạm thời, trước mắt tạo nguồn thanh khoản cho các Tổ chức tín dụng, nhưng trên thực tế không có nguồn tiền nào chuyển cho Tổ chức tín dụng khi thực hiện bán các khoản nợ xấu cho VAMC. Vì vậy, để công tác xử lý nợ xấu hoạt động một cách hiệu quả thì thiết nghĩ cần phải có một một nguồn lực tài chính dồi dào để đẩy nhanh quá trình xử lý nợ xấu, bên cạnh đó cần tăng cường hoạt động xử lý nợ xấu của VAMC thông qua tái cấu trúc, phát triển và mở rộng quy mô việc bán khoản nợ theo GTTT. Luận văn: Thực trạng phòng ngừa xử lý nợ xấu các Ngân hàng.

Thứ hai, việc tăng vốn cho các Tổ chức tín dụng

Trong thời gian gần đây, thị trường tài chính và tiền tệ quốc tế đã trở nên phức tạp và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Một số tổ chức, công ty, doanh nghiệp nhà nước đang gặp khó khăn về tài chính và Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến phục hồi kinh tế và cơ cấu lại hệ thống các Tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu. Tuy nhiên, Chính phủ không muốn sử dụng tiền ngân sách nhà nước để hỗ trợ, vì vậy việc tăng vốn cho các tổ chức tài chính, đặc biệt là các Ngân hàng thương mại gặp nhiều khó khăn do quy định của các luật và văn bản luật.

Thứ ba, hoạt động của các Tổ chức tín dụng gặp nhiều khó khăn, cụ thể:

− Xử lý nợ xấu bằng cách trích lập dự phòng rủi ro và trái phiếu đặc biệt có hiệu quả thấp hơn so với xử lý bằng Tài sản bảo đảm và trả nợ của khách hàng. Nợ xấu vẫn tồn tại khi bên cho vay và bên vay chưa chấm dứt quyền và nghĩa vụ liên quan đến khoản nợ.

− Tổ chức tín dụng gặp khó khăn khi sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu. Họ phải áp dụng các biện pháp thu hồi nợ từ khách hàng trước, thậm chí xem xét cung cấp hỗ trợ để nâng cao năng lực tài chính của khách hàng trước. Sau đó, Tổ chức tín dụng mới có thể sử dụng các phương pháp như dự phòng rủi ro, phát mại Tài sản bảo đảm.

− Khách hàng gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh. Một số khách hàng không hợp tác, sử dụng vốn không đúng mục đích.

− Việc thu giữ Tài sản bảo đảm vẫn gặp khó khăn do nhiều nguyên nhân khác nhau: Khách hàng không hợp tác trong việc bàn giao tài sản. Các cơ quan quản lý và cơ quan chức năng liên quan chưa phối hợp để hỗ trợ Tổ chức tín dụng trong quá trình xử lý nợ. Ngoài ra, việc truyền thông thông tin cũng gặp khó khăn trong quá trình thu giữ tài sản theo tinh thần của Nghị quyết 42.

Thứ tư, hoạt động của VAMC

Nâng cao tiềm lực tài chính của VAMC là biện pháp để đẩy nhanh tiến trình xử lý nợ xấu. Tuy nhiên, vốn điều lệ của VAMC chỉ mới ở mức 5.000 tỷ (theo quy định cuối năm 2020 vốn VAMC phải đạt mức 10.000 tỷ). Với doanh số mua nợ theo GTTT đạt 11.723 tỷ đến ngày 31/12/2021, việc đẩy mạnh hoạt động mua bán nợ theo giá thị trường sẽ rất khó khăn.

Thứ năm, khuôn khổ hành lang pháp lý

Tồn tại nhiều vướng mắc pháp lý cho VAMC và các Tổ chức tín dụng trong việc xử lý nợ xấu, xử lý TSĐB:

Một là, chưa có hướng dẫn cụ thể về tố tụng, thi hành án của Tòa án tối cao, thủ tục tố tụng rút gọn tại Tòa án cũng không được chú trọng.

Hai là, Theo Nghị quyết 42, để thực hiện quyền thu giữ, trong hợp đồng thế chấp TSĐB cần phải có nội dung thỏa thuận về việc được quyền thu giữ Tài sản bảo đảm giữa Tổ chức tín dụng và bên thế chấp. Việc xác định, tra cứu thông tin về việc tranh chấp hay có đang áp dụng biện pháp khẩn cấp đối với tài sản gặp nhiều khó khăn khi xử lý tài sản theo Nghị quyết 42.

Ba là, Các Tổ chức tín dụng chưa được cơ quan ban ngành nào hướng dẫn cách xác định giá bán phù hợp với thị trường; biện pháp xử lý nợ bằng cách chuyển khoản nợ xấu thành vốn góp còn thấp và chưa phát huy được hiệu quả; Thị trường mua bán nợ chưa thật sự chuyên nghiệp, dẫn đến quá trình mua, bán và xử lý nợ xấu chưa thật sự sôi động, bên cạnh đó, khung pháp lý chưa đầy đủ, quá trình xử lý nợ trên thực tế gặp nhiều khó khăn về thời gian và tốn nhiều chi phí. Tình hình BĐS bất ổn, hoạt động xử lý nợ đối với lĩnh vực này cũng bị ảnh hưởng do liên quan đến việc xử lý Tài sản bảo đảm.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Luận văn: Thực trạng phòng ngừa xử lý nợ xấu các Ngân hàng.

Các nguyên nhân dẫn đến tình trạng nợ xấu ở các Ngân hàng thương mại là rất đa dạng, có thể do nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan như đã phân tích.

Mặc dù các ngân hàng đã áp dụng những giải pháp để phòng ngừa và tích cực xử lý nợ xấu, tuy nhiên quá trình này vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc vì còn liên quan đến bản thân nền kinh tế đang trong giai đoạn chuyển đổi phát triển, liên quan đến hệ thống pháp lý, hoạch định chính sách. Mặc dù đã có những nỗ lực và kết quả đáng khích lệ, nhưng vẫn có tín hiệu không tốt cho thấy rằng chương trình xử lý nợ xấu chưa thành công. Do đó, cần phải tập trung quan tâm và giải quyết gốc rễ nợ xấu trong tương lai. Luận văn: Thực trạng phòng ngừa xử lý nợ xấu các Ngân hàng.

Qua thực trạng công tác phòng ngừa, xử lý nợ xấu tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2015 – 2021, cùng với những nguyên nhân gây ra đã được phân tích chi tiết trong Chương 2, đó sẽ là cơ sở quan trọng và hữu ích để người viết đưa ra những giải pháp và kiến nghị được trình bày trong Chương 3.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Giải pháp phòng ngừa xử lý nợ xấu các Ngân hàng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *